Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 13, 2012

Ngụy…<---------------------------------

Ngụy…

© Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng “ngụy” nghĩa là “giả” ít thấy có ai dùng tới.
Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ “chánh cống”, không phải thứ “có cầu chứng tại tòa”… là người ta gọi hoạch tẹt là “đồ giả”, chớ không ai gọi là “đồ ngụy” hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v. Bởi vì từ ngữ hồi đó rất… thật!

Sau tháng Tư 1975, tiếng “ngụy” đã theo gót… dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất… tả chân. Không thể viết “theo gót giầy” như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng…

Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi “học tập” ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng “ngụy”. Và nghe… đầy lỗ tai! Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng “ngụy” được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách “ngang xương”, không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích… ngang như cua thôi!

Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng “ngụy” một cách rất… tự do, và sử dụng tiếng “ngụy” rất… rộng rãi (Được “giải phóng”, có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành “ngụy” ráo. Để phân biệt với “cách mạng”! Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, “hàm-bà-lằng” ngụy… Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: “Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!”.

Thật ra, khi dán cái nhãn “ngụy” lên miền Nam, “Đảng và Nhà Nước” muốn nhân dân “chủ yếu là nhân dân miền Bắc” hiểu theo định nghĩa “ngụy” là giả, “giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả
yêu nước thương dân, “ngụy” là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn…

Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều… mở mắt, tiếng “ngụy” ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy! Viết dài dòng để… “đả thông tư tưởng” trước khi vào chuyện.

Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu. Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.

Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: “Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!”. Rồi bà kết luận: “Tánh tình nó tốt lắm!”.

Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ “người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em”.

Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của “ngoài đó”. Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: “Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà…”.

Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh “hết giặc” ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng…

Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con “ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai” đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động…

Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.

Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!

Hôm sau, ông H được người anh khuyên:

- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!

Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: “Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân”.

Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá… cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhựt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ… xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!

Ông anh “tên R” làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó… ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô… Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt… cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: “Cô thật là sớm giác ngộ!”.

Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: “Đem theo tiền ăn cho một tháng”. Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:

- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:

- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!

Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm… dài dài… Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:

- Họ chở nhà tôi đi mất rồi…
- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ… để tôi xem có làm gì được không.

Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:

- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
- Vậy, mình phải làm sao?
- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý… xung phong.

Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn…Nhà Nước đi một nước cờ thật cao! Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày!

Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!

Một hôm, ông anh bảo người em dâu:

- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.

- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải “có lý do chánh đáng” và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở! Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình
cho chánh quyền nơi đang ở để… xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận – ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!

Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất “có trình độ”: “Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh… đi đâu?”.

Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến “đằng kia” trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất “có trình độ” không kém:

“Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!”.

Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn. Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là “trần ai gian khổ”!.

Ông tướng có “động viên” một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành “tổ gạo”, còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!

Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv… và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?

Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: “Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng… mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!”.

Giọng người con trai: “Bộ má tưởng con đi chơi hả?”.
Giọng bà hàng xóm: “Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!”. Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng:

“Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!”.

Giọng bà hàng xóm, tức tối: “Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!”.

Ngừng một lúc, lại nói: “Cha… Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?”

Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!

Rồi ông đứng lên:
- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt!
Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: “Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!”. Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: “Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn”.

Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ…

Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén… ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng
hồi trước).

Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được… xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi “phục vụ nhân dân” cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo – bà chỉ bán có buổi sáng – bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).

Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
- Ối… Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ “báo công báo tội”. Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?

Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!

Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:

- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau…
- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?

Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:

- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…

Bà H xúc động, lí-nhí “cám ơn” mà nước mắt chảy quanh. Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng “mình với nhau” mà sao nghe ấm cúng vô cùng.

Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. “Mình với nhau” là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. “Mình với nhau” nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. “Mình với nhau” là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ…
Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:

- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.

Bà H “cám ơn”mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc! Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:

- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!

Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!

Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:

- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?

Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:

- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!

Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:

- Ảnh… ốm… đến nỗi… tôi… nhìn… ảnh… không ra…

Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.

Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay – theo lời kể lại của ông H – thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.

Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.

Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:

- Ai đấy?
- Dạ… tôi.

Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:
- Chị muốn gì?
- Thưa… Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ…
- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế… chị là gì của đồng chí ấy?

Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:

- Dạ… Tôi… À… Không!

Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:

- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!

Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!

Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn!

Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi. Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình… mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn… Bà muốn…

Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.

Mấy năm sau, ông H vẫn “còn được cải tạo”, bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!…

© Tiểu Tử

Hoa Thịnh Đốn: Lễ kỷ niệm Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam 2012

 

 

http://www.youtube.com/watch?v=MfwterYlV7o&list=UU7s7ld6U1sl0E5B8lCW7nbA&index=1&feature=plcp

 

Hoa Thịnh Đốn: Lễ kỷ niệm  Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam 2012

 Tuyết Mai

 

Thi hành Nghị Quyết chung SJ-168 của Quốc Hội Hoa Kỳ và Công Luật số 103-258 do Tổng Thống Bill Clinton ban hành ngày 25-5-1994, chỉ định ngày 11 tháng 5 là “Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam”, Cộng Đồng Việt Nam vùng Washington, D.C., MD và VA phối hợp với Tổ Chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản và  cùng với sự hỗ trợ của các cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể hải ngoại, đã tổ chức Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ Mười Tám Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam, từ 10:30 sáng đến 2 giờ chiều ngày 10 Tháng 5, 2012 tại  Phòng 216 Hart Senate Office Building Washington, D.C.

 

Mục đích của lễ kỷ niệm này là để  đòi nhà cầm quyền Hà Nội phải trả lại cho người dân Việt Nam những nhân quyền căn  bản, đặc biệt là quyền tự do thông tin và tự do phát biểu ý kiến.

 

* Bày tỏ sự đồng tâm nhất trí sát cánh cùng đồng bào trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền.

 

* Tố cáo trước công luận quốc tế việc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dâng đất hiến biển cho ngoại bang.

 

* Vận động đòi trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến và các lãnh tụ tôn giáo đang bị Cộng Sản Việt Nam giam giữ.

 

* Vận động với Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch Ốc làm áp lực đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng Sản phải chấm dứt đàn áp các phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quốc nội.

 

Có khoảng ba trăm người tham dự ở Quốc Hội HK. Đây là lần đầu tiên Cộng Đồng VNHTĐ, MD&VA đứng ra nhận lãnh việc tổ chức, với sự hỗ trợ tích cực của Ủy Ban  Quốc Tề Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản và đặc biệt có thành phần trẻ tham dự.  Mở đầu Ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch CĐHTĐ, MD&VA có lời chào  mừng quan khách, sau đó ông kêu gọi sự  đoàn kết để cùng nhau đấu tranh cho Nhân Quyền để mang lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền,  không những chỉ cho Việt Nam mà cho cả những nước đang bị trị bởi CS và những chế độ độc tài. Thượng Nghị Sĩ John Cornyn ( Texas ) là diễn giả chính. Ngoài ra còn có nhiều vị Dân biểu như Frank Wolf, Dân Biểu Ed Royce, Dân biểu Loretta Sanchez, Zoe Lofgren… và một số đại diện các cơ quan truyền thông của Mỹ Việt và đại diện các sắc dân bạn, trong đó có Lào, Tây Tạng, Miến Điện, Mông C

 

Các vị Thượng Nghị Sĩ và Dân biểu HK cho biết, họ đã đệ trình một dự luật về Dân quyền cho Việt Nam, và một vị cho biết đã đưa ra dự luật  chế tài các viên chức Cộng Sản Việt Nam, nếu họ không tôn trọng Nhân Quyền.

 

Đặc biệt năm nay ngoài các vị dân cử Hoa Kỳ phát biểu, còn có phần trình diễn của Trúc Hồ và các ca sĩ của Trung Tâm Asia như Mai Thanh Sơn, Lâm Nhật Tiến và Đan Nguyên, trình bày hai bản của Việt Khang là “Việt Nam Tôi Đâu”, “Anh Là Ai?”  và  một vài bản nhạc của Nhạc sĩ Trúc Hồ mới  sáng tác.  Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân cảm ơn,  nhờ có sự hỗ trợ của Hệ Thống Truyền hình SBTN  lễ kỷ niệm  Ngày Nhân Quyền  Cho Việt Nam năm nay được sôi nổi hơn, thành công hơn. Đây là một sự đóng góp vô cùng quý giá của NS Trúc Hồ và SBTN.

