Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, February 14, 2015

Mừng Cái Giống Gì?

 

Mừng Cái Giống Gì?

. Đinh Tấn Lực
Đức tài như lãnh đạo – Sạch sẽ như công an - Tự do như báo chí – Hạnh phúc như nhân dân – Khắc ước là khắc được – Xin ước thêm một điều – Khỏe mạnh như đất nước”.
– Vũ Cận (tác giả tiểu luận Chủ Nghĩa Chống Cộng Từ Bên Trong).


Nhiệt liệt Mừng Đảng – Mừng Xuân, giống như Ước Nguyện (đầu năm) của cựu Tổng Biên Tập báo Vjetnamio Antauenmarsas (VN Tiến Bước, quốc tế ngữ Esperanto), kiêm cố thi sĩ (giấm ớt) Vũ Cận, từ đầu thập niên cuối của thế kỷ trước, xem ra vẫn còn phù hợp (nếu không bị phù mỏ) đến tận hôm nay.

Kể cũng khó thiệt. Bức ảnh Hội Báo Xuân Toàn Quốc bên trên tự nó đã lột tả trần truồng nét thê thảm của một mùa Tết lẽ ra phải tưng bừng hết cỡ. Từ thời của TBT Vũ Cận 1950 đến thời TBT Kim Quốc Hoa 2015, đã xấp xỉ hai phần ba thế kỷ, mà nhân dân ta vẫn chưa kiếm được một lý cớ gì khả dĩ để mừng Xuân …cho đã nư.

Hổng lẽ cụng ly trống không để mừng vật giá liên tục gây hoảng loạn? Giá dầu thế giới có tụt giảm mấy, giá xăng xứ ta vẫn bị tăng thuế hầu gỡ nợ (kêu bằng “bù lỗ” đến lủng túi).
Hổng lẽ mừng rơn mẽ đinh ốc đầu tiên cho Samsung; hay, hổng lẽ mừng sản phẩm nước cốt ruồi Number One đang lên tầm “ngang ngửa” với các món Cola nhập khẩu?

Hổng lẽ mừng rơn ta có một thẩm phán toà phúc thẩm TAND Tối Cao lý luận biện hộ cho chủ hãng nước ruồi rằng “hàng trăm hàng ngàn chai khác trong lô cùng xuất xưởng đó không có con ruồi nào!”?

Hổng lẽ mừng người chăn nuôi đổ bỏ sữa tươi? Hổng lẽ mừng heo ăn cà chua trừ cám? Hổng lẽ mừng bò ăn dưa hấu thay rơm?
Hổng lẽ mừng ngư dân Hoàng Sa/Trường Sa bị tàu giặc đâm chìm, hoặc đã chạy vại vay đủ tiền chuộc tàu/chuộc lưới/chuộc người?

Hổng lẽ mừng nông dân mọi miền được lất lây du lịch bụi ở thủ đô vì hoà bình, năm này qua năm khác, để chờ nhà nước nhận đơn khiếu kiện? Và được ngủ dưới bạt nilông có chan nước mắm? Hổng lẽ mừng thêm vì trẻ con dân oan được CA xiết cổ bằng dây thừng?
Hổng lẽ mừng công nhân thoát chết bởi các bữa ăn nhà bàn; hay thoát hiểm bởi các cây gậy của CA giao thông?

Hổng lẽ mừng các vòng hoa tang bị giật mất dải băng phúng viếng?

Hổng lẽ mừng hai bloggers được tại ngoại trước Tết, trong khi ba người khác đang chuẩn bị lãnh án bỏ túi để vào tù, như hàng trăm nạn nhân trước đây của các điều luật nhang khói 79/88/258?

Hổng lẽ mừng 26 chủ tài khoản triệu phú VN của nhà băng HSBC Thuỵ Sĩ bị lộ?
Hổng lẽ mừng rơn tình hình tham nhũng nước ta suốt 3 năm qua liên tục ổn định?
Hổng lẽ mừng Đồ Sang tự tay vẽ thư pháp tặng trường đại học một chữ Trĩ?

Hổng lẽ mừng binh bộ thượng thơ dẫn đầu hơn chục tướng lãnh sang Bắc Kinh dâng biểu xin hàng? Rồi tuyên bố TQ xây dựng cơ quan quân sự Trường Sa là chuyện bình thường? Lại bảo ban rằng “bôi nhọ, gây chia rẽ lãnh đạo là hết sức nguy hiểm”? Sau đó còn nhấn mạnh “Ghét TQ là nguy hiểm cho dân tộc”?

Hổng lẽ mừng quan tổng thanh tra chánh phủ vun vén nhiều đất đai/biệt thự, đến lúc bị phanh phui thì chịu kỷ luật cảnh cáo? Còn TBT tờ báo đăng bài chống tham nhũng vụ đó thì bị bắt giam và khởi tố?

Hổng lẽ mừng rơn bởi trung ương đảng bỏ phiếu tín nhiệm quan tể tướng mấy từng trời cao hơn cả tổng bí thơ lẫn chủ tịch nước?

Hổng lẽ mừng rơn cái thành quả Đông Tây Y kết hợp điều trị bạo bệnh nhiễm xạ (có tổ chức) cho một cựu lãnh chúa, chuyển đổi từ “ăn hết 1 tô cháo” sang “có chỉ dấu hôn mê” mà chẳng ai thấy ảnh?

Hổng lẽ mừng rơn được tin trên báo cho hay sếp lớn cục đường sắt tự ý siêu thăng sau khi có tin thứ trưởng bộ GT nhập kho?
Hổng lẽ mừng rơn vì trong số 944.425 lượt kê khai tài sản của đảng viên, chỉ duy nhất một trường hợp có chỉ dấu không trung thực?

Hổng lẽ mừng rơn khi nghe Nợ công vượt ngưỡng, Tài nguyên cạn kiệt?

Hổng lẽ mừng rơn vì có kẻ tuyên bố: “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài đảng CSVN, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang”?

Hổng lẽ mừng rơn vì cũng chính kẻ đó tuyên bố “tham nhũng như ngứa ghẻ”, rồi rộng lòng tha chuột để giữ bình? Tức là một chính sách khuyến chuột “to hổng chết, vừa sanh nhiều, nhỏ mau lớn”?
Hổng lẽ mừng rơn vì kết quả 137.984 cuộc thanh tra đã phát hiện ra tới 33 vụ có chỉ dấu tham nhũng vặt?

Hổng lẽ mừng rơn khi thấy, chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, trang mạng CDQL đánh gục hầu hết kẻ thù nội bộ của quan tể tướng? Đánh gục luôn cả hệ báo đài chánh quy của đảng, đến mức quan thượng thư phải giả đò giận dỗi, và đích thân tể tướng phải ra lệnh ngăn chận mọi phương thức trả đũa, kể cả biện pháp khuyến khích cá mập cắn cáp quang.
Hổng lẽ mừng rơn theo lũ bộ hạ của tể tướng đang liên hoan chuẩn bị theo chân chủ tướng mà leo cao chui sâu? Và sẵn sàng báo thù mọi đối thủ trong chăn từng ủ mưu làm nhục thủ tướng từ hội nghị lần 6-7 trước đây?

Hổng lẽ mừng rỡ chia vui với mấy trăm gia tộc đang phất lộc trước tia sáng cuối đường hầm khoá 11 mở ra tầng thượng khoá 12? Trong khi dân oan cả nước vẫn dắt díu dập dìu khắp 36 phố phường Hà Nội?

Hổng lẽ nâng cốc chung vui với lãnh đạo trước kỳ nghỉ giải lao của quan thầy: Rằng cũng được mấy tuần thảnh thơi, “cái gì cắm rồi thì thôi, không cắm cái mới”. Rằng “đương nhiên bên nào mà tiến hành xây dựng thì đó cũng là một căn cứ quân sự cả (sân bay/pháo đài/vùng nhận dạng phòng không)”. 


Hổng lẽ mừng rơn, khi thấy những bloggers ra sức báo động Bắc Thuộc Lần Cuối liên tục bị bắt, bị ra toà, bị lãnh án…? Và sau đó trở thành con tin của nhà nước trong những phương án trao đổi quyền lợi với đối tác kinh tế chính trị ngoại giao?

Hổng lẽ, túm lại để mừng, theo kiểu phó tể tướng, là …chỉ khi nào trẻ em rưng rưng hát quốc ca Trung Quốc thì đất nước mới giàu mạnh?
Vậy thì, quả tình khó thiệt!

Hoạ chăng, chỉ có thể mừng nhau ở những cột cây số từng chặng đường nhìn lại…
*
Trước tiên là nỗi vui lớn Truyền Thông Đảng Vỡ Trận.
Đó là đoạn đường thập giá cam go, từ Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, với Điếu Cày, Uyên Vũ, Thiên Sầu và Tạ Phong Tần của thời Yahoo!360 (mà 2 trong các sáng lập viên đó đã ngồi tù, không được báo tin mẹ qua đời hay không được chào người thân khi nhận lệnh tống xuất)… cho tới Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Văn Đoàn Độc Lập, Hội Nhà Báo Độc Lập & Việt Nam Thời Báo… ngày nay.

Đó là một chiến thắng yên ả mà oai hùng của đội ngũ dân báo nghiệp dư đánh bại dàn ký giả thư lại có thẻ rụt rè như gà mắc tóc của đảng. Chính xác là đánh bại dàn ban bệ tuyên giáo, với số lượng ngày càng đông các nhà báo có thẻ “chính quy” lại tích cực viết blog “phi quy ước” để chuyên chở hết cả những suy nghĩ không được đăng trên báo đảng.

Màn sắt đã rơi. Tường lửa cũng sập. Facebook đi tin nhanh như cao bồi Lucky Luke rút súng nhanh hơn cái bóng của hắn. Triết lý Mác-Lê nhoè nhoẹt trước Triết Lý Đường Phố.
Nói có sách, mách có Smartphones. Hình ảnh/âm thanh đủ ráo. Các phóng sự Youtube vài phút coi đã hơn VTV và đủ làm chùn tay công an. 

Các câu nói ngây ngô ngờ nghệch của lãnh đạo (tô điểm bức tranh đảng mông lung/mê muội) được truyền tai nhanh đến mức nhà nước tháo gỡ bài không kịp. Các tuồng diễu công an trả lại của rơi nhặt được, hay, ngay cả chuyến hồi hương úp mở của tay lãnh chúa miền Trung… cũng không thoát được các nụ cười đểu trong làng dân báo.

