Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, May 30, 2016

Tại sao người ta khom lưng?


 
Tại sao người ta khom lưng?

Ngô Nhân Dụng
Sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama rời Việt Nam, trên mạng Internet có người đem hai bức hình ra so sánh. 

Bức hình thứ nhất chụp ngày 25 Tháng Năm, một ông “quan nhỏ bước ra khỏi xe hơi, trong lúc mặt đường ngập lụt. Một anh quân hầu vội vác chiếc ghế tới cửa xe cho quan bước lên, rồi một anh khác khom lưng cõng ông vào bậc thềm, cách cửa xe hai mét. 

Bức hình thứ hai chụp trước đó, cảnh ông Obama đang ở Việt Nam, tay cầm dù che cho hai nhân viên cùng bước với mình sau khi xuống máy bay gặp trận mưa lớn.

Một công dân mạng bình phẩm: “Không cần phải nói nhiều, hai tấm hình này cũng đủ nói lên bản chất của hai chế độ.”

Không sống dưới chế độ độc tài thì không thể hiểu tại sao anh quân hầu lại sẵn sàng khom lưng cõng ông “quan nhà báo.” Tại sao ông quan làm báo lại sẵn sàng cưỡi lên lưng người ta để bảo vệ đôi giầy của mình? Tại sao người ta cư xử với nhau với những phản ứng tự nhiên như vậy? 

Ðây chắc phải là một cảnh bình thường, trong đời sống hàng ngày. Cậu lính hầu thấy quan đang lo sợ ướt giầy, ướt gấu quần, thì đưa lưng ra cõng. Phản ứng tự nhiên, vì xưa nay cậu đã quen hầu các quan rồi. 

Ông quan thấy có đứa đưa lưng ra cõng thì ung dung cưỡi lên lưng người ta, không thắc mắc gì cả. Sau này ông kể, “sự việc diễn ra khá nhanh, lúc đó tôi cũng không nghĩ gì...” Ðúng ra, việc diễn ra nhanh hay chậm thì chắc ông cũng không thấy cần phải nghĩ gì cả. 

Ông cử động theo thói quen hàng ngay. 

Dù sao ông cũng biết xấu hổ khi bức hình lan truyền trên mạng, nên tìm cách giải thích, rằng vì ông già cả nên được anh quân hầu trẻ tuổi cõng. Chưa đầy 60 tuổi đã thấy mình già, nhưng nếu ông không quyền, không chức, thì có anh chị nào xin cõng hay không?


Nguyễn Ngọc Niên, tổng biên tập báo Nhà báo và công luận của Hội nhà báo Việt Nam, được cõng qua chỗ ngập nước

Chúng ta không cần nêu danh tính, in chân dung của ông quan và anh quân hầu trong câu chuyện này. Vì thực ra họ đều “ngay tình,” chỉ “phản ứng tự nhiên.” Họ không suy nghĩ gì khi khom lưng xuống hoặc cưỡi lên lưng đồng loại. Họ không cảm thấy hành động của mình có ý nghĩa nào về đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội. 

Cuộc sống trong chế độ Cộng Sản đã tạo ra kiểu hành vi, thái độ này, người trên thì vênh vang hưởng thụ, thằng dưới thì khúm núm xun xoe. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa sản xuất ra các hoạt cảnh bình thường như thế, bởi vì người ta sống như thế từ lâu, đã thành tập quán rồi. Thằng dưới phải khúm núm, sợ hãi thằng trên. Thằng trên coi thằng dưới như “gia nhân, đầy tớ.”

Những chữ “gia nhân, đầy tớ” tôi mới thấy trong cuốn “Lời Ai Ðiếu,” hồi ký của nhà báo Lê Phú Khải, Người Việt xuất bản. Ông Khải đã làm việc nhiều năm cho các đài truyền hình của Cộng Sản. Trong một đoạn, ông thuật lại mấy câu chuyện nghe cô em họ nói; cô đã từng phục vụ các quan Bộ Chính Trị trong các buổi họp. 

Cô kể rằng, “Khi họp Bộ Chính Trị, Bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không ai dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời.” Và ông Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng Sản, “mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Ông Lê Phú Khải lại kể một lần Võ Nguyên Giáp mặc trào phục oai nghi, đi xe hơi có tài xế lái, đến dự một buổi họp quan trọng. 

Lê Duẩn trông thấy, bảo, “Anh không được dự.” Thế là ông đại tướng quay đầu lủi thủi lên xe ra về.

Cung cách cư xử từ trên đã như vậy, xuống dưới không thay đổi, mức sợ hãi có thể còn tăng cường độ. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng được coi là y sĩ có uy tín nhất miền Bắc. Một vị tướng cảnh sát, từng làm thứ trưởng Bộ Công An, đã chứng kiến cảnh ông bác sĩ “quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm.” Chỉ vì ông phải ra làm chứng trong một vụ nghi án. 

