Đầu
tiên cho ông chửi.
Tiên sư thằng nói láo
Tổ mẹ đưa nói nhăng
Có mắt không tròng cam tâm lừa dối, sống nhục hèn khoác danh kẻ trí thức giả
hiệu
Ham danh hám lợi bất kể lương tâm, sống luồn cúi chẳng khác phường giá áo túi
cơm.
Thân làm giáo sư lịch sử, mượn gió bẻ măng, đổi trắng thay đen nói không thành
có.
Mượn danh học hàm học vị, dối trá sự đời, chẳng biết đục trong làm ô danh kẻ
sĩ.
Nhớ khi xưa
Năm mươi vạn sinh linh bỏ mình trên đường vượt biển
Hai trăm ngàn người ở tù không án suốt bấy nhiêu năm
Sử sách còn đó.
Chứng cớ còn ghi.
Galang, Bidong, Hồng Kông, Thái lan... bia đá vẫn còn khắc tên những nấm mồ lưu
lạc
Hố Nai, Suối Máu, Lạng Sơn, Cao Bằng... Lòng đất vẫn còn lưu cốt xương người tù
cải tạo
Nước non mình tươi đẹp thế,Chẳng ai đành lòng bỏ nước ra đi
Quê hương mình tha thiết thế. Chỉ có ngu mới đem lòng phản bội
Chẳng ai quên cội, quên nguồn, quên sông, quên núi đem thân vùi chôn chốn đất
khách
Không kẻ bạc nghĩa, vong tình, bỏ xứ, bỏ quê lấy xác làm mồi cá mập chốn tha
hương.
Chỉ vì một lời hứa mười ngày cải tạo mà mẹ chờ con, vợ trông chồng suốt mười ba
năm dài đăng đẳng
Cũng một tiếng nói không thắng bại mà con thiếu cha, vợ vắng chồng hơn mấy ngàn
ngày cách biệt xa xăm
Xác thân còm cõi
Trí lực ê chề
Cha mang danh ngụy quân chết rục xương chốn rừng sâu núi thẳm
Con cũng vì cái lý lịch muôn đời chẳng thể ngóc đầu chốn đô hội phồn hoa
Vẫn biết:
Kẻ nói láo muôn lần sẽ thành chân lý.
Người sống thật vạn lần chỉ thiệt lấy thân.
Thế nhưng:
Lịch sử không thể toàn là những lời dối trá.
Chân lý không đến từ những lời đơm đặt
Bởi giữa người với người còn có lương tri
Cũng bởi con người không phải là loài thú biết đi.
Chỉ có:
Loại ích kỷ, nhỏ nhen, sống chỉ cầu no đủ tấm thân với đủ thứ bằng cấp giả hiệu
Loại sợ hãi, yếu hèn, sống chỉ biết cúi đầu vâng dạ mà bất kể thế nào là nhục
là vinh
Cuối cùng cho ông nhổ toẹt:
Cái bằng phó giáo sư tiến sĩ
Của cái đứa làm đĩ bằng mồm
Xoen xoét đẩy đưa những lời ngụy biện
Xảo trá lọc lừa lịch sử hôm qua
Hãy nhớ rằng:
Nhân dân hôm nay là những người có mắt.
Không dễ tin vào những điều không thật
Và nếu muốn ô danh sử sách, để hậu thế muôn đời nguyền rủa.
Cứ việc làm một thằng nói láo, để lịch sử lưu dấu trăm năm.
Ánh mắt thất thần của
những người di tản tháng 4/1975
Files photo
Hàng năm cứ vào tháng tư, lúc cơn gió Hạ Lào khắc nghiệt xoáy về thành
phố, những đám mây màu da cam lại bắt đầu phát sáng trên không, ký ức của tôi
lại bừng sống dậy với những hình ảnh của một cuộc chiến không thể nào tàn. [1]
30
tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam tiếp thu miền Bắc. Xe tăng Việt Nam Cộng
Hòa đi từ năm cửa ô tiến vào đường Thanh Niên.
Dân chúng đứng hai bên đường cầm
cờ vàng ba sọc đỏ vẫy chào. Gió lùa lên từ hai phía hồ Tây và hồ Trúc Bạch phe
phẩy những giải khăn tang trắng cột trước nòng đại bác. Những người lính thuộc
nhiều binh chủng đều bị trọng thương, nhưng họ vẫn đứng nghiêm trong tư thế
trình diện nhân dân Hà Nội. Xe tăng đi ngang Văn Miếu, vòng quanh chùa Một Cột
rồi chuyển hướng tiến về phía quảng trường Ba Đình. Buổi trưa, tiếng xích sắt
chiến xa nghiến rát bỏng trên mặt đường tráng nhựa.
Cả
thế giới bàng hoàng chứng kiến lịch sử trên những màn ảnh TV đen trắng. Ngày
tàn của cuộc chiến. Cộng sản đã quy hàng. Nước Mỹ ngạc nhiên đến câm lặng và
Kissinger buột mồm chửi Fuck! Tiếng chửi đã được đài BBC thu lại, được cả tỷ lỗ
tai loài người thu lại. Sau này ông ta đã viết khá nhiều cuốn sách để bôi xóa
nó đi.
Ký ức của một người bị bắn vào đầu sẽ có nhiều sai lệch.
