Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, September 1, 2016

Tiếp tục láo xược với nhân dân !!!


On Monday, August 1, 2016 4:28 AM, Toma Thien <> wrote:

Kính gởi đến Quý vị bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 248, ra ngày 01-08-2016.
Xin cảm ơn Quý vị đã đón nhận và sẽ chuyển tiếp.
Ban Biên tập
Tiếp tục láo xược với nhân dân !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 248 (01-08-2016)

          Chiều 29-7-2016, kỳ họp thứ nhất của Đảng hội (Việt cộng gọi là Quốc hội) khóa 14 đã bế mạc sau hơn một tuần làm việc (bắt đầu từ 20-07). Theo bài viết trên báo Nhân Dân điện tử ngày 30-07, trong buổi kết thúc này, ngoài Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhiều bộ trưởng cũng lên tiếng giải đáp các thắc mắc của một số đại biểu về các vấn đề thời sự quan trọng.

          Một trong những vấn đề ấy là “sự cố môi trường” (chữ của báo ND) ở bốn tỉnh miền trung. Giải đáp nội dung này, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết: bước đầu, Công ty Hưng Nghiệp Formosa đã cam kết chuyển cho VN 250 triệu USD để khắc phục hậu quả sự cố môi trường (trong tổng số tiền phải bồi thường là 500 triệu USD). Các công việc liên quan hỗ trợ, bồi thường cho người dân được Chính phủ chỉ đạo thực hiện rất quyết liệt. Bộ đang tiến hành các biện pháp xử phạt 53 hành vi vi phạm hành chính đối với Công ty này, cùng với đó là kế hoạch rất toàn diện về khắc phục các vi phạm của Formosa…. Ngay từ khi xảy ra sự cố, Bộ phối hợp các bên liên quan, bên cạnh tìm ra nguyên nhân, còn tiến hành bài bản, hệ thống và khoa học đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, sinh thái môi trường biển. Dự kiến ngày 15-8-2016, sau khi được các nhà khoa học thẩm định, Bộ sẽ công bố các thông tin về xét nghiệm môi trường, đánh giá về mức độ ô nhiễm cũng như đề xuất các giải pháp khắc phục, phục hồi các hệ sinh thái, môi trường…”. 

          Báo cáo của Thủ tướng và giải đáp của bộ trưởng TN-MT trên đây cho chúng ta thấy: dù bị công luận phân tích và phê phán kịch liệt kể từ cuộc họp báo hôm 30-06, Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vẫn điềm nhiên nhận số tiền bồi thường 500 triệu USD hết sức bèo bọt từ Formoma trong khi chưa nắm rõ mức độ thiệt hại của thảm hoạ môi trường. Mà nắm vững sao được, vì hôm 26-7-2016, Quỹ bảo vệ Biển Đức Deutsche Stiftung Meereschutz (DSM), có Tuyên bố báo chí tiết lộ rằng “Chính phủ VN đã nhờ một số chuyên gia quốc tế tư vấn cho quá trình điều tra thảm họa môi sinh này. Nhưng đáng tiếc nhiệm vụ của họ lại chỉ hạn chế trong việc đọc và góp ý kiến cho bản báo cáo của một số nhà khoa học trong nước, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học VN đưa ra, cũng như một chuyến tham quan cưỡi ngựa xem hoa tại chỗ, như chuyên gia Đức, Tiến sỹ Friedhelm Schroeder cho biết. Nhà hóa học từng có 25 năm thâm niên tại trung tâm nghiên cứu Helmholtz Geesthacht, hiện là cố vấn khoa học của viện này lấy làm tiếc là ý nguyện được tự lấy mẫu (mang về Đức) đã không được chấp thuận”. Tuyên bố báo chí này cũng cho hay là nhà cầm quyền VN “không hề có giải pháp làm sạch môi sinh” dù Trần Hồng Hà khẳng định: “Ngay từ khi xảy ra sự cố, Bộ phối hợp các bên liên quan, bên cạnh tìm ra nguyên nhân, còn tiến hành bài bản, hệ thống và khoa học đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, sinh thái môi trường biển. Dự kiến ngày 15-8-2016, sau khi được các nhà khoa học thẩm định, Bộ sẽ công bố các thông tin về xét nghiệm môi trường, đánh giá về mức độ ô nhiễm cũng như đề xuất các giải pháp khắc phục, phục hồi các hệ sinh thái, môi trường”.

          Về lý do chậm trễ trong việc đưa ra kết luận thảm họa môi trường, Báo cáo của Nguyễn Xuân Phúc lý giải rằng đó là do quá trình đấu tranh để buộc Formosa thừa nhận trách nhiệm. Tuy nhiên, báo cáo hoàn toàn không đề cập gì đến việc nhiều quan chức lãnh đạo thuộc nội các chính phủ đã liên tục công bố sai trái về nguyên nhân cá chết hoặc cấm cản việc thông tin điều tra độc lập về vụ việc (điển hình là Võ Tuấn Nhân và Trương Minh Tuấn); những công bố và cấm cản này chẳng những đã lừa dối người dân mà còn chạy tội cho Formosa trong khi (theo báo cáo) chính phủ "đấu tranh" với nó. Mỉa mai thay, kết quả của cuộc "đấu tranh" giữa một bên là chính phủ quốc gia, một bên chỉ là một công ty nước ngoài lại dẫn đến kết luận là Formosa thừa nhận có 53 hành vi vi phạm hành chính, đang lúc công luận cho đây là những vi phạm hình sự và đáng bị đưa ra tòa. Thành thử chẳng lạ gì mà báo Nhân Dân dùng chữ “sự cố môi trường” theo đuôi Tổng bí thư cộng đảng. Khi nói về vụ cá chết lần đầu tiên hôm 18-07 nhân phát biểu tại hội nghị do Hội đồng bầu cử tổ chức, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Sự cố hải sản chết bất thường ở một số tỉnh ven biển miền Trung; sự chống phá quyết liệt của các lực lượng thù địch... đã gây không ít khó khăn cho công tác bầu cử”. Rõ ràng là thái độ bao che tiếp cho tội phạm sinh thái lừng lẫy năm châu này!

          Báo cáo cũng không giải thích được vì sao Formosa chỉ trong giai đoạn chạy thử nghiệm mà có thể dẫn đến tình trạng cá chết hàng loạt - một hiện tượng mà bình thường một nhà máy thép đi vào hoạt động nếu có làm tổn hại môi trường cũng phải đến nhiều năm người ta mới khám phá ra hệ luỵ của nó. Chính vì vậy mà báo cáo hoàn toàn không đả động gì đến số lượng và loại hoá chất độc hại mà Formosa đã thải ra trong mấy ngày. Điều đó dễ hiểu vì theo Tiến sỹ Schroeder (trong Tuyên bố báo chí nói trên), chính sách bảo vệ môi trường trong thực tế là không hoạt động ở VN. Toàn bộ vùng bờ biển bị ảnh hưởng bao gồm vô số nhà máy mà hầu hết đều thải thẳng nước không lọc xuống biển, ông giải thích, đồng thời phê phán rằng: trong quá trình điều tra, người ta đã bỏ qua tất cả các thủ phạm tiềm năng khác.

          Về việc truy cứu trách nhiệm, Báo cáo cũng cho biết là Thủ tướng đã chỉ đạo các bộ, ngành và UBND Hà Tĩnh tiến hành kiểm điểmlàm rõ trách nhiệm đối với những thiếu sót của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Trời! Trước một thảm hoạ lớn lao như thế, với những tuyên bố và hành vi cố tình lừa bịp người dân, bao che thủ phạm trong cả mấy tháng sau khi cá chết, với nhiều chỉ dấu làm "sai quy trình" trầm trọng của cán bộ (do đã nuốt lỡ tiền “lại quả” của Formosa), chưa kể cả một chiến dịch đàn áp khốc liệt từ mấy tháng qua do bộ công an thực hiện đối với những công dân lên tiếng bảo vệ môi trường... Chính phủ dự trù chỉ “kiểm điểm và “làm rõ trách nhiệm với những "thiếu sót để rồi sau đó làm chìm xuồng vụ việc. Thật là láo xược với dân chưa từng thấy!

          Một thái độ láo xược khác phải đề cập, lần này không từ Chính phủ mà là từ Quốc hội Việt cộng, qua lời nói của kẻ đứng đầu nó: Nguyễn Thị Kim Ngân.
          Tại buổi họp báo hôm 23-7-2016, tân Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị cộng đảng đã phát biểu như sau: “Vai trò dân chủ rất quan trọng. Trong một gia đình, bố mẹ không tôn trọng con cái thì sau con cái cũng không tôn trọng người khác… Một đất nước thiếu dân chủ thì lòng dân không yên”. (BBC ngày 25-7-2016). Câu này gợi nhớ phát biểu tương tự của cựu đại biểu Tôn Nữ Thị Ninh vốn từng ăn nói lôm côm trước cộng đồng người Việt tại Mỹ cách đây nhiều năm và đã được đồng bào dạy cho một bài học. Thoạt nghe, lời của Nguyễn Thị Kim Ngân có vẻ tiến bộ. Nhưng theo Bác sĩ Nguyễn Đan Quế (bài “Bà Ngân láo”), “đây là cách nói rất mách qué, xấc xược, láo lếu, vô học. Ai là bố mẹ? Ai là con cái? Ngân cũng tỏ ra là đứa con gái mất dạy, không biết nghe lời bố Hồ đã dầy công dạy bảo: dân là chủ, cán bộ là đầy tớ! Đây cũng là lối nói lừa bịp hết sức lưu manh về chính trị. Mà theo tôi là cố tình của bè lũ bộ chính trị ở Hà Nội, Ngân chỉ là phát ngôn viên. Thực chất vẫn chỉ quảng cáo kiểu ‘thuốc ho Bà Lang Trọc’ cho chiêu bài bịp bợm dân chủ từ trên xuống. Dân chủ do trên ban phát theo kịch bản mà 19 tên trong Bộ chính trị đạo diễn. Dân tộc ta bác bỏ hoàn toàn loại dân chủ giả hiệu này”.

