Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 6, 2012

Dưới Mũi Súng Quân Thù

Dưới Mũi Súng Quân Thù

(05/04/2012)

Tác giả : Lê Văn Kim

(Lời dẫn nhập:

Thượng nghị sĩ John Mc Cain, cựu Đại Tá phi công Hải Quân Hoa Kỳ, đã từng là tù binh chiến tranh của CSVN, phát biểu khi được hỏi về cuộc chiến Việt Nam: "The bad guys won the war." ("Những tên gian ác đã thắng trận.") Câu nói đó có thể dùng làm tiền đề cho hàng ngàn thiên hồi ký của các nạn nhân cộng sản khi mô tả về sự ngu dốt và tàn ác mà CSVN đã và đang áp đặt lên trên hàng chục triệu dân quân cả hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Trong bài viết nầy, người viết muốn ghi lại một vài dữ kiện trung thực, tự bản thân đã mắt thấy, tai nghe: những ký ức khắc sâu vào tâm não tại trại tù "cải tạo A-30," ngõ hầu góp thêm một phần nhỏ sự hiểu biết của mình vào định nghĩa "thiên đàng cộng sản."

A-30, tên của một trại giam tù chính trị, đã được CSVN dùng làm thí điểm để xây dựng một xã hội chủ nghĩa cho những người "mới được đi học tập cải tạo." A-30 nằm sát liên tỉnh lộ 7A, phía nam sông Ba, giữa đập nước Đồng Cam và cầu Đồng Bò, thuộc thôn Liên Thạch, xã Thạch Thành, cách thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, khoảng 22 cây số.

Nhằm mục đích ghi lại trung thực sự kiện, tất cả tên họ của các nhân vật đều giữ đúng như tại thời điểm xảy ra. Chữ "tôi" rất khó dùng, dễ gây ra ngộ nhận; nhưng "tôi" xin được phép sử dụng trong bài viết mà không hề có ý trau chuốt bóng bẩy dưới làn khói thuốc, hoặc qua hương vị đậm đà của tách cà phê đen trong một căn phòng vắng, thay vào đó, nó được viết lên từ tấm lòng của người viết - một ký ức đầy đau thương của một người trong cuộc. "Tôi" được dùng trong bài chính là người viết.

Những chữ viết tắt:
VNCH: Việt Nam Cộng Hòa
QLVNCH : Quân Lực VNCH
CSVN: Cộng Sản Việt Nam
VC: Việt Cộng)

Một buổi sáng ngày…tháng 9 năm 1978, hội trường mang tên "2 Tháng 9” nằm trong khuôn viên Trại Cải Tạo A-30, chật ních người ngồi kéo dài luôn ra cả ngoài sân trại. Chúng tôi đã được tập họp từ sáng sớm hôm đó để "được" tham dự một phiên tòa án nhân dân, một phiên tòa xử vụ cướp súng để trốn trại: vụ án Nguyễn Minh Trung.

Tên Trung Úy VC lên đứng trước chiếc mi-cro, mắt nhìn về phía chúng tôi và cất giọng:

- Ban Giám Thị yêu cầu tất cả các anh em cải tạo viên được mời tham dự phiên tòa ngày hôm nay phải tuyệt đối nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, đi đâu phải báo cáo cán bộ, tuyệt đối giữ im lặng. Anh nào vi phạm sẽ bị nghiêm trị, các anh nghe rõ chưa?

Cả hội trường đồng thanh: "Rõ!"

Tôi không còn ngạc nhiên về những lời giáo đầu nầy nữa. Cứ mỗi lần chúng tôi được gọi tập họp chung lại với số người quá đông như vậy, bọn chúng thường lên giọng hăm dọa của kẻ thắng thế để cảnh cáo trước hầu phòng ngừa những bất trắc có thể xảy ra.

Không khí trở lại yên lặng, nặng nề hơn bình thường. Mọi người đâu ngồi đó, không ai nói ai, mắt chỉ dán nhìn lên sân khấu hội trường, trang trí toàn màu đỏ thẫm. Một tấm băng-đơ-rôn nền đỏ in bảy chữ màu vàng: "TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ KHÁNH" treo trên màn sân khấu. Dưới tấm băng-đơ-rôn đó, một lá cờ đỏ sao vàng mang bức ảnh Hồ Chí Minh trông đầy nét khắc nghiệt. Trước đó là ba cái bàn, một cái để ở giữa, hai cái để hai bên, được trải khăn đỏ phẳng phiu. Bàn giữa có một bình bông tươi màu đỏ. Trên mỗi bàn có một cái mi-cro cũ kỹ. Phía dưới sân khấu ngay phía bên phải là "vành móng ngựa," thật ra đó chỉ là một cái bàn nhỏ, không trải khăn, một chiếc mi-cro khác được dựng kế bên.

Tôi cảm thấy trước mặt, trên sân khấu hội trường kia không phải là tòa án, mà là một bàn hương án, lạnh lùng không nhang không khói. Một cảm giác rờn rợn chạy dài trên tủy sống. Giây phút chờ đợi đã đến.

Từ ngoài cổng trại, một chiếc xe mi-cro-bus (một loại xe VAN) sơn màu xanh đen từ hướng “cơ quan” (Bộ Chỉ Huy của VC) chạy vào. Xe ngừng lại ở cửa hông cạnh sân khấu hội trường.

- Tất cả chú ý: “Nghiêm!” Giọng quát lớn của một tên VC khác nổi lên. Một phút trôi qua.

- Tất cả: “Ngồi!”

Trên sân khấu, ba chiếc ghế trống được ba tên xử án điền vào. Tên thứ nhất ngồi phía bên trái nhìn từ phía dưới lên, lạnh lùng, đanh thép, từ từ đứng lên, tay sửa lại chiếc mi-cro cho vừa tầm, rồi nói:

- Kính thưa đồng chí chánh án Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Phú Khánh; kính thưa đồng chí giám sát viên; thưa tất cả các đồng chí trong ban giám thị trại; thưa các đồng chí cùng tất cả anh chị em cải tạo viên. Hôm nay là phiên tòa xử vụ án tên Nguyễn Minh Trung cùng đồng bọn cướp súng cán bộ để trốn trại, sau đây tôi xin giới thiệu ủy ban xử án:

- Thứ nhất, đồng chí … chánh án Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Phú Khánh.Tên ngồi giữa, mang cặp kính đen, dường như muốn che lấp cặp mắt bạo tàn của loài quỷ đỏ, đứng lên khẽ gật đầu tự đắc.

- Thứ hai, đồng chí … giám sát viên, Viện Giám Sát Tỉnh Phú Khánh.Tên bên phải đứng lên, gật đầu, bắn một cái nhìn không thân thiện về phía chúng tôi.

-Thứ ba, tôi …, thư ký phiên tòa. Sau đây, tôi xin nhường lời cho đồng chí chánh án.

Tên chánh án đứng lên, kéo chiếc mi-cro lại gần, gõ nhẹ vài cái, chúi đầu đưa sát miệng vào chiếc mi-cro, tằng hắng cất tiếng:

- Nhân danh Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tôi xin khai mạc phiên tòa.

Tên thư ký tiếp lời: “Sau đây xin mời đồng chí giám sát viên đọc lại diễn tiến vụ án.” Tên giám sát viên bắt đầu:

- Vào ngày… tháng 6 năm 1977, tên Nguyễn Minh Trung, một Thiếu Úy Ngụy đã cầm đầu một tổ chức cướp súng cán bộ để trốn trại.

Tên chánh án tiếp lời:

- Mời Nguyễn Minh Trung ra trước tòa.

Trung và An đã được dẫn vào ngay khi chiếc xe mi-cro-bus đến.Hai chân yếu ớt,Trung đứng dậy với dáng người nho nhỏ nay gầy khòm đi, trông anh khắc khổ đau thương hơn, dù được chúng khoát lên một bộ đồ tươm tất, quần dài xanh sẫm, áo màu vàng nhạt, đầu được hớt cao, nét mặt anh lộ vẻ trầm tư mặc tưởng nhưng tôi vẫn có thể thấy rõ nét hận thù cộng sản trong đôi mắt đầy can đảm và nghị lực ấy.Không còn dáng dấp nhanh nhẹ như những ngày đầu tôi biết anh ở trại, anh mệt mỏi kéo lê từng bước, chậm chạp tiến đến chiếc mi-cro.Nhìn hình ảnh nầy, tôi cảm thấy thương xót và đau lòng cho người bạn đồng cảnh ngộ.Anh cất tiếng:

- Tôi tên Nguyễn Minh Trung, sinh năm 1948, cấp bậc Thiếu Úy Pháo Binh, quân đội… (anh ngập ngừng trong giây lát rồi tiếp) … quân đội Sài Gòn.

Tôi đoán ngay là anh cố tránh chữ “Ngụy” mà bọn CSVN đã gán cho những người lính Cộng Hòa chúng tôi.Trung tiếp lời: “gia cảnh một vợ, một con 3 tuổi.”

Trung lê bước sang một bên, nhường chiếc mi-cro lại cho An theo lời ra lệnh của tên chánh án.An cũng gầy ốm xanh xao không khác gì Trung lắm. An là một học sinh tham gia phong trào học sinh, sinh viên phục quốc bị bắt vào cuối năm 1975, bước đến trước mi-cro, đầu hơi ngước lên nhìn tên chánh án, với giọng còn non choẹt, An nói:

- Tôi tên Hồ Ngọc An, sinh năm 1957, học sinh, gia cảnh độc thân.

Tên chánh án cao giọng ra lệnh cho hai anh về chỗ ngồi, sau đó tên cộng sản nạn nhân trong vụ trốn trại được mời ra, hắn ta nhỏ thó người, mặt đanh thép của những thanh niên vừa mới lớn học vẻ hách dịch oai quyền của một người chỉ huy; trong bộ sắc phục công an màu vàng nghệ, hai cầu vai đeo hai bên cùng với uy hiệu trên cổ áo, vẫn không sao che lấp được cái ngu ngơ khờ khạo của hắn. Hắn nói:

- Tôi tên Nguyễn Văn Lẫn, sinh năm 1954, độc thân, đơn vị phục vụ: trại cải tạo A-30, chức vụ: cán bộ quản giáo đội 13.”

(Đội 13 là đội luôn luôn bị nằm trong căn nhà kỷ luật số 6, mái được lợp cỏ tranh, vách và trần được làm bằng đất sét trộn với miểng ve chai, được vây quanh bởi ba hàng rào kẽm gai rất sắc bén, nằm gần cổng ra vào, dưới tháp canh của bộ đội VC).

Sau khi tên chánh án cám ơn và ra lệnh cho tên Lẫn về chỗ ngồi, tên đóng vai giám sát viên dõng dạc đọc lại diễn tiến vụ án.

Không khí hầu như cô đọng, nặng trĩu. Hàng ngàn cặp mắt tù binh chăm chú theo dõi, hồi hộp đợi chờ. Tôi chắc Trung không sao quên được giờ phút quan trọng nầy. Thảm kịch trốn trại cuồn cuộn sống lại trong đầu óc một số anh em và tôi, từng chi tiết một liên tiếp kéo đến, trong đó các nhân vật then chốt trong thảm kịch gồm có:

- Nguyễn Văn Đức, thường được gọi là Đức Nguyễn (nhóm hoạt động chống CSVN của Thiếu Tá Đặng Hữu Thân),

- Ngô Bá Tùng và Nguyễn Văn Dũng - cả hai đều là sĩ quan cấp úy thuộc bộ binh QLVNCH,

- Tên công an VC Lẫn, cấp bậc tương đương với cấp thượng sĩ phía bên QLVNCH,

- Và ba tên khác là cựu sĩ quan QLVNCH, làm nhân chứng cho VC: Đỗ Văn Đức còn gọi là Đức Đỗ (Thiếu Tá bộ binh biệt phái cảnh sát dã chiến), Trần Thái Bửu và Đoàn Văn Lập (cả hai đều mang cấp Trung Tá bộ binh và đã từng nắm chức quận trưởng.)