 

Trong buổi tiếp tân buổi chiều tại Nhà hàng China Garden ở Arlington , VA  cũng có hơn bốn trăm ngừơi tham dự, mặc dầu buổi  tiệc đựoc tổ chức vào giữa tuần. Bác sĩ Trương Ngọc Tích, Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng VN Hoa Kỳ được mời lên phát biểu. Ông cho biết từ mười bảy năm qua, mỗi năm Ông đều có về Hoa Thịnh Đốn dự Lễ Kỷ Niệm Ngày Nhân Quyền  Cho Việt Nam . Ông về để hỗ trợ  nhân dân VN trong cũng như ngoài nước và Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, và tranh đấu cho đất nước Việt Nam sớm có được Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền.

 

Tiến sĩ Đỗ Văn Hội đại diện cho Ủy Ban Ngăn Chặn CSVN gia nhập vào Ủy Ban Nhân Quyn Liên Hiệp Quốc trình bày và kêu gọi các đoàn thể tham gia vào tổ chức này. Tiến sĩ Hội cho biết,  CSVN đang ráo riết vận động để được vào Ủy ban Nhân Quyền của LHQ nhiệm kỳ  2013-2016. Ủy Ban Nhân Quyền của LHQ đã được thành lập từ năm 2006,  bao gồm 47 thành viên, nhiệm kỳ ba năm. Ủy Ban này có nhiệm vụ thăng tiến và bảo vệ Nhân Quyền trên thế giới, lên tiếng về những vi phạm nhân quyền tại các quốc gia và đưa ra khuyến cáo.


Để khuấy động không khí Ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh được mời lên sân khấu  hát một nhạc phẩm đấu tranh. Kế đó Nguyễn văn Tánh mời gọi đ
ng hương tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế ở New York .

 

Nhạc sĩ Nam Lộc trình bày nhạc phẩm do ông sáng tác “Vĩnh Biệt Saigon”.  Nhạc sĩ Trúc Hồ phát biểu vài lời, ông cho biết ông định cư Hoa Kỳ khá lâu nhưng đây là lần đầu tiên ông có cơ hội được vào Quốc Hội Hoa Kỳ, và đựơc  nghe những dân biểu và nghị sĩ HK  có tấm lòng  đối với người Việt Nam,  nói  những gì mà người Việt Nam chúng ta mong muốn . Hy vọng trong tinh thần đó, tất cả ngừơi Việt Nam chúng ta sẽ kiên trì,  cùng nhau đoàn kết trong mùa tranh  cử này để  có thể nói lên tiếng nói của người Mỹ gốc Việt, tranh đấu cho ngừơi Việt Nam ở quê nhà  sớm có những quyền căn bản của con người. Luật sư Đỗ Phủ giới thiệu về một  tổ chức chinh trị tranh đấu nhân quyền cho Việt Nam , ra đời hồi Tháng Tư, 2012.

 

Trong dịp này,  Nhạc sĩ Nam Lộc giới thiệu về Nhạc sĩ Trúc Hồ, là một ngừơi có tài, đa dạng và đặc biệt rất yêu nước, yêu quê hương, yêu đồng bào và cảm thông với người Việt Nam... Khi Nhạc sĩ Trúc Hồ nghe hai bản  bản nhạc “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu”  của Việt Khang,  NSTrúc Hồ  cảm thây hai bản nhạc đã làm sống lại niềm mơ ước của ông,  ước mơ  có những sáng tác có ý nghĩa để lại cho đời. Theo Nhạc sĩ Trúc Hồ,  trước 1975  có nhiều bản nhạc hay, đáng được  trân quý. Sau 1975  gần như trong nước không có những ca khúc có giá trị, để đời, cho mãi đến khi hai nhạc phẩm “Việt Nam Tôi Đâu” và “Anh là Ai” xuất hiện. NS Trúc Hồ cảm phục nhạc sĩ Việt Khang, một nhạc sĩ trẻ, đã  chấp nhận sự hiểm nguy để nói lên tâm tư của mình và cho những ngừơi đang tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và đặc biệt trước cái họa mất nước.