          Chưa hết, trong kỳ họp đầu tiên của tân Quốc hội khóa 14, Nguyễn Thị Kim Ngân khẳng định “sẽ giám sát chặt chẽ vụ Formosa” đang khi kẻ đầu têu chịu trách nhiệm cấp phép đầu tư cho dự án Formosa (tức Võ Kim Cự) lại vừa được phê chuẩn vào ban Kinh tế Quốc hội. Việc chính thức phê chuẩn kẻ đang bị dư luận và báo chí tập trung chú ý trong những ngày qua sau khi nhà cầm quyền VN thừa nhận Formosa là thủ phạm gây ra thảm họa môi trường lớn nhất từ trước tới nay đã gây nhiều công phẫn trong dân chúng, giới chuyên gia và các nhà hoạt động (x. VOA 25-07-2016).

          Cũng trong thời gian này, 11 ngày sau Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về vụ tranh chấp Phi-Hoa (12-07), Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên bố: “Phán quyết dài tới 500-600 trang nên chúng ta phải nghiên cứu kỹ xem có vấn đề gì ảnh hưởng đến lợi ích của VN thì sẽ phát biểu tiếp”. Đây là kiểu láo xược trắng trợn vô liêm sỉ. Phán quyết dài 500-600 trang, nhưng hầu hết là tài liệu, lý luận, giải thích những yếu tố đưa tới phán quyết. Còn bản chất của phán quyết chỉ là những câu trả lời “có” hay là “không” cho 15 câu hỏi (đệ trình) của Phi, 15 câu hỏi này được tóm tắt trong vài trang giấy và đã được cả thế giới biết rõ từ 3 năm nay. Chính phủ VN đã có 3 năm để suy nghĩ xem hậu quả của mỗi câu hỏi sẽ là gì nếu được trả lời “có” hay “không”, sẽ tốt hay xấu cho VN và sửa soạn sẵn phản ứng cho mỗi trường hợp. Vậy mà bây giờ lại viện cớ là phán quyết dày 500, 600 trang, cần thì giờ để đọc! Rồi đang khi dân chúng Phi đổ ra đường reo hò mừng thắng lợi, người Việt ở Phi cũng kéo nhau đến tòa đại sứ Trung Cộng tại Manila đòi trả lại đất đai của tổ tiên, còn dân Việt trong nước bao người đã xuống đường phản đối Ðường Chín Ðoạn, chung vui với dân Phi, thì Nguyễn Thị Kim Ngân lại chỉ trích: “Không phải cứ hô hào, kích động thật to, là có được chủ quyền. Một số tổ chức cá nhân lên tiếng hô hào thế này thế nọ, nhưng chưa làm gì cho đất nước, chỉ nói và kích động làm rối tình hình.

          Tưởng chỉ có đám dư luận viên hạng bét mới dùng luận điệu “đã làm được gì cho đất nước chưa”, không ngờ chủ tịch QH cũng dùng luận điệu đó. Điều này cho thấy tư cách và trình độ y thị. Ngăn cấm người khác ý với mình đóng góp cho đất nước, viết hẳn vào điều 4 Hiến pháp quyền thống trị tuyệt đối và toàn diện của đảng, dùng hệ thống công an vĩ đại tốn kém để bịt miệng trói tay người dân, gạt bỏ tất cả các ứng cử viên quốc hội không theo phe mình… Vậy mà còn chất vấn người ta đã làm được gì cho đất nước chưa! Đảng của mình thì tham nhũng bóc lột, gian dối bạo hành chưa từng thấy trong lịch sử, làm đất nước suy kiệt mọi mặt, hủy hoại môi trường, phá hoại đạo đức, lệ thuộc Tàu cộng, vậy mà còn trơ trẽn hỏi người khác đã làm được gì cho đất nước chưa!

          Thành ra sẽ mãi mãi không thể tin được cái đảng, cái nhà nước, cái quốc hội gồm những kẻ vô tổ quốc, vô đồng bào, vô dân tộc này. Nhân dân phải xuống đường hàng vạn, hàng triệu để dứt bỏ cho được cái nguyên nhân số một làm dân tộc điêu đứng và Tổ quốc lâm nguy như hiện nay.
          BAN BIÊN TẬP


__._,_.___

Posted by: 8406news 

Kính gởi đến Quý vị bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 250, ra ngày 01-09-2016.


On Thursday, September 1, 2016 7:05 AM, Toma Thien <> wrote:


Kính gởi đến Quý vị bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 250, ra ngày 01-09-2016.
Xin cảm ơn Quý vị đã đón nhận và sẽ chuyển tiếp.
Ban Biên tập
Chìm… !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 250 (01-09-2016)
          Ngày 22-08-2016, tại thành phố Đồng Hà, tỉnh Quảng Trị, một hội nghị dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà đã được tổ chức để công bố rằng biển 4 tỉnh Miền Trung đã sạch. Ông Hà nói rằng ngay sau khi hiện tượng cá chết ở vùng này xảy ra, bộ đã huy động một lực lượng chuyên gia hùng hậu để quan trắc môi trường biển, và nay đã có kết quả khách quan, toàn diện. Về phía chuyên gia, một giáo sư tên Mai Trọng Nhuận đã lên đọc báo cáo rồi công bố hai kết luận, một của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và một của Bộ Y tế về tình trạng môi trường biển. 

Cả hai kết luận đều cho rằng nước biển Miền Trung đã đạt quy chuẩn để tắm và nuôi thủy sản (cá có ăn được chăng thì chưa biết). Rồi nhằm minh chứng cho công bố này, ông Bộ trưởng cùng lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đã tắm biển và thưởng thức hải sản (lấy từ đâu?) ở bãi biển Cửa Việt. Điều đó có nghĩa là vùng biển 4 tỉnh Miền Trung bị nhiễm độc tự nó đã làm sạch được trong thời gian mấy tháng, mà không cần có hoạt động nào của con người. Thật là kỳ diệu! Có một không hai trên thế giới! Chắc là nhờ hồng phúc vô lượng của Bác và Đảng!

          Liên hệ đến điều này, cả thế giới –trong nỗi hãi hùng– vẫn không quên chuyện vùng biển Minamata ở tỉnh Kumamoto, vào nửa đầu thế kỷ XX, đã bị nhiễm độc cũng do một nhà máy thải hóa chất (phenol, cyanur) xuống biển, y như Formosa nhà ta, với diện tích chỉ bằng một nửa. Chính quyền Nhật đã phải tung ra gần 50 tỷ yên và phải để ra gần 40 năm nạo vét lòng biển, diệt sạch mọi giống thủy sản bị nhiễm độc ở đó, đồng thời tuyệt đối cấm ngư dân đánh bắt trong vùng, mới dám tuyên bố đã làm sạch biển. 

Thế nhưng, ngày ấy, với sự quyết liệt và triệt để trong cách xử lý như vậy, nước Nhật vẫn không ngăn cản được một căn bệnh thuộc loại khủng khiếp nhất mọi thời đại, mang tên từ vùng ấy, bệnh Minamata. Máu của những người tắm biển, ăn cá và các sinh vật vỏ cứng từ vịnh Minamata đã bị nhiễm cyanur và phenol nhưng họ không hề hay biết. Và một thời gian không lâu, cư dân thành phố thơ mộng, xinh đẹp này bỗng phát bệnh: tay chân bại liệt, mình run lẩy bẩy, tai điếc mắt mờ, ăn nói lắp bắp, miệng rú lên đau đớn vì co thắt. Những đứa trẻ sơ sinh bắt đầu bị liệt não, đầu teo, mù điếc, sống thoi thóp trong què quặt và dị dạng. Số người mắc bệnh Minamata do nhiễm hóa chất từ công ty Chisso thải ra đã lên tới 17.000!
          Thành ra những nhà khoa học chân chính, những nhà hoạt động xã hội, những ngư dân đang lâm nạn và có lẽ phần lớn người dân VN chẳng ai tin vào những gì mà Việt cộng (VC) vừa công bố qua miệng Trần Hồng Hà, hay nói cách khác là VC công bố điều gì thì phải hiểu ngược lại. Một lần thất tín, vạn lần bất tin. Mà VC từ 71 năm qua đã thất tín cả triệu triệu lần rồi.

          Mới đây, trên đài Á châu Tự do ngày 30-08, giáo sư tiến sĩ Trần Tứ Hiếu, khoa Hóa, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, đồng ý với giải thích cho rằng môi trường tự nhiên có cơ chế tự làm sạch như trong báo cáo của Bộ Tài nguyên-Môi trường. Tuy nhiên, ông nói rằng quá trình đó phải rất lâu mới có thể đạt được: “(Hóa chất) trôi đi và sóng… pha loãng dần ra chứ nếu đứng im thì còn lâu. Nhờ được phân tán đi thôi chứ đâu có ai lọc hay làm gì mà biết được. Trong điều kiện tự nhiên nó pha loãng dần thì người ta gọi là làm sạch tự nhiên; ngoài ra nay không được thải thêm nữa. Do đó người ta nói là nước sạch có thể tắm và nuôi hải sản được chứ không nói cá ăn được. Những con cá bị nhiễm rồi thì (chất độc) vẫn còn nằm trong đó. Còn số (độc chất) lắng xuống trầm tích thì nằm ở đó chứ đi đâu, và người ta cũng chỉ nói trong trầm tích chứ có nói trong nước đâu. Bây giờ nói xử lý biển thì khó lắm, lâu lắm!”. 

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, thuộc Viện Hải dương Nha Trang, cũng cho rằng ngoài qui trình tự làm sạch của thiên nhiên, cần phải có tác động của con người thì mới có thể dọn sạch ô nhiễm: “Cục An toàn Thực phẩm nói hàm lượng những chất độc hại vẫn cao hơn mức cho phép. Mẫu cá do dân đánh bắt được về qua xét nghiện vẫn thấy cyanur, phenol cao. Ở một số nơi mức kim loại nặng vẫn vượt mức cho phép. Nên Cục An toàn Thực phẩm vẫn nói chưa đạt chuẩn an toàn về thực phẩm. Hàm lượng mà những hải sản này nhiễm chưa đủ gây chết chúng nhưng vẫn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Hải sản đánh bắt về không bán được và nhất là số mua đông lạnh nay không ai mua. Tôi thấy tại những bãi ngang, người dân vẫn chưa nuôi. Chuyện làm sạch môi trường cần phải theo dõi, kiểm soát, quan trắc thường xuyên xem mức độ biến động ra làm sao.