Những gì tôi nhớ được đến ngày hôm nay, là do tôi cất giữ ở trong
đầu. Nếu họ đập đầu tôi lúc đó, họ sẽ nhìn thấy…
Xe tăng tiến từ từ đến quảng trường Ba Đình trong tiếng hô hào vang dội, rồi xe
quay về phía
lăng Hồ Chí Minh.
Nhưng xe tăng không ủi xập tường, không phá hủy lăng như
người ta tưởng. Quân đội miền Nam giữ đúng tư cách, họ giải giới vũ khí trong
tinh thần nhân bản. Xe tăng ngừng giữa những hàng cây. Gió tháng tư hiu hiu
ngọt mùi hoa sữa. Những ủy viên trung ương đảng cộng sản đang đứng dưới cột cờ.
Họ đã bỏ quần áo đại cán thay trang phục thường dân. Họ gỡ lá cờ đỏ sao vàng
xuống. Những người lính miền Nam lặng lẽ làm nhân chứng. Cuộc hạ kỳ nào cũng
làm chúng ta bùi ngùi, dù lá cờ thuộc về phe nghịch. Đây là lúc gấp lại quá khứ
như thể quá khứ chỉ là một mảnh vải hình chữ nhật, một mảnh vải che vừa vặn
chiếc quan tài.
Đầu
những người lính miền Nam vẫn còn quấn băng che lỗ đạn bắn vào màng tang hôm
trước. Dáng họ lảo đảo. Có thể thấy máu vẫn còn chảy bên dưới mớ tóc dính bệt
trán, bên dưới thái dương…
Ký ức tôi rất nhạy với mùi máu. Máu vẫn còn rỉ trong đất dù những
xác chết đã ngưng thở. Chín cái xác người vẫn còn nằm đó, đại tá Đặng Sĩ Vinh
và vợ con, mỗi người một viên đạn ghim giữa sọ. Những lá cờ vàng ba sọc đỏ đang
che phủ thi thể và xác chết trở thành biểu tượng bình lặng nhất của cuộc chiến.[2]
Nhưng mùi máu vẫn đi xuyên qua vải, xộc lên mũi, lạnh óc. Mà máu đâu chỉ là máu
thôi? Máu còn là nước rửa tội. Có những tội lỗi chỉ rửa sạch được bằng máu này.
Sự phản bội chẳng hạn. Cho nên chúng tôi cần nhiều máu lắm, để lau chùi sự phản
bội của một tập thể, của những hiệp ước, của trước và sau chiến tranh, của một
vị tướng ngang tàng đến đứa con cầu tự[3].
Sự phản bội không thuộc riêng ai, nó như thuộc tính của con người.
Di tản tháng 4/1975
Vậy là cuộc giải giới đã hoàn thành trong tình huynh đệ. Họ đã
bắt tay nhau. Người chiến thắng đã đưa tay ra trước. Tấm hình người bộ đội và
lính biệt động đứng cạnh nhau đã xuất hiện trên trang nhất của các nhật báo
toàn cầu. Báo Times còn tiết lộ họ chính là anh em ruột (nguồn tin lấy từ tờ
Chính Luận – Sài Gòn).
Trong buổi lễ bàn giao ở trụ sở Trung Ương Đảng Hà Nội, người
chiến thắng đã nói:
“Trong
chiến tranh, chúng ta dù theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đều đã hành xử như
những người lính can trường. Nỗ lực này cần phải được ghi nhận từ mọi phía. Con
cháu chúng ta khi học lịch sử Việt Nam sẽ không khen người thắng không chê kẻ
bại, nhưng sẽ ghi nhận sự can trường hay hèn nhát của những người tham chiến [4].
Chúng
tôi sẽ không bắt giam những người cách mạng. Bộ đội không phải đi học tập cải
tạo, không phải lao động khổ sai. Ngay cả đảng viên cũng vậy. Chúng tôi sẽ
không xử tử chủ tịch nước, không đấu tố tổng bí thư, không chôn sống bộ chính
trị. Những nhà tù sẽ phải phá đi. Ba mươi năm qua chúng ta đã chơi một trò chơi
điên rồ, và cám ơn Trời Phật, trò chơi đã chấm dứt.”
Ký ức tôi vẫn chơi trò nhìn từ âm bản, nhìn bóng tối thành ánh
sáng, nhìn trắng thành đen, nhìn cỏ xanh thấy ra máu đỏ.
Tôi đang xoay chiều lịch sử trong thế giới của riêng mình, lịch sử
của những người đã chết. Đó là một lịch sử rất hiền, hiền như bài luận văn ngày
khai trường của tuổi thơ Nam bộ. Bài luận văn được nắn nót viết bằng mực tím.
Nhưng lịch sử không viết bằng mực tím.
Dưới chân tượng người lính Thủy Quân Lục Chiến, những giọt máu
cuối cùng của Nguyễn Văn Long đang trút xuống để viết lên lịch sử. Máu tuôn ồng
ộc trên những bậc thang. Máu rút qua khe cỏ thấm giữa lòng đá, máu trở về đất
và nằm mãi nơi đó. Pho tượng lính đã bị kéo xập. Gạch vụn đổ lên xác người
thiếu tá. Mỗi người có cách viết lịch sử riêng của họ. Người ta đã bôi xóa
nhiều thứ khỏi thực tại nhưng vẫn còn ký ức là vùng bất khả xâm phạm. Bạn tôi
Hồ Ngọc Cẩn đang đứng giữa phiên tòa công cộng. Anh đã dùng đến viên đạn cuối
cùng. Đến phiên những người công an chĩa súng và bạn tôi trở thành tên phản
động, thành tay sai đế quốc, thành kẻ phản bội nhân dân. Bản án của họ vội vã,
lấp liếm, trá ngụy. Họ xử tử ngay giữa chợ.