Khoảng 2 giờ 30 trưa hôm đó, Tùng rời vị trí lao động để đi uống nước, ngang qua chỗ các bạn anh đang đứng cuốc đất, anh đi chậm rãi và nói nhỏ: “Tụi bây sẵn sàng chưa?” Dũng và Đức Nguyễn lần lượt trả lời "Rồi."Tùng vác cuốc đi đến thùng nước uống cách chỗ tên bộ đội VC Lẫn không bao xa, độ chừng bốn mét, anh dừng lại, tay cầm lon nước, tay chống cán cuốc, len lén đưa mắt quan sát một vòng ngoại cảnh.Trong khi đó Dũng và Đức Nguyễn đang cuốc đất nhưng vẫn luôn theo dõi từng hành động của Tùng để chờ đợi mật hiệu của anh.

Vừa lúc tên VC Lẫn quay lưng, Tùng phóng nhanh tới với tư thế đã chuẩn bị, đập thật mạnh đai cuốc vào ót tên nầy.Tên Lẫn bị đập bất ngờ, mất tư thế, lảo đảo té quỵ xuống.Cách đó không xa, anh Đức Nguyễn đã sẵn sàng nhào tới giựt khẩu AK-47 của tên VC Lẫn, nhưng vì khẩu AK được đeo choàng chéo qua vai hắn nên súng bị dằn co, không giựt hẳn ra được.Tên Đức Đỗ làm ăng-ten (tiếng dùng ám chỉ bọn tù cải tạo đã trở cờ, theo VC) cho giặc, đã được VC chỉ định làm đội trưởng cho đội nầy, thấy vậy la lớn lên: “Anh em ơi! Tụi nó giựt súng cán bộ.”

Hắn nhào tới đỡ lấy và kềm phụ khẩu súng AK cho tên VC Lẫn.Được sự trợ giúp đắc lực của tên ăng-ten nầy và vì đai cuốc của Tùng bổ vào chưa trúng nhược điểm nên tên VC lấy lại được bình tỉnh.Dũng thấy rõ nguy cơ đã đến cho bạn mình khi có tên ăng-ten Đức Đỗ vào trợ giúp, anh liền chụp lấy cây rựa nhào tới chặt thật mạnh vào gáy tên Đức Đỗ; tuy nhiên, vì vội vàng, lưỡi rựa chỉ tạt phớt qua màng tang tên Đức nên hắn ta không bị hề hấn gì. Bấy giờ, tên VC Lẫn đã ôm ghì lại được khẩu AK, hắn bóp cò báo động, nhưng súng không nổ.Tên Đức Đỗ khôn ngoan và sáng suốt hơn thét to nhắc nhở:

- Mở khóa an toàn! Mở khóa an toàn đi cán bộ!

Tên VC Lẫn không còn tự chủ được nữa, hắn làm y theo lời thúc giục của tên ăng-ten Đức, mở khóa an toàn. Bóp cò! Hai phát súng nổ báo động toàn trại.

Tùng, Dũng và Đức Nguyễn thấy sự việc không thành vụt chạy xuống bờ sông nơi đã định cách đó chừng 50 mét.Tên Đức Đỗ nhắc nhở và thúc giục tên VC:

- Quỳ xuống bắn chính xác hơn cán bộ.

Lẫn riu ríu thi hành như một khóa sinh đang tập ở sân bắn quân trường.Hắn ta quỳ xuống, nâng khẩu AK lên ngang tầm mắt,cẩn thận lấy đường nhắm. Bóp cò!

Đùng! Phát súng nổ vang chát chúa, viên đạn đầu cũng là viên đạn cuối cùng xuyên qua màng sọ của anh Đức Nguyễn - giải thoát anh khỏi lao tù cộng sản trong khoảnh khắc, nhưng chắc hẳn anh vẫn còn uất hận với mối thù giặc cộng chưa trả được. Anh Đức nằm bất động trên bãi cát, không có được một cử động giẫy giụa của một người sắp chết - cách tên VC Lẫn không ngoài 20 mét.

Cán binh bộ đội VC được báo động vụt ù chạy lại tiếp cứu.

Lẫn la lớn lên: “Còn hai thằng chạy xuống bờ sông!”

Tùng đã xuống sát bờ, còn Dũng đã đến gần được nửa sông. Ba phát đạn nữa tới tấp từ phía sau bắn tới hướng Tùng.Ba viên đạn của hận thù đã kết liễu đời anh. Tùng gục xuống, không quên quay nhìn lần chót những tên VC bạo tàn và bầy chó săn quái ác.

Dũng thấy không còn kịp nữa, cùng lúc có tiếng la: "Đứng lại! Đứng lại! Đưa tay lên!" từ sau vọng tới.Anh đứng vụt lại, hai tay đưa lên khỏi đầu, từ từ quay lại.

Đùng! Viên đạn xuyên qua đùi anh. Dũng nghiến răng uất hận gào thét lên:

- Đả đảo cộng sản! Đả đảo cộng sản!...

Đùng! Đùng! Thêm hai viên đạn nữa, một xuyên qua bụng và một viên làm bay mất nửa phần hàm dưới của Dũng, tiếng thét của anh đã bị viên đạn thứ ba làm lệch giọng.

-Đ..ả...đ..ả..o..c..ộ..n..g.. s..ả..n..!” Anh vẫn còn tỉnh, vẫn còn từ từ bước tới hàng rào cán binh VC cách đó khoảng chừng 30 mét, anh như là tấm bia cho bọn VC nã đạn vào.

Đùng! Viên đạn thứ tư ghim sâu vào ngực Dũng. Máu lần nầy xối xả phun ra từ một trái tim chỉ biết tôn thờ một màu cờ, sắc áo. Anh không còn chịu đựng được nữa, thân anh co quặp lại, quỵ xuống trên giòng sông chảy xiết, máu anh hòa với nước lờ đờ chảy như vẫy chào anh trở về với lòng đất mẹ thân yêu. Tám viên đạn AK kết liễu ba mạng người một lòng trung chính không chịu khuất phục sự bạo tàn.

Từ khi hai phát súng báo động nổ, An từ xa chạy đến thấy sự việc không thành, anh khựng lại rồi hối hả chạy đi như không hay biết sự việc.Ngay từ giây phút đầu tiên thảm kịch xảy ra cho đến bây giờ, Trung hoàn toàn không hay biết mưu định của bạn mình. Anh bàng hoàng, ngỡ ngàng hối tiếc trước sự việc không thành của bạn. Quang cảnh lúc bấy giờ hỗn loạn, anh Trung cũng như mọi người chạy tứ tán tìm nơi trú ẩn an toàn, chỉ có những tên ăng-ten còn sáng suốt nắm lấy cơ hội để lập công.

Trong sinh hoạt thường ngày của trại, Trung, An và một số đông bạn bè khác bị bọn tay sai lấy điểm với bọn VC theo dõi vì bộc lộ tư tưởng căm thù cộng sản. Sau khi thảm kịch xảy ra, Trung, An là mục tiêu để bọn chúng chộp lấy trước nhất.Bọn ăng-ten đã nhanh nhẹn đuổi bắt Trung, An và Tâm lại.

Ba anh Trung, An và Tâm bị trói ngay sau đó. Trước khi đưa về bộ chỉ huy, bọn chúng không quên trút hết những cơn hận thù vừa qua bằng hàng loạt báng súng AK vào thân xác gầy còm của các anh sau những năm tháng dài làm lao động xã hội chủ nghĩa.

Chiều hôm đó cảnh trại lạnh lùng tiêu điều như một nghĩa trang. Người người đi lại nhìn nhau, không nói, không cười, mỗi người mang một nỗi buồn chua chát. Buồn vì cái chết đau thương của những bạn mình, buồn cho cuộc sống tù đày mà nhân mạng con người không còn nghĩa lý gì với loài quỷ đỏ, buồn cho số phận của những kẻ phải chịu cảnh sa cơ thất thế. Tư tưởng chống bạo quyền còn đó, căm thù còn đây, lại thêm hận thù chồng chất…Cho biết đến bao giờ!

Ba anh Trung, An và Tâm mỗi người được đưa vào một căn nhà khác nhau để cho việc điều tra dễ dàng hơn.

Về phía tên VC Lẫn, sau khi được y sĩ khám vết thương, hắn ta trở lại tìm gặp từng người đang bị cùm (đó là biện pháp kỷ luật dành cho những tù nhân “ngoan cố”) để hỏi thêm chi tiết, với nét mặt không dấu được nỗi căm thù, hắn lớn tiếng hỏi Trung:

- Anh nghĩ sao mà làm vậy hả anh Trung?

Trung phủ nhận: “Tôi đâu có dính líu tới vụ đó, cán bộ!”

Tên VC Lẫn thét to: “Giờ nầy mà anh còn ngoan cố hả anh Trung?”

Trung điềm nhiên trả lời: “Không đâu cán bộ, tôi không biết gì về chuyện đó hết.”

Lẫn hậm hực hỏi tiếp: “Anh có biết tội anh như thế nào không? Làm tay sai cho Mỹ Ngụy, anh biết chưa? Án 20 năm của anh còn đó anh vẫn chưa sợ à?”

Trung cắn răng, máu anh như bùng sôi vì những lời đe dọa hách dịch của tên Lẫn, anh chồm dậy như muốn tung một cú đá thật mạnh vào mặt tên VC nầy. Nhưng than ôi! Còn đâu nữa, hai cổ chân nhỏ bé của anh không còn di chuyển được vì một gông cùm nghiệt ngã. Uất hận, tức giận nhấc đầu lên, Trung gằn một tiếng:

- Chớ còn ông làm tay sai cho ai? Khẩu AK do ai chế tạo? Ông đã dùng súng AK do Nga Sô viện trợ bắn vào ai? Vào Mỹ hay là vào người Việt Nam?

Lẫn hậm hực, gằn từng tiếng một:

- Được! Anh còn ngoan cố lắm. Rồi hắn ta bước ra khỏi phòng.

Tên VC bước ra khỏi phòng, trả lại không khí yên tỉnh về với Trung. Nhớ lại câu nói vừa rồi của của tên Lẫn: “Làm tay sai cho Mỹ Ngụy,… Án 20 năm của anh còn đó anh vẫn chưa sợ à?” Trung thở dài, duỗi lưng nằm xuống, khẽ nhắm mắt lại. Bây giờ Trung mới nghĩ rằng anh bị bắt ngay khi thảm kịch trốn trại xảy ra chẳng qua vì Tùng, Đức, Dũng và anh đều nằm trong Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc.

Sau vài ngày cô lập để điều tra, Trung và An được đưa vào xà lim biệt giam để chờ ngày ra tòa; còn Tâm (bị cùm nằm kế tôi) được trả về với lao động bình thường - có lẽ VC đã dựng thêm một cây ăng-ten mới để dùng trong kỹ thuật khổ nhục kế hầu rà thêm manh mối.