          Tuy vậy, trong bài “Thảm họa Formosa–Vũng Áng: 25 câu hỏi đối với ông Nguyễn Xuân Phúc và Trần Hồng Hà” viết ngày 28-08, tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến, từ CHLB Đức, đã chất vấn: “Các ông có dám khẳng định rằng các ông không bị ngu đần để nói bâng quơ rằng biển tự làm sạch? Các ông đừng cố tình đánh tráo khái niệm môi trường tự nhiên có khả năng tự làm sạch, như một ông TS “đánh thuê” dùng từ natural remediation. Xin thưa: biển hay bất kỳ hệ sinh thái nào đó nó luôn có qui luật tự làm sạch bằng những quá trình địa–lý–hóa–sinh. Nhưng chỉ với điều kiện ảnh hưởng ở mức phải chăng, ô nhiễm không bị quá tải; còn biển đã chết, lấy cái gì làm sạch nếu chỉ bấu víu vào rửa trôi pha loãng; những vùng san hô đã chết bởi chất độc kia dựa vào cái gì để tự phục hồi, nếu không có sự đầu tư và vào cuộc vất vả của con người để hỗ tợ tái tạo? Còn chất độc bị dòng hải lưu và thủy triều phát tán pha loãng kia, nó không được gọi là tự làm sạch đâu, mà chất độc chỉ được mang từ vùng này sang vùng khác. Chất độc có phát tán ra thì phần lớn cũng nằm trong lãnh hải vùng biển VN, và thủy sinh ở đây cũng sẽ hấp thụ và cuối cùng nó cũng đi vào miệng các ông đấy.” (câu hỏi 17).


          Vì sao Việt cộng vẫn thản nhiên chà đạp ý kiến công luận và coi thường trí tuệ nhân dân để tuyên bố như thế? Đó chỉ là vì muốn cho vụ Formosa “chìm xuồng” như bao tội ác tầy trời khác, khởi từ cuộc Cải cách ruộng đất do Hồ Chí Minh chỉ đạo. Việc đoạt quyền của các nạn nhân để tự ấn định và chấp nhận số tiền bồi thường (500 triệu đô) đầy tính lăng nhục, việc tùy tiện chi dùng, phân phối nó theo kiểu bố thí cho các ngư dân (chưa kể bỏ túi), việc huênh hoang tuyên bố quyết liệt thực hiện điều này điều nọ nhưng chỉ nói chứ không làm, việc bao che đến cùng cho tên tội phạm Formosa và các tên đồng phạm trong bộ máy cai trị, việc đàn áp khốc liệt những công dân, nhất là giáo dân biểu tình đòi truy tố và tống cổ Formosa, việc tấn công lăng nhục thô bỉ những lãnh đạo tinh thần đang muốn sát cánh và hướng dẫn tín đồ đòi công lý, và việc rắp tâm không khởi tố tên tội phạm theo đòi hỏi khởi kiện của người dân (phát biểu của Nguyễn Xuân Phúc hôm 03-08 tại Hải Phòng)… tất cả đều nằm trong chiến dịch cho chìm xuồng vụ việc.

          Mới đây cũng có một vụ việc động trời được cho chìm xuồng khác, đó là chuyện các quan chức lãnh đạo tỉnh Yên Bái thanh toán nhau ngày 18-08. Theo công bố trong chiều cùng ngày của thiếu tướng Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh –chắc nhờ tài điều tra nhanh nhất và giỏi nhất thế giới– thì Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND tỉnh kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Ngô Ngọc Tuấn đã bị bắn chết bởi Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái. Sau khi hành sự, anh này đã tự kết liễu đời mình.
          Lúc vụ ba người chết ở Yên Bái được loan báo trên mạng lần đầu tiên, bác sĩ Vàng À Sàng, giám đốc bệnh viện đa khoa Yên Bái, đã cho hay rằng: “Riêng ông Đỗ Cường Minh bị một viên đạn xuyên từ sau gáy ra trước, nhập viện trong tình trạng tim ngừng đập. Thông tin này được đăng tải bởi báo Tiền Phong và blogger Hoàng Trần của Danlambao đã dựa vào đó để đưa ra nghi vấn về một hung thủ thứ 4 đã bắn chết Đỗ Cường Minh, trong bài viết “Tình tiết đáng ngờ trong vụ thanh trừng đẫm máu tại Yên Bái”. Tuy nhiên, sau đó, lời nói của bác Sĩ Vàng À Sàng đã bị đổi lại, nghĩa là viên đạn đã đổi chiều. Câu trong bài viết trên đã biến mất và được thay thế bằng câu: “Riêng ông Đỗ Cường Minh bị một viên đạn vào đầu, nhập viện trong tình trạng tim ngừng đập”.

          Dù cả ba như thế nào trước công luận, thì mạng người vẫn rất quý. Những kẻ thiệt mạng cũng có quyền không phải chết trong cảnh bóng tối che phủ khiến làm nổi lên những nghi ngờ. Gia đình các nạn nhân, con cháu họ đời nay và đời sau cũng có quyền biết sự thật. Cả ba người tạ thế đều là nạn nhân của guồng máy cai trị mà họ tham dự, như tất cả mọi công dân Việt khác. Khổ nỗi, sau khi chết đi, họ tiếp tục là nạn nhân của một guồng máy bưng bít sự thật, chuyên đời cho chìm xuồng những vụ việc có hại cho đảng Việt cộng hay cho những phe nhóm trong đảng.

          Công luận cho rằng Ðỗ Cường Minh đã bị giết cùng với hai nạn nhân kia. Có người còn nói một nhân vật thứ ba hiện diện tại phòng ông Tuấn khi súng nổ, một tài xế, đã bị công an bắt ngay, giờ không biết đang ở đâu, hồ sơ công an cũng chẳng nhắc tới. Công luận cũng giải thích cái chết của Phạm Duy Cường là hậu quả của việc Nguyễn Phú Trọng đang thay đổi chức vụ chỉ huy các quân khu để nắm chặt thêm quyền lực, trong đó có vụ viên tướng tư lệnh Quân khu II, đặt tại Yên Bái, vừa chết bất ngờ sau khi mới nhậm chức mấy tháng. Tất nhiên, tên cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đối thủ của Nguyễn Phú Trọng cũng được nhắc đến! Người thì bảo đây là phe Ba Dũng trả thù. Người lại nói đây chính là phe Nguyễn Phú Trọng diệt trừ phe Nguyễn Tấn Dũng!

          Bao lâu đảng Việt cộng còn ngồi trên đầu trên cổ nhân dân VN, thì những vụ việc, những tội  ác như trên tiếp tục được cho chìm xuồng, bởi lẽ bít lấp là một trong ba chân của cái kiềng giữ vững chế độ cộng sản, hai chân kia là bạo lực và bịp lừa. Cho dù nhân dân và nạn nhân có kêu gào công lý đến khản cổ, ngay cả nhờ mạng internet đi nữa, VC vẫn thản nhiên bỏ ngoài tai. Chỉ có một cách bắt nó phải lắng nghe, đó chính là mỗi tôn giáo (trong sự liên kết các tín đồ) và mọi tôn giáo (trong sự liên kết các giáo hội) phải đồng lòng ý thức, đồng lòng cầu nguyện, đồng lòng lên tiếng, đồng lòng hành động. Hành động lúc này cụ thể là khởi kiện Formosa và xuống đường biểu tình.

 Giáo phận Công giáo Vinh (bao gồm 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) đang nêu gương về chuyện đó. Các giáo phận khác và các giáo hội khác cũng nên làm như vậy, để đến lúc toàn dân nhảy vào cuộc. Con tàu VN do đảng VC lái đang chìm dần. Chúng ta muốn sống phải khẩn cấp hất tên lái tàu tệ hại này qua một bên để giành lấy quyền điều khiển. Bằng không thì tất cả Dân tộc và Đất nước sẽ chết chìm mãi mãi.
          BAN BIÊN TẬP


__._,_.___

Posted by: 8406news 

Wednesday, August 31, 2016

Thêm ý kiến về Phật giáo và Dân tộc


Thêm ý kiến về Phật giáo và Dân tộc

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-08-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
gal_0421geraghty1_622.jpg
Hình ảnh minh họa
Courtesy phatgiao.org.vn
00:00/00:00
Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Sau khi bài “Phật giáo và dân tộc” được phát thanh Thượng tọa Thích Quảng Ba là thành viên và hiện đang phục vụ cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất Hải ngoại tại Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan hiện nay là Phó hội chủ đã có yêu cầu được lên tiếng trước nhận định của Thượng tọa Thích Nhật Từ trụ trì chùa Giác Ngộ trong bài Phật giáo và Dân tộc. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn Thượng tọa Thích Quảng Ba để rộng đường dư luận sau đây.
Xin được ghi lại huấn từ của Thượng tọa Thích Nhật Từ:
“Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đức.
Nói một cách nôm na Phật giáo bao gồm: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan, tu tập quan và giải thoát quan. Việc đánh giá sai lầm của một số quần chúng chỉ liên hệ đến một phương diện trong nhóm vừa nêu, đó là: tu tập quan. Còn các phương diện rất quan trọng mà đức Phật đóng góp cho tư tưởng của nhân loại đó là: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan qua hệ thống triết học đặc biệt của Ngài mà hầu như giới chính trị, giới kinh doanh, giới tri thức, giới bình dân ít biết đến.
Một phần là do đạo Phật bị ảnh hưởng bởi nghi thức đọc tụng được sử dụng trong các chùa chỉ chọn lọc vài ba kinh tín ngưỡng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán-Việt vốn rất xa lạ với cộng đồng Phật giáo Việt Nam trong nước và nước ngoài.”