Vũ Bằng, tác giả của “40 Năm Nói Láo”, nếu còn sống và có cơ hội chơi Facebook, e rằng khó cất dẹp nỗi hưng phấn từng giờ từng phút, mà ắt phải cắm cúi cặm cụi viết một quyển khác, thật hơn, hay hơn, phổ biến rộng hơn…
Nhìn chung, người ta có thể kết luận rằng Đệ Tứ Quyền đã thuộc về dân, bất chấp lề luật có cho tư nhân làm báo hay không.
Truyền Thông Đảng Vỡ Trận đã đành. Nó còn vỡ mặt một khi quan tể tướng vả bộp vào giữa mặt đảng bó tay với lời trần tình nhìn nhận: “Không thể ngăn cấm thông tin trên mạng xã hội”. Rõ là hiệu năng của mạng CDQL cho phép quan tể tướng tuyên bố mọi lời trịch thượng tuỳ thích.
*
Kế tiếp là niềm vui lớn về hoạt động Xã Hội Dân Sự Bùng Phát.
Các hội ra đời không cần đếm xỉa gì tới MTTQ. Tự thân MTTQ cũng đã đắm chìm toàn diện trong những toan tính đấu đá cho lợi quyền của từng thành viên của chính nó.
IDS vỗ mặt chánh phủ xong tự hoà nhập vào các nhóm hoạt động tự nguyện. Cùng ký tên ủng hộ các chương trình lợi ích chung, rõ nhất là Góp Ý Đổi Mới Hiến Pháp. Rồi hô biến thành Diễn Đàn Dân Sự, bên cạnh rất nhiều nhóm hoạt động dân sự ở nhiều cấp độ và nhiều lãnh vực khác nhau.

Đi thẳng vào nền tảng quần chúng là khẩu hiệu Quyền Con Người (bàn tay xoè hình con chim xanh hoà bình), và 30 điều của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền… Ắt là cũng sẽ có lúc quan tể tướng phải trần tình rằng “không thể ngăn chận”. Song song là những ngấm ngầm hay manh nha phát động sinh hoạt đảng phái, cùng những góp ý thao dượt sinh hoạt dân chủ đa nguyên.

Gần gụi và cảm động nhất là những hoạt động âm thầm trợ giúp bà con có nhu cầu thiết thực: Bữa Cơm Có Thịt, Trường Lớp Tình Thương, Quà Trung Thu Cho Trẻ Em Miền Núi, Học Bổng Bước Đầu Vào Đại Học, Tủ Sách Nông Thôn, Bầu Bí Tương Thân, Cứu Lấy Dân Oan, Bữa Cơm Dân Oan… Tất cả đã đến tận tay người dân, bằng tình thương, bằng mồ hôi nước mắt, và nếu có sự nhận thức nào đó từ người nhận, thì hẳn phải là một thông điệp: đảng & chánh phủ này chỉ tổ lo làm giàu cho chính họ, chỉ có người dân (cả dân thường, dân oan lẫn cựu TNLT) chúng ta mới thương nhau và tận tình giúp đỡ cho nhau…
*
Lớn nhất là niềm vui Đông Đảo Bà Con Đã Vượt Qua Nỗi Sợ.
Đó cũng là những bước dài sải rộng qua cái bóng sợ hãi của từng người…
Từ khẩu hiệu vẽ tường “HS-TS-VN” cho đến chiến dịch phơi ảnh “Tôi Không Thích ĐCSVN”.

Từ bài nhạc tình cảm “Bạn Thân” đến câu hỏi hóc búa “Anh Là Ai?” & “VN Tôi Đâu?”.
Từ các sinh viên Phương Uyên-Đinh Nguyên Kha với tờ bích chương viết bằng máu “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông”, và “Đi chết đi ĐCSVN”… cho tới anh du sinh rapper Nah Sơn với bài nhạc nghĩ thẳng nói thật “DMCS”.

Từ phong trào #toikhongthich đến #DMCS, kèm theo cái ảnh Zombie thông não/mở mắt trừng trừng thách đố đảng.

Từ cái cớ chống Bắc Kinh kẻ cả/hung hăng/bành trướng… chuyển thẳng sang chống Ba Đình hèn mọn/ngu dốt/tham lam.

Từ huy chương/hình Hồ/ảnh Giáp/cờ đỏ… đi đầu các cuộc biểu tình tuần hành mấy năm trước cho đến các biểu ngữ/băng rôn rộng khổ in đậm những yêu sách trọng điểm gần đây. Tức là không cần loại “bùa kách mệnh” thối rữa hết thời đó nữa. Và, công khai tuyên bố ra khỏi đảng.

Từ nhân sinh quan “makeno” trước đây, cho đến mối quan tâm về các phiên toà xử án Lê Quốc Quân, Tạ Phong Tần, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Paulus Lê Sơn, Nguyễn Văn Duyệt, Hồ Văn Oanh, Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Xuân Anh, Thái Văn Dung, Trần Minh Nhật, Nông Hùng Anh, Nguyễn Văn Oai, Hồ Thị Bích Khương, Đinh Nguyên Kha, Bùi Hằng, Lê Thị Phương Anh… người Việt Nam trong nước và trên khắp thế giới đều nhận ra cái hèn và nỗi bí cộng thêm sự thô thiển lẫn tàn ác của dàn lãnh đạo Ba Đình (đến mức khép tội hai xe máy đi hàng ba), chuyển thành sự sợ hãi của chính những kẻ cầm đầu chế độ hung tàn này (có chứng cứ cụ thể bằng hình ảnh/âm thanh).

Từ sự dửng dưng (hay “phải có tội thế nào nó mới bắt chứ!”) nhiều năm trước, cho đến tấm tình xót xa và thái độ chia sẻ với các nạn nhân Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Basam Nguyễn Hữu Vinh, GS Hồng Lê Thọ… và khập khiễng với cả bước chân của Bọ Lập, lúc bước vào lẫn lúc ra tại ngoại hôm nay.

Đáng ngẫm nhất là sự chuyển đổi từ sự thúc thủ “mặc kệ chuyện đời” đến chỗ không coi việc phụng sự xã hội là “chuyện bao đồng”/”vác ngà voi”. Những ngộ nhận về “cái xấu của chính trị” bớt dần, nhường chỗ cho ý thức tích cực sống chung với nó, bởi “chính trị không chừa ai”.

Không chỉ Vượt Qua Nỗi Sợ. Người ta còn thản nhiên bày tỏ sự khinh bỉ khi gọi lãnh đạo Ba Đình bằng loại đại từ thằng/bọn/lũ/chúng… là những thứ mà chế độ đã nhồi sọ và ép buộc nhân dân khi nói về nguỵ quân nguỵ quyền trước đây.
*
Cả ba điều vui thích vừa kể, gộp lại, hiển hiện ra thành một bức tranh có nhiều mảng màu ít nhiều gì cũng tươi hơn các thứ “hổng lẽ” xám xịt mà dài sọc bên trên…

Không khó để người Việt khắp nơi nhìn ra lòng yêu nước, tính nhân bản, các quyền con người và nhiều thành tựu kinh tế của dân ta dưới chế độ VNCH từ 40 năm trước, dù đang trong giai đoạn chiến tranh bấy giờ. Và cùng đi đến nhận thức sâu hơn về giá trị của sinh hoạt dân chủ đa nguyên đa đảng trong tiến trình xây dựng, bảo vệ và canh tân đất nước. Chưa bao giờ “Ngụy quân”, “Ngụy quyền” lại đáng phục và đáng kính tới vậy.

Chính vì vậy mà, với cuộc cách mạng truyền thông hôm nay, người dân, bất kể là Nam hay Bắc, đều nhắc nhau chung một loạt ba biến cố đầu năm: Hoàng Sa 1974, Biên Giới 1979, và Trường Sa 1988; cùng nhau tưởng nhớ chung những người con nước Việt đã xả thân để bảo vệ quê hương. Lãnh đạo Ba Đình đang lo âu về hiện tuợng này hơn bao giờ hết.

Rõ ràng dân tộc đang thuyết phục được nhau và đang tiến những bước lớn cả về nhận thức lẫn hành động kết đoàn, bất kể những trò hù dọa, bạo hành, bưng bít, và phá hoại của dàn lãnh đạo (có đầy hình và chữ trên CDQL), thông qua công cụ báo đài và côn an.

Hoá ra là vẫn còn may. Người ta không cần giấm ớt như cố Tổng biên tập Vũ Cận khi xưa mong ước “Khoẻ mạnh như đất nước”. Chính chúng ta sẽ làm cho đất nước khoẻ mạnh.
Đã không sợ đảng – Sẽ đách ngại Xuân.

Và tự tạo cho nhau những điều thật sự đáng mừng:
Mừng Hy Vọng Gần Kề – Mừng Dân Tộc Một Mối – Mừng Xuân Chẳng Lỗi Thề.

12/02/2015 – Mừng được tin Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do phục hoạt.
Blogger Đinh Tấn Lực, chép tặng Điếu Cày.




Friday, February 13, 2015

Nhìn lại những trang Sử Việt đầy biến động Qua các Năm Mùi.



--
Kính Chuyển
MG/HD
Nhìn lại những trang Sử Việt đầy biến động
Qua các Năm Mùi.
MƯỜNG GIANG


            Trải qua mấy ngàn năm tồn vong, đất nước ta luôn sống trong cảnh binh đao biến loạn vì thù trong giặc ngoài. Do đó, nên hầu hết các tài liệu lịch sử bị thiêu huỷ và thất lạc. Dẫu vậy nhờ khí thiêng sông núi, ngày nay ta vẫn còn giữ được nhiều trang sử vàng dũng liệt của tiền nhân suốt các thơì kỳ bình Chiêm phá Hán và chống thực dân Pháp.

            Nhưng bất hạnh thay cho Dân Tộc Việt,  là bắt đầu từ năm 1911 tới nay (2014), qua sự xuất hiện của Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản quốc tế tại VN, các trang sử Hồng-Lạc đã bị xáo trộn bởi ba giòng văn chương tréo cẳng ngỏng, với các khuynh hướng “ ca tụng  Hồ, chống Hồ và đống núi tài liệu ngoại quốc tả viết về chiến tranh VN từ 1945...

            . Tại thiên đàng xã nghĩa, sau ngày đổi đời 30-4-1975, Cộng sản Hà Nội độc quyền, cùng với một số trí thức miền Nam bụng  đầy chữ nghĩa nhưng không tim óc, cùng toa rập, dàn dựng, bịa đặt để viết lại lịch sử nước nhà với mục đích bôi son trét phấn cho Hồ và đảng “ quang vinh, bách chiến bách thắng “. Nhưng thúng không thể úp voi và giấy làm sao gói được lứa ? bởi vậy sử liệu của VC đã trở thành những trận cười ngặt nghẽo, giống như các huyền thoại cải lương về Hồ, về Võ, về 80 năm đảng có mặt trên núi xương, sông máu, để tạo nên Hồ triều giàu sang chung đỉnh tột bực trong dòng sử Việt, qua thành tích “ ta đánh My-Ngụy là đánh cho Nga-Tàu , cùng với trăm ngàn câu chuyên bán nước cho giặc, mà sánh chói nhất vẫn là Công Hàm bán Hoàng Trường Sa năm 1958 và ký kết Thành Đô 1990 giao nước Việt cho Trung Cộng “

            . Năm Mùi 2015, nhìn lại những trang sử mới vừa được các sử gia chân chính đưa ra ánh sáng , từ trong kho tài liệu khắp năm Châu và bia đời, mặt thật đã lộ sau lớp phấn son huyền thoại vừa tan biến vì sự thật vẫn là sự thật. Ðọc lịch sử để cãm thông cho người trong cuộc và thương cho dân tộc VN quá chịu đọa đày.