 

NS Nam Lộc kể lại, NS Trúc Hồ đã lo ngại, chia sẻ,  Việt Khang trong  lúc bị cầm tù, bị chích thuốc, bị đánh đập, có thể sẽ không còn là Việt Khang của chúng ta nữa. NS Nam Lộc đã liên lạc với nhiều người trong chính quyền HK chuyển đến họ những lo âu cho Việt Khang. Sau đó NS Trúc Hồ cảm thấy cần phải làm một cái gì, ngoài chờ đợi sự can thiệp của HK. Đó là lý do Thỉnh Nguyện Thư ra đời.

 

NS Nam Lộc nói thêm NS Trúc Hồ là ngừơi không thích xuất hiện trước đám đông. Ông chỉ thích âm thầm hoạt động. Nhưng lần này  ông ra mặt, có lẽ ông đã nhận thấy đã đến lúc ngừơi nhạc sĩ phải tranh đấu cho một người nhạc sĩ ở quê nhà. Đó là lý do anh dấn thân. Trong tinh thần đó , không phải chỉ có một mình NS Trúc Hồ, mà hơn 150 ngàn ngừơi đã nghĩ như anh và đã ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư. Đó là một biến cố lớn trong lịch sử ngừơi Việt hải ngoại.  Thỉnh Nguyện Thư đã đánh động những viên chức Ngoại Giao HK về số  phận của Nhạc sĩ Việt Khang .

 

Sau đó Nhạc sĩ Trúc Hồ đàn  keyboard,  ba nhạc sĩ Đan Nguyên, Lâm Nhật Tiến,   Mai Thanh Sơn trình bày nhạc phẩm “Anh Là Ai”, và Đan Nguyên đơn ca nhạc phẩm “Việt Nam Tôi Đâu”. Khi tiếng đàn của NS Trúc Hồ bắt đầu trổi lên, mọi người lặng yên, chờ đời, lắng nghe. Tiếng hát vô cùng truyền cảm, xuất thần từ những ca sĩ trên đã xoáy mạnh vào trái tim của mỗi ngừơi Việt hiện diện. Lời ca thật giản dị, mộc mạc, “Anh là ai, sao đánh tôi không một chút nương tay…”, đã  làm rung động  lòng người, đã gợi lên nỗi buồn sâu thẩm của những người dân vô tội,  thấp cổ, bé miệng trước bạo quyền CS, trước họa mất nước về tay Trung Cộng.  Không khí như ngừng động, mọi người cùng sót xa, xúc động hướng về quê hương,  quê hương thân yêu dưới chế độ bạo tàn của CS. Khi bản nhạc vừa chấm dứt tiếng vỗ tay vang dội .

 

Cũng như những năm trước đây, Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam năm nay được sự bảo trợ của Thượng Nghị Sĩ  John Cornyn III (Tiểu Bang Texas) và đồng bảo trợ cuả một số các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Buổi lễ cũng được bảo trợ bởi Tổng Liên Đoàn Lao Công Hoa Kỳ ( AFL-CIO) , Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), Tổ Chức Quan Phòng Nhân quyền ( Human Rights Watch), Trung Tâm Nhân Quyền và Công Lý Xã Hội  Robert F. Kennedy, Hội Y Sĩ Bảo Vệ Nhân Quyền (Physicians for Human Rights), Ủy Ban Nhân Quyền của các Hàn Lâm Viện Quốc Gia Hoa Kỳ (Committee on Human Rights of the National Academies) , Freedom Now,  Liên Minh Cho Nhân Quyền Á Châu (Coalition for Human Rights in Asia) …, phái đoàn các quốc gia bạn như Trung Hoa, Miến Điện, Lào, Mông Cổ, Tây Tạng…  và  các tổ chức cộng đồng, đoàn thể, hội đoàn Việt Nam tại Hoa Kỳ, Canada , Âu Châu và Úc Châu.