Hoạt động xã hội của Phật giáo

Mặc Lâm: Xin thượng tọa cho biết tại sao ngài không đồng ý với quan điểm của Thượng Tọa Thích Nhật Từ?
Thượng tọa Thích Quảng Ba: Nhiều người nghĩ rằng Phật giáo là “tu rục, tu rị” không có tính cách hội nhập tích cực để mà dấn thân phụng sự xã hội thì điều đó tôi cho là hoàn toàn sai.
Nhiều người nghĩ rằng Phật giáo là “tu rục, tu rị” không có tính cách hội nhập tích cực để mà dấn thân phụng sự xã hội thì điều đó tôi cho là hoàn toàn sai.
-Thượng tọa Thích Quảng Ba
Thật ra mà nói Phật giáo chưa bao giờ có chủ trương làm chính trị, thậm  chí có một số giai đoạn các nhà cầm quyền quân chủ đã quá quý trọng kiến thức quảng bá và các tài năng dức độ với các nhà sư để phong họ lên quốc sư trong khi họ không tham dự triều chính, họ chỉ hiến những ý kiến tốt đẹp nhất để đem lại sự thịnh trị cho đất nước. Họ không nắm giữ quyền, họ không có bổng lộc và chưa bao giờ dựa vào thế của chính quyền hay nhà cầm quyền để làm ích lợi cho hệ thống Phật giáo. Dĩ nhiên có một số nhà vua xuất công quỹ làm chùa, đúc một vài quả chuông nhưng thật sự chưa bao giờ có sự lạm dụng Phật giáo đối với cơ chế chính trị trong quá khứ cũng như hiện tại.
Tuy nhiên khi nói rằng Phật giáo phải bắt chước các hoạt động xã hội từ thiện của những tôn giáo khác thì cũng hơi bất công. Chúng tôi là tu sĩ trong từng ngôi chùa, hiện tại có 17.500 tu trì trong đất nước Việt Nam lúc nào cũng gần gũi dân chúng, giúp đỡ cho họ chia sẻ đời sống của họ.
Dĩ nhiên chúng ta thấy một số chùa đang lớn mạnh lên. Một vài chùa do chính bản thân các đại gia dùng tiền tham nhũng hối lộ, buôn bán bất công dựng ra và họ tự làm chủ, cái đó không thể đổ thừa cho Phật giáo được vì trên nguyên tắc ai cũng có quyền lập chùa.
Chúng ta đã thấy nhà vua lập chùa, công chúa lập chùa, hoàng hậu lập chùa, dòng họ lập chùa, cá nhân hay gia đình nào cũng lập chùa được chứ không phải chỉ có nhà sư mới độc quyền được lập chùa. Đặc biệt Phật giáo chưa bao giờ nhận lệnh chỉ huy điều động từ một đất nước khác, từ một thể chế khác ngoài Việt Nam mà can dự vào Việt Nam cho dù sự can dự ấy có mang lại mục đích tốt đẹp nhưng đa số làm cho lòng người của tín đồ hướng về nước ngoài mà không yêu đất nước mình thì đấy là một điều mà chúng tôi thấy Phật giáo chưa bao giờ có.
quan_diem_phat_giao_400.jpg
Hình ảnh minh họa. Courtesy nguoiphattu.com
Mặc Lâm: Hiện nay nhiều ngôi chùa công khai đem tượng Hồ Chí Minh và có nơi cả ông Đỗ Mười vào thờ như những Bồ tát. Nếu nhận thức về điều mà Thượng tọa Thích Nhật Từ đưa ra là Xã hội quan và đạo đức quan thí có lẽ nó có tính cách hỗ tương giữa sự đóng cửa tu hành và mở cửa chùa để Phật tử dấn thân?
Thượng tọa Thích Quảng Ba: Trước nhất thưa anh Mặc Lâm điều đó không do Phật giáo chủ trương mà đó là sự lợi dụng để làm kinh tế của một số cá nhân. Người nào đó có lẽ là cựu đảng viên vì họ biết quần chúng mê muội không hiểu rõ vai trò tôn giáo nằm ở chỗ nào và lãnh tụ chính trị nằm ở đâu.
Họ biết là quần chúng một số đông hiểu Phật pháp hơi sơ đẳng, Người cộng sản có công tiêu diệt năng lực, nội lực, nội hàm Phật giáo ở miền Bắc suốt 70 năm nay làm cho Phật tử miền Bắc gần như không biết gì giáo lý nữa cho nên họ có hiều biết sai lầm về đạo mẫu hay là về những nhân vật anh hùng lịch sử cho nên biến thành nhân vật tôn giáo đó là hoàn toàn sai.
Phật giáo chúng tôi không bao giờ chủ trương như vậy và chưa có tổ chức tôn giáo nào lại đánh đồng lãnh tụ chính trị, bất kể công ơn của họ với dân tộc cỡ nào, thành thần thánh của tôn giáo cả.

Phật giáo bị bách hại

Mặc Lâm: Phật giáo sở dĩ bị lệch lạc như Thượng tọa vừa nói do thiếu hiểu biết về đạo mẫu, tuy nhiên nếu không áp dụng những gì xảy ra chung quanh thì làm sao phật tử tự trang bị cho mình số vốn kinh nghiệm cho bản thân, đó là chưa nói tự bảo vệ Phật giáo không bị xâm hại trước các hiện tượng xấu cũng như việc Phật giáo có thể bị bách hại?
Thượng tọa Thích Quảng Ba: Khi nói Phật giáo bị bách hại thì anh phải nói hai mảng tại vì cái mảng của chúng tôi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì bị cưỡng bức lần lượt tiêu diệt hết nhân sự các hoạt động độc lập chỉ còn vài vị lãnh đạo tối cao tượng trưng thôi. Các ngài không làm gì được ví dụ như hòa thượng Quảng Độ của chúng tôi.
Nhưng điều đó không phải do chúng tôi muốn mà đó là chính sách bất công vô lý của nhà nước Việt Nam thôi còn giáo hội Phật giáo Việt Nam họ có được hoạt động mặc dù giáo hội đó bị nhà nước không chế khép vô làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc nhưng họ được một số hoạt động rất ít. Họ không đầy đủ tự do như chúng tôi trước 75 nhưng họ cũng được lập chùa cũng được dạy tăng chúng. Họ cũng được làm từ thiện và làm một số việc rất giới hạn và dĩ nhiên mọi chính sách đều phải thông qua sự chấp thuận của nhà nước mới được hoạt động.
Khi nói Phật giáo bị bách hại thì anh phải nói hai mảng tại vì cái mảng của chúng tôi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì bị cưỡng bức lần lượt tiêu diệt hết nhân sự các hoạt động độc lập chỉ còn vài vị lãnh đạo tối cao tượng trưng thôi. Các ngài không làm gì được ví dụ như hòa thượng Quảng Độ của chúng tôi.
-Thượng tọa Thích Quảng Ba
Chúng tôi cho rằng họ cũng bị đàn áp tôn giáo mặc dù với cá nhân của nhiều tu sĩ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam họ cho là họ không bị đàn áp. Nhưng cái nhìn của chúng ta đến từ xã hội dân chủ như ở Mỹ ở Úc thì cho rằng họ đang bị đàn áp khốc liệt bởi vì họ không được tự quản giáo hội của họ mà phải nằm trong cơ chế chính trị, bị nhà nước trực tiếp điều hành và điều khiển, làm từ thiện cũng phải báo cáo, xin phép.
Mặc Lâm: Thượng tọa đã bác bỏ chuyện Phật giáo dấn thân vào xã hội và chính trị dưới sự điều hành hay hướng dẫn của một đơn vị nhỏ nhất là ngôi chùa. Nếu Phật tử từ chối việc phản kháng với chính quyền về những gì mà họ ép buộc, sách nhiễu khi tu tập, phải chăng sự từ chối này có thể dẫn đến ngõ cụt của chính bản thân người Phật tử?
Thượng tọa Thích Quảng Ba: Thưa anh có thể cái tổ chức Phật giáo bị tiêu diệt thí dụ như Phật Giáo Việt Nam Thồng nhất đang bị tiêu diệt còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đang bị khống chế, đang bị làm biến thái, đang bị lợi dụng và sử dụng nhưng nó vẫn có tổ chức.
Nhưng như tôi đã nói lúc đầu, Phật giáo không quan trọng tổ chức. Phật giáo có thể tồn tại không cần tổ chức và không có tổ chức. Phật giáo có nhiểu tổ chức, rất nhỏ, từng đơn vị mỗi nhà hay mỗi chùa là một tổ chức vẫn được như thường. Trong quá khứ 2.000 năm Phật giáo chưa từng có giáo hội nhưng vẫn tồn tại trong lòng lịch sử Việt Nam.
Trên toàn thế giới không có nước nào có giáo hội cả mà họ có tăng đoàn, nhiều tăng đoàn mà tăng đoàn không điều hành như tổ chức của giáo hội nhưng vẫn rất mạnh. Phật giáo đâu cần tổ chức nhưng vẫn làm mọi việc. Có tinh thần hợp tác, tinh thần dấn thân phụng sự thì làm được chứ không phải có tổ chức trung ương tập quyền mới làm được. Chúng tôi không tin tổ chức.
Mặc Lâm: Tăng đoàn mà Thượng tọa vừa nhắc tới cũng vẫn là tập thể vì ít nhất cũng phải có từ 5 tới 10 người trở lên mới có thể gọi là tăng đoàn. Đối với chính quyền Việt Nam thì đã là tập thể thì sẽ luôn luôn bị chú ý, Tăng đoàn vì vậy không khác gì với Giáo hội cả. Theo ý của Thượng tọa thì một tập thể nhỏ như tăng đoàn và sức mạnh lớn như Giáo Hội có điều gì khác nhau?
Thượng tọa Thích Quảng Ba: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bây giờ do một vài xáo trộn đang rất là khó khăn nội bộ thành ra vấn đề tăng đoàn ý nghĩa nguyên thủy là bất cứ tập thể tu hành nào trong một ngôi chùa từ 5-7 vị trở lên thì có thể gọi là một tăng đoàn rồi. Tất nhiên một tổ chức nhỏ như tăng đoàn thì mỗi tổ chức có thể làm được những việc cần cho quần chúng chung quanh họ thì đó là sức sống, khả năng tồn tại hòa quyện giữa dân tộc và đạo pháp. Còn xây dựng một trung ương tập quyền toàn quốc thống lãnh mọi người thì đó là điều chúng tôi không mong muốn, không nhất định đã hay và đã đúng. Hễ ai nắm được cấp trung ương của tổ chức đó thì họ sẽ tước đoạt mọi tự do các thành viên trong tổ chức đó là điều mà đạo Phật không mong muốn.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Thượng Tọa.