Hồ Ngọc Cẩn nói: “Cho tôi mặc quân
phục miền Nam, cho tôi chào lá quốc kỳ lần chót, rồi hãy bắn tôi.”
Trong ba điều ước, người cộng sản chỉ cho anh điều cuối.
Những
anh hùng liệt sĩ hai miền đang gượng dậy từ cuộc mất máu. Lê Anh Tuấn không
nhặt khẩu colt .45 văng giữa lòng thuyền. Lê Văn Hưng nhét súng lục dưới nệm và
bỏ quên ở đó. Lê Nguyên Vỹ bước tới tương lai, khẩu súng để lại dưới cột cờ của
tổng hành dinh doanh trại[5]. Vũ khí không còn hữu dụng nữa. Họ cùng
Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Nguyễn Khoa Nam đang chỉ huy đoàn xe tăng đi
ngược đường Trường Sơn, theo Quốc Lộ 1 băng qua những vùng chiến thuật. Khắp
nơi mặt đất nở hoa huệ trắng. Chỉ có mùi huệ tinh khiết mới át nổi mùi tử khí
còn tươi roi rói.
Ra
đến Bắc, đoàn xe tăng biến thành xe tải đi khắp thành phố làng mạc. Những chiếc
xe tải mang gạo, mang nhu yếu phẩm, mang thuốc men, mang sách vở từ trong Nam
ra phân phát cho dân miền Bắc.
Dân
chúng ùa ra đường ăn mừng hòa bình. Những người con bộ đội đã trở về. Lưu Quang
Vũ ngồi viết những bài thơ khác, trên sân khấu của anh là những vở kịch khác và
một định mệnh khác ngoài đời. Dương Thu Hương nếu có khóc cũng sẽ là những giọt
nước mắt khác, trên những vỉa hè khác, cho những thân phận khác. Truyền hình
trên thế giới nhận định: “Đây mới là đổi đời thật sự. Người miền Bắc ăn mừng sự
phá sản của chế độ tem phiếu và hộ khẩu. Họ ăn mừng ngày tàn của chế độ cộng
sản. Từ nay trở đi, chuyện đấu tranh giai cấp chỉ là một khái niệm gớm ghiếc.
Những từ ngữ ghê rợn như tịch thu nhà, đánh tư sản, kiểm kê, kinh tế mới… chỉ
là những giải nghĩa lỗi thời trong tự điển. Cơn ác mộng của miền Bắc ba mươi
năm ‘kháng chiến chống Mỹ’ đã qua đi.”
Cơn ác mộng sẽ qua đi nếu chúng ta bám cứng vào cuộc sống? Buổi
chiều trên dốc Thiên Thu, những vong linh ở nghĩa trang Quân Đội bay chập chờn
lên đỉnh núi Châu Thới, những vong linh nhìn về trời và hát vu vơ:
“Chiều
lên trên đồi cao, hát trên những xác người, tôi đã thấy tôi đã thấy…”
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng
Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai tuẫn tiết trong
ngày 30/4/1975.
Trên cuộc đời, những hiện thực này không phủ nhận nhau. Những hiện
thực của âm và dương không triệt tiêu nhau. Chúng cùng tồn tại.
Ủy
ban quân quản miền Nam quyết định lưu giữ tất cả những di tích văn hóa lịch sử
dựng lên từ thời cộng sản. Họ cũng quyết định không đốt sách, dù là sách tuyên
truyền, dù là nghệ thuật minh họa. Tượng Lê-nin đứng gác công viên Hà Nội cũng
để nguyên. Những bài ca từ thời hồng và chuyên cũng vậy. Âm nhạc sẽ đi qua cánh
đồng thời gian không biên giới. Tiến Quân Ca vẫn cứ là niềm tự hào của nhiều
thế hệ từng tham gia kháng chiến.
Ký ức tôi rất dễ bị tổn thương với những bài ca. Những ca khúc có
khả năng chứa đựng ký ức giúp con người. Những lời ca vẫn làm tôi phải khóc như
một đứa bé thơ: Này công dân ơi
đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống… Bài
hát đầu tiên trong đời sẽ là bài ca cuối cùng cưỡng chống lại quá trình tẩy xóa
của quyền lực trên trí nhớ. Một nguyên tắc mặc nhiên đã ngấm vào ý thức: Dù cho thây phơi trên gươm giáo, thù nước
lấy máu đào đem báo… Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ…
Bài ca này anh em chúng tôi sẽ hát trước giờ cố thủ, trước khi kề
súng sát màng tang.
Họ
đã thành công trong việc cố thủ Cần Thơ, đã giữ được quân khu 4 và bảo toàn
tỉnh Chương Thiện. Đoàn xe khởi hành đúng ngày 30 tháng 4. Theo hoạch định, họ
sẽ đến Hà Nội kịp thời để dự đám tang tập thể trên phố Khâm Thiên. Phát tang
vào đúng giờ thả bom, cả khu phố khoác áo xô gai để trở. Cả trăm cỗ quan tài
đặt tạm trên nền hố bom, gạch vỡ. Nến chảy leo lét giữa những căn hộ không mái
không tường.