Ngày hôm sau, buổi trưa có Cuộc vận động Tự Do Tôn Giáo Việt Nam  tại Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế và Cuộc vận động cho Nhân Quyền Việt Nam tại Bộ Ngoại Giao vào buổi chiều. 

Nhân một câu hỏi (có âm thanh)

Nhân một câu hỏi (có âm thanh)

Hoàng Thế Hiển

May 9, 2012

 

Nghe

 

Tải xuống để lưu giữ 

 

 

Trong Tập San Y Sĩ số 193, phát hành tháng 4/2012  kỷ niệm “Ngày Quốc Hận 37 năm về trước”, Bác Sĩ Vũ Ngọc Tấn , tác giả bài “ Tinh Thần Mã Thượng Trong Nội Chiến Mỹ.  Trông Người Lại Nghĩ Đến Ta”,  sau khi đề cập tới những chính sách trả thù của   CS miền Bắc, là những kẻ thắng trận,  đối với những người bại trận ở miền Nam VN vào năm 1975, đã đưa ra một câu hỏi:  “ Nếu trong chiến tranh VN, thay vì CS là kẻ chiến thắng,  nhưng đảo nghịch lại, ta-những người miền Nam là kẻ chiến thắng, và miền Bắc, sau những đợt oanh kích trải thảm, đã quá kiệt quệ và đầu hàng, thì ta sẽ đối xử với những người CS miền Bắc như thế nào ?

 

B/S Trần văn Tích đã mau mắn có một bài trả lời trên mạng điện tử.  Theo B/S Tích thì: “ có thể khẳng định là nếu Miền Nam chiến thắng trong cuộc chiến ý thức hệ thì chính sách đối xử với tù hàng binh đối phương không thể nào tàn ngược như chính sách của chế độ cộng sản, lại càng không thể tàn ngược hơn. Chỉ có hai chế độ đạt được tiêu chuẩn đối đãi phi nhân đối với các cộng đồng mình không ưa là chế độ quốc xã và chế độ cộng sản. Chế độ cộng sản còn hơn chế độ quốc xã ở tính cách mọi rợ đểu cáng….”

 

B/S Tích cũng đề cập tới lời phát biểu của ông Bùi Tín. Bùi Tín kể rằng : “Tôi đã gặp một số vị trong chế độ Sài Gòn cũ, có một vị là trung tướng nói với tôi rằng : “Nếu chúng tôi chiến thắng, tức miền Nam thắng miền Bắc, không chắc chính sách của chúng tôi đối với các ông đã hơn gì so với chính sách của các ông đối với chúng tôi. Có khi chúng tôi lại có những trại giam tàn bạo hơn.“

 

Như vậy là câu hỏi của B/S Vũ Ngọc Tấn đã có được 2 câu trả lời, ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.

 

Khi CS cưỡng chiếm miền Nam, ông Bùi Tín đang mang quân hàm Đại Tá của chế độ CS. Ông là người đầu tiên theo đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu dinh Độc Lập, và đã khinh mạn trả  lời ông Dương văn Minh và Vũ  văn Mẫu là: “Các ông còn gì đâu mà bàn giao !” Ông Bùi Tín, một cán bộ tuyên truyền của chế độ gần hết cuộc đời,  cũng phải gánh một phần trách nhiệm về cái chính sách phi nhân  của chính quyền mà ông đã góp sức xây dựng. Sự phát biểu của ông Bùi Tín có tính cách xuê xoa rằng: “bên nào chiến thắng cũng hành động như  nhau thôi! không riêng gì chế độ CS”. Luận chứng của ông không có cơ sở, vì đã không nêu ra danh tánh của người phát biểu mà chỉ nói chung chung.   Hơn nữa,  với tư thế một kẻ chiến thắng đi phỏng vấn một người chiến bại, thì hai bên ở 2 vị trí không bình đẳng.  Người chiến bại sẽ vì sợ sêt, mà tìm câu trả lời làm vui lòng người chiến thắng, để mong được yên thân. Trong hoàn cảnh đó, câu trả lời sẽ thiếu giá trị chính xác.  Sự phản tỉnh của ông Bùi Tín cũng bị nhiều người nghi ngờ là không thực sự xuất phát từ lòng bất đồng về đường lối, chính sách của đảng CSVN mà ông đã phục vụ tích cực và đắc lực, nhưng do ông bị thất sủng, không vừa lòng với các quyền lợi và chức vị được chia chác sau ngày chiến thắng. Có người căn cứ theo lối lý luận vòng vo khi tả khi hữu của ông đã cho rằng ông là một con cờ chạy hiệu sửa soạn cho một phe CS biến thái tiếp tục nắm quyền khi có thay đồi.