Phật giáo và dân tộc

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-08-25
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
la-phat-tu.jpg
Phật tử
Photo courtesy of phatgiaoaluoi.com
Phật giáo và dân tộc
00:00/00:00
Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Có không ít nhận định rằng Phật giáo Việt Nam hiện nay không dấn thân vào các sinh hoạt xã hội hay kinh tế, chính trị của đất nước và điều này khiến hình ảnh của người Phật tử được xem như chỉ biết thuần thành trong phạm vi tu tập và quên đi vấn đề nhập thế mà nhà Phật đã truyền bá cách đây hàng ngàn năm.
Có thể nói hiện nay Chùa Giác Ngộ là một trong vài nơi hiếm hoi vẫn giữ tông chỉ nhập thế và truyền bá Phật pháp qua các hoạt động giáo dục, hoằng pháp, văn hóa và từ thiện lẫn chính trị. Trong bài thuyết giảng khóa tu “Ngày an lạc” với sự tham gia của hơn 650 tu sinh cùng Tăng đoàn chùa Giác Ngộ, Thượng tọa Thích Nhật Từ đã huấn từ những gì mà Phật tử thường hiểu lầm từ bấy lâu nay:
“Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đức.
Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đức.
- Thượng tọa Thích Nhật Từ
Nói một cách nôm na Phật giáo bao gồm: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan, tu tập quan và giải thoát quan. Việc đánh giá sai lầm của một số quần chúng chỉ liên hệ đến một phương diện trong nhóm vừa nêu, đó là: tu tập quan. Còn các phương diện rất quan trọng mà đức Phật đóng góp cho tư tưởng của nhân loại đó là: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan qua hệ thống triết học đặc biệt của Ngài mà hầu như giới chính trị giới kinh doanh, giới tri thức, giới bình dân ít biết đến.
Một phần là do đạo Phật bị ảnh hưởng bởi nghi thức đọc tụng được sử dụng trong các chùa chỉ chọn lọc vài ba kinh tín ngưỡng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán-Việt vốn rất xa lạ với cộng đồng Phật giáo Việt Nam trong nước và nước ngoài.”
Lý do gì khiến Phật tử Việt Nam trở nên co lại trong khuôn viên tu tập và quên đi sự khổ nạn của chúng sinh, điều mà Đức Phật răn dạy từ xưa?
Người Phật tử còn nhớ tháng 5 năm 1994 khi giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức cứu trợ đồng bào bão lụt miền Tây thì chính quyền ra lệnh bắt phái đoàn gồm 60 tăng ni và 300 Phật tử. Trong vụ này Hòa thượng Thích Quảng Độ bị kết án năm năm, Thượng tọa Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban và cư sĩ Nhật Thường bị ba đến năm năm tù.
Điều này đã gây chấn động lương tâm người theo đạo Phật và đồng thời ngăn cản mọi ý nghĩ hoạt động xã hội trong giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Giải thích lý do người theo phật giáo hững hờ với xã hội, Hòa thượng Thích Không Tánh cho biết:
“Người ta cứ nói rằng 80-90% Phật tử Việt Nam là con số rất lớn nhưng tại sao lại không có một tiếng nói nào để nói lên tiếng nói bảo vệ nhân quyền hay bảo vệ môi trường, môi sinh cho bà con đồng bào?
Tôi thay mặt cho Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở trong nước, sự thực trong nước đứng về phía Phật giáo thì có tới hai tổ chức. Tổ chức Phật giáo của nhà nước lập nên là Giáo hội Phật giáo quốc doanh thì gần như 80-90% tăng ni Phật tử từ sau năm 1975 thì họ đàn áp triệt tiêu gần hết giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất truyền thống đã có lâu đời ở Việt Nam, họ quốc doanh hóa hết rồi họ bắt các nhà sư Việt Nam phải nằm trong Mặt trận Tổ quốc coi như đa phần đã bị quốc doanh hóa hết rồi.”
Vụ Formosa nổ ra như một trái bom gây thảm họa cho môi trường biển miền Trung nơi có giáo phận Vinh nằm trải dải trên hầu hết các nơi bị tác động trực tiếp đến giáo dân cũng như dân chúng. Ngày 17 tháng 8 trong dịp lễ Đức mẹ hồn xác lên trời, hơn bốn chục ngàn giáo dân trong giáo phận đã tập trung tham dự thánh lễ và diễu hành ôn hòa chống lại Formosa đã trực tiếp gây hại cho người dân. Bài giảng của Giám mục Nguyễn Thái Hợp cũng gây tiếng vang cho cả nước về tấm gương dấn thân của lãnh đạo tôn giáo trước vấn đề chung của dân tộc.
Vai trò người lãnh đạo
Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, theo chúng tôi được biết ngay từ khi dự án bauxite Tây nguyên được xét duyệt thì Giáo hội đã có văn bản chính thức phản đối và kêu gọi nhà nước phải ngưng ngay dự án này. Vụ Formosa cũng vậy, theo Hòa thượng Thích Không Tánh xác nhận thì Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng đã lên tiếng chống đối từ những ngày đầu.
Tuy nhiên sự phản đối lẻ loi của Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất so với sự im lặng gần như hoàn toàn của 80% Phật tử và tăng lữ Việt Nam còn lại là một thách đố lương tâm của người Phật tử thuần khiết cũng như các vị lãnh đạo tinh thần khác, cố kêu gọi sự tham gia vào nguy cơ của toàn xã hội trong các vấn đề đang diễn ra tác động đến cuộc sống người dân.
Câu hỏi “Phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc” một lần nữa được đặt ra trong bối cảnh nguy cấp hiện nay. Ông Trương Nhân Tuấn nhà nghiên cứu Biển Đông cũng là người khơi mào cho câu hỏi này cho biết nhận xét của mình dưới lăng kính của một Phật tử:
“Vấn đề phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc có thể nhìn từ nhiều phía.
Nhìn từ dân chúng, thì dân Việt Nam đa số theo Phật giáo. Những ngày lễ tết, hay ngày rằm, hay Vu lan vừa rồi ta thấy chùa nào cũng đông nghẹt Phật tử. Ta cũng thấy chùa, thiền viện... mới xây cất ở khắp nơi mà cái nào cũng nguy nga, tráng lệ như cung điện. Chùa nào, tu viện nào cũng đông đảo tín hữu. Tôi cũng thấy một số chùa đã trở thành trung tâm du lịch, thu hút nhiều khách viếng thăm.
Ở điểm này thì tôi thấy lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã dùng tôn giáo làm món hàng kinh doanh. Họ đã đưa những thứ xa hoa, thế tục vào chùa, vào tu viện để câu khách. Chùa, tu viện vốn là nơi thanh tịnh, lại trở thành nơi thế tục. Những gì xấu xa trong xã hội đều thấy trong chùa.
Ở điểm này thì tôi thấy lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã dùng tôn giáo làm món hàng kinh doanh. Họ đã đưa những thứ xa hoa, thế tục vào chùa, vào tu viện để câu khách.
- Ông Trương Nhân Tuấn
Tức là, ở cái nhìn này, phật giáo đã bị phàm tục hóa, nếu không nói là chính trị hóa. Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã biến phật giáo vn thành liều thuốc an thần, khiến cho Phật tử vô cảm trước mọi vấn đề của đất nước, dân tộc”
Nhìn sang vai trò của người lãnh đạo Phật giáo hiện nằm dưới sự chỉ đạo của tổ chức Mặt trận Tổ quốc, ông Trương Nhân Tuấn chia sẻ:
“Ở cái nhìn của người lãnh đạo tinh thần. Những vấn nạn lớn của dân tộc như vụ ô nhiễm biển ở miền Trung, hay nạn hạn hán ở đồng bằng sông Cửu Long, đã làm cho hàng chục triệu người dân Việt Nam lâm vào cảnh nghèo khó, khốn cùng. Đây là một vấn đề của đất nước, tức cũng là vấn đề của những người lãnh đạo tôn giáo.
Ở đây ta có thể kết luận là lãnh đạo phật giáo có cùng thái độ với lãnh đạo Cộng sản. Cả hai đều chối bỏ, hay trốn tránh trách nhiệm của mình. Tôn giáo có trách nhiệm về tinh thần trong khi lãnh đạo Cộng sản có trách nhiệm về chính trị.
Ta còn có thể có những kết luận nặng nề hơn, khi thấy cảnh ông Hồ, ông Đỗ Mười được phong thành bồ tát, được đưa vào thờ trong chùa. Đây là một sự sỉ nhục đến đạo phật và toàn thể Phật tử.
Dưới cái nhìn này thì Phật giáo rõ ràng đã tách rời khỏi dân tộc”
Báo chí soi rọi những điều đang xảy ra trên đất nước không khác gì một bức tranh với nhiều hình ảnh đối nghịch nhau, trong đó cảnh sống khó khăn chật vật của người dân đang bị ảnh hưởng trực tiếp từ miền Trung với Formosa, miền Tây với những cánh đồng khô hạn và miền Bắc với bão lũ hiện nay, khác xa với cảnh ăn chơi trác táng xảy ra trên các tụ điểm giải trí và không ít đồng tiền phung phí vào mê tín, dị đoan đang phân hóa mãnh liệt đời sống của người dân từ thành thị tới thôn xóm xa xôi của đất nước.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

VN: Đi hay ở ?....“Con đường vạn dặm bắt đầu bằng một bước chân”

 

Show original message


---------- Forwarded message ----------
From: Van-Nghe
VN: Đi hay ở ?

“Con đường vạn dặm bắt đầu bằng một bước chân” (The Journey of a Thousand Miles Begins with a Single Step) – Lao Tzu

Đi hay ở là một câu hỏi đã ám ảnh nhiều người Việt, ít nhất hai thế hệ, như một bi kịch của quốc gia, với nhiều hệ quả khôn lường. Phải rời bỏ quê hương đất nước “di cư” tới một xứ sở khác là điều bất đắc dĩ. Các cuộc di cư lớn thường do chiến tranh hay thay đổi chế độ chính trị. Nhưng câu chuyện đáng nói ở đây không phải là về chuyện di cư thông thường đã từng xảy ra trong lịch sử (như sau năm 1975), mà về hiện tượng ra đi bất thường đang diễn ra hiện nay tại một số nước chuyên quyền (như Trung Quốc và Việt Nam).

Có một cuốn sách nhỏ mà mỗi khi đọc lại người ta không khỏi liên tưởng đến thực trạng đang diễn ra tại quốc gia, công ty, hay cơ quan của mình. Đó là cuốn “Ra đi, Lên tiếng, và Trung thành” (Exit, Voice, and Loyalty, Albert Hirschman, Harvard University Press, 1970).  Một cuốn sách hay nhưng dường như ít người đọc.

Trong bài này, chúng ta thử nhìn lại làn sóng di cư diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam, như một hệ quả tất yếu của những bất ổn trong nước (như phần nổi của tảng băng chìm). Dòng người và dòng tiền ra đi không chỉ là bi kịch mà còn là thảm họa.  