Mùi
hương nặng mà vẫn không át nổi mùi tử thi trong trận dội bom B-52 hôm trước.
Sáu giờ chiều là lúc cửa âm mở, là lúc những vong linh nhập vào làn khói đang
bốc lên uể oải để hiện nguyên hình dạng. Khói hương lẩn khuất đọng giữa lối đi
trên phố, không tan.
Đám
tang xong, những người lính sẽ quay về Huế thăm nấm mồ tập thể từ sau cuộc thảm
sát Mậu Thân. Đoàn xe của họ sẽ lại băng ngang vĩ tuyến 17, nhiều lần như vậy,
ranh giới ấy bây giờ chỉ còn là một đường nứt đã phai mờ.
Đầu tôi mang một vết nứt rất tình cờ. Chính vết nứt đã làm mọi thứ
không thể khít khao ăn khớp với nhau được nữa. Vết nứt là một biên giới trũng
sâu đầy ma ảo. Chúng tôi đã vượt qua biên giới. Đất nước trải rộng trước mắt
chúng tôi như cuốn phim chiếu lên màn trời: Đoàn xe băng ngang những giao thông
hào, những đồi kẽm gai, những bãi mìn xương trắng. Những nấm mồ hoang quanh
trại cải tạo. Những xác người phình trương sóng tấp vào bờ. Những căn nhà xiêu
dột chỉ còn mẹ già nói chuyện với con trên bàn thờ liệt sĩ.
Chúng tôi đi ròng rã nhiều năm, vẫn đang đi tới, đi không ngừng
nghỉ. Chúng tôi đi theo dấu máu chảy và máu chúng tôi vẫn đổ ra không thể nào cầm.
Máu của chúng tôi phải dư thừa, phải sung mãn, phải đủ để chia đều cho lương
tâm thắng trận và danh dự của miền Nam bại trận.
[1]
Phỏng theo câu mở đầu trong bài văn Ngày Tựu Trường của Thanh Tịnh: “Hàng năm
cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng
bạc…”
[2] Đại tá Đặng Sĩ Vinh cùng vợ và bảy người con cùng tự sát vào ngày 30 tháng
4, 1975 tại nhà riêng.
[3] Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, tác giả cuốn hồi ký Con Cầu Tự, đã quay về định
cư ở Việt nam.
[4] Dựa theo nhận định của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trong cuốn hồi ký Can
Trường Trong Chiến Bại.
[5] Thiếu tá Hải Quân Lê Anh Tuấn sau lệnh bỏ súng của tổng thống Dương Văn
Minh vẫn hiên ngang chỉ huy đoàn chiến đỉnh về Bến Lức. Khi bị chận đêm 30
tháng 4, 1975, không còn lối thoát, thiếu tá Tuấn tự sát bằng Colt 45 chứ không
chịu đầu hàng (theo Hồ Văn Kỳ Thoại). Tướng Lê Văn Hưng sau khi tự bắn vào đầu
đã giấu súng dưới nệm, vì sợ vợ ông tìm thấy súng sẽ tự vận theo (theo lời kể
của bà Phạm Thị Kim Hoàng, vợ tướng Hưng). Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự sát dưới
cột cờ tổng hành dinh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Lai Khê trước sự chứng kiến của binh
sĩ.
Nhà văn Đặng Thơ Thơ trả lời phỏng vấn Kính Hòa tại RFA tháng
4/2015
RFA photo
Nhà văn Đặng Thơ Thơ sinh ra và lớn lên tại Sài gòn. Sang Mỹ Đặng
Thơ Thơ là một trong những người sáng lập trang văn học Da Màu, và Đặng Thơ Thơ
cũng được biết đến như một trong những cây bút người Việt viết về giới tính.
Trong tác phẩm mới xuất bản Khả Thể, nhà văn có đề cập đến những
ký ức về ngày 30 tháng Tư năm 1975. Trong một dịp sang vùng Washington DC, nhà
văn dành cho Kính Hòa một buổi phỏng vấn về những ký ức này, và những nhận xét
liên quan đến văn học của người Việt hiện nay. Trước hết nàh văn cho biết:
Trong cuốn Khả Thể, Thơ có hai truyện nói những ký ức về 30/4.
Truyện đầu tiên là Mở Tương Lai, là kinh nghiệm của riêng gia đình Thơ,
vào lúc miền Nam bị sụp đổ, mình tìm cách thoát khỏi nhưng bị kẹt lại. Trong đó
có một đoạn bà ngoại của Thơ Thơ, lúc đó gần chết, phát ho mỗi người một ve
thuốc độc. Cái cảm giác của mọi người trước và sau khi nhận ve thuốc độc. Khi
mình nhận ve thuốc độc thì mình bình tĩnh lại trước tất cả mọi biến cố, vì mình
biết là từ đây mình làm chủ đời sống của mình, mình không sợ bất cứ một áp chế
nào của quyền lực đè nặng lên đời sống của mình hay phẩm giá của mình nữa.
Truyện thứ hai là Lịch sử nhìn từ âm bản, trong đó Thơ viết
về những người lính, những vị tướng đã tuẫn tiết trong thời điểm 30/4. Thơ rất
kính phục họ và đây cũng như là một sự vinh danh giành cho họ. Khi viết truyện
này thì Thơ tìm hiểu rất nhiều, và khi viết cũng có rất nhiều nước mắt. Mình
cảm thấy mình nợ rất nhiều những cái chết đó, và khi Thơ viết là Thơ muốn những
cái chết đó không trở thành uổng phí. Đối với Thơ thì cái hành động tự tử đó
rất là đẹp, vì mình làm chủ cái đời sống của mình, chống lại cái áp chế của
những chế độ toàn trị.