 

Theo B/S Trần văn Tích thì chế độ Cộng Hoà miền Nam VN có một nền văn hóa nhân bản, chịu ảnh hướng bởi nền văn minh Âu Mỹ.

 

Hai chế độ, tư bản và CS,  hay nói rõ hơn chế độ miền Bắc VN và chế độ miền Nam VN có những đường hướng xây dựng xã hội và giáo dục con người hoàn toàn khác biệt nhau. VC đưa chính trị vào chương trình giáo dục. Trẻ em miền Bắc, từ khi còn nhỏ, đã phải học phấn đấu, học thi đua,  để được quàng khăn đỏ, được làm cháu ngoan bác Hồ.  Các bài toán, bài văn  ở VN đều chứa đầy nội dung thời cuộc, và tạo “ căm thù”, thí dụ “ Làng có 100 ngôi nhà và 200 gia đình, lính nguỵ vào làng đốt hết 50 ngôi nhà và giết 70 gia đình. Hỏi rằng, trong làng còn lại bao nhiêu ngôi nhà, và bao nhiêu gia đình ?” Hoặc là: “Quan điểm “Nhàn” trong thơ Cao Bá Quát còn thích hợp với XHCN hay không ?”.  Các tấm gương sáng, được đưa vào giáo dục để làm mẫu mực cho học sinh  đều là những hình ảnh huyền thoại quên mình  để phục vụ cho mục đích của đảng: Thí dụ như anh hùng Lê văn Tám tẩm săng vào mình, làm cây đuốc sống, chạy vào phá nổ kho đạn của địch;  Cán binh lấy thân mình che lỗ châu mai, để đồng đội tiến lên.  Bộ đội khóa chân vào đại pháo, tự nguyện chiến đấu tới giây phút cuối cùng, (chứ không phải là bị khoá cho hết đường chạy). Thanh nữ tình nguyện gánh đạn ra chiến trường.  Thiếu nhi, lãnh nhiệm vụ giao liên.  Chủ nghĩa CS uốn nắn, kích động người dân hy sinh thân mình cho quyền lợi của đảng, và mồi lửa cho tinh thần chiến đấu là “xây dựng lòng căm thù”.  Quan điểm của CS là  biến con người thành thủ đoạn, tàn ác, bất chấp đạo nghĩa, miễn sao đạt được mục đích, vì chủ nghĩa Mác Lê. Trong lò giáo dục CS, người ta dần trở nên vô cảm, “không khoan nhượng” với tất cả những thành phần bị cho là kẻ thù của đảng, của chủ nghiã. Tất cả những điều này đã được thấy, được ghi lại, trong suốt quá trình đấu tranh giai cấp và thống trị của CSVN.

 

Vì  thế, không ai chối cãi được, là chế độ CS coi rẻ nhân mạng. Họ giết người không gớm tay. Staline đã đặt các trại tù lưu đầy khổ sai goulag để đầy đọa những người chống đối chế độ.  Có đêm đã ra lệnh xử tử tập thể nguyên trại tù, hằng mấy ngàn người. Stalin đã thảm sát 23,000 người Ba Lan ở rừng Katyn rồi đổ thừa cho Đức Quốc Xã. Mao Trạch Đống với “Bước Nhảy Vọt” đã làm mấy chục triệu dân TQ phải chết đói. HCM với “Cải cách ruộng đất” đã giết khoảng 200,000 người dân vô tội và mấy triệu người trong cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa CS vào miền Nam. Tết Mậu Thân, lính CS đã vừa giết vừa chôn sống gần 7,000 người ở Huế.  Khơ Me đỏ tàn sát gần nửa tổng số dân Cam bốt,vân vân.