Máy đèn hoạt động suốt đêm hôm đó. Bộ đội công an võ trang VC tràn ngập sân trại, và chúng tôi phải tham dự đêm thuyết trình. Theo chỉ thị của bọn giám thị chỉ huy trại, mỗi tù nhân đều phải phát biểu ý kiến về thảm kịch trốn trại, mỗi đội phải lập một bản kiến nghị và mọi người ký tên vào để kết án những người vi phạm - dù sống hay chết.

Sáng hôm sau toàn trại được gọi tập họp tham gia cuộc mít-tinh để lên án những tên “ngoan cố chống lại cách mạng, chống lại nhân dân.” Hơn một ngàn chữ ký đã bị bắt buộc ký vào trừ một số người đang bị cùm trong xà lim.

Đúng ra, từ ngày thảm kịch xảy ra cho đến nay hơn một năm, vụ án mới được đem ra xét xử. Trở lại phiên tòa, sau khi tên giám sát viên đọc xong biên bản điều tra vụ án, tên chánh án VC tiếp tục:

- Vì đây là một phiên tòa đặc biệt, không có luật sư biện hộ nên anh Trung được quyền tự biên hộ lấy và anh chỉ được nói khi nào tòa cho phép. Anh có gì nói không anh Trung?

- Thưa tòa, không! Trung đáp lại.

Tên chánh án nói tiếp:

- Anh có nhận thấy rằng biên bản mà giám sát viên vừa đọc là đúng không anh Trung?

Trung thản nhiên nói:

- Tôi không có nhúng tay vào vụ giựt súng đó ...

Tên chánh án cắt ngang lời nói của Trung:

- Anh đừng chối, anh lợi dụng những tên kia đã chết nên bây giờ anh muốn nói gì thì nói phải không!

Trung vẫn nhẹ nhàng đáp:

- Thưa tòa, không. Tôi không có dính líu tới vụ đó.

Tên chánh án tiếp lời Trung:

- Anh còn nhớ những gì anh đã khai với cán bộ chấp pháp (cán bộ thẩm vấn) ngày hôm đó không anh Trung?

- Thưa tòa, nhớ!

Rồi hắn ta cất giọng ra lệnh:

-Anh nói xem!

Trung trả lời rất gọn:

- Khi nghe súng nổ, phản ứng tự nhiên là tôi tìm chỗ núp, tôi không biết gì hết.

Tên chánh án tay phải nâng cặp mắt kiếng của hắn lên, chồm nhẹ về phía trước, hậm hực nói:

- Hừ! Anh lại nói đến phản ứng tự nhiên mà anh chạy à? Hắn ngừng một chút rồi quả quyết đưa Trung vào việc đã rồi:

- Thôi! Anh đừng nói nữa, tòa biết hết rồi, anh nghe rõ chưa anh Trung?

Nghe đến đây tôi thương xót cho Trung nhiều, tôi biết anh không liên quan gì đến vụ giựt súng, nhưng chẳng qua vì đã mang bản án 20 năm trong vụ tham gia hoạt động của Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc sau ngày 30-4-1975 nên bọn CSVN luôn tìm cách tiêu diệt những mầm mống như Trung từ lâu, và đây là một cơ hội tốt để lấy cớ trừ khử anh Trung. Tên chánh án vụt chuyển sang An, hắn hỏi như ra lệnh:

- Anh Trung vừa nói như vậy có đúng không anh An?

An như một cái máy, nhanh nhẹn đáp:

- Dạ thưa tòa, hoàn toàn không đúng.

- Anh trình bày vụ việc đi.

Chúng tôi đã có thể đoán trước những gì An sắp nói. An chỉ là một học sinh trung học đệ nhị cấp, rải truyền đơn chống cộng sản rồi bị bắt, chưa hề có bản án nào.Anh còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm về cộng sản.Sau nhiều ngày bị tra tấn và nhốt trong xà lim biệt giam, anh không còn giữ được ý chí và nghị lực, lại còn được cộng sản chiêu hàng bằng những đòn phép “mẹ ru con ngủ” khiến anh đã trở thành miếng mồi ngon cho cộng sản sử dụng. An cất tiếng vu cáo:

- Thưa tòa, lúc Tùng và Đức (Nguyễn) cùng nhau giựt súng, anh Trung và tôi chạy lại định tiếp tay nhưng việc không thành. Trung bỏ chạy và bị bắt lại. Những gì anh Trung vừa khai với quý tòa hoàn toàn không đúng.

Tên chánh án ra lệnh cho An về chỗ ngồi, đoạn tiếp tục:

- Anh Trung! Anh còn nhớ những gì anh đã bôi nhọ cách mạng không? Anh đã sỉ nhục cán bộ quản giáo (cán bộ phụ trách về “giáo dục”) của anh là dùng súng AK do Liên Sô chi viện bắn vào anh em của anh, có đúng vậy không anh Trung?

Trung chưa kịp trả lời, tên chánh án quay nhìn Lẫn nói tiếp:

- Có đúng vậy không đồng chí Lẫn?

- Thưa tòa! Đúng. Lẫn vừa ngồi tại chỗ, vừa trả lời. Tên chánh án nói tiếp:

- Mời đồng chí Lẫn ra trước tòa trình bày vụ việc vừa qua.

Lẫn tiếp tục trình bày y như những gì tên giám sát viên vừa đọc. Rồi hắn ta kết luận:

- Bây giờ, mặc dù vết thương đã lành nhưng lúc trở trời thì tôi thấy hơi khó chịu.

Ngồi xếp bằng dưới hội trường, chăm chú theo dõi cuộc xử án từ đầu đến giờ, tôi mường tượng đây như là một màn bi kịch mà nạn nhân là Trung và những người lính VNCH chúng tôi, chớ không phải là một phiên tòa. Ngày xảy ra vụ xử án, tôi tin chắc có rất nhiều người thấy và hiểu rõ sự vụ, nhưng không một ai dám ra làm nhân chứng, ngoại trừ ba tên Đức, Bửu và Lập. Cả ba lần lượt được mời ra trước tòa.

Sau một thời gian được “nhà nước khoan hồng,” họ lần lượt ra đứng trước chiếc mi-cro và thẳng lời tố cáo, buộc tội Trung chính là người chủ mưu vụ cướp súng đó.

Tên chánh án quay sang xin đề nghị của giám sát viên. Sau một lúc lâu đọc về các điều luật - những điều tôi nghe không quen tai - trong hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà nay gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tên giám sát viên kết thúc với lời đề nghị bản án:

- Thứ nhất, xét thấy tên Nguyễn Minh Trung là một Thiếu Úy Ngụy, làm tay sai cho đế quốc Mỹ, làm công cụ cho bè lũ bán nước của tên Nguyễn Văn Thiệu, mang trọng tội với Nhân Dân, với Đảng và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Xét thấy tên Nguyễn Minh Trung có một tiền án 20 năm về tội chống phá cách mạng, nay lại còn chủ mưu trong vụ cướp súng, mưu toan giết cán bộ là người đại diện cho nhân dân, cho luật pháp nhà nước.

Xét thấy tên Nguyễn Minh Trung còn ngoan cố không thể cải tạo được nữa nên Giám Sát đề nghị bản án từ chung thân khổ sai đến tử hình.

- Thứ hai là Hồ Ngọc An, biết ăn năn hối cải, còn trẻ tuổi, để cho anh còn nhiều thời giờ cải tạo để thành nhân dân tốt của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Giám Sát đề nghị bản án từ 12 năm đến 15 năm cải tạo.

Tên chánh án tiếp lời sau khi cám ơn giám sát viên:

- Các anh Trung và An có nói lời nói cuối cùng gì trước khi tòa nghị án không?

Trung đứng lên điềm nhiên đáp:

-Thưa tòa có!

Tên chánh án lên giọng, chồm tới phía trước, ra lệnh:

- Anh nói xem!

Trung vẫn điềm nhiên đáp:

- Thưa tòa, tôi không phải là người tổ chức và dính líu tới vụ nầy.

Hắn ta kéo chiếc mi-cro kề hơi gần sát miệng, một âm thanh hơi chát vì thiếu tiếng trầm:

- Anh không phải là người tổ chức nhưng anh có một tiền án 20 năm. Anh rõ chưa anh Trung.

Trung không nói, chua xót gật đầu buông xuôi; chắc anh không còn nghe thấy những gì chung quanh nữa. Mộng ước phá tan gông cùm cộng sản, diệt lũ bạo tàn để dành lại tự do cho quê hương Việt Nam đành dừng lại nơi đây. Anh còn quá trẻ, ý chí phấn đấu và nguồn yêu nước đang còn rào rạt dâng cao giờ đây đành phải sụp đổ nơi anh.

Hơn năm phút sau, bức màn đỏ được từ từ kéo ra, tên chánh án trịnh trọng bắt đầu:

- Thứ nhất: xét thấy tên Nguyễn Minh Trung, một Thiếu Úy Ngụy, có một tiền án 20 năm về tội chống phá lại cách mạng, nay lại còn cầm đầu một tổ chức cướp súng cán bộ là người đại diện cho nhà nước và nhân dân.

Xét thấy tên Nguyễn Minh Trung vẫn con ngoan cố, không còn cải tạo được nữa. Tòa tuyên án Nguyễn Minh Trung : tử hình.

- Thứ hai: xét thấy anh Hồ Ngọc An còn trẻ tuổi, biết ăn năn hối cải, còn đủ thời giờ cải tạo được để trở thành nhân dân tốt.Tòa tuyên án Hồ Ngọc An: 12 năm cải tạo.

Riêng Nguyễn Minh Trung được quyền chống án lên Chủ Tịch Nhà Nước trong thời gian là ba ngày, sau đó bản án sẽ được thi hành.

Nhìn Trung, tên chánh án tiếp lời với một cử chỉ làm như nhân đạo để cố che lấp sự bạo tàn của hắn:

- Anh có nhắn gì lại với vợ con anh không, anh Trung?

Trung không muốn trả lời nữa, anh đáp gọn: “Không!”

Tên bộ đội công an VC đến sau lưng còng tay Trung lại.Tôi thấy nét mặt anh vẫn điềm tỉnh nhưng có lẽ thâm tâm đang nghĩ đến gia đình một lần cuối, đến vợ con mà đã từ lâu anh không được gặp mặt.Anh Trung đang nghĩ gì? Tôi tin chắc rằng anh chỉ buồn vì mình chưa làm được gì cho quê hương, cho quốc gia Việt Nam đang sống oằn oại trong tăm tối.

Trung bước chậm ra cửa hội trường, không quên đứng nhìn lại lần cuối những người bạn cũ của mình như muốn nhắn lại với chúng tôi, đêm tuy dài nhưng ngày mai trời phải sáng.

Tên công an VC thúc báng súng AK sau lưng, Trung nhẹ bước đi dưới mũi súng quân thù.Một hàng rào công an VC với những khẩu AK trong tư thế chiến đấu, bao vòng quanh chiếc xe Van bít bùng, đang đợi.

Ba người sĩ quan VNCH được VC ban bổng lộc nghĩ gì?Họ đã ngủ gục trong những giây phút tuyên thệ linh thiêng tại buổi lễ mãn khóa của các quân trường đào tạo; và họ tỉnh giấc lại trong những căn lều lý tưởng tự xây, trên một cánh đồng cỏ tranh xanh bát ngát, ven cạnh rừng, nơi chúng tôi thường lui tới đốn củi.Họ là ai?