Bi kịch của Việt Nam

Thay đổi là bản chất của tạo hóa và xã hội. Không ai thoát được quy luật “sinh, lão, bệnh, tử”. Nếu không thay đổi thì không thể phát triển, dẫn đến diệt vong. Nhưng thay đổi cũng làm người ta lo sợ, nhất là khi đụng chạm đến lợi ích và thói quen. Thái độ ứng xử của nhiều người trước biến đổi của thời cuộc cũng khác nhau. Thường có 3 sự lựa chọn. Một là ra đi (exit); Hai là lên tiếng (voice); và ba là trung thành (loyalty).  

Trong ba sự lựa chọn đó, có lẽ trung thành để giữ nguyên trạng là dễ nhất (vì an toàn hơn cả); Lên tiếng để thay đổi là khó nhất (vì phải chấp nhận rủi ro); Ra đi tuy không khó bằng lên tiếng nhưng cũng phải trả giá. Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ là chuyện ra đi, mà là ra đi như thế nào, và ra đi vì lý do gì (chính đáng hay bất minh).

Hầu hết người Việt Nam ra đi lặng lẽ như một làn sóng ngầm (còn gọi là “bỏ phiếu bằng chân”). Họ gồm ba nhóm đối tượng chính: Một là giới trí thức (và sinh viên), hai là các doanh nhân (giàu có), ba là gia đình các quan chức (thường là tham nhũng). Họ ra đi do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính thường do cảm giác bất an.  

ĐBQH Trương Trọng Nghĩa bức xúc, “Tại sao trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân giỏi muốn bỏ nước ra đi? Tại sao cán bộ về hưu hay đương chức tìm cách cho con cháu mình ra định cư ở nước ngoài?”  Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận, “Ai cũng định cư ở nước ngoài cả thì đất nước này lấy ai xây dựng đây? Tôi cho rằng nhân tố cảm thấy kém an toàn là nhân tố chính khiến người Việt rời khỏi Việt Nam”. Bà Lan lý giải, “Khi họ có khoản thu nhập không đàng hoàng thì họ có tâm lý nơm nớp sợ bị lộ nên phải tranh thủ khi còn cơ hội, còn quyền lực thì cho con ra nước ngoài…”

Ví dụ, Nguyễn Thị Nguyệt Hường là một đại gia có tham vọng chính trị. Vấn đề không phải vì bà Hường có tài sản và quốc tịch Malta (tương tự như Panama hay Virgin Islands) vi phạm quy định của Quốc Hội nên bị bãi miễn ĐBQH, mà còn vì mâu thuẫn lợi ích nhóm nên bị thanh trừng. Trường hợp của chị Hường cũng giống trường hợp của doanh nhân Đặng Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm (Tập đoàn Tân Tạo). Đó là những đại gia gắn với nhóm lợi ích, nên khi thất thế dễ bị thanh trừng, phải ra đi (Như bên Trung Quốc)  

Trương Đình Anh (đã từng là CEO của FPT) là một doanh nhân thành đạt, có tài và có tiền, có thể đóng góp nhiều cho đất nước. Anh không bất đồng chính kiến hay khó khăn gì về kinh tế. Những người như Anh ra đi là tổn thất cho đất nước, như một chỉ dấu (indicator) về tình trạng “chảy máu chất xám” (brain drain) và “thất thoát tài sản” “wealth drain”. Nhiều người lo ngại sau Trương Đình Anh sẽ có nhiều người khác tương tự ra đi.

Theo số liệu của UN DESA, từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm có 100 nghìn người di cư. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (tính đến 2013). Hầu hết người Việt di cư đến các nước phát triển, trong đó đông nhất là Mỹ (1,3 triệu), Úc (227,3 nghìn), Canada (182,8 nghìn), Pháp (125,7 nghìn), Hàn Quốc (114 nghìn), Đức (113 nghìn). Tại Đông Âu và một số nước châu Á (như Lào, Campuchia, Malaysia) mỗi nước có khoảng 10.000 người. Trong năm 2015, có 2,67% công dân Viêt Nam sinh sống tại nước ngoài.

Theo Kim Hạnh (cựu Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ và Sài Gòn Tiếp thị), người Việt đang  ra đi ngày càng nhiều (cùng với dòng vốn), trong đó có nguồn nhân lực di cư theo loại visa EB-3 (có bằng cử nhân trở lên) và loại visa EB-5 (doanh nhân có vốn đầu tư đáng kể). Mỗi năm chính phủ Mỹ cấp hơn một trăm nghìn visa nhập cư, trong đó có khoảng 40 nghìn visa thuộc loại EB-3.Đối với loại visa EB-5, năm 2014 chỉ có 6,418 trường hợp định cư, đến năm 2015 con số này đã đã tăng vọt lên tới 17,662 trường hợp. Khoảng một năm lại đây, số người xin visa định cư tại các nước phát triển đã tăng lên khoảng 30%.
 
Việt Nam có khoảng hơn 100 ngàn du học sinh ở 49 quốc gia, trong đó có 90% du học tự túc. Riêng tại Mỹ có 28.883 sinh viên, tại Úc có 28.524 (tính đến 10/2015). Việt Nam có khoảng 600 ngàn lao động làm ở nước ngoài (gọi là “xuất khẩu lao động”). Hàng trăm ngàn phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc (gọi là “Cô dâu Việt”). Nhiều công ty khởi nghiệp của giới trẻ có học thức trong lĩnh vực IT và kinh doanh về Internet đang chạy qua Singapore. Trong khi đó một số nghệ sĩ Việt di cư hợp pháp sang Mỹ qua kết hôn với Việt kiều có quốc tịch Mỹ (như Thu Phương, Trần Thu Hà, Lam Trường, Bằng Kiều, Quang Dũng, v.v.).

Cách thức di cư của người Việt ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng lớn. Người dân ra đi chủ yếu vì khủng hoảng lòng tin và môi trường sống không an toàn (thực phẩm, môi trường, giáo dục, an ninh bất ổn). Trí thức cảm thấy thiếu tự do dân chủ, tuyệt vọng và bất lực vì đất nước chậm đổi mới và phát triển. Doanh nhân ra đi để “phân tán rủi ro” (chân trong chân ngoài). Quan chức (tham nhũng) ra đi để bảo vệ tài sản…

Một số doanh nghiệp lớn đang thoái vốn để tháo chạy. Năm 2015, tập đoàn Kinh Đô đã bán 80% cổ phần cho Mondele’s International (Hoa Kỳ), tương lai có thể thoái vốn tới 97%. Ông chủ Kinh Đô nói, “Khi Kinh Đô đã bán cho nước ngoài, thì khó có doanh nghiệp Việt Nam nào có thể trụ lại được.” Đợt thoái vốn tới sẽ là Vinamilk và FPT Telecom. Vinamilk được khuyến cáo là sẵn sàng bán cho nước ngoài 100% cổ phần.

Theo số liệu của viện VEPR (quý I/2015), lượng tiền của người Việt gửi ra nước ngoài đã tăng đột biến lên 7,3 tỷ USD. Trong vòng 5 năm (2008-2013), số tiền từ Việt Nam đã chuyển ra nước ngoài là 33 tỷ USD (Vũ Quang Việt).Theo hồ sơ Panama, 92 tỷ USD đã được chuyển phi pháp ra khỏi Việt Nam (năm 2015 là hơn 9 tỷ). Đó là những con số thất thoát quá lớn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước thâm hụt quá nhiều do bội chi ngân sách.

Bi kịch của Trung Quốc

Ngày càng nhiều người Trung Quốc “bỏ phiếu bằng chân”. Họ di cư khỏi Trung Quốc với tài sản để định cư ở nước khác. Từ năm 1990 đến 2000, trung bình mỗi năm có 143 nghìn người di cư. Từ năm 2000 đến 2010 con số này tăng lên đến 418 nghìn người/năm. Từ 1993 đến 2015, tổng số dân di cư đã tăng từ 4,1 triệu người lên 10 triệu người, trong đó có 2,02 triệu người định cư tại Mỹ, 896 nghìn người tại Canada, 657 nghìn người tại Hàn quốc, 655 nghìn người tại Nhật, 547 nghìn người tại Úc, và 457 nghìn người tại Singapore.

Từ năm 1978 đến 2003 có 4.000 quan chức tham nhũng chạy trốn khỏi Trung Quốc, đem theo hơn 50 tỷ USD. Từ giữa thập niên 1990 đến nay, có 18.000 quan chức tham nhũng chạy ra nước ngoài, đem theo 123 tỷ USD. Hầu hết họ chạy sang các nước Phương Tây (như Mỹ, Canada, Úc, Hà Lan). Cơ quan an ninh Trung Quốc cho biết có 150 tội phạm kinh tế đang sống tại Mỹ để trốn tránh cáo buộc tham nhũng tại Trung Quốc.

Theo Hurun Report, có 64% số người giàu (có 1,6 triệu USD trở lên) đã hoặc có ý định di cư khỏi Trung Quốc. Hiện nay có 1,2 triệu người sẵn sàng ra đi. Người ta xác định có 149 người Trung Quốc siêu giàu, với tài sản trên 1,6 tỷ USD. Danh sách siêu giàu này còn tăng thêm 150 người nữa nếu tính cả “tài sản ngầm” của họ. Theo GFI Report, Trung Quốc đã thất thoát mất 3,79 ngàn tỷ USD trong thời gian từ năm 2000 đến 2011.

Theo Bloomberg Intelligence, 1,4 nghìn tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc trong 10 năm qua (trung bình 140 tỷ/năm). Năm 2015, 1.000 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc, tăng gấp 7 lần so với năm 2014 (là 134,3 tỷ). Đây là do khủng hoảng lòng tin, khó lòng ngăn chặn nổi, dù Trung Quốc có xây vạn lý trường thành xung quanh đất nước.  

Năm 2004, chỉ có 16 người Trung Quốc nhận được visa loại EB-5 (13% tổng số); Năm 2008 con số này tăng lên tới 360 người. Đến 2013, con số này đã tăng vọt lên 6.895 người (chiếm 80% tổng số). Năm 2014, có 9.128 người Trung Quốc nhận được visa EB-5 (chiếm 85% tổng số 10.692 visas EB-5 được cấp). Người Trung Quốc chiếm 85% tổng số người xin visa EB-5 để đầu tư vào Mỹ, chiếm 76% tổng số 59.000 người xin visa đầu tư vào Canada; chiếm 91% của 1.679 người xin visa đầu tư vào Úc (từ 2012 đến 2015).