Hai phe Bộ Công An đánh nhau, bên nói nạn nhân bị giết, các thủ phạm đã bị đưa ra tòa, kết án, còn bên kia cố chứng minh người đó tự tử. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng biết rằng nếu phát biểu ý kiến trái với phe công an mạnh thì không biết sự nghiệp và cả cuộc đời của mình sẽ ra sao! Là người ngoài, ông đâu biết phe nào mạnh hơn? Ông Tùng rút khăn trong túi ra lau mồ hôi, rút theo mấy gói bột ngọt, đánh rơi cả xuống đất. 

Thấy ông Tùng run quá, vị tướng cảnh sát cúi nhặt mấy gói “mì chính,” để lại trong túi cho ông, để ông còn cho vào tô khi đi ăn phở. Ông cho biết, Bác Sĩ Tùng phải thuộc hạng sang lắm (trong chế độ xã hội chủ nghĩa) mới có thứ bột ngọt này cất trong túi. 

Ông Tùng run, nhưng đủ bình tĩnh, khôn ngoan, không cho ý kiến nào cả. Chắc ông đã quyết định theo kế thoát thân đó trước khi dự buổi thẩm tra, vậy mà vẫn còn sợ, run, toát mồ hôi. Mà Bác Sĩ Tùng không thuộc hàng dân thấp cổ bé họng.

Thói quen sợ hãi người có quyền, có thế đã lan tràn. Xuống dưới nữa thì chúng ta mới thấy, cảnh anh quân hầu khom lưng cõng ông tổng biên tập một tạp chí của hội nhà báo. Làm chức tổng biên tập mà oai quyền đến thế sao? Người sống tự do quen không thể nào hiểu nổi lý do nào khiến con người khom lưng cõng nhau như vậy! 

Thời tôi sống ở Montréal, Canada, một bữa tôi đến trường đứa con út học, ngồi chờ để gặp các thầy, cô giáo; ngày hôm đó các thầy cô phải tiếp các phụ huynh. Ðang ngồi đọc báo chờ, thấy một người đến ngồi cùng băng ghế, tôi ngẩng lên, rồi vội cười chào. Ông ta lễ phép chào lại. Phụ huynh mới tới đó là Luật Sư Pierre Trudeau, người làm thủ tướng nước Canada mấy lần. Năm đó hình như đảng ông mới thất cử, nhưng vài năm sau ông lại trở về ngồi ghế thủ tướng.

Tại sao trong một nước tự do dân chủ thì ông thủ tướng hay anh dân thường đều tự coi họ bình đẳng như nhau? Tại sao trong xã hội Cộng Sản thì thói đội trên đạp dưới trở thành căn bệnh kinh niên, nặng nề như vậy?

Tất cả là do môi trường tạo ra. Trong chế độ độc tài đảng trị, thì các quan trên, dù chỉ đứng hạng nhì, hạng ba trong một hội nhà báo, khi được đảng Cộng Sản tin dùng là đủ thấy mình có quyền thế, coi những kẻ dưới mình như gia nhân, tôi tớ. Trong chế độ dân chủ, muốn làm thủ tướng hay tổng thống thì phải được dân bỏ phiếu, được dân ủy quyền. 

Cho nên có người nhận xét về hai bức hình, hình người cõng người và hình ông Obama che dù cho nhân viên, “Chúng cho thấy sự khác biệt: Một bên là đảng cử, một bên do dân bầu.”

Chính guồng máy dân chủ làm cho mọi người sống bình đẳng, một cách tự nhiên. Cái guồng máy đó chạy trong đời sống xã hội, thế là ai cũng cư xử, hành động theo quy luật dân chủ. Cứ như thế, sau một thế hệ, cùng lắm là hai thế hệ, ai cũng thấy mình không thua kém những kẻ có chức có quyền. Và những kẻ có quyền chức cũng thấy mình chẳng hơn gì đám dân ngoài phố. 

Nhất là các nhà chính trị. Họ phải chật vật đi xin phiếu của dân, xin dân bỏ phiếu cho mình. Họ phải tìm mọi cách chứng tỏ là mình gần với dân, thông cảm dân, vì mình không khác gì những người đi bỏ phiếu.

Người Việt Nam ở Mỹ nhìn cảnh ông tổng thống của họ đi ăn bún chả, ngồi trên cái ghế đẩu, xắn tay áo cầm chai bia mà tu, không ai ngạc nhiên cả. Ông ta đứng trú mưa dưới mái nhà tôn cái quán chông chênh bên đường ở huyện Từ Liêm, lại mời cô chủ và các khách hàng ra chụp hình với mìn. Cũng không người mỹ nào coi là chuyện lạ lùng. Nhiều người còn hỏi: Ủa cái ông Obama này, ổng tính tranh cử lần nữa hay sao? Bà con mình ở Hà Nội hay Sài Gòn đâu có quyền đi bỏ phiếu bầu tổng thống Mỹ?
Những gì ông Obama đã quen làm ở Mỹ, cách ông ta cư xử với dân Mỹ, ông ta chỉ làm giống hệt như vậy khi tới nước Việt Nam. Một là coi mình với người khác đều ngang hàng, bình đẳng. Hai là có cơ hội là bày tỏ tình thân thiện với mọi người. Nghĩ một cách tự nhiên, làm cũng tự nhiên như thế. Thái độ và hành vi này đã trở thành loại “bản năng thứ hai” của những người làm chính trị trong các xã hội dân chủ tự do. Họ được huân tập trong guồng máy dân chủ.