Gia đình quân đội VNCH không may có những đứa con hoang đàng bất hiếu, nhưng bù lại cũng đã đào tạo được hàng ngàn người con hiền ngoan hiếu thảo, một lòng một dạ trung thành với quốc gia Việt Nam.

Anh Trung, mọi người mến anh vì bản tính hiền hòa vui vẻ nhưng tôi còn thấy nơi anh một sự khiêm nhường bất khuất.Dù cuộc chiến đã tàn, nhưng xin anh một lần cho tôi được làm nhân chứng để viết thêm tên anh vào trang sử sách, những người lính anh hùng của QLVNCH: …,Thiếu Úy Nguyễn Minh Trung.

Ngày tháng trôi qua …, ký ức vẫn không phai tàn.

Thiếu Tá Đặng Hữu Thân, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân QLVNCH, người anh tôi mến phục. Được quen biết anh trong căn nhà kỷ luật. Cặp mắt và giọng nói đã cho tôi biết anh không phải là một cấp chỉ huy tầm thường. Anh bị VC kết án tử hình vì đã cầm đầu một tổ chức chống lại CSVN sau khi QLVNCH bị bỏ rơi. Anh thường bị nhốt trong phòng biệt giam và đưa qua lại căn nhà kỷ luật tùy theo sức khỏe. Thường thì VC nhốt những người “ngoan cố” trong phòng biệt giam, chỉ vừa một người nằm, khi nào họ thấy muốn cho trở lại nhà kỷ luật thì họ cho. Nhà kỷ luật tương đối “thoải mái” hơn, vì còn đi đứng, qua lại được dễ dàng.

Anh cho chúng tôi biết, có bốn Cha Tuyên Úy Công Giáo và quản nhiệm các giáo phận đang nằm bên cạnh. Các vị linh mục luôn bị cô lập nơi các phòng biệt giam theo chỉ thị của “Đảng,” trong khi các Thầy Tuyên Úy Phật Giáo thì được “ưu đãi hơn” trong các căn nhà khác, nhưng tôi biết có vài Thầy vẫn ở chung trong nhà kỹ luật. “VC ghét Cha hơn ghét Thầy” chỉ là một đòn sơ đẳng trong kỹ thuật ly gián mà chúng áp dụng để chia rẽ tôn giáo. Ma quỷ lúc nào cũng sợ các Đấng Thánh.

Sự liên lạc qua lại giữa các tù nhân thường rất khó khăn, nhất là nhà kỷ luật và những căn phòng biệt giam. Tất cả đều phải qua sự kiểm soát của cán bộ VC hoặc các anh tù “cải tạo tốt” được chọn làm trật tự. Sống trong cảnh tù đày, dưới cặp mắt “quản giáo” của VC, đôi lúc suy nghĩ và hành động của mình phải trở nên linh động hơn - tùy theo hoàn cảnh mà ứng biến.

Một nơi mà bọn cán bộ VC và các anh trật tự ít dám lui tới trừ khi cần kíp lắm, đó là nhà cầu được xây gần những xà lim biệt giam. Đây là một sự cố ý để tăng thêm hình phạt cho các người “ngoan cố.” Mỗi ngày hai lần, sáng sớm và chiều tối, các tù nhân nằm phòng biệt giam được ra làm vệ sinh cá nhân và vận động chân tay cho thoải mái, cũng như được lãnh khẩu phần ăn tiêu chuẩn dưới sự “quản lý” của các anh trật tự.

“Đau bụng quá!” Vừa nói với anh trật tự, tôi vừa phóng nhanh lên cầu khi thấy anh Thân đang lên một cầu kế cận; vội quăng lẹ cho anh vài miếng thuốc rê và ít miếng giấy quấn, rồi ngồi xuống cầu bên cạnh như đang làm một việc khẩn cấp của cá nhân.Tim tôi đang tăng nhịp đập bỗng dưng dịu lại một cách bình thường dưới ánh mắt và một nụ cười tràn đầy yêu thương, trìu mến: một Cha Tuyên Úy đang đứng đợi để lên cầu. Vừa làm xong một việc tự nguyện, tưởng chừng như một mình tôi biết.

Thuốc hút luôn là kẻ thù của sức khỏe nhưng nó cũng là người bạn tri âm của những tâm hồn cô đơn trống vắng như anh Thân. Tôi không dám so sánh hai mươi tám ngày mà tôi đã trải qua với những gì anh Thân đang gánh chịu. Nhắc đến đây tôi cảm thấy bùi ngùi.

Buổi sáng, trong khí trời lành lạnh của núi rừng, những hạt sương mù rơi lất phất, vài đám mây đen đang là đà bay càng làm tăng thêm cái vẻ thê lương ảm đạm của cảnh vật chung quanh. Tôi còn nhớ rõ tiếng anh: “Tụi VC nó sắp bắn anh!”

Anh Thân! Em biết Anh đã làm những gì mà tất cả mọi người cần phải làm cho quốc gia Việt Nam trong lúc lâm nguy và Anh đã làm tròn trách nhiệm của người thuyền trưởng trong một chuyến hải hành trên con tàu định mệnh. Thêm một ngôi sao sáng của QLVNCH vừa phụt tắt: Hải Quân Thiếu Tá Đặng Hữu Thân.

----------

Trung Tá Đào (?) Xuân Bé, sĩ quan Tiếp Vận Vùng 2 Chiến Thuật. Cái tên và dáng dấp của anh đã kết hợp với nhau khi vừa mới sinh để mang một trọng trách mà các cấp chỉ huy khác không mang nổi. Anh vào phòng biệt giam vì đã khai sự thực.

“Nếu anh chịu khai thực tôi sẽ cho anh trở về ở nhà kỷ luật,” đó là câu nói mà tên cán bộ “quản giáo” VC Lẫn thường nói với anh. Mỉa mai thay, anh chấp nhận ở lại phòng biệt giam vì đã khai sự thực với tên Lẫn:

- Mấy ông bảo tôi khai sự thật thì tôi đã khai hết sự thật trong tờ tự khai rồi, không còn gì để khai nữa.

Tờ tự khai của anh: “… Mỹ Rút, Việt Nam Cộng Hòa Bị Bỏ Rơi.”

----------

Trung Tá Bùi Quốc Trụ, y sĩ trưởng Sư Đoàn 2 Không Quân QLVNCH, một vị lương y như từ mẫu. Anh đã tận dụng mọi phương pháp y khoa để cứu chữa cho các bạn tù trong phạm vi quyền hạn của anh. Anh nhìn bệnh nhân đang hấp hối với lương tâm của một người bác sĩ, biết việc gì cần phải làm, nhưng bao giờ cũng phải chờ quyết định của “bác sĩ cơ quan,” một bác sĩ “thật giỏi, tốt nghiệp chỉ sau hai năm học tại Liên Sô - sau khi được học xong lớp 10 tại Hà Nội.” Lương tâm và khả năng chuyên nghiệp của anh Trụ vẫn chưa được “cải tạo và lãnh đạo bởi Đảng CSVN.”

----------

Anh Thiếu Úy VC, gốc người Thượng, mà tôi không tiện nói tên ra, một thời gian làm “quản giáo” cho đội. Ngoài tiếng Việt, anh còn nói và viết rành tiếng Pháp vì cha mẹ của anh đã làm quản lý một đồn điền cà-phê cho người Pháp ở Ban Mê Thuột. Anh thường lén dẫn anh em chúng tôi ra chợ làng Thạch Thành mua thịt, cá và rau tươi để “cải thiện” thêm đời sống. Anh là một cán bộ “quản giáo” mà anh em chúng tôi thích nhất trong các buổi học tập về chính trị với những lời anh thường kết luận: “Thôi! Các anh nghỉ sớm để mai còn phải đi lao động nữa!” Phải đi lao động nữa! Anh hiểu rất rành tiếng Việt.

Chủ thuyết cộng sản Mác-Lê mà Hồ Chí Minh đi học lóm của Nga Tàu chỉ dùng để giết chết thân xác, nhưng không tận diệt được lý trí và lương tâm con người.

----------

Nhớ lại lần cuối tôi bị kêu lên hỏi cung (thẩm vấn), tên Thượng Tá chính trị viên VC, Dư Bính, giọng nói người tỉnh Phú Yên, hỏi:

- Anh làm gì cho Mỹ Ngụy?

- Tôi làm lính.

- Lính mà làm cái gì?

- Làm những gì cấp chỉ huy của tôi ra lệnh.

- Cấp chỉ huy của anh có bị bắt ở đây không?

- Tôi không thấy.

Trong căn phòng chỉ có tôi và hắn, bỗng nghe một âm thanh chát chúa vang lên:

- Nói láo! Rồi hắn ném một tập hồ sơ rất dầy lên bàn trước mặt tôi và ra lệnh:

-Mầy đọc tội của mầy đi!

Tập hồ sơ quá dầy, tôi không biết phải đọc chỗ nào. Bỗng thấy bàn tay của hắn bỏ ra khỏi báng súng K54, chụp lấy tập hồ sơ, lật ra phần mà hắn muốn tôi đọc:

- Đây nầy! Đọc tội trạng và án lệnh của mầy thôi!

Tôi dán mắt vào chỗ hắn chỉ, hai hàng chữ viết bằng tay:

Tội trạng: “Quân đội Ngụy - Làm gián điệp cho Mỹ”

Án lệnh: “Tập trung cải tạo”

“Tập trung cải tạo,” một bản án có ý nghĩa rất mơ hồ đối với mọi người, nhưng đầy ý nghĩa đối với bọn CSVN: “Giết, nếu bọn chúng muốn; Tha, nếu cải tạo tốt.” Đang nhìn những hàng chữ “tội” của mình, bỗng nghe tiếng hắn hỏi:

- Có đúng vậy không?

- Không đúng! Vừa lắc đầu, tôi vừa trả lời một cách bình thường. Một tiếng quát to hơn khi nảy, âm thanh vang cả bốn góc phòng:

- Nói láo! Rồi hắn ra lệnh hai tên bộ đội công an võ trang dẫn tôi trở lại nhà giam.

…Một hôm, tình cờ tôi gặp lại một người bạn cùng cảnh ngộ đang đứng xếp hàng chờ lãnh thực phẩm trong trại chuyển tiếp tại Kuala Lumpur, Mã Lai, để làm thủ tục đi định cư. Tôi được biết thêm, bản án “tập trung cải tạo” của tôi đã được tòa án nhân dân tỉnh Phú Khánh “nâng cấp” lên “tử hình nếu bắt lại được” và án lệnh đã được đọc lên cho khoảng gần hai ngàn trại viên nghe trong hội trường - nơi bọn chúng dùng để xử án. (Cuối năm 1978, khoảng hơn 800 lính thuộc Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù và các đơn vị khác của QLVNCH bị bỏ rơi tại chiến trường Khánh Dương được chuyển về giam tại đó.)

Ngước mặt nhìn lên, một bầu trời trong xanh thẳm, không một áng mây. Các sinh hoạt chung quanh dường như đang ngưng động, không khí im lặng phút chốc quay trở về căn phòng biệt giam… Sao không còn ngửi thấy mùi xú uế nữa? Tôi biết! Tôi đang khóc! Ơn Trên đã che chở tôi dưới mũi súng quân thù.