 

Chế độ giáo dục miền Nam thì ngược lại, nặng về đạo đức, luân lý.  Trẻ  em được dạy dỗ những  bổn phận làm người, cách đối xử với cha mẹ, gia đình, tổ quốc, và xã hội.  Các tài liệu về “Nhị Thập Tứ Hiếu” được giảng dạy từ Tiểu học.  Các gương sáng tiền nhân giữ nước như Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung được đề cao. Xã hội miền Nam không đem chính trị vào học đường,  không có đấu tranh giai cấp, hay kỳ thị lý lịch.  Các B/S miền Nam được học để phục vụ bệnh nhân không phân biệt giai cấp và xu hướng chính trị.  Các quân y viện chữa trị cho các cán binh CS bên cạnh các quân nhân quốc gia.  Các chương trình “Y Tế Về Làng” khám bệnh và phát thuốc cho mọi người cần dịch vụ y tế, không phân biệt quốc gia hay CS vân vân…

 

Như vậy là bản chất hai chế độ hoàn toàn khác biệt.  Con người CS  đầy những hằn học và căm thù vì cuồng tín.  Nền tảng lý luận và hành xử là theo chủ  thuyết “duy vật”.  Ngay cả qua cái cung cách đối xử với nhau, giữa những đồng chí, và đối với quần chúng của đảng, đã từng phục vụ đảng., trong hiện tình CS biến thái ngày nay cũng thế.  Điền hình trước mắt là vụ Đoàn Văn Vươn và không thiếu gì các vụ chiếm đất đai nhà cửa khác đã tạo ra tình trạng dân oan và khiếu kiện kéo dài, tường thuật trên các báo đảng và nhà nước.  Sau khi chiến thắng năm 1975, sự căm thù của đảng và chế độ CS đã thể hiện qua hành động, và họ say sưa trả thù những người đã ngã ngựa, kể cả các người tàn tật như thương phế binh, và những người đã nằm xuống, bằng cách phá hủy Nghĩa Trang quân đội và di chuyển liên tục các nghĩa trang của dân chúng khác .

 

Tôi không muốn  ở đây nói cái ý kiến của tôi về cách đối xử với cán binh CS nếu VNCH chiến thắng. Vì sẽ có người nói “thì cũng là chuyện sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”.

 

Tôi viết bài này không để khoe hoặc bênh chính quyền VNCH, cũng không để trả lời câu hỏi của Vũ Ngọc Tấn, đặt ra chỉ để nói lên cái ý riêng của mình, là gián tiếp biện minh cho sự tàn bạo không chối cãi được của CS trong chính sách đối xử với quân, dân, chính miền Nam. Tôi chỉ muốn nêu ra những sự kiện cụ thể, để chỉ ra cái lối nguỵ luận của những kẻ có tà ý: “Nguỵ” là ở chỗ dựa vào cái cảm tính của con người để mà khoả lấp cái bản chất tàn bạo  rành rành không thể chối cãi của đảng và nhà nước CSVN.  

 

Hoàng Thế Hiển

 

05/12

Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến: Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật

Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến: Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật

(05/12/2012)

Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.(Nguyễn Thị Từ Huy)

Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải bỏ qua nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi...”

“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên biển của mình và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân vừa chạy thử đã hỏng. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo đương thời trở thành hết thời chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”

Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.

Tưởng thế nhưng không phải thế.

Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng – “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.

Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Anh Ba Sài Gòn.

Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?

Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”

Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:

“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.

Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”

BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”

Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?

Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:

“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.

Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.

Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…

Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.

Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.

“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng

Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.

- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.

- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.

Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.

- Ở Việt Nam không những có dân oan, mà còn có những nhà báo oan, nhà thơ oan, nhà văn oan, luật sư oan, doanh nghiệp oan và blogger oan… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.

Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.

- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…

Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.

- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.

- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...

Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”

Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và sống mãi với chúng ta.

Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”

Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.

Tưởng Năng Tiến (RFAs Blog)

  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link