Vì vậy, sau khi ông Obama đi rồi, một người ở Sài Gòn viết trên mạng “những ấn tượng ông để lại trên mảnh đất chữ S này thì mãi mãi còn.” Cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, 24 tuổi, nói với nhà báo: “Tôi muốn nước tôi có một người lãnh đạo như ông Obama.” Ông Nguyễn Quang Chơn viết trên blog của mình: “Ông Obama. 

Tôi kính mến, quí trọng và muốn được học tập ông... đối với người dân Việt, cái mà ông Obama đem đến chính là phong cách của ông, con người của ông...” Phải nói, mọi người dân Việt Nam đều khao khát những người cầm quyền ở nước mình cũng biết cư xử với dân như một ông tổng thống Mỹ.

Ông Obama có biệt tài khi nói trước đám đông mà khiến cho mọi người đều cảm thấy ông ta nói với chính mình. Ông đã trổ tài này khi nhắc đến Lý Thường Kiệt, rồi kết luận với “của tin, chút này” của Nguyễn Du. Ông ta có thói quen thổ lộ những kinh nghiệm và tâm tình mà người khác có thể chia sẻ ngay lập tức. 

Ngày hôm qua, tới Hirosima, nơi bom nguyên tử Mỹ đã giết 140 ngàn người Nhật, ông đã làm nhiều người rơi lệ khi nhắc đến những đứa trẻ lúc chết còn sững sờ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nghĩ đến những em bé chết oan vì tội lỗi của người lớn, ai cũng nhận được bản thông điệp hòa bình này.

Giống như vậy, tôi đã từng đọc bài thi sĩ Hữu Loan kể cha mẹ vợ ông bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Các cụ bị chôn sống đứng, nhô đầu trên mặt đất, rồi người ta cho kéo cầy đi qua. 

Nghĩ đến cảnh đó đủ rợn người. Nhưng gần đây tôi còn rùng mình hơn, khi đọc một đoạn hồi ký về cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Cộng; nhân năm nay là 50 năm kỷ niệm thảm họa đó. Một nhân chứng kể ở tỉnh Sơn Tây người ta đem chôn sống một bà già và đứa cháu. Nhân chứng kể nghe thấy tiếng đứa bé kêu khóc: “Bà ơi, cát chui vào mắt con đau quá!” Rồi nghe tiếng bà trả lời: “Lát nữa sẽ hết đau, con ạ.”

Tại sao con người có thể tàn ác với nhau như thế? Chế độ Cộng Sản đã thay đổi con người, tạo ra những hành vi chúng ta không hiểu nổi. Tàn ác cực độ. Hoặc hèn hạ kinh khủng.

Muốn cứu con người, phải chấm dứt chế độ đó.

__._,_.___

Posted by: truc nguyen 


 
Khúc bi tráng của Trần Huỳnh Duy Thức

Trí thức tuyệt thực cùng Trần Huỳnh Duy Thức

Quan ngại sức khỏe Trần Huỳnh Duy Thức sau 3 ngày tuyệt thực

Cá voi nặng hơn 8 tấn chết tại bờ biển Nghệ An

Thêm 1 người Mỹ gốc Việt bị bắt giam tại Việt Nam

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ: Trung Quốc đang xây “trường thành tự cô lập”
TIN
Tương phản chuyến thăm Việt Nam của TT Obama và Chủ tịch TQ
__._,_.___

Posted by: Truong Hung 

The Washington Post News - May 29 2016



As Fallujah battle gets underway, U.S. commander warns of risk from locals; ISIS fighters appear to be trying to sell their sex slaves on the Internet

In campaign chaos, Donald Trump shows his management style


The top 5 people Donald Trump might pick as his vice president



Summer Movie Guide 2016

As Fallujah battle gets underway, U.S. commander warns of risk from locals

ISIS fighters appear to be trying to sell their sex slaves on the Internet

When it comes to fitness, grit counts more than genetics

‘They are evil monsters that attack us night and day’: Senegal’s killer hippo problem

The shocking number of Americans who can’t cover a $400 expense

Chinese schoolkids climb a 2,625-foot cliffside ladder to get home. Now, they’ll have stairs.

Zika precautions: What you need to know before you start your summer travels

Obama’s racial legacy

Children on the edge of starvation


©2016 The Washington Post,
1301 K St NW, Washington DC 20071


~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

Posted by: "Nhat Lung" 

Sunday, May 29, 2016

Trả lại nhân tính cho sự chết.