Chiều chiều ra đứng bờ ao,
Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều.

Hai câu ca dao tôi nhớ từ thuở còn mặc quần đùi cắp sách đến trường. Hơn 30 năm sống trên đất Mỹ, chưa một lần trở về Việt Nam, quê hương mến yêu chỉ còn trong ký ức; vì tôi nghĩ rằng một bước chân vui chơi trên quê hương Việt Nam trong lúc dân tộc chúng ta đang đau khổ dưới gông cùm nghiệt ngã của cộng sản thì chẳng khác gì chính mình sẽ tự dẫm bước lên vong linh các anh hùng dân tộc đã vị quốc vong thân, và cũng chẳng khác gì chính mình tự rút súng bắn vào chân mình (you shoot yourself in the foot). Sống trong cộng đồng người Việt hải ngoại một thời gian lâu - qua phim ảnh, sách báo, những nơi tụ tập đông người hoặc ở các buổi tiệc tùng họp mặt - tôi được biết nhiều hơn nữa về người lính. Lần đầu tôi viết, viết những gì tôi biết thêm về - Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Sau Khi Chiến Trường Im Tiếng Súng.

Lê Văn Kim
Viết cho ngày tang thương của đất nước Việt Nam 30 tháng 4, 1975.

  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Vận Động Chính Sách: Quần Chúng và Hậu Trường

Vận Động Chính Sách: Quần Chúng và Hậu Trường

(05/04/2012)

Tác giả : Ts. Nguyễn Đình Thắng

Chiến dịch thỉnh nguyện thư 30 ngày gởi Toà Bạch Ốc và cuộc vận động một ngày ở Quốc Hội có tác dụng ảnh hưởng chính giới Hoa Kỳ và đồng thời nâng ý thức của chính cộng đồng người Việt về vai trò quốc tế vận của mình.

Như bất kỳ phương tiện nào, quốc tế vận chỉ phát huy tác dụng trong tay người biết sử dụng. Chúng ta cần thấu đáo cách sử dụng các hình thức vận động chính sách cho đúng việc, đúng lúc.

Nói chung, có hai hình thức vận động: quần chúng và hậu trường, với những tác dụng riêng biệt nhưng có thể bổ trợ cho nhau.

Vận động quần chúng có nghĩa huy động số đông đồng loạt lên tiếng, qua các hình thức thỉnh nguyện thư, biểu tình, tẩy chay... và thường mang tính cách biểu lộ tình cảm về một vấn đề hơn là lý luận để tìm giải pháp. Tác dụng chính của vận động quần chúng là lấy số đông áp đảo để tranh thủ sự chú ý của các giới chức làm chính sách. Chính vì tính cách quần chúng của nó nên hình thức vận động này khó đi sâu vào nội dung của vấn đề.

Đi sâu vào nội dung là lãnh vực của vận động hậu trường, qua các buổi họp riêng. Các buổi họp riêng cho hai bên có thời gian để trao đổi quan điểm, diễn ra trong môi trường kín đáo để có thể thảo luận những điều tế nhị, và dựa trên sự quen biết để tiến đến phối hợp hành động.

Một cách phối hợp hai hình thức vận động là dùng vận động quần chúng để yểm trợ hay mở màn cho vận động hậu trường, như hồi trống để thúc quân. Vận động quần chúng sẽ vô nghĩa nếu không có vận động hậu trường đi kèm.

Ngược lại, vận động hậu trường nhiều khi không cần có vận động quần chúng bổ sung. Quả vậy, các đại công ty thường mướn chuyên viên vận động hậu trường để kín đáo ảnh hưởng chính sách, nhất là những chính sách không được lòng của quần chúng. Hoặc các cộng đồng có thế lực, như Do Thái hay Cuba, đã cài được người vào trong guồng máy Lập Pháp và Hành Pháp nên thường xuyên tranh thủ được sự quan tâm của các giới chức có thẩm quyền mà không phải tốn công huy động quần chúng.

Trong suốt mấy chục năm qua, một số tổ chức người Việt ở Hoa Kỳ vẫn thực hiện công cuộc vận động hậu trường. Tuy nhiên kết quả còn khiêm nhường, do thế và lực hãy còn hạn chế. Để tăng hiệu quả, vừa qua chúng ta đã bổ sung các nỗ lực vận động hậu trường bằng hai cách:

- Huy động sự lên tiếng đồng loạt của quần chúng Việt trên toàn quốc Hoa Kỳ.

- Phát huy khả năng vận động hậu trường ở từng địa phương.

Chiến dịch thỉnh nguyện thư vừa qua với 150 nghìn người tham gia, phái đoàn 165 người vào Toà Bạch Ốc kèm với cuộc biểu dương gồm cả nghìn người ở trước Toà Bạch Ốc, và trên 500 người vận động hành lang ở Quốc Hội minh hoạ cách bổ sung thứ nhất.

Ngay sau cuộc vận động một ngày ở Quốc Hội, BPSOS đã phối hợp với nhiều tổ chức ở các địa phương để lập tức nhắc nhở từng văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ đã tiếp xúc. Chẳng hạn, phái đoàn Michigan đã gởi thư đi và đã nhận hồi âm của nhiều vị dân cử, cho biết Bộ Ngoại Giao xác nhận là đã nhận được danh sách 600 tù chính trị, tôn giáo và lương tâm do các vị dân cử này chuyển đến.

Nhưng phái đoàn Michigan không ngưng ở đó.

Đầu tháng 4, Dân Biểu John Conyers (Dân Chủ, Michigan) gởi Bà Chánh Văn Phòng đến Đà Nẵng để tìm hiểu về tình trạng đàn áp xứ đạo Cồn Dầu. Khi được tin, một thành viên của phái đoàn Michigan là cử tri của DB Conyers lập tức gởi văn thư cho vị dân biểu này để trình bày thực trạng ở Cồn Dầu và giới thiệu người đại diện cho các gia đình Cồn Dầu ở Hoa Kỳ. Vị đại diện này, ở North Carolina và cũng từng tham gia phái đoàn vận động Quốc Hội ngày 5 tháng 3, cùng với một số thân nhân của người dân Cồn Dầu đã gặp Bà Chánh Văn Phòng của DB Conyers.

Trên đây là ví dụ của việc phối hợp nhịp nhàng giữa hai hình thức vận động quần chúng và hậu trường, cũng như sự phối hợp hàng ngang giữa các địa phương về vận động hậu trường. Nếu tập thể người Việt chúng ta ở hải ngoại cùng nhau thao dợt cho nhuần nhuyễn và linh động cả hai hình thức vận động kể trên, thì chúng ta sẽ thực hiện hiệu quả hơn công tác quốc tế vận nhằm hỗ trợ công cuộc tranh đấu của đồng bào trong nước.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS:
http://www.machsongmedia.com.
]

Ts. Nguyễn Đình Thắng

  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Cuộc đấu đá ở Trung Quốc và bản chất của chế độ

Cuộc đấu đá ở Trung Quốc và bản chất của chế độ

Nguyễn Hưng Quốc         

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo của Trung Quốc đi qua sau lưng ông Bạc Hy Lai tại sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh

Hình: REUTERS

Chung quanh vụ án ở Trung Khánh liên quan đến Bạc Hy Lai (Bo Xilai), bí thư thành ủy và Vương Lập Quân (Wang Lijun), cựu giám đốc Công an và phó thị trưởng, càng ngày người ta càng khám phá ra nhiều chi tiết ly kỳ và thú vị. Bài trước, chúng ta đã bàn về nạn tham nhũng và tiền bạc. Bài này, xin nói về việc tranh giành quyền lực. Có thể nói nguyên nhân ngã ngựa của Bạc Hy Lai không phải chỉ vì tham nhũng, thậm chí, không phải vì chuyện để cho vợ giết người (Nei Heywood). Đó chỉ là những lý do phụ. Lý do chính là những mâu thuẫn trong nội bộ thành phần lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc.

 

Báo The New York Times tiết lộ, theo nhiều nguồn tin đáng tin cậy ở Trung Quốc, lâu nay Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân có thói quen nghe lén tin tức của mọi người trong địa phương, đặc biệt những người họ thấy có thể gây nguy hiểm cho họ, từ các luật sư đến các nhà đấu tranh cho dân chủ, từ những doanh nhân đến các cán bộ không cùng phe cánh, v.v. Tất cả đều bị theo dõi chặt chẽ. Biện pháp theo dõi phổ biến nhất là nghe lén điện thoại.

 

Người ta kể nhiều người có chút máu mặt ở Trùng Khánh không bao giờ dám dùng điện thoại nhà hay điện thoại văn phòng để nói chuyện với nhau. Với những vấn đề tương đối “nhạy cảm” chút xíu, người ta đều dung các thẻ điện thoại dưới tên người khác, những người hoàn toàn vô danh. Ngay cả như vậy, nói chuyện với nhau, cũng không ai dám nhắc đến tên của Bạc Hy Lai hay Vương Lập Quân. Nhắc, chỉ nhắc đến tên thôi, cũng có thể gây chú ý ngay tức khắc.

 

Tất cả những chuyện ấy đều được biết từ lâu. Ai cũng biết. Nhưng không ai dám làm gì cả. Họ sợ. Chính quyền Trùng Khánh chủ trương như thế. Và chính quyền Trung Quốc cũng chủ trương như thế. Tất cả đều nhân danh nhu cầu chống phá tội phạm và duy trì sự ổn định chính trị ở địa phương. Chi phí của các hoạt động nghe lén ấy được chính phủ đài thọ. Những người nghe lén là những nhân viên nhà nước. Họ lãnh lương và bỏ toàn bộ thời gian trong ngày với những kỹ thuật hiện đại nhất chỉ để làm một việc duy nhất là nghe lén điện thoại của người khác.

Có điều là, cái tội của Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân là đã vượt quá giới hạn mà đảng Cộng sản cho phép: Họ nghe lén (và thu băng) cả điện thoại của giới lãnh đạo cao cấp thuộc chính quyền trung ương, trong đó có cả Hồ Cẩm Đào, chủ tịch Đảng và chủ tịch nhà nước. Chính các nhân viên an ninh kỹ thuật của Hồ Cẩm Đào đã phát hiện ra vụ thu băng và nghe lén này. Nhiều nhà bình luận chính trị cho đó mới là nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ con đường danh vọng ngỡ như đang thênh thang rộng mở của viên bí thư thành ủy Trùng Khánh.

Nhưng tại sao Bạc Hy Lai lại nghe lén Hồ Cẩm Đào? Chỉ có một cách giải thích duy nhất: tranh giành quyền lực. Chưa chắc Bạc Hy Lai đã chống lại Hồ Cẩm Đào, một người sắp mãn nhiệm kỳ. Có lẽ Bạc Hy Lai chỉ muốn biết Hồ Cẩm Đào đang tính toán chuyện gì trong vấn đề chuyển giao quyền lực cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới mà thôi. Biết để đối phó.

Nhưng như vậy cũng đủ cho thấy: Họ không tin nhau.

Lâu nay đảng Cộng sản Trung Quốc lúc nào cũng tô vẽ hình ảnh của họ như một khối thống nhất: Mọi người tập trung chung quanh Trung ương đảng; Trung ương đảng tập trung chung quanh Bộ chính trị. Bộ chính trị thì là một: có cùng một lý tưởng chung; khi một chính sách đã được quyết định, mọi người răm rắp tuân theo.

Sự thực, đó chỉ là một huyền thoại.