QUÍ MÙI ( 203 Sau TL) : Ðời Vua Hán Hiến Ðế, Giao Chỉ tức là nước Văn Lang đời các vua Hùng, sau đó là Thục (An Dương Vương) và Nam Việt (Triệu), bị cải thành Giao Châu do Sĩ Nhiếp lám Thái Thú, kiêm nhiệm thêm các quận Nam Hải, Hợp Phố ( Quảng Ðông, Quảng Tây) và Cửu Châu ( Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh). Tuy Sĩ Nhiếp không phải là người đầu tiên mang văn minh, văn hiến tới khai hoá dân Lạc Việt như sách vở Tàu đề cập nhưng Ông và các huynh đệ là những người quan tốt so với bọn tham quan ô lại tới cai trị đo hộ người Việt, vì vậy được mọi người tôn là Sĩ Vương.

ÐINH MÙI ( 767 Sau TL) : Năm thứ 2 Ðường Ðại Tông, giặc bể Côn Lôn và Ðố Bà cướp phá Giao Châu. Các quan nhà Ðường là Cao Chính Bình và Trượng Bá Nghi dẹp yên giặc, sau đó đắp La Thành để phòng thủ Giao Châu. La Thành chính là Hà Nội sau này.

ẤT MÙI (875) : Cao Biền rời Giao Châu sang làm Tiết Ðộ Sứ Tây Xuyên. Nhà Ðường đang hồi suy vi, kéo theo hổn loạn tại Giao Châu.

QUÍ MÙI ( 923) : Quân Tàu đem quân sang đánh và bằt Tiết Ðộ Sứ Giao Châu là Khúc Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến sang thay thế.

QÚY MÙI ( 1043) : Lý Thái Tôn 1028-1054 , một minh quân của VN. Ngài có công lớn trong việc dẹp yên giặc Nùng Trí Cao ở Cao Bằng và Chiêm Thành. Năm 1043, ra lệnh cấm việc mua bán nô lệ hoàng nam, mở mang đường quan lộ và định lại số cung nử, phi tần trong cung vi. Ngài làm vua được 27 năm, thọ 55 tuổi tên là Phật Mã.

QUÍ MÙI (1103) : Lý Giác làm phản, đầu hàng Chiêm Thành rồi chiếm ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính. Ðại tướng Lý Thường Kiệt , vị anh hùng dân tộc bắc đánh Tống, nam bình Chiêm, lúc đó đã 70 tuổi, đã lấy lại ba châu trên nhưng năm sau ông mất tại Thọ Xương , Thái Hòa, tức Hà Nội ngày nay.

ẤT MÙI (1175) : Lý Anh Tôn phong Tô Hiến Thành làm Thái Phó, phụ chánh cho Thái Tử Long Cán , tức là Lý Cao Tôn. Tô hiến Thành là một danh tướng của VN, có tài thao lược, công bằng liêm chính, thường được ví với Thừa Tướng Gia Cát Lượng đời Thục Hán bên Tàu. Ông mất năm 1178 và theo Việt Sử, vì triều đình lúc đó không chịu nghe lời ủy thác của ông nên đã mất ngôi về nhà Trần. Sự việc cũng xãy ra trong năm Quí Mùi 1228, khi Lý Huệ Tôn cho Trần Thủ Ðộ tham chính, từ đó quyền hành lọt vào tay họ Trần.

ÐINH MÙI ( 1247) : Vua Trần thái Tôn mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên tại nước ta, gồm tam khôi là trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Sử gia đầu tiên của nước Nam là Lê văn Hưu đã đổ bảng nhãn trong khóa này. Ngoài ra còn mở thêm khóa thi Tam Giáo (Nho, Thích, Lõa) với các khoa giáp và ất.

QUÍ MÙI (1283) : Mông Cổ sau khi chiếm trọn nước Tàu lại dòm ngó nước Nam. Ðể có cớ xâm lăng, Vua Nguyên là Hốt tất Liệt sai Sài Thung đưa Trần di Ái về làm vua nhà Trần , nhưng bị Ta bắt làm tù binh. Nguyên Chủ lập tức sai Thoát Hoan, Ô mã Nhi, Toa Ðô .. dẫn 50 vạn quân đánh nước Nam. Vua Trần Nhân Tôn phong Trần Quốc Tuấn làm tiết chế , chỉ huy quân lực chống cuộc xâm lăng lần thứ 1 của Mông Cổ và đã đuổi được giặc ra khỏi bờ cỏi.

ÐINH MÙI (1307) : Vua Trần Anh Tôn tiếp nhận hai Châu Ô và Rí của Vua Chiêm là Chế Mân dùng làm sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa, con gái vua Trần Nhân Tôn. Hai châu trên được đổi thành Thuận và Hóa Châu, do Ðoàn nhữ Hài trấn thủ, hiện nay là tỉnh Quảng Tri và một phần các quận miền bắc thuộc tỉnh Thừa Thiên, Trung Việt.

ÐINH MÙI (1367) : Trần thế Hưng và Ðổ tử Bình vâng lệnh vua Trần Dụ Tôn đánh Chiêm Thành nhưng bị đại bại tại Chiêm Ðộng Quảng Nam, phải rút quân về nước. Sự kiện trên làm người Chiêm khinh dễ nước Nam nên sau đó Chế Bồng Nga liên tiếp mấy chục năm liền quậy phá nhà Trần tới tận kinh đô, làm cho nước ta hổn loạn và chìm đám trong khói lửa chiến tranh, cho tới khi Chế bồng Nga bị bắn chết mới yên.

QUÍ MÙI (1403) : Hai chục vạn quân nhà Hồ vào đánh Chiêm Thành nhưng không hạ nổi kinh đô Ðồ Bàn (Bình Ðịnh) phải rút về Thăng Long.

ÐINH MÙI ( 1427) : Tháng Giêng, quân Bình Ðịnh Vương Lê Lợi tiến đánh thành Ðồng Quan, vây hãm giặc Minh nhiều nơi, kể cả Ðại tướng Vương Thông ở Tụy Ðộng. Minh Thành Tổ cho viện quân sang tiếp cứu do An viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy, cùng với các tướng Lương Minh, Thôi Tụ,Lý Khánh, Hoàng Phúc, Nguyễn đức Huân.. đi đường Quảng Tây, đồng thời với đạo quân của Kiềm quốc công Mộc Thạnh dẫn theo các tướng Từ Hạnh, Ðàm Trung.. từ Vân Nam vào Ðại Việt. Nhưng tất cả viện binh đều bị nghĩa quân Lam Sơn chận đứng, cuối cùng Liễu Th8ng đã bị đại tướng Lê Sát chém chết tại Mã yên Sơn, ải Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn, chấm dứt 10 năm Ðại Việt bị giặc Minh đô hộ vì Hồ quý Ly cướp ngôi nhà Trần, gây cảnh chia rẽ, làm suy yếu Ðại Việt.

TÂN MÙI (1631) : Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên ở Ðàng Trong lập xuởng đúc súng đại bác, trường bắn, trường luyện tượng binh, thường xuyên thao dượt tướng sĩ để phòng bị chiến tranh với Ðàng Ngoài và Chiêm Thành.

QUÍ MÙI (1643) : Trịnh Tùng đem vua Lê vào đánh chúa Nguyễn tại Bắc Bố Chánh nhưng thất bại, phải rút về Bắc. Năm Ất Mùi (1655), Trịnh Tráng đánh Nam Bố Chánh lại thua và bị Hiền Vương Nguyễn phúc Tần sai các tướng Nguyễn hửu Dật và Nguyễn hửu Tiến truy đuổi ra tận Nghệ An.

ÐINH MÙI (1667) : Vua Khang Hy nhà Thanh, phong vua Lê làm An Nam quốc vương. Trong năm Trịnh Tạc đánh đuổi Mạc Kính Vũ chạy sang Tàu và chiếm lại đất Cao Bằng. Năm Ất Mùi 1775, đời Lê Cảnh Hưng, Trịnh Sâm sai Lê Quý Ðôn, Ngô thời Sĩ và Nguyễn Du soạn bộ Quốc Sử.

KỶ MÙI (1679) : Nhân có các tướng nhà Minh là Dương ngạn Ðịch, Hoàng Tiến, Trần thượng Xuyên, Trần An Bình không chịu hàng nhà Thanh, nên đem 3000 quân đi đường thủy vào hàng Ðàng Trong, được Hiền Vương cho họ vào khai khẩn các vùng đất mới vừa chiếm tại Thủy Chân Lạp là Ðông Phố, Lộc Dã,Mỹ Tho.. Chẳng bao lâu vùng này trở thành phường phố, có nhiều người phương tây, Chà Và, Nhật Bổn tới buôn bán tấp nập.

ÐINH MÙI (1787) : Tướng Tây Sơn là Vũ văn Nhậm , đánh bại quân Nguyễn hửu Chỉnh, khiến vua Lê Chiêu Thống phải bỏ Thăng Long chạy lên Kinh bắc lánh nạn. Trong năm, Nguyễn phúc Ánh vì bất hòa với Vua Xiêm La nên trở về nước. Từ đó nhờ lòng người miền Nam nhớ tới công ơn khai phá của các Chúa Nguyễn nên theo đầu rất đông,tạo thực lực cho Nguyễn Vương đánh bại Tây Sơn khi Nguyễn Huệ mất, thống nhất sơn hà.

TÂN MÙI (1811) : Vua Gia Long tu chỉnh lại quốc sử, văn nôm cũng phát triển manh với những tác phẩm nổi tiếng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Văn tế tướng sĩ trận vong của Nguyễn văn Thành.. Cùng năm Xiêm La xâm chiếm thành La Bích của Chân Lạp, quốc vương Nặc ông Chân chạy trốn sang Hà Tiên cầu cứu, Thế Tổ sai Lê văn Duyệt đem binh sang cứu, xây thành La Lem và Nam Vang, giao cho Nguyễn văn Thụy và 1000 quân ở lại bảo hộ. Kể từ đó, Chân Lạp thuộc VN.

ÐINH MÙI (1847): Pháp lấy cớ VN cấm đạo Thiên Chúa và giam bắt giào sĩ truyền đạo, nên đem tàu thuyền chiến bắn phá Ðà Nẳng, càng làm cho vua Thiệu Trị tức giận. Tháng chín năm đó Ngài băng hà, thọ 37 tuổi, làm vua được 7 năm, miếu hiệu Hiến Tổ. Tháng 10 cùng năm, hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm lên ngôi, tức là vua Tự Ðức, tài trí song toàn nhưng dưới trướng phần lớn là bọn quan viên xôi thịt, bất tài, nên khiến cho đất nước phải chịu ách nô lệ Pháp 100 năm và cái gông cùm cọng sản quốc tế tới ngày nay vẫn chưa gở được. KỶ MÙI (1859), Tự Ðức thứ 12, Pháp lại đánh Ðà Nẳng nhưng không chiếm được, nên kéo vào lấy Nam Kỳ. Tại Cao Mên, vua An Dương (Nặc Ông Tôn) mất, con là Nặc Ông Lân lên thế, nghe theo lời giám mục Miche, bỏ Xiêm La đầu hàng Pháp.