 

                                  Trả lại nhân tính cho sự chết.

                        Nguyễn Tiến Cảnh, MD.   

            Không ai biết được trong giờ lâm chung, những giây phút cuối cùng của đời người, người  bệnh sẽ sợ hãi ghê gớm, hay bằng an thanh thản sẵn sàng ra đi.   


                                                Trả lại nhân tính cho sự chết: Trách nhiệm của người Thầy thuốc.


            Nhưng khi con người phải ra đi, giã từ tất cả những gì thân yêu nhất của mình, không bao giờ trở lại, có thể có những bịn rịn, luyến tiếc, đôi khi hốt hoảng như mất mát một bảo vật, mà biết chắc chắn mình chẳng bao giờ có lại được. Sự an ủi vỗ về cảm thông với người  bệnh của người Thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân lúc đó thật quả là vô giá và cần thiết.


                                                Y khoa tuyệt hảo có thay thế được tình cảm không?
            Khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại đã cho phép người Y sĩ không cần phải ở bên cạnh bệnh nhân đang cơn hấp hối,  mà vẫn có thể điều khiển, kiểm soát thời gian, và tình trạng sống chết của người  bệnh. Hồi xưa, khi Y khoa chưa đạt tới mức siêu đẳng như ngày nay, người Y sĩ là trung gian giữa những hiện tượng tự nhiên như sống và chết. Ngày nay, họ trở thành trọng tài của những kỹ thuật nhân tạo. Sự chết do đó đã được quan niệm dưới những góc cạnh khác. Tử thần đã được Y khoa hóa. Xã hội, người Y sĩ và bệnh nhân đã bắt đầu nhận thấy có một giới hạn, hay một khoảng cách giữa văn hóa và Y đạo. Họ bắt đầu tìm kiếm một phương thức mới về trách nhiệm của người Y sĩ đối với bệnh nhân trong khi hấp hối. Câu chuyện sau đây cho thấy hậu quả của việc Y học hóa Tử thần, và những khuyết điểm của sự thay đổi ấy.
            Bà M., 57 tuổi, bị ung thư vú ở thời kỳ cuối cùng, đã phải nhập viện nhiều lần vì tình trạng hô hấp bê bết. Bà ta chưa bao giờ chính thức ký giấy từ chối trị liệu để được chết, nhưng không rõ lý do tại sao bà lại từ chối nhập viện điều dưỡng, để cho người ta dễ dàng săn sóc bà. Trị liệu hóa học đã thất bại, mà giải phẫu thì không thể được mặc dù gốc ung thư chưa chạy đi nơi khác (metastases). Bà vẫn sinh hoạt hàng ngày bình thường,  và không đau đớn nhiều. Tuy nhiên gia đình bà cảm thấy không còn có thể tiếp tục chăm sóc, và phụng dưỡng cho bà được nữa, đã yêu cầu Bác sĩ khuyên bà ký giấy “Đừng cứu sống/Do not resuscitate-DNR)” nếu bị nguy kịch hôn mê. Bà không hoàn toàn chấp nhận tình trạng hết thuốc chữa của bà. Bà vẫn muốn được cứu sống, để nhìn ngắm con cháu bà càng lâu càng tốt.
            Một hôm bà trở bệnh bất ngờ. Gia đình bà đưa bà vào bệnh viện cấp cứu. Con gái bà đã thảo luận với Bác sĩ về tình trạng của bà, và giấy yêu cầu “Đừng Cứu Sống” đã được ký. Nhưng khi tình trạng của bà sáng sủa trở lại, bà nhất mực xin hủy bỏ giấy đã ký. Bác sĩ nói cho bà hiểu bệnh trạng của bà vô phương cứu chữa, bà đang trong tình trạng coi như hấp hối. Chữa trị chỉ là tạm bợ và vô ích. Bác sĩ không có bổn phận phải cứu sống bà. Thế rồi tình trạng của bà M. tiếp tục khả quan, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tử thần gần kề nữa. Chuyên viên Y đạo cũng đã được tham khảo ý kiến, và cắt nghĩa cho bà hiểu rằng:  nếu có tiếp tục chữa trị cho bà, cũng không thể cứu sống bà được, do đó mục đích của Y khoa không còn ý nghĩa, vì vậy Bác sĩ không buộc phải thi hành ước nguyện của bà. Sau đó bà được chuyển về phòng riêng, và ngày hôm sau bà đã qua đời. Trong lúc hấp hối, bà luôn luôn lẩm bẩm yêu cầu: “Tôi biết Bác sĩ không bắt buộc phải cứu sống tôi, nhưng làm ơn hãy để cho tôi sống !”
                                               