Mà huyền thoại ấy cũng chẳng đáng ngạc nhiên chút nào cả. Từ lâu người ta đã biết điều đó. Cả thế giới đếu biết những tranh chấp kinh hồn ở Liên Xô, từ thời Lenin và Stalin trở đi, cũng như ở Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông về sau.

Thật ra, đó cũng chính là một trong những khác biệt quan trọng nhất giữa một chế độ dân chủ và một chế độ độc tài.

Chế độ dân chủ, với những mức độ khác nhau, được xây dựng trên niềm tin và sự đồng thuận. Không phải người ta không tranh chấp nhau. Có. Gay gắt và quyết liệt nữa là khác. Nhưng, thứ nhất, bao giờ người ta cũng cố gắng thương thảo để cuối cùng, tìm cách thỏa hiệp với nhau để đi đến một quyết định cuối cùng. Trong quá trình thương thảo cũng như trong việc thực hiện quyết định cuối cùng ấy, người ta thường tin nhau.

Mà không phải chỉ trong guồng máy chính trị. Trong đời sống xã hội cũng thế. Mọi quan hệ đều được xây dựng trên niềm tin. Ở Úc, tôi đã từng chứng kiến nhiều lần cảnh một người nào đó (có khi là chính tôi) bước ra khỏi thư viện hay siêu thị, còi báo động ở cửa ra vào hú lên inh ỏi. Nguyên nhân, nếu ở thư viện, đó là do có một hoặc một số cuốn sách chưa làm thủ tục mượn; nếu ở siêu thị, có một món hàng nào đó chưa được trả tiền. Bình thường, người ta dễ nghĩ ngay đến chuyện trộm cắp. Nhưng quan sát thái độ của các nhân viên thư viện hoặc nhân viên bán hàng, tôi thấy rõ một điều: hầu như người ta loại trừ khả năng ấy. Do đó, có khi người ta vẫy tay bảo đi luôn; hoặc nếu đến kiểm tra, người ta cũng kiểm tra với thái độ nhẹ nhàng, xem chuyện còi báo động nổi lên, trước hết, là một lỗi kỹ thuật. Chính vì vậy, người bị kiểm tra không hề thấy bị xúc phạm. Họ thấy họ được tin cậy.

Dưới các chế độ độc tài thì khác. Trên bình diện chính trị, người ta xây dựng sự thống nhất bằng cách chia rẽ: làm cho không người nào tin người nào cả. Không tin nhau nên người ta không thể kết hợp lại với nhau thành một lực lượng đủ sức để làm đối trọng của giới cầm quyền. Biện pháp ấy, trước, chủ nghĩa thực dân đã thực hiện; sau, chủ nghĩa cộng sản cũng như tất cả các chế độ độc tài đều bắt chước. Và càng ngày càng tinh vi dần.

Ngay trên bình diện xã hội, người ta cũng tìm cách chia rẽ để không ai tin ai cả. Có thời, ở mọi chế độ cộng sản, kể cả cộng sản Việt Nam, người ta khuyến khích mọi người tố cáo lẫn nhau. Hàng xóm tố cáo nhau. Bạn bè tố cáo nhau. Anh em tố cáo nhau. Thậm chí, cả vợ chồng và bố mẹ/con cái cũng tố cáo nhau. Không ai chừa ai cả. Bởi vậy không ai dám nói thực với ai điều gì. Lúc nào cũng giấu giếm nhau. Như cái chuyện có lẽ ai cũng biết: có thời, ở miền Bắc, làm thịt gà ăn, người ta phải đào hố chôn lông để hàng xóm khỏi thấy. Thấy là đi tố. Tố là bị mang tội… “tiểu tư sản”.

Trên bình diện chính trị cũng như xã hội, sự nghi ngờ dẫn đến sự thù hận. Không tin nhau, ai cũng nghĩ người khác là kẻ thù lúc nào cũng sẵn sàng rình rập để tố giác và hãm hại mình.

Về phương diện xã hội, cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam hiện nay có lẽ đã khá hơn nhiều. Người ta không cần tố giác nhau như ngày trước nữa. Nhưng về phương diện chính trị, chắc chắn hiện tượng nghi ngờ, rình rập và chơi xấu nhau vẫn còn rất phổ biến.

Chỉ có hai vấn đề là: Một, khi nào những chuyện ấy được phơi bày; và hai, liệu người ta có thể xây dựng một chế độ thực sự mạnh mẽ trên nền tảng sự nghi ngờ như thế?

 

Dân Gọi Dân Đứng Lên Diệt Lũ Đầy Tớ Giả

Dân Gọi Dân Đứng Lên Diệt Lũ Đầy Tớ Giả

(05/04/2012)

Tác giả : Phạm Trần

Kỷ niệm 30 tháng 04 năm 2012, 37 năm sau ngày đảng Cộng sản Việt Nam cai trị cả nước, nhiều người từng vác súng đi “gỉai phóng miền Nam” đã hô dân vùng lên phá tan“ách kìm kẹp của bọn tự xưng là đầy tớ nhân dân”.

Trước tiên, hãy đọc Thông điệp của Nhà thơ Bùi Minh Quốc : “Chúng tôi đi, không tính toán so đo chuyện đói no sống chết, đi cho đến ngày 30 tháng 4.1975.

Đi cho đến ngày 7.01.1979, ngày 17.02.1979, lại thêm bao đồng đội của tôi chết trên đất Cam-pu-chia, trên biên giới phía bắc, trên biển Đông, bởi họng súng của những kẻ vốn được coi là đồng chí chí cốt, là bạn chí tình..

Và cho đến một ngày tôi cùng các đồng chí đồng đội đồng nghiệp của tôi nghe Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cất lời hô “cởi trói”.

Hóa ra những người chiến sĩ Giải phóng chúng tôi bấy lâu đã bị một thế lực nhân danh sự nghiệp Giải phóng ngấm ngầm trói buộc vào một cỗ máy lấy xương máu chúng tôi và xương máu nhân dân để đúc thành ngai ghế vua quan cách mạng của họ.

Tôi và nhân dân tôi lại tiếp tục đi, trong một không gian thanh bình trả giá bằng bao nhiêu xương máu để rơi vào một vòng nô lệ mới dưới ách bọn người tự xưng là đầy tớ nhân dân để làm vua quan cách mạng.”

Những dòng chữ của nhà Thơ nổi tiếng gốc “Bộ đội Cộng sản miền Bắc”, từng “một cách tự nhiên, tôi lên đường vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, trở thành người chiến sĩ Giải phóng” được gửi đi từ Đà Lạt tháng 04.2012.

Ông nói nghẹn ngào:” Gần 40 năm đã qua kể từ ngày được gọi là “Giải phóng”

Ôi nhân dân, Người ẩn chứa những gì
Mà bao năm mòn gót còng lưng trước công đường của Đảng ?
Các đầy tớ của Người mặt mày quan dạng
Ngồi dửng dưng sau từng núi đơn từ
Ôi nhân dân nhẫn nhục đến bao giờ ?
Xiềng xích nào trong đầu Người trói buộc ?
Nỗi nhẫn nhục nuôi béo bầy bạch tuộc
Trăm vòi đang hút kiệt nước non này .”

Thế rồi, nhìn vào làn sóng tự quật khởi vùng lên của nhân dân muốn “cởi trói” ách thống trị kìm kẹp ở mọi nơi, mọi chốn nhà Thơ hô hào : “Ngày càng đông đảo những người Việt Nam tự giải phóng khỏi nỗi sợ trước ách kìm kẹp của bọn tự xưng là đầy tớ nhân dân để làm vua quan cách mạng (trong đó có bọn lì lợm bám giữ ngai ghế bằng cách cam tâm ngấm ngầm làm tay sai cho thế lực bành trướng).Dựa chắc vào các chủ trương đúng đắn, các điều khoản đúng đắn của Hiến Pháp và pháp luật, tiến hành công khai và hợp pháp, trầm tĩnh và ôn hòa, kiên quyết và kiên trì, sự nghiệp tự giải phóng nhất định phát triển không gì ngăn cản nổi.

Ngày càng đông đảo, những con người Việt Nam kết chặt cùng nhau chống nội xâm chống bành trướng, ngày ngày cùng nhau cất tiếng hát vang:

Giải phóng Việt Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước! “

Nhưng không chỉ có một Bùi Minh Quốc đã thốt lên trong nghẹn ngào như thế mà còn có cả Nhà Thơ Lê Phú Khải cũng đã cất tiếng từ vùng đất hiền hòa Cần Thơ của Cửu Long Giang trong nỗi xót xa với Kỷ niệm 58 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” (03-5-1954/03-05-2012).

Ông viết:

“Khi Phan Đình Giót lấy ngực mình bịt lỗ châu mai
Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng
Tô Vĩnh Diện chèn lưng cứu pháo
Các anh có hay đâu 58 năm sau
Bọn xâm lược lại đội mồ đứng dậy
Cướp ruộng vườn ở Tiên Lãng, Văn Giang
Xin các anh cứ yên nghỉ suối vàng
Thời a còng không cần súng đạn
Chúng tôi tung lên mạng
Chúng tôi thét lên mạng
Chúng tôi gào lên mạng:
Lũ quỷ Sa tăng đang nhe vuốt giơ nanh
Cắn xé quê hương bằng dùi cui lựu đạn
Cho cả loài người thấy rõ Việt Nam:
“Dân chủ” gấp vạn lần tư bản
Khi tất cả đã nhìn ra sự thật
Sẽ có một Điên Biên trong thời đại a còng
(Cần Thơ ,01-5-2012)

Câu hỏi cho mọi người Việt Nam, từ Bắc vào Nam từng nuôi ăn bộ đội “mang danh giải phóng”, nhất là những đảng viên CSVN, tại sao Bùi Minh Quốc đã gọi những kẻ có chức, có quyền gian manh là “bọn tự xưng là đầy tớ nhân dân” ?

Và nông nỗi nào mà Lê Phú Khải đã gọi những kẻ ra lệnh và chỉ huy quân đội, công an nổ súng tấn công để cưỡng chế phi pháp ruộng vườn của gia đình Đòan Văn Vươn ở Huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng ngày 05/01/2012 hay bắn đạn hơi cay, tung pháo cối thẳng vào dân và đánh dân tàn nhẫn bằng dùi cui để chiếm đất ở Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên ngày 24-4 là “bọn xâm lược”, hay “lũ qủy Sa Tăng” ?

Phải có cái gì qúa quắt lắm vượt qúa sức chịu đựng của con người khi nhà nước chà đạp lên luật pháp; biến dân thành kẻ thù; phản bội tuyên truyền “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” nên 2 Nhà Thơ mới thốt lên những điều ai óan như thế.

UẨN KHÚC VĂN GIANG

Tỷ dụ như trong vụ cưỡng chế đất ở Văn Giang, nhà nước đã phạm luật khi bỏ dân để bênh vực quyền lợi của nhà đầu tư, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (chủ dự án Ecopark), để cưỡng chế chiếm đất của dân, trong khi Luật đã quy định nhà đầu tư phải thương lượng với chủ đất.

Theo tin điều tra của Báo mạng “Dân Làm Báo” thì Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (VIHAJICO, Viet Hung Urban Development and Investment J.S.C.),thành lập ngày 19 tháng 8 năm 2003 nhưng chỉ hơn 2 tháng sau, vào ngày 31 tháng 10 năm 2003, Nguyễn Tấn Dũng đã ký văn bản số1495/CP-NN giao dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị Thương mại - Dịch vụ Văn Giang trị giá 8 tỷ 2 dollars cho Vihajico.