QUÍ MÙI (1883): Vì thế yếu, VN phải ký với Pháp hòa ước Quý Mùi 1883 còn gọi là hòa ước Harmand, gồm 27 khoản, trong đó Bình Thuận thuộc về Nam Kỳ. Tóm lại theo hòa ước này, VN coi như hoàn toàn bị Pháp đô hộ, vua chúa nhà Nguyễn chỉ có hư vị mà thôi. Nhục nhã như thế nên cả nước dân chúng nổi lên đánh Pháp, chiến tranh lan tràn từ Nam ra bắc, không lúc nào yên. Ðang lúc rối ren, vua Tự Ðức thăng hà ngày 19-6 âm lịch. Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường chuyên quyền, giết vua Dực Ðức và Hiệp Hòa, rồi lập Ưng Ðồng mới 14 tuổi làm vua, hiệu làKiến Phúc.

ẤT MÙI (1895): Sau hai năm chống cự mãnh liệt với giặc Pháp tại chến khu Ngàn Trươi, Vũ Quang, Hà Tỉnh, cụ Phan đình Phùng bị Nguyễn Thân bao vây tuyệt đường tiếp tế, sau đó chết vì bịnh lỵ tại núi Quạt ngày 13-11-1895, thọ 49 tuổi, nghĩa binh cũng tan rã.

ÐINH MÙI ( 1907): Hoàng Hoa Thám lợi dụng phong trào Ðông du đang nở rộ, phao tin việc đó do đảng Nghĩa Hưng phụ trách, nên sĩ phu, trí thức và cả lính khố xanh, khố đỏ của Pháp cũng đến gia nhập rất đông. Nhờ vậy lực lượng của Ðề Thám lại hưng khởi khắp đất Bắc, nên ông quyết định đánh chiếm Hà Nội đêm 17-11-1907 nhưng việc bất thành vì có nội gian của Pháp. Cùng năm các cụ Lương văn Can, Nguyễn Quyền, Ðào nguyên Phổ, Phan tuấn Phong, Lê Ðại, Dương bá Trạc.. lập Ðông kinh nghĩa thục tại Hà Nội, bề ngoài là cơ quan giáo dục nhưng bên trong là cuộc cách mạng chống Pháp nhưng chỉ được 6 tháng thì bị đóng cửa. Tại Nghệ Tĩnh , phó bản Cẩn và tiến sĩ Kế bị bắt giam, Triều Dương thương cuộc bị giải tán, đồng thời với Hệp Thương hội tại Hội An, Ðặng Thái Thân phải trốn vào núi.Cùng năm, Phan chu Trinh và Huỳnh thúc Kháng nhân dịp đưa Trần quý Cáp vào Ninh Hoà, thẳng đường tới Phan Thiết và ngụ tại công ty sản xuất nước mắm Liên Thành của Hồ tá Bang.

KỶ MÙI (1919) : tháng 6, Nguyễn tất Thành tái xuất hiện tại Ba Lê dưới cái tên Nguyễn Aí Quấc, tạm trú tại số 6 đường Villa des Gobelins, là nhà của luật sư Phan văn Trường mà cụ Phan chu Trinh cũng thường lui tới. Thời gian này, Lê Nin lập Ðệ tam quốc tế cộng sản, quậy phá Âu Châu. Ngày 18/6, tờ L’Humanité của Pháp đăng Bản thỉnh nguyện thư gởi Hội Quốc Liên, của một nhóm người An Nam yêu nước. Theo tài liệu của sở mật thám Pháp được giải mã, thì bản thỉnh nguyện trên do các ông Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền và Phan văn Trường đồng tác giả, cũng như cái tên Nguyễn aí Quấc là bí danh chung của nhóm, đã bị ‘ bác’ cầm lộn và được cộng sản xài cho tới ngày nay, dù sự thật đã được phanh phui. Tháng 10, Thành tiếp xúc với mật báo viên của tên mật thám Ðông Dương là Paul Arnoux lẫn dảng xã hội Pháp tại Ba Lê

TÂN MÙI (1931) :Chi bộ VN Quốc dân Ðảng ở Hải Phòng cải tổ, sau cái chết của Ðảng trưởng Nguyễn thái Học và các đồng chí, nhưng cũng bị sở mật thám Pháp dẹp phá, khiến phải phân tán nên sự hoạt động không còn hửu hiệu như trước . Tháng 6-1931, Nguyễn aí Quấc hay Song Man Ch’o hoặc Tống văn Sơ, đang hoạt động cho Bộ Phương Ðông QTCS bị mật thám Anh bắt tại Cửu Long và tống giam trong ngục Victoria ở Hồng Kông. Hồ tùng Mậu cũng bị bắt ngày 21-4 và được thả vào tháng 6, nên nhờ luật sư Loseby can thiệp cho Quấc. được thả năm 1933.

QUÝ MÙI (1943) :Ngày 3/3, bác sỹ Emile Yersin (1863-1943), người đầu tiên tìm ra Ðà Lạt, cũng như phát hiện vi khuẩn bệnh dịch hạch , chết tại Nha Trang(Khánh Hòa). Ngày 10-9, Hồ chí Minh được Trung Hoa Quốc Dảng (TH.QDĐ) phóng thích tại Quảng Tây. Ngày 14-9, phi cơ Ðồng Minh oanh tạc Hải Phòng gây nhiều thương vong cho dân chúng. Ngày 27-12, tại Sài Gòn Kohno Tatsutochi thay Sato làm trưởng ban thông tin tòa đại sứ Nhật.

ẤT MÙI (1955) : tháng 1, Ðại tá Nguyễn quang Hoành, CHT Phân khu Nam Trung Việt, thay Ðại tá Trương văn Xương làm Tư lệnh QK II, Trung tá Trần thiện Khiêm làm Tham mưu trưởng. Tại Hà Nội, từ ngày 1-1, cái gọi là Ủy Ban Quân Chánh Việt Minh chìm dần vào hậu trường và thay thế bằng Hồ, Ðồng, Giáp,Giám. Nhiều chuyên viên Pháp đã bỏ về nước dù Việt Cộng đã hết lời ca tụng và o bế, trong lúc đầy người trong các phái đoàn ngoại giao Liên Xô,Ba Lan,Tiệp Khắc,Trung Cộng và lãnh sự Mỹ Thomas J.Corcoan vẫn còn tại Hà Nội.Ngày 10-1, lần đầu tiên Thủ tướng Ngô đình Diệm của Miền Nam VN chủ tọa một phiên họp của Hội Ðồng tư vấn Quốc Gia lâm thời tại Phòng khánh tiết Tòa Ðô Sảnh. Ngày 20-1, Thủ Tướng Diệm cấm cờ bạc và chuẩn bị đánh Bình Xuyên, đồng thời cùng Hồ thông Minh và một số tướng lãnh tới Tây Ninh gặp tướng Cao Ðài là Trịnh Minh Thế. Tại Cà Mâu, Lê Duẩn chủ tọa buổi học tập chính trị của cán bộ VC còn cài lại tại miền nam. Ngày 13/2, Trình minh Thế được phong Thiếu tướng, khi chính thức mang 2000 quân Cao Ðài ly khai về với Quân đội Quốc gia VN. Thủ tướng ban hành dụ số 11 thành lập quốc hội lâm thời NVN,tổng số không quá 60 người, bổ sung nhiều tân tỉnh trưởng tại các tỉnh từ vỹ tuyến 17 trở vào. Ngày 19/2, Tổng thống Mỹ Eisenhower chính thức viết thư cho Quốc trưởng Bảo Ðại tại Pháp là Ông và Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ Ngô Ðình Diệm và VNCH, trong khi đó thì các lực lượng giáo phái Cao Ðài, Hòa Hảo và Bình Xuyên liên kết chống lại miền Nam. Ngày 30-3, Bình Xuyên tấn công Sài Gòn, Chợ Lớn, Dinh Ðộc Lập, Bộ TTM nhưng bị đẩy lui tại khắp các mặt trận. Ngày 26/4 ký lệnh cách chức Tổng giám đốc CSCA của Lại văn Sang, đồng thời cho phép Bình Xuyên rút khỏi đô thành, ký dụ số 21 sát nhập hoàng triều cương thổ của Bảo Ðại vào lãnh thổ Quốc Gia VN. Ngày 28/4 tại Cannes, Bảo Ðại phong tướng Nguyễn văn Vỹ làm Tổng tư lệnh Quân đội Quốc Gia VN, do trên tại Sài Gòn, tướng Vỹ ra lệnh cho quân đội kể cả các tướng Tỵ, Ðôn bắt Ngô đình Diệm từ chức. Ngày 3/5, Tướng Trình Minh Thế bị tử thương tại cầu Tân Thuận trong khi đang giao tranh với Bình Xuyên. Ngày 10/5, Thủ tướng Diệm cải tổ chính phủ lần thứ hai, đã có 608.352 người gồm Việt,Nùng,Thái, Mường,Hoa từ Bắc di cư vào Nam. Ngoài ra còn thêm 400.000 giáo dân Thiên chúa,do các giám mục Phạm ngọc Chi và Lê hữu Từ hướng dẩn, nâng tổng số người tị nạn hơn một triệu. Ngày 19/5, quân Pháp triệt thoái khỏi Hải Phòng, đồng thời VC cũng rút khỏi Bình Ðịnh và Quảng Ngãi để tập kết về Bắc. Ngày 5/6 Quân đội QG mở chiến dịch Ðinh tiên Hoàng để dẹp các lực lượng của Năm Lửa, Ba Cụt và Hai Ngoắn tại Hậu Giang. Ngày 16/6, Hội đồng Tôn nhân Phủ tại Huế tuyên bố truất phế Bảo Ðại. Ngày 27/6 Hồ chí Minh theo lệnh Mao, xuống tay cải cách ruộng đất , triệt tiêu mọi tầng lớp công, thương nông là những thành phần giúp Hồ và VC tóm thu được nữa mảnh giang sơn đất Việt. Tiếng than hờn oán tới tận trời xanh của các nạn nhân trên đất Bắc làm Hồ phải tạm ngưng tay, rồi đem Trường Chinh, Hồ viết Thắng ra làm dê tế thần cho Hồ và Ðảng. Ngày 16/7, Thủ tướng Diệm tuyên bố trên đài phát thanh là không chấp nhận tổng tuyển cử, vì VN không hề ký hiệp ước Geneva và trên hết Hồ chí Minh cùng VC chỉ đặt quyền lợi CSQT trên hết mà không hề đếm xĩa tới quốc gia dân tộc. Ngày 23/10 trưng cầu dân ý tại miền Nam, truất phế Bảo Ðại. Ngày 26/10 Ngô đình Diệm được bầu làm Tổng Thống VNCH. Ngày 6/11 Dương văn Minh và Lê văn Nghiêm được phong Thiếu tướng khi chiến thắng Bình Xuyên từ Rừng Sác trở về. Ngày 1/12 đóng cửa Bình Khang tại Chợ Lớn và cắt đứt liên hệ kinh tế và tài chánh với Pháp. Ngày 11/12 Mỹ đóng cửa tòa lãnh sự ở Hà Nội. Tại Hoa thạnh Ðốn, Ðại sứ Trần văn Chương tuyên bố sẽ không có tổng tuyển cử 1956 và VNCH không hề bị ràng buộc gì bởi hội nghị Geneve 1954.