Kính Hòa: Trong Khả Thể có
một truyện đầu tiên là Con yêu tinh thứ 108, thì dường như nó mang những suy
nghiệm hiện đại, không có âm hưởng của quá khứ, gần với những suy nghĩ của thế
hệ trẻ hiện nay trong và ngoài nước, có phải như vậy không?
Đặng Thơ Thơ:
Đó là một cuộc đối thoại nhiều chiều, những thế hệ khác nhau. Nhân vật chính
trong này là con hoang của Hồ Chí Minh. Và cũng có đối thoại với những thế lực
ở trong nước họ đòi hỏi dân chủ cho Việt nam. Còn một nhân vật khác nữa là
Thích Hiển Đạo thì Thơ lấy cảm hứng từ việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh về nước
lập đàn tràng giải oan. Cái hành động đó làm cho Thơ đặt câu hỏi là tại sao
phải giải oan, trong khi họ cần một lời xin lỗi chính thức thì đúng hơn.
Kính
Hòa: Trong lĩnh vực văn chương giới tính thì
nhà văn Đặng Thơ Thơ được xem là người đi tiên phong trong lĩnh vực này. Khi
bắt đầu có những ý tưởng dấn thân vào con đường này thì nhà văn có cảm thấy khó
khăn, trở ngại gì không trong một văn hóa khá khắt khe của Việt Nam?
Đặng Thơ Thơ:
Thơ không cảm thấy khó khăn, mà thật ra nó còn là thuận lợi vì mình viết về
những cái người ta ít viết thì mình còn đất để mà khai phá. Nhưng cũng có những
thử thách là mình viết thế nào để tiếp cận độc giả.
Trong giới tính lại có cả khá cạnh chính trị lồng vào đấy, rồi tôn
giáo và những cái khác nữa. Nhiều khi Thơ viết xong thì đưa cho bạn bè chứ
không đưa cho người trong gia đình như bố hay mẹ đọc. Có những chuyện trong này
thì khi xuất bản rồi bố mẹ mới được đọc.
Nói về giới tính thì không cùng, trong này chỉ là một phần thôi.
Câu chuyện rõ nhất là Ký ức của người loạn tính. Thơ muốn cho thấy rằng giữa
họ và mình, cái sự chúng ta tưởng là khác biệt thực sự không khác biệt.
Những thứ mà chúng ta cảm thấy khác biệt là bởi tại vì chúng ta chưa có từ ngữ
để dành cho nó thôi. Chúng ta không biết rất nhiều điều, và chúng tưởng những
điều chúng ta biết là một chân lý duy nhất. Có những điều chúng ta chưa đặt tên
cho nó cho nên tưởng rằng nó không tồn tại, thực sự thì nó có tồn tại hết.
Giữa trắng và đen, giữa nam và nữ là một khoảng rất là dài những
màu xám khác nhau.
Kính Hòa: Liên quan đến cộng
đồng người Việt ở hải ngoại thì dường như có một dòng văn học đã nảy sinh và
trưởng thành, Thơ Thơ đánh giá thế nào về sức sống của nền văn học đó? Tại vì
cũng có những ý kiến cho rằng đối với một đồng hải ngoại, bị đứt khỏi mảnh đất
quê hương của họ thì khó có thể duy trì nền văn học bằng tiếng bản ngữ của họ?
Đặng Thơ Thơ:
Thơ cho rằng thời điểm 75-85 là thời điểm rộ nhất của văn học hải ngoại với
những cây bút của miền Nam định cư bên này. Họ có điều kiện mới để viết, họ
viết về kinh nghiệm của họ, cũng như là dòng văn chương hoài hương, và dòng văn
học chống cộng rất là mạnh.
Sau chiến tranh lạnh, lúc Việt nam và Hoa kỳ đã có giao thương với
nhau, điều đó ảnh hưởng tới văn học, nó bắt đầu đi theo một hướng khác, nhất là
khi những nhà văn trong nước được cởi trói. Có một sự giao lưu không chính thức
giữa những nhà văn phản kháng trong nước và những nhà văn ngoài này. Và với sự
bùng nổ của Internet thì có vẻ ranh giới bị xóa mờ đi. Thành thử chúng ta rất
là khó định nghĩa thế nào là văn chương hải ngoại. Vì có thể là một người ở
trong nước nhưng tác phẩm của họ không thể công bố trong nước mà là ở hai ngoại
thì mình đặt tên họ là nhà văn nào? Hay trường hợp chị Dương Thu Hương bên Pháp
chẳng hạn, mà sách của chị ấy xuất bản ở Bolsa. Mình gọi chị Dương Thu Hương
như thế nào, chị ấy lại không phải là một nhà văn miền Nam, như mình hay nghĩ văn
học hải ngoại là sự kéo dài của văn học miền Nam, mà chị Dương Thu Hương là một
nhà văn miền Bắc. Thành ra tất cả mọi sự đánh giá hay dán nhãn hiệu rất là khó.