                                                Những vấn đề khó giải quyết.
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
            Câu chuyện bà M. đặt ra rất nhiều thắc mắc nan giải liên quan đến ý niệm về sự chết gần kề trong phạm vi Y khoa. Người ta tự hỏi “Cái gì đã xẩy ra lúc đó?” “Có điều gì sai quấy?” “Người Thầy thuốc có phải làm cái gì khác thường không?”
            Phần chia sẻ dưới đây chỉ là cố gắng giải đáp phần nào những câu hỏi khó giải quyết ấy. Hiểu rõ chuyện “Y học hóa Tử thần” trong Y đạo là ta có thể thấy cái chết của bà M. quá ư thê thảm, và mất hết tình người.
            Y đạo là kim chỉ nam giúp người Y sĩ làm sáng tỏ, và giải quyết những vấn đề khó khăn của trường hợp bà M. Tuy nhiên, chính những khúc mắc về cái chết của bà lại cho ta thấy rằng:  những quan niệm Y đạo như quyền được tự chết, và những phương cách trị liệu bằng thuốc, và khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại cũng chẳng có thể giải quyết được những lý luận tranh cãi về giá trị của sự sống; ngay cả những nguyên tắc Y đạo cũng không bảo đảm được phương cách trị liệu có tính nhân bản cho bệnh nhân trong những giờ phút lâm chung. Sự Sống, Đau Khổ, và Sự Chết, là những thắc mắc mà Dostoyevsky gọi là “Vấn đề muôn thuở” mà con người không bao giờ có thể giải quyết được một cách hoàn hảo. Có lẽ điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm được là cố gắng giải đáp những vấn đề khó giải quyết với hết ý thiện, lòng trắc ẩn cảm thông,  và nhiệt tình nồng cháy của lương tâm, chấp nhận may rủi trong sai lầm, luôn luôn cởi mở sẵn sàng đón chờ những cảm nhận mới đến từ tâm tư khắc khoải về sự sống và sự chết. Người Y sĩ thường không mấy thỏa mãn với những giải đáp với điều kiện rồi từ đó đi tìm những nguyên tắc luật lệ dựa trên những chỉ dẫn có sẵn, để tạo ra những bó buộc Y đạo đối với bệnh nhân. Trong những trường hợp như vậy, người ta thường nại cớ “luật bắt buộc thế” hay “luật cho phép làm”. Lúc đó thực ra người Y sĩ đã vượt qua cái bổn phận mà người ta gọi là “luật cho phép”. Họ đã không phải chỉ dựa vào những chỉ dẫn của nhà thương, mà còn nại cớ nguyên tắc Y đạo biểu làm. Họ quên, trong trường hợp bà M., rằng chính họ đã vi phạm những nguyên tắc chỉ dẫn có sẵn là “phải tôn trọng ước nguyện trị liệu của người bệnh” trong những giờ phút cuối cùng của đời bà.
            Y khoa tân kỳ, Y đạo, và luật pháp vẫn chưa đủ để giúp người bệnh ra đi một cách an lành với đầy đủ tình người.
            Bà M. đã được chữa trị một cách tuyệt hảo mà Y khoa hiện đại đã có thể cung ứng hầu có thể đương đầu với Tử thần. Đó là kỹ thuật, Y đạo, và luật pháp. Tuy nhiên cả ba cái đó đều thất bại, đã không thể giúp người bệnh chết một cách an lành, với đầy đủ nhân cách của một con người nhân bản. Đem phân tích, chúng ta sẽ thấy những thiếu sót cơ bản:
                        - Thứ nhất, sự chết thường được coi như một sự kiện (an event), trong khi thật sự nó là cả một tiến trình (progress) âm thầm và liên tục lâu dài. Theo E. Kubler-Ross trong “On Death and Dying” xuất bản năm 1969, thì chết là một tiến trình năng động xẩy ra một cách liên tục trong đời sống, và có những giai đoạn rõ ràng. Đời người là sự sống đang đi lên, đồng thời cũng là sự chết đang đi xuống. Đa số những người săn sóc bệnh nhân không là chứng nhân của những giây phút của sự chết chóc ấy, nên họ không cảm nhận được giá trị của những tình cảm thắm thiết, mà bấp bênh mơ hồ trong tiến trình sự chết. Do đó nếu không có sự giúp đỡ an ủi của người Thầy thuốc, của gia đình, xã hội, và tôn giáo, thì phương cách trị liệu chưa được hoàn hảo. Gia đình bà M. đã mệt mỏi vì phải săn sóc bà quá lâu. Riêng bà cũng đã mất sự thân mật, tình liên đới với những người có trách nhiệm săn sóc bà, vì họ phải làm việc quá cực nhọc trong một hoàn cảnh quá bận rộn, không phải một lần mà dòng dã năm này qua năm nọ. Do đó chẳng ai còn để ý đến ước vọng chối từ, hoặc muốn sống của bà. Chính những giai đoạn trong tiến trình của sự chết đó, lại có thể giúp họ cùng với bệnh nhân cảm nhận được bước đường dẫn đến sự chết một cách hữu lý, và đầy tình nhân ái. Cũng chẳng ai thèm tìm hiểu lý do tại sao có lúc vì quá buồn nản, thất vọng, bà đã từ chối sự chăm sóc của mọi người trong khi bà vẫn còn muốn sống.