ÐINH MÙI (1967) : Bắt đấu màn hỏa mù ngoại giao về hòa bình VN, vì những lý do khác nhau qua ba khuynh hướng chính của U Thant, De Gaulle, Giáo hoàng Paul VI, các thủ tướng và chính khách LX,Canada,Úc,Mỹ .. ngoài ra còn có bọn thiên tả như Bertrand Roussell, Jean Paul Sartre cứ luôn nhân danh lương tâm con người , chống đối công khai VNCH, trong khi kẻ xâm lăng miền Nam là VC thì không hề đề cập tới. Tại Hoa Kỳ, bộ trưởng QP . Mc Namara đã thay đổi chiến lược, muốn giải kết chiến tranh , thay vì leo thang như thời gian 1964-1965. Biết rõ ý định trên, CS Hà Nội quyết tâm đánh lớn , dùng xương thịt cán binh miền Bắc và VC miền Nam với súng đạn viện trợ cũng như mua chịu của LX,Trung Cộng, CSQT.. để một lúc đạt tới nhiều mục tiêu của đảng như tiêu diệt QLVNCH, kêu gọi dân chúng miền Nam nổi dậy lật đổ chính quyền, bắt QLVNCH và Ðồng Minh rút về bảo vệ thành phố , bỏ trống nông thôn, ngưng chương bình bình định, mươn dao VNCH giết bọn cán binh MTGPMN, để Bắc Việt toàn quyền lảnh đạo cuộc xâm lăng và trên hết là nhân đó tiếp đạn cho bọn phản chiêÀn Mỹ, qua cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968. Tháng 2/1967 dự thảo hiến pháp VNCH hoàn thành với ba cơ cấu riêng biệt : hành pháp (Tổng thống 4 năm), tư pháp và lập pháp gồm Hạ viện nhiệm kỳ 4 năm, thượng viện 6 năm. Tháng 6 đã có nhiều liên danh ra ứng cử Tổng thống như Sửu-Ðán, Ký-Ðịnh, Nguyên-Mạnh, Bình-Khinh, Hồng-Hải, Du-Chiêu, Cơ-Sinh, Lý-Dương, Hương-Truyền. Lúc đầu Nguyễn văn Thiệu đứng chung liên danh với Trịnh quốc Khánh (Nguyễn hửu Lê) và Nguyễn cao Kỳ-Nguyễn văn Lộc, nhưng sau đó qua áp lực của Mỹ và HDQL, nên Thiệu-Kỳ đứng chung một liên danh.Ngày 3/9 bầu cử, liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử mặc dầu chỉ có 34.8% số phiếu cử tri đi bầu (1.649.561 phiếu), về nhì là liên danh Du-Chiêu với khẩu hiệu thương thuyết với VC để vãn hồi hoà bình. Ngày 22/10 bầu cử quốc hội. Ngày 9/11 Nguyễn văn Lộc được chọn làm Thủ tướng. Ngoài phố, ngày 1/5 một nhóm phật tử cùng với tổ chức lao động của Bùi Lương thân CS, biểu tình đòi ngưng oanh tạc Bắc Việt.Tại Huế, Quảng Ngãi vẫn tự thiêu đòi hoà bình, còn Thích nhất Hạnh thì đem hoa sen trong biển lửa sang Pháp tuyên truyền, bắt Mỹ và QLVNCH phải buông súng để hòa hợp, hòa giải với VC. Ngày 18/7 Thích tâm Châu từ chức chủ tịch viện hóa đạo, để lập một GHPGVNTN mới, nên bị phe Ấn quang gồm có Thiện Hoa, Trí Quang, Pháp Tri, Thiện Minh.. lên án. Ngày 28/9 Trí Quang dẫn 500 tăng ni tới Dinh Ðộc Lập đòi hủy hiến chương 18/7/1967 về việc tu chỉnh hiến pháp của Phật giáo. Tại Tòa Ðô sảnh cũng có 100 tăng ni biểu tình, còn ngoài Huế thì có hơn 200 , nhưng mặc dù các thầy cô cứ ngồi lỳ chờ sim rụng, cuối cùng phải tự động giải tán vì Thiệu-Kỳ không phải là Diệm-Nhu, nên có gì để chụp ? Ngày 30/9 Trí Quang lại biểu tình trước dinh độc lập, trong vòng tròn của dây kẻm gai, bên cạnh thầy, tướng Loan luôn rót bia vào miệng. Theo báo cáo của Bunker , đại sứ Mỹ tại Sài Gòn lên TT Johnson, thì kỳ này thượng tọa Trí Quang thất bại vì dân chúng xa lánh không hưởng ứng kể cả báo chí tây phương vốn rất nhiều chuyện, cũng quay mặt làm ngơ, dù biểu ngử viết bằng tiếng Việt và Anh., Tranh chấp, biểu tình tự thiêu vẫn tiếp tục giữa các phe Trí Quang, Tâm Châu và Chính quyền, gần như không ai chịu nhịn ai, dù tôn chỉ của nhà Phật là vô lượng thọ Phật, từ bi bác ái, cứu độ chúng sinh. Ngày 19/12 Tòa Án Quân Sự xử vụ án làm loạn ở miền trung với 26 bị can trong đó có Ðại tá Ðàm quang Yêu, Nguyễn văn Mô, Nguyễn văn Mẫn. Theo Bunker thì việc Yêu và Mẫn bị tuyên án 10 năm khổ sai là chuyện xứng đáng nhưng tầm quan trọng là VNCH có luật pháp và những kẻ phạm pháp bất cứ là ai cũng bị trừng trị. Cái tũi nhục cho người dân là trong lúc ở hậu phương làm loạn để dành quyền, thì trong năm 1967, tại khắp chiến trường vô cùng đẳm máu vì VC nhất quyết chiếm VNCH .

            Năm 1967 cũng là năm QLVNCH và Ðồng Minh mở các cuộc hành quân lớn khắp các quân khu,nhất là việc tảo thanh tìm kiếm đầu nảo của cục R, đóng quanh quẩn trong các Chiến khu C,D, Tam Giác Sắt và vùng gần biên giới Việt Miên. Ngày 8-1, Hoa Kỳ và VNCH mở cuộc hành quân qui mô có tên là CEDAR FALLS truy quét vùng Tam Giác Sắt. Ðại quân hơn 15.000 người , phía Mỹ có SD1BB,LD 173 Dù, LD 196 BB, LD 11 TG.. phía VN có SD 25BB và SD5BB. Ngoài ra còn có 50 xe ủi đất của công binh, để ủi quang toàn khu vực. Hành quân chấm dứt ngày 26-1. Hành quân Junction City tại Chiến khu C, từ 22-2 đến ngày 14-5 mới chấm dứt, hoàn toàn do Hoa Kỳ đảm nhận. Hai cuộc hành quân trên vừa khai thông các quốc lộ 13,14 và QL1 từ Sài Gòn đến Tây Ninh, đồng thời chứng tỏ rằng VC không có nơi nào gọi là an toàn khu, nếu lúc đó Hoa Kỳ thật tâm muốn thắng cuộc chiến. Nhiều căn cứ quân sự đuợc thiết lập như Bầu Bàng, Lai Khê, Quản Lợi, Prek Klok, Tống Lê Chân.Tại QD1, cuộc hành quân Cồn Tiên , Quảng Trị của SD/TQLC Hoa Kỳ, khai diễn tháng 7/67. Hành quân thuỷ bộ Rạch Ba Rài tại xã Vĩnh Kim, Ðịnh Tường do liên quan Việt Mỹ khai diển từ ngày 12/9 chấm dứt ngày 16/9.. Tại Vùng 2, chiến trận cũng vô cùng ác liệt, nhất là trận Dakto (Kontum), từ 27-10 và quan trọng nhất là trận Khe Sanh, khai diển từ 24/4 tới đầu năm 1968, được coi như là Ðiện biên phủ thứ 2, trong trận này, chỉ có một đơn vị VN duy nhất tham dự là Tiểu đoàn 37 Biệt Ðộng Quân, tuy bị bắt đóng phía ngoài căn cứ nhưng đã anh dũng giữ vửng vị trí, khiến cho TQLC Mỹ phải khâm phục.

KỶ MÙI (1979) : Ngày 7/1, VC tiến chiếm thủ đô Nam Vang của Cam Bốt, lật đổ Pol Pot lúc đó đang theo Trung Cộng, rồi lập Heng Sarim, thân VC lên thay thế. Pol Pot là đệ tử ruột của Hồ, nên coi như hấp thụ hết chân truyền của sư phụ. Năm 1963, Pol Pot chỉ huy Khmer đỏ và chiếm Cam Bốt tháng 3/1975, lật đổ Lon Nol, triệt hạ thành phố, giết bỏ trí thức, tiểu tư sản, đày ải mọi người đến lao tác tại các nông trường tập thể, cả nước vào trại tập trung , sách vở chùa chiền bị đôt bỏ, khiến cho hơn 2 triệu người bị chết thảm. Ðúng như lời tuyên bố của tổng thư ký LHQ lúc đó là Kurt Waldheim :” Pol Pot là thảm kịch chưa từng thấy của nhân loại “. Nhưng điều đó cũng không trách vì Pol Pot là cọng sản, thì sự khát máu hung tàn như Lê, Stalin, Mao,Hồ cũng là chuyện thường. Ngày 17/2, Trung cộng xua đại quân tấn công VN, vừa để dạy thằng tớ lớn phản chủ, đồng thời trả thù dùm cho thằng tớ nhỏ, chỉ tội nghiệp cho non sông nước Việt khắp vùng biên giới Hoa-Việt, bị bom đạn tàn phá tận tuyệt và dân chúng chịu cảnh thương vong lầm than khổ ải. Trong khi đó thì Hoa Kỳ bên trong đã đồng thuận với Trung Cộng nhưng ngoài mặc thì giả vờ lên án, còn Liên Xô thì còn lâu mới can thiệp. Cuộc chiến kéo dài 18 ngày, phiá Trung Cộng hơn 50.000 người chết sau khi rút về nước. Về phía VN, toàn vùng thượng du Bắc Việt và tỉnh Tuyên Quang thành đống gạch vụn, dân và quân chết hơn 100.000 người.Ngày 28/4 VC và TC lại thương thuyết nhưng thất bại.

-Ngày 21/7 một hội nghi quốc tế đã được triệu tập tại Geneve để giải quyết vấn đề người tị nạn cọng sản tại ba nưóc Việt, Miên và Lào mà nhiều nhất là VN lúc đó đã lên tới 300.000 người, hiện đang sống tại các trai TNCS Nhật, Nam Hàn, Hồng Kông, Ma Cau, Ðài Loan nhưng nhiều nhất tại Thái Lan, Phi, Mã, Tân gia Ba và Nam Dương.

-Ngày 5/8 Hoàng văn Hoan phản VC trốn sang TC, họp báo tố cáo VC tàn ác dã mang hơn Hitler. Hoan chết tại Bắc Kinh nắm 1990. Ngày 25/9 VC có 180.000 quân đóng tại Cam Bốt, luôn luôn phải đối đầu với 40.000 quân Khmer đỏ của Pol Pot ở các tỉnh sát biên giới Thái-Miên, nên chịu rất nhiều thương vong.