Kính
Hòa: Có những nhà văn người Việt nhưng viết
bằng tiếng Anh, trong giòng chính của nước Mỹ, thì Thơ Thơ có nhận định gì về
họ không?
Đặng
Thơ Thơ: Thơ đã đọc những
truyện của chị Lan Cao, nhất là cuốn mới nhất Hoa Sen Trong Bão Tố, rồi Thơ
cũng thích đọc Đinh Linh. Rồi Monique Trương, Lê Thị Diễm Thúy, rồi nhất là gần
đây là Lại Thanh Hà đoạt giải thưởng về tiểu thuyết viết cho tuổi thanh thiếu
niên. Thơ rất tin tưởng là họ sẽ có tiến nói trong văn chương giòng chính. Và
khi người ta nhìn những gì họ viết thì người ta nhìn họ là những nhà văn thôi,
xin đừng đặt tên cho họ là nhà văn Mỹ gốc Việt (cười.)
Kính
Hòa: Xin hỏi câu cuối là có lúc nào Thơ Thơ
nghĩ là tác phẩm của mình sẽ được đọc ở Việt Nam một cách chính thức không?
Đặng
Thơ Thơ: Tất nhiên đó là điều
mình ao ước. Sau khi ra mắt sách xong Thơ sẽ post cuốn Khả Thể lên mục Trên kệ
sách của trang Da Màu thì bạn đọc trong nước có thể đọc dduwwojc, nhưng đầu
tiên phải tìm cách vượt tường lửa trước (cười.)
Kính
Hòa: Xin cám ơn nhà văn Đặng Thơ Thơ đã dành
thời gian cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn trong chuyên mục Ký ức 40 năm.
Đặng Thơ Thơ:
Xin cám ơn tất cả các thính giả của Đài Á Châu Tự Do.
Trích
dẫn kết luận của tác giả Lưu Nguyễn Đạt từ bài viết: "Từ Quốc Hận 30 tháng
4...".
§Những
hiện tượng “Hy Vọng” và “Tự Do” có thể tưởng niệm hay ăn mừng bất cứ ngày,
tháng, năm nào “KHÁC”, chứ không thể lấn át, thay thế Ngày Quốc Hận “30 Tháng
Tư” được. (TS-LS Lưu Nguyễn Đạt)
§
Người Việt và ngoại kiều ở
Việt Nam rời khỏi Saigon trên phi cơ vận tải C-130 trong đợt di tản đầu tiên
vào ngày 25 tháng 4, năm 1975; không một ai nghĩ rằng họ bắt đầu "Hành
Trình Tự Do". Thực tế, họ cũng không thể biết rỏ những phi cơ này sẽ đưa
họ đên đâu là bải đáp cuối cùng của chuyến phi hành vô định. Đơn giản một
điều trong tâm tư của từng người là : "Tôi phải sống"
Xích sắt thiết vận xa T-54
nghiến trên đại lộ Thống Nhất, Tự Do ủi xập cánh cửa dinh "độc lập" kéo
theo những khẩu pháo 130 ly đã phóng hàng tràng quả đại bác vào khắp xóm làng
miền Nam suốt chiều dài bước chân xâm lược. Đó là ngày 30 tháng 4, 1975 với xác
người vô tội tan tác khắp nông thôn, thành thị.
Xin hỏi bọn Việt Gian, đó là
ngày gí? Sao có thể đặt tên là "Ngày Hành Trình Tự Do" để múa hát,
vui mừng, nhảy nho't trên anh linh, oan hồn người đã khuất?!
Sau ngày Quốc
Hận 30 Tháng Tư, cả nước Việt Nam đã trở thành một nhà tù lớn với rất nhiều nhà
tù nhỏ, kể cả những nhà tù cá nhân thi hành tại chỗ, dưới mắt “Đảng-Ta” hạch
sách, làm tiền và hành tội. Dưới mãnh lực toàn trị của gần 4 triệu cán bộ
và lãnh chúa CSVN, người dân có ba cách phản ứng:
§tỵ
nạn nước ngoài với hy vọng khôi phục danh dự và quyền làm người;
§tỵ
nạn trong nước với thế cam phận, vô cảm;
§tranh
đấu trong nước với hy vọng bật lửa đại nghĩa.
1. Liên hệ
trực tiếp với thời điểm kết thúc tiền đồn trận tuyến ý thức hệ, từng đợt từng đợt
người Việt đã “bỏ phiếu chống cộng” bằng chân, bằng thuyền, trong cảnh phiêu
lưu tỵ nạn chưa từng thấy trước đây: cho tới nay, gần 4 triệu người Việt đã bỏ
nước thoát cộng, bỏ lại tất cả để thoát hiểm.
“Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope”
[đúc bằng ciment cốt sắt/béton armé, cao 9 ft, móng sâu 9 ft] do
LS Lưu Nguyễn Đạt [Hoạ sĩ, điêu khắc gia, nguyên Tổng Thư Ký hội Hoạ
Sĩ Trẻ VN/SàiGòn/ trước 1975] tạo dựng và tặng Trại TQLC Camp
Pendleton, San Clemente, California vào đúng Ngày Độc Lập July 4, 1975.
Tiêu biêu cho “Hy Vọng” đứng dậy & khởi phát của [hậu duệ]
Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ và trên Thế Giới Tự Do.