                        - Thứ đến, phương pháp trị liệu hiện đại cho người bệnh trong cơn hấp hối nói lên sự đáp ứng cố tình, và có sắp đặt một cách máy móc của người Y sĩ mà không đếm xỉa đến mặt tình cảm. Khi được hỏi cái gì làm cho người sắp chết sợ hãi nhất, thì người Y sĩ thường trả lời là đau đớn.
            Thiển nghĩ và theo Pearlman, thì không phải là đau, mà chính là sợ sẽ là gánh nặng cho gia đình xã hội, sợ vì mất chức năng, sự tự lập và tình liên đới. Ngoài ra bệnh nhân còn phải vật lộn với những lo lắng, thắc mắc về tình cảm, và cuộc sống tinh thần đời sau, sự thất vọng và cuộc sống vô nghĩa của đời người trong những giây phút cuối cùng điên loạn,  hoặc vật vờ vô tri giác. Những vấn đề tâm lý xã hội này, kể cả sự đau đớn, có lẽ chẳng bao giờ có thể giải quyết một cách thỏa đáng, và hữu lý tận gốc rễ.
            Chính tính cách chủ quan về nhiều khía cạnh của sự chết, đã tạo nên nền Sinh-y-học khách quan, để rồi chính nó lại không muốn, hay không có thể đối đầu được với Tử thần. Khi phân tích ý nghĩa uẩn khúc đằng sau những câu như: “Đừng Cứu Sống” (Do Not Resuscitate / DNR), “Chích cho một Mũi ân huệ” (Administer an Injection), “Hãy Cắt Đứt Hệ Thống Trợ Sinh / Rút ống” (Terminate Life Support), ta thấy rõ ràng là:  người Y sĩ tiên khởi chỉ nhằm vào ý nghĩ và hành động tức thời, hơn là ý nghĩ thầm kín trong câu nói, hoặc những lý do thúc đẩy họ phải đương đầu với Tử thần. Ngay cả khi người Y sĩ thực sự muốn ở bên cạnh người bệnh để dìu họ đến gần sự chết một cách êm đềm, thì thường cũng có những lẫn lộn giữa những điểm căn bản của Y đạo, bởi vì chính những điều kiện, và chỉ dẫn có sẵn cũng không được rõ ràng như đã xẩy ra trong trường hợp bà M.. Hơn nữa, hiển nhiên là sợ hãi, chán nản, mặc cảm tội lỗi, bối rối pha lẫn với hy vọng yêu thương là những động lực chính đi đến quyết định tự tạo ra cái gọi là Y đạo của những người can dự vào nội vụ, kể cả người Thầy thuốc , và vị Cố vấn. Dù vậy, những thúc đẩy, và nhu cầu vô lý này cũng không bao giờ được đề cập đến, và bàn luận một cách công khai và xây dựng. Hình như thái độ “Tôi vô can, thờ ơ và duy luật lệ” đó của người Y sĩ đối với cái chết đã khiến họ dửng dưng không muốn hiểu, và cảm thông những nỗi niềm của người bệnh trong cơn hấp hối.
            Sau cùng, người Y sĩ trong trường hợp này, đã chia sẻ nghề nghiệp chuyên môn của họ với bệnh nhân một cách lệch lạc. Họ nghĩ rằng:  họ chỉ thi hành những chỉ dẫn có sẵn của nhà thương và Y đạo, và như vậy họ đã hoàn thành trách nhiệm luân lý của họ. Họ đã không nhận biết rằng chăm sóc bệnh nhân trong cơn hấp hối là bổn phận của người Thầy thuốc, kỳ vọng của tình liên đới người với người, giữa bệnh nhân và người Y sĩ. Thực ra mà nói, chính những chỉ dẫn có sẵn cũng có những thiếu sót như ngôn ngữ mơ hồ, quan niệm lệch lạc, nhất là thiếu tính cách uyển chuyển. Mỗi chỉ dẫn, mỗi câu nói, có thể được hiểu một cách khác nhau tùy người, ngay cả những người trong cùng một gia đình như trường hợp bà M..
            Sự tin tưởng vào những chỉ dẫn, nguyên tắc và tài liệu một cách máy móc, đã làm giảm mất nhiệm vụ và cơ hội chữa lành con bệnh của người Y sĩ.
            Trong khi đó tử thần tự nó nói lên sự cấp bách của bệnh nhân là đòi hỏi người Thầy thuốc phải hành động. Dĩ nhiên ước vọng khẩn thiết của người bệnh là muốn Bác sĩ chú ý lắng nghe những ao ước của họ, tôn trọng lời hứa, và giúp đỡ ủi an họ. Nếu những đòi hỏi này có thật trong đời sống con người thì chắc nó cũng cấp thiết khi con người đang trong cơn hấp hối. Có lẽ điều tuyệt hảo, và dễ dàng nhất mà các Bác sĩ có thể làm cho bà M. là đơn thuần hiện diện bên cạnh bà, với tư cách người với người, biết cảm thông, thực tâm mong muốn chia sẻ tiến trình của Tử thần, và những nỗi niềm đớn đau của bệnh nhân và sự chết.