-Mỹ đuổi Đài Loan ra khỏi Hội Đồng Bảo An LHQ và đem Trung Cộng thế chỗ. Tuy nhiên vì Đài Loan là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng tại biển Đông, nên Mỹ lấy cớ ‘ đồng minh “ để được hiện diện tại chỗ, cho dù đã trắng trợn phản bội bạn bè như đã phản bội VNCH trước đây.

TÂN MÙI (1991) : Bác Sỹ Bùi Huy Tâm, trước 1975 dạy ở Ðại Học Minh Ðức, khi VC chiếm miển Nam VN, miệng Tâm khuyên sinh viên ở lại cứu nước nhưng chân thì cao bay xa chạy tới Mỹ và mở phòng mạch tại San Francisco. Tháng 4 Tâm nói về nước giúp VC nhưng bị VC gài vào lưới tình của Dương thu Hương và bị CS mời ở lại một thời gian để làm việc, cuối cùng bỏ của chạy về Hoa Kỳ, để lại tiếng đời cười chê không sao rửa sạch..

-Ngày 25/4 tướng công binh Nguyễn văn Chức ở biên thuỳ Ðông Dương về thì bị FBI bắt giữ tại Sacramento (CA), còn 4 cán bộ cao cấp của MTQGTNGPVN hay mặt trận kháng chiến HCM, là Nguyễn Kim Hường, Hoàng cơ Ðịnh, Nguyễn tấn Bình và Phan duy Cần, bị ra tòa. Hai vụ trên đều được hầu hết báo chí Việt-Mỷ tường thuật.

-Bộ ba Phạm Văn Đòng, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười sang Thành Đô (Tứ Xuyên) ký kết với Giang Trạch Dân, Lý Bằng “ văn kiện bán nước Việt cho TC 1990-2020 “. Ngày 24/6 VC khai mạc Ðại Hội đảng tại Hà Nội lần thứ 7 do Tổng Bí Thư Nguyễn văn Linh chủ tọa, thề thốt là sẽ theo bác tiếp tục con đường xã nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh tới thiên đàng Mác-Lê, trong khi Ðông Ðức, Ðông Âu, Phi Châu, Mông Cổ và cảợ thành đồng Liên Xô cũng tan rã thành nhiều mãnh từ năm 1989-1991. Ngày 7/11 VC họp khoáng đại lần thứ 11 của TUD tại Sài Gòn. Nhưng nói gì thì thì nói, VC phải cứu đảng trước vì Nga Sô đã thông báo đầu năm 1991 sẽ cúp hoàn toàn viện trợ quân sự và kinh tế cho VC, ngoài ra biện pháp cô lập và trừng phạt kinh tế của Mỹ đối với VC hàng năm ( embargo), bãi bỏ hay tiếp tục như Tổng thống Mỹ G.Bush cho biết là VC phải rút khỏi Cam Bốt, giúp Mỹ làm tốt MIA, hợp tác vói LHQ về các chương trình nhân đạo như ODP,HO,PIP..
-Giữa năm 1991, đảng CSVN họp đại hội đảng lần thứ VII (1991-1996), nói là để tìm biện pháp để ứng phó với sự sụp đổ hoàn toàn của Liên Bang Sô Viết vì cạn tiền do giá dầu và khí đốt tuột giốc tận đáy. Thực chất CSVN đã đầu hàng Trung Cộng để mong sống còn, bằng cách dâng Núi Đát ở Hà Giang, đảo Garma (Trường Sa) và ký kết bán nước Việt cho Tàu tại Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990.

QÚY MÙI (2003) : Sau đại hội đảng lần IX (2001-1006), Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú Trọng, Lê Minh Hương, Trần Đình Hoan, Nguyễn Khoa Điềm..lập nhóm bảo thủ theo Trung Cộng, đối chọi với phe đổi mới của Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải. Cũng trong đại hội IX, Lê Khả Phiêu bị loại khỏi bộ chính trị, Đổ Mười, Lê Dức Anh và Võ Văn Kiệt lên làm cố vấn vì cao tuổi nhưng phe cánh vẫn còn rất mạnh trong trung ương đảng. Kỳ này, Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư, Trần Đức Lương chủ tịch nhà nước, Nguyễn văn An chủ tịch quốc hội, Phan Văn Khải thủ tướng, Nguyễn tấn Dũng phó thủ tướng, Nguyễn Phú Trong thành ủy Hà Nội, Nguyễn Minh Triết thành ủy Sài Gòn, Lê Minh Hương bộ trưởng công an, Phạm Văn Trà bộ trưởng quốc phòng..
-CSVN thẳng tay đàn áp trí thức trong nước như Trần Khuê, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đình Huy, Bùi Minh Quốc, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình và Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Tất cả bị khủng bố và tù đày nhiều năm vì tội yêu nước, chống lại CS Hà Nội bán nước hại dân.
-Nhờ hiệp ước thương mại song phương ký kết với Hoa Kỳ năm 2001, nên các nhà đầu tư ngoại quốc lại đổ xô vào VN làm ăn, dẫn đầu là Mỹ. Ngoài ra Hoa Kỳ còn cho Hà Nội hưởng qui chế PNTR thường niên được giãm thuế xuất cảng từ 40% còn 3-4%.. Tuy nhiên hàng hóa VN vào Hoa Kỳ, nhất là hải san, thường bị trục trặc vì sự chống đối của như dân bản địa hay bị tố cáo bán phá giá ..
-Tháng 11/2003 bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà sang thăm Hoa Kỳ, mở màn chuyến thăm rầm rộ của thủ tướng VC Phan Văn Khải và phái đoàn vào năm 2005.
-Ngày 19/11, chiến hạm Vandergrift của Hải quân Hoa Kỳ, chính thức ghé cảng Sài Gòn sau 28 năm Mỹ chạy khỏi VN vào sáng ngày 30-4-1975. Cũng trong năm này, VC cữ quan sát viên đến tham dự cuộc thao diễn quân sự của Hoa Kỳ, Thái Lan, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân tại biển Đông. Với Trung Cộng, đảng VC vẫn duy trì quan hệ ngoại giao bình thường nhưng chấm dứt sự bưng bợ trơ trẽn thời Lê Khả Phiêu làm xếp chúa bộ chính trị (TBT).
-Năm 2003 đảng tổ chức hội thảo về chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường theo định hướng xã nghĩa, rập khuông theo mô hình kinh tế đang phát triển tại Hoa lục.
-Năm 2003, theo báo cáo của bộ chỉ huy biên phòng Đà Nẳng cho biết có rất nhiều tàu kiểm ngư và tàu khoan dầu  của TC hoạt động sâu trong bờ biển VN, bắt bớ và khủng bố ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi khi họ hành nghề trong lảnh hải của VN.
-Năm 2003, VN qua mặt Ấn Độ, trở thành nước sản xuất gạo thú hai trên thế giới (sau Thái Lan), dù nước ta năm nào cũng gặp nhiều thiên và bảo lụt vì cái nạn tháo nước các đập của TC trên thượng nguồn vào mùa mưa.

            Tóm lại chỉ qua các năm mùi, làm sao chúng ta có thể nhìn suốt được dòng lịch sử,nhất là giai đoạn nhiểu nhương 1930-1975 nhưng thôi mặt thật đã phơi bày trong đó nghiêm trọng nhất vẫn là “ bí mật ký kết Thành Đô năm 1990.. Hãy bắt chước người thợ đá An Dân, dù bị cường ép vẫn giữ tròn khí tiết của kẽ sĩ và người cầm bút ./-

TÀI LIỆU THAM KHẢO :
VN sử lược của Trần trọng Kim
VS toàn thư của Phạm văn Sơn
Những trận đánh Pháp của Lãng Nhân
Huynh đệ tương tàn của Nayan Chanda do PQB dịch
Hồ Chí Minh (1892-1924) của Chánh Ðạo
Hồ Chí Minh ( 1925-1945) của CD
VN Niên biểu từ 1939-1975 của CD
Phật giáo 1963-1967 của CD
Lịch sử VN 1975-2000 của Nguyễn đình Tuyến
Chiến tranh VN của Nguyễn đức Phương

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Đông 2014
MƯỜNG GIANG




__._,_.___


Posted by: Ho Dinh <

THÊM MỘT LẦN XUÂN QUA



--
Kính Chuyển
MG/HD
                                       THÊM MỘT LẦN XUÂN QUA
                                                   MƯỜNG GIANG
         
    
            Phan Thiết quê tôi, năm nào gần tết thường không có mưa. Nhưng nếu trời trở chứng trút nhẹ một vài cơn mưa rào , thì đã thấy xuân như đang bắt đầu chúm chím trên từng giậu hoa, ngọn cỏ. Ðường phố bỗng dưng được nước mưa lau chùi sạch sẽ và hữu tình nhất vẫn là nụ cười của người Phan Thiết, không còn thấy héo hắt, muộn phiền. Những hàng vông, gốc phượng, những chiếc lá me non cũng phe phẩy, mừng rỡ. Tất cả như cùng xuân mở hội.

            Trong nhà rộn rịp, ngoài ngõ cũng lao xao, nhất là tại các lò bánh tráng ở Phú Hài, Xóm Lụa, Tân An, Duồng, Phan Rí Thành và ngay trong thị xã, hoạt động suốt ngày đêm, vẫn không đủ để cung ứng cho mọi người, vì nhà nào cũng đều cần để cúng và cuộn với măng kho thịt heo và bánh tét trong ba ngày xuân.

            Tết Phan Thiết vui từ những ngày cuối chạp, mà chủ đích là rủ nhau đi chợ để mua sắm và ngắm người. Bắt đầu từ ngày 25 tháng chạp, chợ trái cây và hoa đã được hình thành trên hai con đường Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, cạnh vườn hoa nhỏ, bên hữu ngạn Mường Giang. Giáp tết, hoa từ các nơi được đổ về thành phố vô số kể, làm như người Phan Thiết, chỉ biết ăn tết bằng hoa, mặc sức mà lựa chọn. Thôi thì đủ thứ, từ các loại hoa bình dân như mồng gà, vạn thọ, trường sanh, cúc, thược dược.. cho tới các loài hoa vương giả nổi tiếng của Bình Thuận, là hoa Mai với màu vàng phớt, có năm cánh mỏng mướt như lụa , lúc nào cũng nhè nhẹ muốn chực cười trước gió xuân. Ðây là người bạn lâu đời của Phan Thiết, vì vậy mỗi độ xuân về, hầu như nhà nào cũng có một cành mai, dù mua ở chợ hay lặn lội tới rừng xa, núi cao, để chặt. Hoa bán thật nhiều, có năm thiếu người thưởng thức, nên vào chiều ba mươi tết, nhiều loại hoa ế ẵm, đã bị chủ vất bỏ, nằm phơi lạnh lùng bên vệ đường , mặc cho hoa tàn cánh rũ. Thật thảm thay cho kiếp hoa tàn.