Năm 2014, số sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài là 459.800 người, trong đó 274.000 người học tại Mỹ. Tuy chính phủ Trung Quốc có chủ trương khuyến khích vật chất như trả lương cao để họ trở về nước làm việc, nhưng xu hướng “chảy máu chất xám” vẫn gia tăng. Trung Quốc vẫn tiếp tục mất đi một tỷ lệ khá cao những sinh viên đi học nước ngoài nhưng không về nước (tỷ lệ cao hơn hầu hết các nước khác).

Người giàu Trung Quốc không ủng hộ mà cũng không thách thức chế độ. Họ chỉ muốn chuyển phần lớn tài sản ra nước ngoài rồi ra đi. Họ không giống những người bất đồng chính kiến hay tị nạn chính trị. Thái độ ứng xử của họ có thể thay đổi với lòng yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc. Khi ra đi dễ dàng thì họ lựa chọn ra đi, chứ không chọn lên tiếng. Họ sẽ lên tiếng mạnh hơn nếu chính quyền cởi mở hơn cho phản biện và cải cách

Những người giàu có ở Trung Quốc được hưởng lợi lộc nhiều nhất từ sự tăng trưởng kinh tế, nhưng họ lại bỏ đất nước ra đi, thay vì lên tiếng phản biện và góp sức đổi mới đất nước. Một thập kỷ qua, việc họ ra đi đã làm Trung Quốc thất thoát hàng nghìn tỷ USD và chảy máu chất xám nghiêm trọng. Giới nhà giàu đã chuyển 458,3 tỷ USD ra khỏi Trung Quốc, trong tổng số 5,45 ngàn tỷ USD tài sản của họ. Con số thất thoát này bằng 3% GDP. Đây là một vấn nạn kinh tế, vừa “chảy máu chất xám” vừa “thất thoát tài sản”.

Chính phủ Trung Quốc đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng ngân sách nghiêm trọng do hệ quả của sự ra đi ồ ạt của tầng lớp giàu có nhất, và tiếng nói phản biện của tầng lớp trung lưu và lao động. Sức ép từ cả hai phía có thể buộc Chính phủ phải cải cách thể chế một cách có ý nghĩa như là sự lựa chọn duy nhất để tránh nguy cơ sụp đổ.  

Theo các học giả, Trung Quốc đã hết lợi thế phát triển và đã “kịch đường” (Paul Krugman). Kinh tế đang nguy khốn (in big trouble), tài chính có thể phân rã (meltdown). Lợi thế dân số không còn (Gordon Chang). Chủ nghĩa chuyên chế có sức sống đã hết thời (David Shambaugh). Tỷ phú George Soros dự báo kinh tế Trung quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing) có thể khủng hoảng như Nga (năm 2014). Trước đây Mỹ lo Trung Quốc vượt mặt, nay lo Trung Quốc sụp đổ, gây sốc lớn cho kinh tế toàn cầu, trong khi họ chưa sẵn sàng đối phó. (“When China Stumbles”, Paul Krugman, New York Times, January 8, 2016).

Nghịch lý của “Mô hình Trung Quốc”

Sau khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay mình, ông ta đã phục hồi những ý tưởng cực đoan của Mao Trạch Đông, như độc tài và sùng bái cá nhân, tuyệt đối tuân thủ hệ tư tưởng, hành xử độc đoán. Đó là sự kết hợp đầy nghịch lý giữa độc tài kiểu Mao với hiện đại hóa kiểu Đặng. Tập nắm nhiều quyền lực còn hơn cả Mao và Đặng (nhưng không bắt chước Đặng). Tập đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tăng cường kỷ luật đảng, để duy trì ổn định chính trị (là ưu tiên hàng đầu), và để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”.

Vì vậy, Tập Cận Bình đòi hỏi tất cả phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với chế độ, và với cá nhân ông ta. Tập tăng cường đàn áp mọi sự chống đối, kể cả xã hội dân sự, giám sát chặt chẽ giới trí thức, kiểm soát khắt khe giới báo chí truyền thông, và chống lại mọi giá trị phổ quát của phương Tây. Kể từ sau sự kiện Thiên An Môn, chưa bao giờ xã hội Trung Quốc lại hà khắc như hiện nay, làm giới cải cách và dân chúng rất bất bình.  

Tập thậm chí không tin các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khác, mà chỉ tin vào một nhóm trợ lý thân cận nhất như Vương Kỳ Sơn (trưởng ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương – CCDI, phụ trách chống tham nhũng), Lật Chiến Thư (chánh Văn phòng Trung ương – CCP, phụ trách nhân sự), Mạnh Kiến Trụ (phụ trách Ủy Ban An ninh Quốc gia), Lý Thành (học giả, phụ trách lý luận), và Vương Thiếu Quân (phụ trách an ninh riêng).    

Ván cờ của Tập Cận bình phải dùng đến ý thức hệ để cai trị thực ra không dựa trên sức mạnh đang lên mà bộc lộ thế yếu đang xuống (breaking down, rather than building up). Chế độ Trung Cộng rất dễ đổ vỡ vì kinh tế Trung Quốc đang suy thoái một cách đáng lo ngại, làm cho những người cải cách bất bình và dân chúng nổi giận. Nói cách khác, những mưu toan của Tập có thể tạo ra chính sự khủng hoảng mà Tập đang muốn tránh.

Tập đã phát động một cuộc vận động ý thức hệ rộng lớn, lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để che đậy những lỗ hổng của chế độ. Nhưng chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng là con dao hai lưỡi, và chơi với ý thức hệ cũng nguy hiểm như đùa với lửa. Xét cho cùng, Tập có thể bắt chước Mao, nhưng không thể hóa thành Mao. Sự đàn áp dựa trên ý thức hệ không mang lại lời giải nào cho các vấn đề của Trung Quốc, và không thể kéo dài mãi. Nước cờ của Tập không phản ánh sức mạnh mà bộc lộ sự lúng túng, và thú nhận sự mỏng manh của chế độ.

Theo Suisheng Zhao (“Xi Jinping’s Maoist Revival” Suisheng Zhao,Journal of Democracy, July 2016), ngày 17/3/2013, Tập đề xướng chủ trương “ba tin tưởng”: (1) lý luận về “Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc,” (2) con đường mà Trung Quốc theo đuổi, và (3) hệ thống chính trị mà Trung Quốc” lựa chọn. Đây là câu trả lời của Tập cho “ba cuộc khủng hoảng niềm tin” (chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx, và Đảng). Quan điểm Maoist của Tập ngày càng cứng rắn, đe dọa sử dụng “chuyên chính vô sản”, và tiến hành “đấu tranh giai cấp”. Tập đã vay mượn “cẩm nang của Mao”, sử dụng những khẩu hiệu sặc mùi Maoist như “bảy điều đừng nói” để tránh “các sai lầm lịch sử không thể sửa chữa được”, và kêu gọi cán bộ đảng viên phải “tự thanh lọc, tự cải thiện, tự đổi mới…”

Về giáo dục, Tập kêu gọi phát huy “năng lượng tích cực” với một “thái độ tươi sáng” đối với Đảng và nhà nước, biến các trường đại học thành “các lò nghiên cứu Maxist”. Theo chủ trương đó, tháng 1/2015, Bộ trưởng giáo dục Yuan Guiren (Viên Quý Nhân) đã đề xuất “hai củng cố”, nhằm hạn chế việc sử dụng các nguồn học liệu của phương Tây trong nội dung giảng dậy, để cảnh giác đối phó với “các rủi ro tư tưởng”.

Về truyền thông báo chí, Tập Cận Bình ép buộc các nhà báo phải ngừng phê phán Đảng CSTQ, và kêu gọi họ “nói bằng một giọng” và “tường thuật tích cực” để ủng hộ các chính sách của đảng. Trong bài phát biểu tại hội nghị tuyên truyền (8/2013), Tập nói huỵch toẹt ra rằng các chính trị gia phải “vận hành các báo”, và nhà báo phải trở thành “cái họng và cái mồm” (the throat and the mouth) của Đảng.

Bắc Kinh nhấn mạnh khái niệm “chủ quyền không gian mạng” và cho rằng các công nghệ truyền thông mới đang phá vỡ các ràng buộc không gian và thời gian, làm mờ nhạt sự phân biệt giữa tác giả, nhà xuất bản, và công chúng của thị trường tin tức. Khái niệm này hình dung ra một thế giới mạng trong đó các nhà chức trách sẽ “tuần tra” các cuộc nói chuyện online giống như tuần tra kiểm soát biên phòng.

Tháng 7/2015, Chính phủ đã thông qua dự luật an ninh mạng, theo đó sẽ lập ra “các đồn cảnh sát an ninh mạng” để kiểm soát các website và các hãng cung cấp dịch vụ Internet, nhằm “tóm cổ các hành vi phạm tội online” càng sớm càng tốt. Một blogger Trung Quốc đã cảnh báo, “các tường rào trong nhà tù thông tin Trung Quốc nơi sự ngu dốt nuôi dưỡng các tư tưởng hận thù và đối kháng. Nếu bức tường lửa tồn tại vô hạn định, Trung Quốc sẽ quay lại cái thời mà nó bị cô lập, thiển cận, hung hăng, và bất ổn”.

Nhà sử học Xiao Gongqing gọi chính thể của Tập là “Neo-Authoritarianism 2.0”. Theo ông, “Chủ nghĩa Độc đoán Mới 2.0” là cần thiết nếu Trung Quốc muốn tránh tai họa trong cuộc “trường chinh” tiến đến trật tự dân chủ hóa. Xét cho cùng, Đảng là nạn nhân của thành công cũng như thất bại của chính họ. Không có nước nào lại hiện đại hóa nhanh như Trung Quốc mà không phải chịu các hệ quả xã hội to lớn như vậy.  