                                                Lời bàn.
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men. Nguồn: blogs.jpmsonline.com
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men.
                        Trường hợp bà M. cho ta thấy nếu chỉ đơn thuần đem khoa học kỹ thuật đến với bệnh nhân trong cơn hấp hối,  thì vô tình đã tạo ra một sự cách biệt giữa con người và khoa học, bởi vì khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó phối hợp liên kết với con người. Phải chăng khi người bệnh nói lên hoặc đòi hỏi “Quyền Được Chết / Right to Die” là chính lúc họ đang phản đối chống lại loại săn sóc trị liệu máy móc vô nhân tính ấy. Với nhãn quan đó, ý của Derek Humphry trong Final Exit (Delta Trade; 3rd edition November 26, 2002), và ý kiến của nhiều người, cũng như của một số nhà Lập pháp có khuynh hướng nghiêng về phía đồng ý để Bác sĩ giúp bệnh nhân chết / tự tử (physician assisted suicide) thực ra không nhất thiết là muốn người Thầy thuốc trở thành những kẻ sát nhân, mà điều thúc bách hơn cả là muốn người Y sĩ và mọi người / xã hội hiểu rằng, có những lúc tâm trạng tình cảnh của người “đang chết” bê bết, tồi tệ, thảm thê hơn cả chính sự chết.
            Con người là linh ư vạn vật, có xác có hồn, và trí khôn. Do đó bản tính của những ước mơ, băn khoăn thắc mắc của người bệnh trong cơn hấp hối cũng là hỗn hợp của cả xác lẫn hồn,  và đặc thù cá biệt tùy theo từng người. Thời gian hấp hối có thể là lúc kinh hoàng bấn loạn nhất của kiếp người, sự hiện diện của người Thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân hiển nhiên sẽ là những an ủi vỗ về, là bảo đảm chắc chắn cho những giá trị tuyệt hảo thâm sâu cùng kín của người bệnh, và là người bạn chí thân đáng tin cậy nhất có khả năng dẫn đưa người bệnh về bên kia thế giới, cõi chết một cách an bình thư thái. Bệnh nhân có thể muốn tìm cái chết, nhưng có lẽ chỉ với một ý nghĩa tiêu cực nào đó. Họ chỉ không muốn phải liên tục bước qua ngưỡng cửa Tử thần đầy gian nan khốn khổ ấy. Những thành công vượt bực trong phương pháp trị liệu của Y khoa hiện đại với mục đích giúp người bệnh hết kinh hãi tinh thần đớn đau thể xác, và giảm thiểu số người muốn tìm cái chết / tự tử hẳn cũng chỉ muốn hướng đến những viễn tượng thâm sâu đó mà thôi.
            Chết là đi vào thế giới vô định vượt khỏi tầm tay của con người, cho nên người Y sĩ sẽ cảm thấy thoải mái dễ chịu, và tự tin vào những hiểu biết và phương cách trị liệu của mình. Hỏi những người bệnh đang hấp hối cảm tưởng về sự chết, thì đa số cho rằng họ linh cảm là sẽ đi vào thế giới lỳ lạ chưa ai biết. Đi rồi sẽ chẳng bao giờ trở lại. Do đó thực sự chẳng có ai biết thế giới bên kia nó như thế nào.
            Cũng chẳng ai trong chúng ta có thể biết được con bệnh phải chuẩn bị những hành trang gì trong những ngày cuối cùng của cuộc đời để sẵn sàng cho cuộc hành trình đó. Chúng ta là những người có niềm tin tôn giáo. Chúng ta tin vào Chúa / Phật. Chết là đi về thế giới đời sau, thế giới vĩnh cửu: Sinh ký tử qui. Thế giới đó là hiện thân và hậu quả của thế giới hữu hình phù du mà chúng ta đang sống. Làm tốt, sống thiện thì được hưởng lành. Sống độc làm ác thì phải chịu tội. Nhưng còn những người không có niềm tin tôn giáo, không tin vào đời sau thì sao? Thực vậy, không hiểu sao khi Tử thần kề sát người bệnh, thì ông Bác sĩ thường hay tê cứng, mất hết cảm xúc? Chính lúc đó lại là lúc mà người bệnh cần có sự hiện diện của người Thầy thuốc như sự hiện diện của Linh mục linh hướng. Hình như là người Y sĩ đã được huấn luyện, hoặc tự tạo cho mình một sự cách biệt tình cảm đối với bệnh nhân, bởi vì nếu người Y sĩ và bệnh nhân có những liên đới tình cảm với nhau,  thì khi người bệnh hấp hối qua đời người Y sĩ sẽ khó tránh khỏi những xúc động hốt hoảng. Tuy nhiên đối với bệnh nhân thì lại khác, nhất là khi người bệnh trong cơn đau đớn khủng khiếp, thì chính cái nhân tính con người tự nhiên của người Y sĩ lúc đó lại là những liều thuốc có quyền năng vô hạn.
            Khi mà sự chết không còn được coi như là một biến cố, một sự kiện có tính cách máy móc kỹ thuật như rút ống thở, ngừng trợ sinh (withdrawl of life support) hoặc chuyện thi hành ước nguyện của bệnh nhân có tính cách pháp luật (living will), mà được coi là một sự chuyển tiếp thần bí từ thế giới phù du,  sang thế giới đích thực,  thì lúc đó Thần chết sẽ có sức chuyển thông trách nhiệm Y đạo của người Y sĩ đến cho người bệnh. Hiện nay người ta đang cố gắng giải quyết sự chết bằng pháp luật. Nhưng xét cho cùng lẽ lương tâm, chẳng có luật lệ khách quan nào lại có thể ngăn cản người Thầy thuốc trách nhiệm đến với người bệnh trong cơn hấp hối. Ý niệm đó đã được Kierkegaard , Ông Tổ của thuyết Hiện sinh, gọi là “sự thật chủ quan”, trong đó người Thầy thuốc và bệnh nhân gặp nhau với tư cách là những người khốn khổ cảm thông nhau,   mà không ai có thể chê trách hoặc làm tổn thương được; không có phương cách trị liệu nào, Y học nào có thể ngăn cản cấm đoán nổi. Đó là sự tương phùng giữa con người với con người, không phải tương phùng Y học kỹ thuật. Đó là nhiệm vụ chính của người Thầy thuốc trong Y khoa cổ điển. Hippocrates 400 năm trước Thiên chúa, đã viết trong aphorism: “Nghệ thuật trị liệu gồm ba chủ điểm là bệnh tật, người Y sĩ, và bệnh nhân. Bệnh nhân và người Thầy thuốc là những người bạn đồng hành luôn luôn cùng nhau sát cánh chống lại bệnh tật !”.
            Người Thầy thuốc là chứng nhân và Sứ giả của Thần chết trong thời của Lương Y như Từ Mẫu trong Y Học Đông Phương.
            Buồn thay, thời của tình người với người không còn nữa. Chính cái tình người đó mới là nhiệm vụ  đạo đích thực, ngàn đời, và tối quan trọng của người Thầy thuốc đối với bệnh nhân trong cơn hấp hối. Câu nói cuối cùng của bà M., “Tôi biết Bác sĩ không buộc phải cứu tôi sống, nhưng làm ơn hãy để tôi sống !”, rất đáng cho ta suy nghĩ. Sự sống là do Thượng đế ban cho con người, không ai có quyền hủy bỏ nó, kể cả chính bản thân mình.