Tại sao Dũng lại quyết định nhanh tốc hành như thế, dù Vihajico trên giấy tờ khai báo do Đào Ngọc Thanh đứng tên “Chủ doanh nghiệp”, chưa có qúa trình hoạt động nào ?

Phải chăng vì Vihajico có liên hệ với Nguyễn Thanh Phượng, con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nên sự nhập nhằng giữa 2 Công ty cùng có tên là “Việt Hưng” là đầu mối của việc Nhà nước huy động Công an đến chiếm đất Văn Giang ?

Đến nay, theo tài liệu của “Dân Làm Báo” thì Phượng là Chủ tịch Hội đồng quản trị của VietCapital Bank. Phượng cũng là người sáng lập và là Chủ tịch Hội dộng Quản trị của Công ty “Cổ Phần Phát Triển Bất Động Sản Việt Hưng “,họat động từ 30/11/2007, là đối tác chiến lược của VietCapital Bank, nhưng trên giấy tờ làm khác việc của Vihajico,.

Vẫn theo tài liệu của “Dân Làm Báo” thì hoạt động của Công ty Việt Hưng của Phượng đã được giấu kín có nhiều khả nghi.

Vì vậy Dân Làm Báo mới đặt vấn đề : “Tại sao công ty Cổ Phần Phát Triển Bất Động Sản Việt Hưng không có những thông tin về hoạt động? Tại sao vai trò chủ tịch HĐQT của Nguyễn Thanh Phượng trong công ty này không được chính thức công bố? Những người thành lập Vihajico là ai? Tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng giao dự án 8,2 tỷ đôla cho một công ty mới thành lập hơn 2 tháng với 7 "pháp nhân" lẫn 2 "thể nhân" đến nay vẫn được dấu kín? Có sự "liên hệ không chính thức" nào giữa 2 công ty với tên gọi gần giống nhau: Cổ Phần Phát Triển Bất Động Sản Việt Hưng và Cổ phần đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng - một công ty do con gái thủ tướng làm chủ và một công ty được thủ tướng giao cho dự án 8,2 tỷ đôla?”

Hay là mọi người hãy bắc thang lên hỏi Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội xem có nên điều tra cho rõ trắng đen không ?

Ở một nước dân chủ có pháp luật phân minh thì trường hợp hai công ty cùng có tên “Việt Hưng” không bao giờ xẩy ra vì vi phạm quyền thương hiệu.

Nhưng trong khi chờ xem cái “nhà nước pháp quyền” của Nguyễn Tấn Dũng sẽ trả lời công luận về ai là kẻ thật sự có quyền ở Ecopark Văn Giang thì hãy nghe thêm những lời nguyền rủa vào mặt chế độ của Nhà văn Võ Thị Hảo từ Hà Nội.

Bà viết : “Bom nổ Tiên Lãng, Hải Phòng chưa dứt, thì gạch đá, khói lửa, máu đổ ở Văn Giang, Hưng Yên đã dâng lên.

Thực vậy, những tưởng sau kết luận của ông Thủ tướng Chính phủ về xử lý sai trái của chính quyền trong vụ Tiên Lãng, sau việc ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản hô hào rộng khắp phong trào chỉnh đốn Đảng, các cấp chính quyền, mà lãnh đạo tuyệt đối là Đảng viên, phải chú ý sửa mình, thì đêm 23 rạng ngày 24/4/2012, lại xảy ra một vụ đàn áp, cưỡng chế dân khốc liệt, khiến người dân vô cùng phẫn nộ.

Sự cưỡng chế lần này có quy mô lớn gấp cả chục lần về số lượng và càng có phần không kém phần thù địch chống dân của chính quyền, với những người chủ trương ra tay lấy đất của dân đã có tuyên bố trước, đầy dõng dạc.

Sự “thù địch” này đã tạo nên tiếng kêu khóc xé ruột, thấu trời của hàng trăm hộ nông dân tại ba xã Xuân Quan, Phụng Công và Cửu Cao – huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.

Tiếng kêu xé ruột của họ cũng bị khỏa lấp trong tiếng súng nổ, lựu đạn cay, tiếng gầm rú của máy xúc, máy ủi cùng tiếng đấm đá, đánh hội đồng của số đông những kẻ cưỡng bức họ và những phần tử a-dua, dấy máu ăn phần, những bàn tay sắt nối dài của chính quyền và những nhóm lợi ích.

Bóng những người nông dân khắc khổ, tay không vũ khí, không quyền lực, đói rách mong manh bị chìm ngập trong lực lượng vũ trang được công luận mô tả là lên tới cả ngàn người từ phía chính quyền và nhà đầu tư dự án Ecopark.

Nếu thế, thì lập trường “coi dân như kẻ thù” của nhiều lãnh đạo và viên chức chính quyền huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên, đã thể hiện ở tầm cỡ còn lớn hơn, quyết liệt hơn cả Hải Phòng ư? “

Một số hình ảnh và Video ghi lại được gửi đi khắp thế giới trong khỏanh khắc ngày công an đàn áp dân Văn Giang 24/04 (2012) cho thấy Công an đã bắn đạn cay, tung pháo cối khói ngập trời rồi đánh đập dã man, đạp vào bụng nhiều thanh niên, khống chế, truy kích dân như trộm cắp đến đường cùng, nhưng “những miệng lưỡi rắn” của chính quyền Hưng Yên lại chối biến không có đàn áp.

Bản tin ngày 24/04 (2012) của Tỉnh Hưng Yên viết : “Các lực lượng thực hiện hỗ trợ thi công và cưỡng chế của huyện Văn Giang, sự hỗ trợ của Bộ Công an và Công an tỉnh, đã thực hiện tốt phương án đề ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, tài sản của nhân dân và các lực lượng tham gia hỗ trợ thi công, cưỡng chế….Trong quá trình tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế giải phóng mặt bằng bàn giao đất tại xã Xuân Quan đã thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, bảo đảm tuyệt đối an toàn về người và phương tiện; được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Văn Giang nói chung, xã Xuân Quan nói riêng đồng tình ủng hộ.”

Ai ủng hộ ?

Mọi người chỉ thấy trong mấy tiếng đồng hồ nhiều tiếng súng đã nổ, đạn khói cay bắn về phía dân bao phủ một vùng trời như thời chiến tranh chen với những tiếng chửi rủa “quân ăn cướp” vô vọng của những phụ nữ tay không.

Thế mà tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày 02/05 (2012), Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào đã báo cáo xuyên tạc diễn tiến vụ Văn Giang với Nguyễn Tấn Dũng : “Những người lợi dụng dân chủ, móc nối với những phần tử tiêu cực, bất mãn, phản động trong nước và nước ngoài, cố tình chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, kìm hãm sự phát triển, thì nhất định phải có biện pháp xử lý kiên quyết.

Trong vụ việc ở Văn Giang, có sự móc nối chặt chẽ với những phần tử chống đối ở nước ngoài. Các thông tin thậm chí còn được tường thuật tại chỗ, từng giờ, để tuyên truyền xuyên tạc, dàn dựng những video clip giả để vu khống, bôi nhọ chính quyền.”

Nếu có bằng chứng “nước ngòai” thì dại gì mà Hào không trưng ra, nhưng chuyện “Video clip gỉa” tòan cảnh Công an mặc thường phục, phường du côn đeo bang đỏ cầm dùi cui đi lùng đánh dân giữa ban ngày, trước mắt người dân thì chỉ có miệng lưỡi rắn Hổ Mang mới ăn nói mất trí như thế.

Cụ Bà Lê Hiền Đức, một nhân sỹ chống gian tham nổi tiếng ở Hà Nội đã đến Văn Giang chứng kiến cảnh đàn áp của Công an hôm 24/04 (2012).

Bà đã nói với các Đài Phát thanh nước ngòai : “ Chỉ có súc vật mới không đau lòng thôi.”

Nhà văn Võ Thị Hảo cũng phản ảnh : “Thực tế chứng minh rằng chẳng phải do “thế lực thù địch diễn biến hòa bình”, lực lượng gây suy thoái, hãm hại nhân dân, đẩy sự tồn tại của Đảng đứng bên bờ vực thẳm, chính bởi nhiều “đồng chí đang là “ong tay áo” mặc sức bòn rút xương tủy của đất nước và nô lệ hóa người dân bằng việc bắt họ phải tuân theo tư tưởng lạc hậu cả mấy trăm năm và đã bị hầu hết loài người ghê sợ xa lánh.

Những kẻ đó không thể chỉ bị phê bình hoặc tự phê bình, “xử lý nội bộ”, kỷ luật xuê xoa, thuyên chuyển công tác, hoặc về hưu, xin “nghỉ mất sức” theo kiểu “hạ cánh an toàn”, thậm chí nhiều trường hợp còn lên chức cao hơn.

Một thông điệp ngầm mà cách quản lý xã hội hiện nay đang gửi tương lai là : hãy tiếp tục trộm cướp, và đã trộm cướp thì hãy làm những vụ thật lớn. Nếu trước đây trộm cướp năm trăm triệu, thì nay, hãy làm những vụ hàng chục, hàng trăm ngàn tỉ cho bõ công….”

“…Và nhà tù VN phải được dành chỗ để tống giam vô số “đại trộm cướp” tích tụ thành một “giai cấp” từ mấy chục năm đến nay. Trong đó, có kẻ đang tại vị và tiếp tục gây hại lớn, có kẻ đã “hạ cánh an toàn”. Đám trộm cướp kếch xù đó – dù có mỹ từ hóa hành vi của chúng là “tham nhũng”, là “sâu mọt”, là “cố ý làm trái”, hay “chưa ý thức đầy đủ”, “chưa triển khai đồng bộ”, “chưa đi sâu đi sát quần chúng”… gây hậu quả…hay gì đó nữa, dù là “trách nhiệm gián tiếp” hay “trách nhiệm trực tiếp”, thì vẫn phải trả về đích danh hành vi của chúng đã được định nghĩa rõ trong từ điển tiếng Việt tự ngàn xưa: phường đại trộm cướp.

Cần phải chỉ đích danh đám đại trộm cướp này là kẻ thù của nhân dân, đang phản lại công bằng và tiến bộ xã hội. Người dân căm phẫn và khinh miệt lũ chúng. Đám này đánh cắp cả quá khứ, hiện tại và tương lai của đất nước.”

Nhưng không chỉ có giới Văn-Nghệ sỹ mới động lòng đau xót cho hòan cảnh của gia đình Đòan Văn Vươn ở Tiên Lãng và đồng bào huyện Văn Giang.

NHỮNG UẤT ỨC KHÁC

Ông Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ CSVN, nguyên Trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã viết : “ Xem và nghe các tin tức về vụ cưỡng chế thực hiện thu hồi đất cho dự án Ecopark ở Văn Giang, tôi không thể nén được trong lòng sự căm giận và nỗi hãi hùng. Căm giận vì không thể chấp nhận nhà nước của dân, do dân, vì dân lại hành xử với dân như vậy, hãi hùng vì thấy rằng hệ thống chính trị nước ta đã có được trong tay lực lượng vũ trang sẵn sàng thực hiện lệnh trấn áp như vậy đối với dân.”