Đối với người
viết là tác giả điêu khắc “Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope”[8]đúc bê-tông cốt sắt thực
hiện và tặng trại Thủy Quân Lục Chiến Camp Pendleton, San Clemente, California
vào đúng Ngày Độc Lập July 4, 1975, thì cuộc ra đi của người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản
có rất nhiều ý nghĩa chính:
§Tỏ
rõ lập trường của những người Việt tự trọng, khao khát tự do và tôn trọng giá
trị nhân phẩm, nên không thể sống chung với con người cộng sản phi nhân, phi
nghĩa.
§Nuôi
dưỡng “hy vọng” sắt đá khôi phục danh dự và quyền làm người. Đó cũng là cách
tạo dựng lại một không gian an toàn, vượt tiến cho hậu duệ, như biểu tượng “Bàn
Tay Hy Vọng” dựng trên xứ người với những đứa trẻ tụ hợp “đứng thẳng” và sẵn
sàng “bay ra khỏi bàn tay” cưu mang. Chỉ bằng đường lối thẳng thắn, vươn cao và
khởi tiến, người Việt Tỵ Nạn mới chắp nối cho họ, cho con em họ cái thế đứng
vững vàng làm người tử tế, mạch lạc để trở thành những công dân tiến bộ xứng
đáng với cuộc sống mới mà người tỵ nạn đã chọn với giá rất cao, đôi khi cần
phải hy sinh tột đỉnh.
§Người
Việt Tỵ Nạn Cộng Sản nhập cảnh với diện quốc tế công pháp “tỵ nạn chính trị”,
khác hẳn với diện “di dân kinh tế”. Căn cước người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản
thuộc quy chế chính trị, nên khi họ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Tiệp
Khắc, Nhật, v.v., họ có quốc tịch nơi cư ngụ và chỉ còn là “sắc dân/công dân
gốc Việt”. Vậy đối với những “công dân gốc Việt”, ngoài trường hợp có
song tịch với Việt Nam, không thể coi họ là “Việt Kiều”, vì họ đã bỏ quốc tịch
Việt, trên phương diện luật di trú và quốc tế công pháp. Quốc tịch mới và
“gốc Việt” phải được thi hành và tôn trọng một cách đứng đắng, phân minh, phù
hợp với pháp luật và lẽ phải.
§Quốc
tịch mới là những “Bàn Tay Hy Vọng” đặt tại xứ người. Là những “Ngày Hành
Trình Đến Tự Do” nơi bến hứa [La Terre Promise- The Promised Land]. Người Việt Tỵ Nạn thoát khỏi địa ngục cộng sản, phần lớn
là để bảo toàn tương lai cho hậu duệ họ. Nhưng các hiện tượng sáng sủa,
hy vọng và vui mừng đó phải “tới sau” mùa tang tóc quốc thể. Phải tới sau “Ngày
Quốc Hận” và cũng không thể xoá bỏ “Dấu Ấn” lịch sử đó. Những hiện tượng
“Hy Vọng” và “Tự Do” có thể tưởng niệm hay ăn mừng bất cứ ngày, tháng, năm nào
“KHÁC”, chứ không thể lấn át, thay thế Ngày Quốc Hận “30 Tháng Tư” được.
TS-LS Lưu
Nguyễn Đạt
[8]Lưu Nguyễn Đạt,“Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope” [đúc bằng
ciment cốt sắt/béton armé, cao 9 ft, móng sâu 9 ft] do TS-LS Lưu Nguyễn Đạt
[Hoạ sĩ, điêu khắc gia, nguyên Tổng Thư Ký hội Hoạ Sĩ Trẻ VN/SàiGòn/trước 1975]
tạo dựng và tặng Trại TQLC Camp Pendleton, San Clemente, California vào đúng
Ngày Độc Lập July 4, 1975. Tiêu biêu cho “Hy Vọng” đứng dậy & khởi phát của
[hậu duệ] Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do.
Hand of Hope
[Camp Pendleton,1975]
Hình ảnh
chụp năm 2012, Tác giả Lưu Nguyễn Đạt & Hai người con trai, từ
trái sang phải:
1. Lưu Thế
Khải [sinh năm 1973, là đứa trẻ đứng sát lòng tay. Từng là Đại
Úy Quân Cảnh/MP/US Army, giải ngũ năm 2008/cư ngụ Diamond Bar, CA, USA;
2. TS.LS. Lưu Nguyễn Đạt, tác giả Bàn Tay
Hy Vọng; còn sinh hoạt XHDS; Chủ nhiệm, Chủ Bút Diễn đàn Việt
Thức, Virginia, USA];
3. Lưu
Việt, sinh June 1975 tại Trại Pendleton/Ocean side, Navy Hospital,
là đứa trẻ "đang bay " ra khỏi Bàn Tay; nay
làm Điện ảnh/Special Effect Coordinator/New York/Hollywood, CA, USA]
TÂM THƯ TƯỞNG NIỆM 40 NĂM QUỐC HẬN 30.4 & VINH DANH 100 NĂM NGÀY ANZAC 25.4
Kính thưa Quý Đồng Hương, Quý Niên Huynh
Trưởng, Quý Chiến Hữu,
40
năm trước, CS Hà Nội, với sự tiếp tay của CS quốc tế, đã ngang nhiên vi phạm Hiệp
Định Ba Lê, cưỡng chiếm trọn vẹn Miền Nam. Từ đó, người Việt trong và ngoài nước
đều ghi tâm khắc cốt, 30-4 là Ngày Quốc Hận. Từ đó, cả triệu người