                                                “Lương Y như Từ Mẫu” – Một góp ý.
Chăm sóc toàn diên. Nguồn: www.physio-pedia.com
Chăm sóc toàn diện.

            Tôi đưa bài viết này cho một anh bạn đọc, và xin ý kiến. Anh bạn này người Công giáo, đồng đạo với tôi, nhưng chắc chắn anh ngoan đạo hơn tôi nhiều lắm. Anh rất kính trọng, và nể vì các Cha, nhất là Giám mục. Anh không có ý kiến nhiều về những vấn đề chuyên môn Y khoa, nhưng anh đặt nặng vấn đề tôn giáo, nhiệm vụ của Linh mục. Anh nói:
            “Những điều anh viết về bổn phận của người Y sĩ đối với bệnh nhân lúc hấp hối, ngoài việc chữa trị chuyên môn, xem ra cũng rất cần thiết có Linh mục bên cạnh người bệnh lúc sắp lìa đời. Phải chăng Linh mục chỉ đến với người bệnh khi được mời, và để làm vài phép Bí tích cần thiết rồi ra đi? Các Linh mục còn cần phải làm những gì đặc biệt khác hơn là những công việc thường lệ đó, như người Thầy thuốc chỉ biết chữa cho bệnh nhân hết đau đớn thể xác?”
            Người Y sĩ là “Lương Y như Từ Mẫu” thì vị Linh mục cũng phải là một “Chúa thứ hai / Alter Christus” sống với tâm lý, tâm tình, tâm tư, tậm trạng, nỗi lo sợ buồn vui, và những khắc khoải lo lắng bấn loạn hãi hùng của người bệnh lúc lâm chung, với lòng trắc ẩn cảm thông như “Sống” và “Chết” với người bệnh, để dẫn đưa người bệnh đến gần Thượng đế hơn, một cách êm đềm thanh thản, và chấp nhận.  ./.



__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link