Nguyên Đại biểu Quốc hội Giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Minh Thuyết đã nói lên cảm tưởng của mình bằng Thơ ngày 27-04 (2012):

“Cưỡng chế xong rồi
Không chiến sĩ nào xây xát nhẹ.
Các cậu cứ đùa
Trang bị ngon lành thế
Không xong mới là điều khó khăn.
Người thắng trận này không phải nhân dân.
Dân là vậy
Chỉ thắng trong trận cuối.
Nhưng chính quyền nhân dân thất bại
Khi tấn công những người mình nhân danh.”

Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, Nhà địa vật lý phát biểu ngày 02-05 (2012) : “ Ngày còn là sinh viên tôi đã từng lội đồng vác đất góp sức khơi mở cống Xuân Quan. Trệu trạo mấy nắm mỳ luộc nhân dĩn (mọt gạo), bập bõm chút nhạc lý tự học; nhưng vì mơ ngày nước tràn đồng tưới xanh ruộng mật bờ xôi, với cảm xúc tràn trề tôi đã viết ca khúc “Dào dạt Xuân Quan”. (Ca khúc này hình như chỉ được vài chục người hát trong vài tuần).

Lâu lắm rồi không thăm lại Xuân Quan nhưng trong tâm tưởng tôi ở đấy (nhờ có nước của Đảng đưa về tưới tắm) vẫn xanh mượt vườn cây trái, vàng ươm lúa chín thơm, và mấy năm gần đây còn xen thêm những luống hoa, vườn cảnh muôn mầu …

Thế mà, mấy ngày vừa rồi bỗng gặp lại Xuân Quan qua các video clip trên màn hình computer với rừng rực lửa đuốc, ầm ào tiếng súng, tiếng mìn, tiếng người kêu khóc!

Thảm họa rồi!

Không thể không lên tiếng cùng Xuân Quan, cùng bà con nông dân Văn Giang.

“Lấy thịt đè người” cưỡng chế nông dân Văn Giang, chính quyền đã phạm bốn lỗi/tội ác không thể không chê trách, không thể không oán giận.”

Và cuối cùng, một nhóm 8 Nhà Trí thức gồm các ông Giáo sư Nguyễn Huệ Chi; Nhà giáo Phạm Tòan; Giáo sự-Tiến sỹ Nguyễn Thế Hùng, Đại học Đà Năng; Nhà văn Hòang Hưng; Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hòang Dũng, Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh; Tiến sỹ Phạm Hòang Oanh, Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh; Tiến sỹ Nguyễn Đình Nguyên và Đạo diễn Điện ảnh Song Chi, ở Na Uy đã cùng nhau phát biểu chung đòi Nhà nước phải : “

-Công khai xin lỗi, bồi thường cho những người dân bị đánh đập, ngược đãi trong vụ cưỡng chế.

-Làm lễ tạ tội những hương hồn đã bị đào mồ, phơi xương trắng; xin tạ lỗi với những hậu duệ của người chết, xin khôi phục mồ mả của cha ông họ.

-Đền bù thiệt hại của những hộ nông dân bị giải tỏa đất trong vụ cưỡng chế bằng các hình thức được họ chấp nhận.

Họ cũng nói cho đảng CSVN biết rằng : “Vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bằng vũ lực diễn ra sáng 24/4/2012 ở địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả những người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong tất cả những người Việt Nam có suy tư về vận mệnh đất nước.

Cho đến hôm nay, đã có thể nhận rõ những sự thật đau lòng về bản thân vụ Văn Giang cũng như những sự thật nguy hiểm đối với đất nước đã được phơi bày từ vụ này.

Để chứng tỏ quyền lực của chính quyền trong việc “hỗ trợ” một dự án kinh doanh tư nhân được nhà nước bảo trợ thông qua những điều luật và điều khoản dưới luật đã và đang ngày càng bị công luận đồng thanh phản bác vì bản chất vi hiến, đi ngược lại quyền lợi của đại đa số nông dân, thành phần chủ yếu của nhân dân Việt Nam, thành phần từng là chủ lực quân của cuộc cách mạng và chiến tranh do Đảng Lao Động, Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động và lãnh đạo trong nửa thế kỷ qua, chính quyền đã huy động hàng ngàn công an, cảnh sát vũ trang hùng hậu đàn áp cuộc chống đối giải tỏa của hàng trăm nông dân quyết bảo vệ mảnh đất thấm mồ hôi, nước mắt và máu, còn lưu giữ xương cốt của cha ông từ nhiều đời.

Những hình ảnh lan truyền khắp thế giới đã khiến tất cả những ai có lương tri của Con Người phải phẫn nộ. Những kẻ vũ trang tận răng xông vào đánh đập vài người nông dân yếu ớt. Những tiếng khóc la của đàn bà, con trẻ làm đau nhói tim người. Những mảnh xương cốt cha ông bị máy ủi xới bật lên trên cánh đồng xanh tốt phút chốc tan hoang để lại một ấn tượng chua xót và tủi nhục. Đó là những tội ác Trời không dung, Đất không tha.

Những hình ảnh phơi bày trước con mắt nhân dân trong nước và thế giới sự đối đầu không khoan nhượng giữa bộ máy đàn áp của chính quyền với một bộ phận nông dân, sự bạo hành chỉ có thể áp dụng đối với kẻ thù của nhân dân. Nguy hiểm hơn nữa cho đất nước, qua vụ Văn Giang có thể thấy một đội ngũ mang danh công bộc của dân nhưng lại chống đối nhân dân với tâm lý không biết sợ, không biết thẹn, không biết đau biết tủi.”

Như vậy bây giờ, sau 37 năm thống trị trên cả nước từ ngày được gọi là “giải phóng thành công”, hay chua ngoa rêu rao “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, những người Cộng sản, nếu còn chút danh dự, hãy tự xét xem họ có công hay có tội với đất nước ?

Họ hãy lắng nghe tâm tư của Luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Tp Hồ Chí Minh viết về ngày 30-04-2012: “ Vậy thì nhìn lại 37 năm qua, mục tiêu ban đầu của cách mạng đã được thực hiện như thế nào?

Về mục tiêu độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ:

Sau 30.4.1975, nhiều người vẫn nghĩ rằng chẳng còn kẻ thù nào gây hấn, phá hoại nền độc lập, tự chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng đâu có ai ngờ kẻ thù đó lại là “ông bạn vàng, môi hở răng lạnh” từ phương Bắc xua quân đánh qua các tỉnh biên giới phía Bắc. Xúi bọn tay sai Pôn Pốt đánh qua biên giới phía Nam và trước đó vào năm 1974, đã đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, vào năm 1988, đánh chiếm đảo Gạc Ma và một số đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam… gây biết bao đau thương, tang tóc cho đồng bào, chiến sĩ chúng ta. Bên cạnh đó, việc mở đường cho bọn bành trướng Bắc Kinh vào thuê đất rừng ở các tỉnh biên giới, vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên, đưa công nhân vào tận đất mũi Cà Mau và nhiều vùng kinh tế trọng điểm khác.

Ngoài ra, sự nhu nhược, khuất tất trong việc xử lý, đối phó với những hành động phá hoại, ngăn trở việc khai thác dầu khí trong vùng lãnh hải của Việt Nam, việc giết chóc, bắt bớ, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc như kẻ cướp biển đối với ngư dân chúng ta đang đánh bắt ở các ngư trường truyền thống biết bao đời nay… đã làm nhân dân cả nước bất bình, phẫn nộ nên đã nổ ra các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội, TP. HCM và đã bị đàn áp dã man, vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do của công dân đã được ghi trong Hiến pháp.”

“Về mục tiêu dân chủ, tự do, công bằng và tiến bộ xã hội”, theo ông Lê Hiếu Đằng, một cựu sinh viên chống Mỹ và chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong thời chiến, thì : “Có thể nói đây là một nội dung cốt lõi nhất qui định bản chất của một chế độ xã hội, tiến bộ hay lạc hậu.

Thực tiễn cho chúng ta thấy là trong 37 năm qua, từ 30.4.1975 đến nay, các quyền tự do, dân chủ được qui định trong Hiến pháp 1946 đã bị tước đoạt toàn bộ. Nhà nước dân chủ cộng hòa đã bị thay thế bằng một nhà nước toàn trị, độc đoán. Tinh thần tiến bộ của “Tuyên ngôn độc lập” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên đọc tại Ba Đình lịch sử với cam kết đem lại “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” cho đất nước và cho nhân dân đã gần như bị lãng quên, nếu không nói là đã bị phản bội. Thành quả cách mạng đã bị đánh tráo. Các quyền cơ bản của người dân như tự do báo chí, tự do biểu tình, đình công, tự do lập hội… đều bị ngăn cấm hoặc xâm phạm thô bạo như đàn áp các cuộc biểu tình ở TP. HCM, ở Hà Nội, bức tử viện nghiên cứu độc lập đầu tiên của trí thức (IDS), bắt bớ, giam cầm các nhà đấu tranh cho dân chủ, các blogger, các nhà báo tự do và gần đây nhất là tại TP. HCM, bằng chỉ thị miệng, lén lút và hèn hạ, đã cấm chiếu phim “Hoàng Sa - Nỗi đau mất mát” của André Menras, giải tán hoạt động của các tụ điểm văn hóa lành mạnh như Ami ở Văn Thánh, café Thứ Bảy, bãi bỏ một số buổi giao lưu giữa bạn đọc với một số học giả, trí thức, nhà văn mà chính quyền cho là có “vấn đề” tại Hội sách TP. HCM mới đây, không cho tiếp tục chuyên mục “Câu chuyện triết học” hằng tuần vào số báo thứ tư của Sài Gòn Tiếp Thị.”

Ông Lê Hiếu Dằng kết luận : “ Nghiêm trọng nhất là trong lĩnh vực đất đai, nhà nước đã dung túng cho các chính quyền địa phương giải tỏa, đền bù đất đai của dân với giá rẻ mạt, hay nói thẳng ra là làm tay sai cho các chủ đầu tư, bọn làm giàu bất chính cướp đất của dân. Việc huy động quân đội, công an cảnh sát đàn áp gia đình Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng, huy động hàng ngàn công an dùng dùi cui, khiên giáp, lựu đạn cay “hỗ trợ” nhà đầu tư giải tỏa đất của nông dân ở huyện Văn Giang, Hưng Yên. Tiếng la khóc của người dân, tiếng nổ của lựu đạn cay, khói lửa bay mịt mù làm tôi nhớ lại bài hát Hát trong làn khói đạn của Trương Quốc Khánh trong phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn ngày nào:

“Trái đạn nào là trái đạn không cay
Sinh viên nào không đấu tranh ngày ngày
Dùi cui nào mà đánh mình không đau
Học sinh nào mà không mến thương đồng bào…”

Viết đến đây, tôi cảm khái ngước mặt lên trời mà than rằng: “Lịch sử ơi, sao ngươi chơi trò trớ trêu và cay đắng quá vậy. Ta đi chống chế độ cũ đàn áp nhân dân, nay ta lại gặp cảnh cũ như là trong cơn ác mộng!”

Đúng đó là “cơn ác mộng” mà hai Nhà Thơ Bùi Minh Quốc và Lê Phú Khải đã hét lên trong những vần Thơ sau 37 năm đất nước và dân tộc bị rơi vào tay người Cộng sản, những người tự nhận là “đầy tớ của nhân dân” !

Phạm Trần

(05/012)


 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link