“..Tết nay mình rũ về Phan Thiết
sống lại mùa xuân tuổi học đường
tháng chạp hăm ba cùng với mẹ
nữa đêm tiển Táo rất thân thương

Hăm nhăm lểnh khểnh mang quà tết
kính biếu thầy cô khắp phố phường
lấp ló sau lưng me nhìn trộm
cành mai đang hé cánh xuân hương

Chiều hăm chín tết theo chân chị
mệt lã chen nhau giữa bước người
phiên chợ cuối năm vui đáo để
tiếng cười làm gió cũng chơi vơi

Quẩn quanh đã bắt đầu đì đẹt
pháo nổ xen trong điệu trống lân
khắp bếp bề bề măng, cốm, mứt
nhà trên cha vịnh bức tranh xuân

Giao thừa ngồi đợi chuông chùa vọng
giữa bước nàng xuân lộng nỏn nường
hương rợp xiêm y rền nhạc ngựa
trần gian mở hội đón tiên nương

Hừng sáng cả nhà đi hái lộc
mông mênh đất tỏa ngát hương trầm
pháo hồng mừng tết bay trăm lối
bổng tiếng gà vang báo đổi năm

Trời hởi xuân về thương với nhớ
ngồi đây mà ngóng tết xa mờ
quán khuya vắng bóng người muôn dặm
tiếng sếu càng thêm mộng ngẩn ngơ

Giờ đâu còn đủ giòng dư lệ
để khóc mùa xuân lạc bến chiều
nhớ mẹ nên buồn rầu mộng mị
những ngày tết nhỏ vẹn thương yêu
(Tết nay ta về Phan Thiết – thơ MG)   

            Trước năm 1975, mỗi lần Tết về, tưởng như cái thị xã nhỏ xíu này sẽ không bao giờ ngủ được trong khoảng thời gian từ hai mươi tháng chạp cho tới phiên chợ chiều ba mươi tết, vì hầu như ai củng cố thức để mà đi chợ đêm mua bán hay nhìn người. Ðiều này cũng dễ hiểu vì dân Phan Thiết quanh năm suốt tháng làm lụng vất vã, từ nghề bờ cho tới bạn biển. Nhưng khổ nỗi vùng đất này từ xưa đã nổi tiếng là chốn ăn chơi, không thua gì Sài Gòn-Hà Nội, nên đã có câu phong dao truyền tụng ‘ Bình Thuận là chốn ăn chơi, cái nồi cũng bán, cái tơi cũng cầm ‘.Bán cầm rồi có tiền mua hay chuộc trở lại lo gì vì đây là chốn rừng tiền biển bạc. Bởi vậy đừng ngạc nhiên khi ở đây cái gì cũng khác thiên hạ , nhất là vào dịp lễ hội, cúng tế và vào dịp tết về. Chính những nét đặc trưng này đã làm cho người Bình Thuận hãnh diện khi giang hồ khắp chốn. Tóm lại đây là nếp sống của quê tôi, khó có thể thay đổi.

            Ði chợ trong ba ngày Tết để lo cho gạo nước đầy lu, làm các món ngon vật lạ để ăn nhiều, ăn ngon nên ai cũng phải đi chợ để mua sắm tùy theo túi tiền. Trong thời gian này, các lò bánh tráng quanh thị xã tại Phú Long, Lại An, Tân An.. làm suốt ngày đêm, vì khách hàng đã bắt đầu đặt bánh từ tháng 11 âm lịch. Ðây là món ăn của ngày Tết, dùng để cuốn thịt kho măng hay bánh tét, nên nhà nào cũng cần. Ở nhà quê, mọi người không mua bánh mà chỉ tới lò nhờ tráng một hay hai thùng gạo , rồi trả tiền công mà thôi.

            Từ trung tuần tháng chạp, trong khi tại các phố Gia Long, Ðồng Khánh, Ðinh Tiên Hoàng, Lê văn Duyệt.. bao quanh khu chợ lớn, đã bắt đầu phân chia lô bán hàng tết, thì hầu như khắp xóm làng , nhà nhà đều bận rộn đóng cốm hộp, vì đối với phong tục cổ truyền của người Việt Nam, đây là món ăn đặc biệt , để thờ cúng ông bà trong ba ngày tết . Theo sử liệu, thì cốm đã theo gót chân khai hoang mở đất của người dân Thuận-Quảng tới đây. Người dừng lại định cư ở Bình Thuận từ ba trăm năm trước thì cốm cũng nương theo và trở thành sản phẩm quen thuộc của bản địa

            Ăn tết xưa nay , người Bình Thuận dù túng thiếu thế nào chăng nửa , cũng không dám để thiếu món ‘ bánh tét ‘, trước dùng để cúng vong linh tiên tổ ông bà , sau cũng là món quà đặc biệt để tặng thân bằng quyến thuộc và ăn chơi trong mấy ngày đầu năm. Theo các nguồn sử liệu, thì bánh chưng có hình vuông và dẹp, gói bằng lá dong, rất được thông dụng tại miền Bắc VN. Còn bánh tét (bánh dầy) là những đòn tròn, gói bằng lá chuối, là món ăn ưa thích tại Trung-Nam phần. Tuy nhiên dù khác tên gọi nhưng cả hai đều làm bằng một thứ nguyên liệu giống nhau, gồm nếp và nhân đậu, thịt. Riêng bánh chưng gói ở Bắc phần có thêm thảo quả và dầu cà cuống nên ăn rất thơm ngon. Cả hai loại bánh trên đều có xuất xứ từ thời các tổ Hùng dựng nước, nên nó đã chuyên chở trọn vẹn mọi phong tục tập quán của dân tộc Hồng Lạc qua bao thế hệ.

            Thật vậy, bánh dầy (bánh tét) mang hình tròn, tượng trưng cho Trời, còn bánh chưng có hình vuông là biểu tượng của đất. Trong lúc đó các loại nếp, nhân đậu, thịt mỡ.. là nhân sinh vạn vật. Tuy nhiên ý nghĩa hơn hết , là các lớp lá bọc bên ngoài, như muốn nói lên tinh thần đoàn kết của dân tộc ‘ lá lành đùm bọc lá rách, nhiễu điểu phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng ‘.Lại có truyền thuyết cho rằng , bánh dầy và bánh chưng được xuất phát từ thời Bắc thuộc, lúc đó người Việt đang bị giâc Tàu đô hộ , sống cảnh lầm than tận tuyệt, lên rừng kiếm ngà voi sừng tê giác, xuống sâu mò ngọc trai để bọn tham quan ô lại vơ vét mang về nước sống giàu sang phú quý. Do đó mọi người luôn sống cảnh lầm than, nhiều khi phải bỏ làng xóm quê hương trốn lánh giặc Tàu đuổi giết cướp bóc. Vì không thể mang theo lúa gạo lúc chạy loạn, nên mới có sáng kiến nấu thành bánh , đem giấu dưới mương ao, đợi lúc thanh bình, trở về quê nhà có cái ăn tránh được nạn đói.

            Năm Kỷ Dậu (1789), Ðại đế Quang Trung (Nguyễn Huệ). trong cuộc hành quân thần tốc từ Trung ra Bắc Hà, để tiêu diệt hai chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu, được Lê Chiêu Thống dẫn về tàn phá quê hương. Chính ngài đã dùng bánh tét, để làm lương thực cho quân sĩ trên đường hành quân bắc tiến. Nhắc đến bánh tét, làm sao quên được những tối cuối năm thời tuổi nhỏ, cùng với gia đình quây quần trước nồi bánh đang sôi sùng sục trên bếp lửa hồng, vừa châm thêm cũi và đảo lộn các đòn bánh trong nồi cho chín đều, vừa len lén nhìn cánh mai vàng cắm trong chiếc bình cổ trên phòng khách, để rình hoa đã mãn khai rồi hay chưa, vì ai cũng hy vong mai nở cho kịp với nàng xuân nõn nường kiều diễm , đang lồ lộ nơi ngưỡng cửa hạnh phúc vui vầy.

            Phan Thiết ngày xưa, tuy không phải là chốn phồn hoa đô hội nhưng vẫn là nơi thị tứ qui tụ người khắp mọi miền đất nước, nên chuyện ăn uống trong ba ngày tết rất đa dạng và cầu kỳ, không những là người Việt mà còn có nhiều khác biệt giữa người Việt gốc Hoa, trong năm bang hội sinh sống tại địa phương. Tuy nhiên dù là ai chăng nửa, với người Việt, nồi thịt heo kho măng khô, vẫn được coi là quan trọng hơn hết. Với người Phan Thiết gốc đồng bằng sông Cửu, thì có nồi thịt heo kho Tàu với nước dừa, ăn cùng dưa giá có trộn thêm cà rốt, lá hẹ, ớt xắt sợi và cuống củ cải. Thịt được dùng để kho, phải là thứ thịt heo ba rọi vừa nạc lẫn mỡ. Kho nồi thịt ngon, đòi hỏi phải có kỹ thuật làm bếp giỏi, để sao cho lúc chín , phần nạc thì đỏ au đẹp đẽ, còn lớp mỡ da căng nở ra mềm mại. Có như vậy mọi người ăn liên tiếp món này trong suốt mấy ngày Tết, vẫn không thấy ngán, ngược lại mỗi lần nhìn tới đã thấy thèm.

            Rồi còn phải thêm vài hủ củ kiệu muối với tôm khô, loại lạt muối, thứ này giúp các chàng đưa cay khi đối tửu. Riêng củ cải thì dùng chung với bánh tét, được gói bằng thứ bánh tráng mỏng, được sản xuất từ các lò Phước Thiện Xuân, Xóm Lụa, Cây Chôm. Với các gia đình trung lưu, thì các bửa ăn ngày tết, không bao giờ thiếu món khổ qua dồn thịt bầm trộn với tôm quết nhuyển. tuy nhiên có nhiều người tin dị đoan, nên không dám ăn món này trong ngày tết, vì sợ lại khổ quá cả năm mới. Vì người Bình Thuận là hậu duệ của người cả nước, nên món ăn nào cũng phong phú, kể cả các món ngọt thì không làm sao đếm hết được như món xôi vị gốc Quảng, có pha lá dứa hay lá cẩm. Còn mứt thì đủ loại, từ gừng cay, dừa bí, cà chua, hạt sen cho tới món mứt me thượng lưu, mứt nào của người Phan Thiết, cũng ngon tuyệt diệu.

            Từ thập niên 70 về sau, mổi lần tết về người trên phố không gói bánh ít ở nhà, mà mua ngoài chợ về để cúng, cùng với các loại bánh in Hải Dương, bánh bò bông, bông lan. Nhưng ăn uống cầu kỳ hơn hết, vẫn là người Phan Thiết gốc Huế hay Bắc. Bởi vậy nhà nào tết đến, hầu như cũng có giò lụa hay chả Huế, giò thủ, thịt đông chân giò hay thịt gà nấu đông. Nhưng hấp dẫn hơn hết đối với dân chơi cầu ba cảng, ngày xuân cử món nai đồng quê, thì đó là món giả cầy, sản phẩm Bắc Hà, dùng giò heo cạo sạch lông , đem thui, chặt khúc nấu với riềng mè, vì lạ miệng nên ai cũng thích, ăn hoài không ngán.