Việt đã thoát khỏi chế độ CS, bằng cách vượt biển, vượt biên, hoặc xin làm lao
nô ở các quốc gia trên thế giới, hoặc qua du học, qua hôn phối... Kết quả, cộng
đồng 4 triệu người Việt yêu nước đã được hình thành tại hải ngoại. Sống trong
xã hội tự do dân chủ, lại có tinh thần chống cộng, cộng đồng người Việt hải ngoại
đã thực sự trở thành biểu tượng của tự do, dân chủ và là chỗ dựa vững chắc cho
90 triệu người Việt trong nước, trong cuộc đấu tranh giải thể nguỵ quyền CS. Năm nay, Tưởng Niệm 40 Năm Ngày Quốc Hận 30.4,
chúng tôi, những Cựu Quân Nhân QLVNCH, với tín niệm Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm,
một lần nữa, minh định lập trường: 1. Chiến
tranh Việt Nam là cuộc chiến XÂM LĂNG MIỀN NAM do CS Hà Nội chủ
xướng và thực hiện với sự tiếp tay của CS quốc tế. Luận điệu Chiến tranh Việt
Nam là NỘI CHIẾN, rõ ràng cố tình bóp méo lịch sử, nhằm chạy tội cho VC. Vì vậy,
Quốc Hận 30-4 là dịp để mọi người Việt yêu nước: Kính cẩn thắp nén hương lòng,
tưởng nhớ hàng triệu quân dân cán chính VNCH và chiến sĩ Đồng Minh, đã hy sinh
trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam Tự Do, cùng hàng trăm ngàn đồng bào đã hy sinh
trên đường vượt biển, vượt biên tìm tự do; Đồng thời, ghi tâm khắc cốt và lên
án những tội ác tầy trời do bè lũ CSVN và CS quốc tế gây ra trên quê hương VN; 2. Chiến
tranh Việt Nam là cuộc chiến CHỐNG CS XÂM LĂNGcủa quân dân VNCH,
mà kết quả, chúng ta đã giành được hai chiến thắng quan trọng trên phương diện
chiến lược: Một, bảo vệ được Miền Nam Tự Do trong 20 năm, một thời
gian đủ dài giúp cho người dân Miền Nam, được sống trong tự do, công lý và hòa
bình. Nhờ vậy, 40 năm qua cũng như trong mai hậu, tâm hồn cao thượng, tinh thần
pháp trị và lòng yêu chuộng công lý, hoà bình của người dân Miền Nam, dù ở
trong nước hay hải ngoại, luôn luôn thắp sáng trong lòng mỗi người dân VN, ngọn
lửa yêu thương và ý chí trước sau như một trên con đường đấu tranh chống nguỵ
quyền CS, giành tự do dân chủ cho quê hương VN; Hai,
bảo vệ được Thế Giới Tự Do khỏi sự lan tràn của làn sóng Đỏ, để rồi 25 năm sau,
Đế Quốc CS Sô Viết cùng hàng loạt các quốc gia CS chư hầu sụp đổ; 3. Lịch
sử VN trong thời gian ngót thế kỷ qua đã chứng minh, CSVN là bè lũ bất
nhân, độc ác, man rợ, phản bội tổ quốc; và nguỵ quyền CS là một chế độ độc tài
đảng trị và phi nghĩa. Với tín niệm Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm, Cựu Quân Nhân
QLVNCH luôn luôn sát cánh cùng các hội đoàn, đoàn thể và quý đồng hương, trong
mọi sinh hoạt đấu tranh và xây dựng cộng đồng, sẵn sàng đối phó kịp thời và đập
tan những việc làm tiếp tay cho CS, phản bội lập trường người Việt quốc gia và
chính nghĩa người Việt tỵ nạn cộng sản. Đặc Biệt, Lễ Vinh Danh 100 Năm ANZAC Ngày
25.4.2015, cũng là dịp để mỗi CQN/QLVNCH tưởng nhớ đến tất cả những người lính
Úc, Tân Tây Lan và các quốc gia Đồng Minh đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do trong thời
Đệ Nhất Thế Chiến. Trong tâm niệm đó, CQN/QLVNCH luôn luôn sát cánh với Cựu Chiến
Binh và Quân Đội Úc, cùng Vinh Danh Tinh Thần ANZAC Bất Diệt, và sự hy sinh cao
cả vì Tự Do của mọi người lính trên thế giới, hôm qua, hôm nay và cả trong mai
hậu. Người
can đảm nhất trên trái đất là người bền bỉ can trường chiến đấu trong những
hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt nhất. Đúng vậy, suốt 40 năm qua, trong những
hoàn cảnh đấu tranh nghiệt ngã nhất, người lính VNCH vẫn không hề bỏ cuộc. Và
hiện tại cũng như trong tương lai, những người lính VNCH, lưng tuy còng đầu
tuy bạc, nhưng chắc chắn, vẫn mãi mãi bền bỉ, can trường tiếp tục chiến đấu,
cho một niềm tin tất thắng vào ngày mai tươi sáng, huy hoàng trên quê hương VN
tự do. Chúng ta tất thắng, và cùng với chúng ta, chân lý và lẽ phải cũng tất thắng. Trân trọng kính chào Đoàn kết và Quyết thắng Brisbane, ngày 20 tháng 04 năm 2015 TM. BCH Hội CQN/QLVNCH/QLD Huỳnh
Bá Phụng Chủ Tịch