Sự ổn định chính trị và sự sống còn của chế độ là mối quan tâm chủ yếu của Tập Cận Bình, “Sự ổn định cao hơn mọi thứ”. Vì vậy, Tập quyết tâm phải “bóp chết mọi yếu tố chống đối từ trong trứng nước”. Tập đã bị chỉ trích không những bởi những người ủng hộ cải cách, mà còn bởi những người cánh tả cấp tiến. Chế độ kiểm duyệt tăng lên cùng với mối lo về khả năng quản lý sự bất mãn của dân chúng. Trong thời đại Internet, việc khóa miệng sự bất mãn là hầu như không thể. Cái gậy hạn chế quyền tự do trực tuyến có thể “đập lại lưng ông”, bằng việc gây thêm oán hận và mất lòng tin. Đồng thời nó cũng kìm hãm sự phát triển của đất nước vì các nhà khoa học và doanh nhân khó tiếp cận với các nguồn lực trực tuyến vốn đã làm cho Internet trở thành tác nhân đổi mới và phát triển.  

Sự lẫn lộn về lý luận được minh họa rõ ràng qua các giá trị XHCN cốt lõi mà ban lãnh đạo của Tập đưa ra từ năm 2013 và được đăng tải khắp nơi ở Trung Quốc. Nó bao gồm “sự thịnh vượng, dân chủ, văn minh, hài hòa, tự do, bình đẳng, công lý, pháp quyền, chủ nghĩa yêu nước, cống hiến, chính trực, hữu nghị…” Tóm lại đó là một danh sách gồm đủ các từ ngữ chắp vá lộn xộn, chứ không bắt nguồn từ một tầm nhìn chính trị mạch lạc. Vì vậy, “Chủ nghĩa Độc đoán Mới 2.0” có thể là sự kéo dài vô hạn chủ nghĩa độc đoán, chứ không phải là sự chuẩn bị quá độ tiến đến cải cách dân chủ cho quản trị quốc gia.

Theo Cheng Xiaonong (Chủ nghĩa Tư bản với Bản sắc Trung Quốc,Epoch Times, 19/8/2016), Đảng CSTQ đã sử dụng kinh tế tư bản để tăng cường chế độ độc tài. Đây là một điểm mấu chốt của “Mô hình Trung Quốc”. Chế độ Trung Cộng đã bắt tay với hệ thống kinh tế Tư bản (từ thời Đặng Tiểu Bình kêu gọi “mèo trắng, mèo đen, miễn là bắt được chuột”). Không những Đảng CSTQ chấp nhận CNTB, mà hàng ngũ lãnh đạo Đảng còn tự mình trở thành những nhà “tư bản đỏ” giàu có đầy quyền lực. Mô hình “Kinh tế Thị trường theo Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” của Việt Nam chỉ là bản sao của “Mô hình Trung Quốc”.  

Về cơ bản, giới “tư bản đỏ” đã thâu tóm tài sản thông qua tham ô, biển thủ, chiếm đoạt bất hợp pháp các tài sản nhà nước, duy trì sự độc quyền của các ngành quan trọng, và thao túng các chính sách để đạt được lợi ích và duy trì chế độ độc tài của mình. Họ đã trở thành các doanh nhân, chủ bất động sản và chủ sở hữu tài chính lớn. Quá trình tích lũy của họ đầy đen tối và tội lỗi. Vì vậy, họ cần chế độ bảo vệ tài sản và cuộc sống của mình. Họ cũng cần sự độc quyền của nhà nước để tiếp tục tích lũy của cải nhiều hơn nữa.

Nhiều học giả phương Tây đã tưởng bở rằng sau quá trình tự do hóa kinh tế, giới ‘tư bản đỏ” Trung Quốc sẽ tự nhiên chuyển đổi theo khuynh hướng dân chủ và tự do. Thực tế quá trình chuyển đổi của Trung Quốc đã chứng minh rằng suy nghĩ này không những rất ngây thơ mà còn sai lầm nghiêm trọng. Giới “tư bản đỏ” có một vị thế chính trị tuyệt vời (không có cạnh tranh) nên họ dễ dàng ngăn chặn quá trình dân chủ hóa, có thể dẫn đến sự phá sản kinh tế và chính trị. Đây chính là bản chất của “Mô hình Trung Quốc”.

Thay vì lên tiếng góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa tại Trung Quốc, giới “tư bản đỏ” lại chuyển tài sản cá nhân của họ đến các nước phương Tây, trong khi thu xếp cho các thành viên trong gia đình của mình nhập cư vào các nước đó. Đây là một nghịch lý. Chính điều này chỉ ra rằng tương lai của “Mô hình Trung Quốc” thực sự mỏng manh. “Mô hình Trung Quốc” vừa mâu thuẫn với chủ nghĩa Mác, vừa trái ngược với nền dân chủ. Trong tương lai gần, Đảng CSTQ không thể tránh khỏi một cuộc khủng hoảng ý thức hệ. Bộ máy chuyên chính tuy có thể ngăn chặn được sự bùng nổ (explosion) nhưng không ngăn ngừa được sự suy sụp (implosion). Tập Cận Bình muốn tránh vết xe đổ của Liên Xô, nhưng không thoát được quy luật lịch sử.

Lối thoát duy nhất là phải cải cách thể chế chính trị đã lỗi thời. Thượng Tướng Lưu Á Châu (con rể cựu phó thủ tướng Lý Tiên Niệm, có nhiều phát biểu gây tranh cãi) đã cả quyết, “Trong vòng 10 năm nữa, một cuộc chuyển hình thái từ nền chính trị uy quyền sang nền chính trị dân chủ chắc chắn sẽ phải xảy ra, Trung Quốc sẽ có một sự biến đổi to lớn. Cải cách thể chế chính trị là sứ mệnh lịch sử trao cho, chúng ta không còn có đường lùi”.

La Vũ (con trai của cố đại tướng La Thụy Khanh, là bạn thân của Tập Cận Bình) đã đăng một loạt 10 bài viết công khai khuyến nghị với Tập Cận Bình rằng lối thoát duy nhất của Trung Quốc là từng bước dân chủ hóa. Ngày 19/6/2016, La Vũ đã cho đăng bài thứ 10 trong loạt bài với nhan đề “Bàn bạc với chú em Tập”, trong đó La Vũ thẳng thắn vạch ra rằng chính quyền Trung Quốc từ lâu không được lòng dân, “đến hôm nay, đã không còn được lòng dân nữa“. La Vũ khuyên Tập, “Người dân sẽ không cho chú nhiều thời gian nữa đâu“.  Trong lá thư viết cho Tập, La Vũ đề xuất 5 điểm: “xóa bỏ lệnh cấm báo chí; xóa bỏ các lệnh cấm của Đảng; có hệ thống tư pháp độc lập; tuyển cử; quốc gia hóa quân đội”.

Dư luận Trung Quốc và thế giới đang quan tâm đến Hội nghị cơ mật Bắc Đới Hà (8/2016). Trang mạng Weixin lan truyền tin Tập Cận Bình đề xướng “20 chinh sách cải cách chính trị-xã hội”. Không biết thực hư ra sao, nhưng người dân Trung Quốc đang háo hức chờ mong. Ngày 18/7/2016, trang  mạng Mingjingnews.com đăng bài xã luận nhận xét: “Hội nghị Bắc Đới Hà lần này sẽ là hội nghị căng thẳng nhất từ trước đến nay…”. Trang Weixinqz.com cũng đưa tin: “Tập Cận Bình sắp tới sẽ có những tuyên bố về chính sách cải cách to lớn, khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc…” Đó là Trung Quốc, còn Việt Nam?

Thay lời kết

Đáng lẽ phải “xoay trục” để thoát dần cái bóng Trung Quốc, thì Việt Nam vẫn núp bóng ý thức hệ đã lỗi thời và bắt chước “Mô hình Trung Quốc, mà không có tiềm lực kinh tế và quốc phòng đủ mạnh làm đối trọng để thoát Trung. Ý thức hệ là cái bẫy làm Việt Nam bị mắc kẹt tại ngã ba đường, nên bảo hoàng hơn cả vua, làm mất dần độc lập kinh tế và chủ quyền quốc gia. Khái niệm trung với nước bị đánh tráo, trở thành trung với Đảng và chế độ. Vì vậy, tiếng nói phản biện vì tương lai của dân tộc thường bị coi là “phản động”.

Đã đến lúc người Việt phải thức tỉnh để đổi mới tư duy và thể chế, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Trước xu hướng người Việt đang đổ xô di cư, cần có cách khuyến khích họ ở lại để chung tay chấn hưng đất nước, khôi phục các giá trị cốt lõi của dân tộc. Tại sao người Miến Điện và người Mông Cổ làm được mà người Việt Nam lại không?  Aung San Suu Kyu và Tsakhiagiin Elbegdorj đâu phải là siêu nhân từ trên trời rơi xuống. Nhưng họ không bỏ nước ra đi vì lợi ích riêng, và cũng không chấp nhận thực trạng độc tài của đất nước, mà kiên trì đấu tranh (bất bạo động) để thay đổi vận mệnh của dân tộc họ.  

Quyền tự do cư trú và di cư là quyền chính đáng của mọi công dân, là chuyện bình thường của mọi xã hội. Nhưng hiện tượng nhiều người bỏ đất nước ra đi ồ ạt như hiện nay tại Trung Quốc và Việt Nam là chuyện bất bình thường. Nó phản ánh não trạng bất an của cộng đồng và thực trạng bất ổn của đất nước. Tại sao người ta không ở lại để lên tiếng phản biện và góp phần đổi mới thể chế và phát triển đất nước?  Câu chuyện đi hay ở không chỉ là bi kịch, mà còn là thảm họa quốc gia. Phải đổi mới thể chế trước khi quá muôn.

Tham khảo

“Exit, Voice and Loyalty: Responses to Decline in firms, Organization, and States”, Albert Hirschman, Harvard University Press, 1970
“The Flight of the Affluent in Contemporary China: Exit, Voice, Loyalty, and the Problem of Wealth Drain”, Steve Hess, Asian Survey, July/August 2016

“When China Stumbles”, Paul Krugman, New York Times, January 8, 2016

“Xi Jinping’s Maoist Revival” Suisheng Zhao, Journal of Democracy, July 2016
“Chủ nghĩa tư bản với bản sắc Trung Quốc”, Trình Hiểu Nông (Cheng Xiaonong), Epoch Times, 19/8/2016
“Ôm tiền ra ngoại quốc: cuộc tháo chạy mới ở Việt Nam”, Người Việt, 31/7/2016

“Mỗi năm gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài”, Hồ Mai, VNF, 24/7/2016

NQD. 26/8/2016



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link