Tết nay em có về Phan Thiết
có ghé trường xưa, viếng mộ thầy
đây nén hương lòng người lính cũ
cũng là lệ nhớ xót thương cay

Có vào tửu quán vui cùng bạn
chuốc một bầu riêng cúng tưởng người
những lính cùng dân chung bất hạnh
vì đời mà đổ máu thây phơi

Có xuống Cồn Chà ăn cá mực
thăm giùm người bạn biển quê tôi
thảm ơi một kiếp đời mưa gió
vẫn áo mê tơi suốt một đời

Có qua phố chợ khoe quần áo
bớt một vài xu giúp kẻ nghèo
người phế binh bò trên gạch lạnh
tủi buồn cô quạnh nắng mưa treo

Có đi ngắm cảnh tìm thơ vị
đừng bỏ quên Cây Táo, Phú Long
Dốc Căn, Kim Hải, Ðoàn Mạnh Hoạch
những địa danh xưa đẳm máu hồng

Có vào lễ Phật trên chùa Cú
hay ghé thăm Cha tại giáo đường
tìm lại giùm tôi hương phấn cũ
của thời tuổi học lắm thương vương

Có gặp bạn bè còn sống tủi
xin em chia bớt một phần vui
xin em lau lệ đời phân cách
để nguyện cho nhau bớt ngậm ngùi

Có mua quà tặng khi về Mỹ
xin nhớ cho tôi chút vị làng
hơi đất , mùi rơm, tình biển mặn
thương hoài mà vẫn cứ miên man
(xin hãy cho tôi chút vị làng – thơ MG)


            Ðối với người Phan Thiết gốc Hoa , ăn tết cũng có nhiều khác biệt. Bởi vậy đừng tưởng các ông bà Tứ Hải, Nhiêu Bá, Cẩm Xìn, Phúc Châu, Liền Hến, Thiên Sanh Ðường, Thọ Như Khương, Ðại An Hòa, Lâm Phùng Xuân.. tất cả là người Trung Hoa, nên nhà nào ăn tết cũng giống nhau. Không đâu, họ ăn uống theo tập quán bản địa, mà cha ông đã mang từ bên Tàu sang qua bao đời.

            Người Việt gốc Hoa Quảng Ðông, ba ngày tết thế nào cũng phải có các món lạp xưởng làm bằng thịt heo ướp ngủ vị hương hay loại hảo hạng tẩm rượu mai quế lộ, rồi lạp xưởng gan heo hay thịt vịt khô loại lạp áp hay bắc thảo, lạp dục, tức là món thịt heo ba chỉ cắt sọc từng dãi phơi khô. Thịt vịt khô hay heo khô dem hấp với gừng lát, là món ăn chính trong ba ngày đầu năm mới. Ðặc biệt nhất là nhà nào dù giàu hay nghèo, cũng phải có con gà mái để cúng vào giờ đón giao thừa, còn ngày mồng hai tết phải làm con gà trống thiến để cúng mở cửa hàng hay xuất hành. Với những nhà giàu có, ngày tết còn có thêm món bát bửu gồm bong bóng cá, tóc tiên, hạt sen, náạm đông cô, táo đỏ, củ năn và bún Tàu. Ðể lai rai đưa cay, dĩ nhiên chẳng bao giờ thiếu các món nhắm như tôm khô, hột vịt bắc thảo, củ cải muối và thịt đùi heo hun khói. Còn trên mọi bàn thờ, thì thế nào cũng có ổ bánh tổ ngoài bọc giấy điều, có in các chữ phước hay đại cát, bằng mực Tàu mạ hoàng nhũ. Tóm lại nét đặc trưng của người Việt gốc Quảng Ðông, là là ngày tết không bao giờ giết vịt, vì sợ tiếng kêu ‘ cạp cạp ‘, gây xui xẽo năm mới.

            Còn người Việt gốc Triều Châu là nhóm người Trung Hoa đông thứ hai tại Phan Thiết. Tuy người Triều Châu cũng cư trú trong tỉnh Quảng Ðông nhưng địa bàn của họ nằm giữa ba tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây và sát với Phúc Kiến. Vì vậy tiếng nói của họ thuộc ngữ hệ Hạ Môn-Phúc Kiến. Ðó cũng là lý do giữa hai nhóm di dân, có rất nhiều khác biệt, chẳng những về sự cạnh tranh nghề nghiệp mà còn liên hệ tới tập quán và đời sống xã hội. Trước ngày 30/4/1975 , giữa hai nhóm Tiều và Quảng Ðông sống tại VN, không bao giờ kết thông gia. Bởi vậy chúng ta cũng không ngạc nhiên về sự khac biệt giữa hai nhóm trong việc cúng kiến và ăn uống vào những ngày tết.

            Trong khi người Việt Quảng Ðông kiêng vịt, thì tết là dịp để người Tiều ăn vịt lấy hên đầu năm. Tại Bình Thuận, vịt được nuôi nhiều tại Tường Phong, Ðại Nẩm, Phú Hội, Phú Lâm.. trong những cánh đồng đã gặt xong nhưng chưa kịp cầy bừa vào dịp đông-xuân tới. Thế rồi sau hai tháng khổ cực, bôn ba khắp các cánh đồng dưới nắng mưa, để hết lòng vổ béo đàn vịt hơn ngàn con , sao cho kịp tới trung tuần tháng chạp là có vịt thịt để bán. Trong thời gian này, xe thồ, xe lam.. đêm ngày từ Phan Thiết tới các lò , để mua vịt và trứng. Trong cái không khí tĩnh mịch của làng quê , tiếng vit kêu cạp cạp thay thế tiếng Sếu biển báo tết sắp về.

             Với người Việt, nhà nào từ 20 tháng chạp trở đi, hầu như đều có sẳn cặp vịt với vài chục trứng, để cúng đưa ông Táo về trời vào chiều hăm ba . Với người Việt gốc Triều Châu, thì bất cứ nhà nào trong ba ngày tết, cũng phải có món vịt ram. Món này, vịt làm xong đem luộc vừa chín, vớt ra chặt thành từng miếng lớn, rồi bỏ vào trong chảo mỡ đang sôi sùng sục . Riêng nước luộc vịt, được dùng để nấu xôi đậu phộng, dùng để ăn chung với thịt ram trên. Có một số người Tiều lớn tuổi, ngày tết vẫn còn giữ tập quán của tổ tiên bên Tàu, là ăn thịt ngổng chung với vịt, đầu heo muối hun khói các mía. Tóm lại món ăn ngày tết của người Phan Thiết thật đậm đà, ngoài các món thổ nhưởng đặc trưng như cốm, banh rế, bánh tráng mè dầy hay bánh căn ăn với cá kho.. là những hương vị để đời mà ta không làm sao quên được, nhất là nhà lại có thêm bánh tổ chiên, bánh tét giòn ăn với cá thu kho dưa món. Và còn chả tôm, tré, nem, giò lụa, bao nhiêu món ngon vật lạ của một thời quê hương hạnh phúc, trước khi VC từ rừng vào cưởng chiếm Phan Thành..           
           
            Từ khi sống đời phiêu bạt, năm nào cũng vậy hễ gần tới những ngày cuối năm thì lòng ta lại bâng khuâng lo lắng nhưng không biết là mình đã lo lắng bâng khuâng điều gì, vì Tết Dương lịch nơi xứ người cũng đã qua trong lặng lẽ buồn rầu, còn xuân quê mình thì nghìn trùng xa cách. Vui buồn, mong đợi hay mơ ước, tất cả cũng chỉ còn là kỷ niệm của một thời xa xưa thân ái, với những cái tết thật êm đềm, dù đất nước lúc đó đang hồi lửa loạn. Nhưng mặc kệ, mọi người vẫn bận rộn lo sắm tết, khi mùa đông sắp tàn, nhường chỗ cho nàng xuân kiều diễm nõn nường, đang lồ lộ bước vào ngưỡng cửa đời.

            Ôi giấc mơ xưa, chưa chi đã dẫn ta về thôn xóm cũ, những ngày xuân tết vẹn vầy, những niềm vui thơ dại, trên từng trang lưu bút của một thời tuổi trẻ đã phai tàn, nay không biết có ai còn nhớ hay không ? Bao chục năm qua rồi, những ngày sắp tết lại buồn, nhất là lúc đứng nhìn mưa phùn, nhỏ những giọt trắng, trên từng cánh cúc vàng nơi thềm gió

            Lại một tối ba mươi buồn sắp tới, một đêm giao thừa nơi xứ người. Trong giây phút thầm lặng trước ngưỡng cửa đời, bỗng dưng buồn rầu tự hỏi, cho tới khi nào ta mới chấm dứt được cái thân phận không nhà cửa, phải khóc thầm suốt một phần đời lưu lạc, mỏi ngóng về bên kia bờ Thái Bình Dương, mà rưng rưng thương nhớ Phan Thiết. Trong nổi cô đơn hằng hằng, người lữ khách chỉ còn biết yên lặng, nép mình dưới các hàng hiên ngoài phố, cùng với bóng tối của đêm ba mươi Tết, để ngậm ngùi tưởng tượng về chốn quê xa, trong cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, gia đình mình chắc cũng đang cài chặt then cửa, để đón mừng năm mới. Không biết trong nổi hạnh phúc đó, có ai còn nhớ tới người lính già cô đơn ngoài quan tái.

Rồi cũng tết cũng mùa xuân viễn xứ
đời chinh nhân sao lắm nổi đoạn trường
xưa những mùa tết ngập lệ đau thương
nơi đồn vắng, hố cá nhân chờ giặc

Ðêm giao thừa một mình buồn hiu hắt
ngậm ngùi cùng chiếc bóng chúc tân niên
loay hoay tìm đâu thấy một ai quen
chỉ tiếng nhạn kêu sương ngoài quan tái

Sáng mùng một chờ thư em mòn mõi
đứng lại ngồi trông mây nổi mù bay
cuối quê xa thương mẹ ngóng đêm ngày
chờ thằng con lính, trăm lần lổi hẹn

Nhưng mẹ ơi nơi này xuân nào đến
với những hồn ma lạnh quẩn quanh đây
bên suối ngàn róc rách gió lã lay
têt muôn dặm năm qua buồn muốn khóc

Tàn chinh chiến tưởng không còn chết chóc
đâu ai ngờ thảm tuyệt vẫn muôn phương
xưa banh xác vì bom đạn chiến trường
nay gục úa bên đòn roi đói bệnh

Xưa đồn vắng chờ xuân xuân không đến
nay trong tù không muốn tết vẫn sang                                               
đời gì đâu sao tàn nhẫn bẽ bàng
kiếp lính trận cứ ngậm ngùi cô quạnh

Mùng một tết góp cơm canh trà bánh
nén hương lòng nhớ bạn chết thảm đơn
tuổi hoa niên mà đã bỏ trần gian
nằm với đất bên đường sầu cỏ úa

Nay xứ lạ một lần xuân tới nữa
tết không nhà hiu quạnh vắng người thương
vẫn tỉnh say nơi quán lẽ bên đường
chờ bạn tới cụng ly mừng xuân thắm

Nhưng họ đã chết queo ngoài muôn dặm
kể từ mùa chinh chiến bỏ trường xưa
chỉ còn ta buồn bã kiếp sống thừa
bao chục năm héo cùng xuân viển xứ
(thêm một lần xuân qua – thơ MG)


Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Chạp 2014
MƯỜNG GIANG



__._,_.___

Posted by: Ho Dinh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link