Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 27, 2012

Cảnh Sát Dã Chiến Việt Nam Cộng Hòa

Mời quý vị cùng tìm hiểu về Cảnh Sát Dã Chiến VNCH.

 

Cảnh Sát Dã Chiến

Việt Nam Cộng Hòa

Tác Giả: K2 Nguyễn Văn Linh


Cảnh Sát Dã Chiến (CSDC) là một lực lượng võ trang thuộc Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ngoài việc trang bị vũ khí để tiêu diệt hạ tầng cơ sở Cộng sản, Cảnh Sát Dã Chiến còn được trang bị thêm các dụng cụ cần thiết khác để trấn áp các cuộc bạo động và nhiễu loạn dân sự.

 

Ðể đạt được kết qủa tốt trong hai nhiệm vụ chính yếu đó, tất cả các sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến sau khi tốt nghiệp tại Học Viện CSQG, còn được gởi theo học trọn khóa huấn luyện sĩ quan tại trường Bộ Binh Thủ Ðức.

 

 Ngoài ra, sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến cũng còn lần lượt được gỡi đi thụ huấn các khóa về trấn áp bạo động, tác chiến rừng rậm, và tình báo tác chiến tại Mã Lai và Phi Luật Tân.


Ðối với nhân viên Cảnh Sát Dã Chiến, sau khi tốt nghiệp khóa Cảnh Sát Căn Bản tại Rạch Dừa, Vũng Tàu còn được huấn luyện thêm về quân sự và chuyên môn Cảnh Sát Dã Chiến tại Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến Ðà Lạt. Ðây là trung tâm huấn luyện lớn nhất, chuyên huấn luyện phần căn bản Cảnh Sát Dã Chiến cho nhân viên cảnh sát sắc phục được chuyển sang Cảnh Sát Dã Chiến và huấn luyện tập thể cấp trung đội cho tất cả các đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến trên toàn quốc. Cảnh Sát Dã Chiến là thành viên chính yếu trong chiến dịch Phượng Hoàng.

 

Với cấp số lý thuyết là 16,500 quân, Cảnh Sát Dã Chiến được phối trí hoạt động từ thành thị cho tới nông thôn.

 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ÐỘNG TẠI TRUNG ƯƠNG

Tại Sài Gòn có Bộ Chỉ Huy Khối Cảnh Sát Dã Chiến trực thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Do nhu cầu cải tổ để phù hợp với tình hình an ninh chung, Khối Cảnh Sát Dã Chiến nhiều lần đã được đổi tên. Năm 1969, Khối Cảnh Sát Dã Chiến được đổi tên là Khối Yểm Trợ Võ Trang. Khối này có trách nhiệm quản trị và điều hành theo hệ thống dọc hai lực lượng dưới quyền: lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, lực lượng Giang Cảng. Năm 1972, Khối Yễm Trợ Võ Trang một lần nữa được đổi tên thành Khối Ðiều Hành. Lúc nầy Khối Ðiều Hành có 3 lực lượng võ trang dưới quyền, đó là lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, lực lượng Giang Cảnh và lực lượng Thám Sát tỉnh. Ðến năm 1973, Khối Ðiều Hành được đổi tên thành Khối Hành Quân.

 

Khối Cảnh Sát Dã Chiến nguyên thủy ngoài các phòng chuyên môn còn có Ðại Ðội Tổng Hành Dinh và một Chi Ðội Thiết Giáp gồm 8 chiến xa AM8. Chi Ðội nầy phụ trách an ninh Ngân Hàng Quốc Gia và an ninh vòng đai Bộ Tư Lệnh CSQG. Bên cạnh đó có hai biệt đoàn. Biệt Ðoàn 5 CSDC có 12 đại đội tác chiến, được phối trí hoạt động trong khắp các quận của đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Ðịnh. Biệt Ðoàn 222 CSDC là biệt đoàn tổng trừ bị của Bộ Tư Lệnh CSQG. Biệt đoàn này sẵn sàng tăng cường yểm trợ hoạt động cho tất cả các Bộ Chỉ Huy CSQG địa phương trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.

 

Tổng số quân số của 2 biệt đoàn này có trên 5,000 người. Những thành tích quan trọng và khó quên được đó là hoạt động của hai biệt đoàn trong trận chiến Tết Mậu Thân năm 1968. Các trận đánh của Biệt Ðoàn 5 tại nhà thờ Cha Tam, nhà thờ Bảy Vàng, bến Phạm Thế Hiển, Ðồng Ông Cộ (Gia Ðịnh). Trận đánh tái chiếm đài phát thanh Sài Gòn do Thiếu Tá N.T.X. (chỉ huy phó Biệt Ðoàn 222) chỉ huy.

 

Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, chúng ta cũng thấy các trận đánh dữ dội của Biệt Ðoàn 222 do Thiếu Tá N.V.T. chỉ huy tại Ký Thu Ôn, Quận 8 Sài Gòn. Ngoài ra, Biệt Ðoàn 222 cũng từng được điều động tăng cường yểm trợ để vây bắt đảng cướp “Cua Vàng” tại ranh giới hai tỉnh Kiến Phong và Châu Ðốc.
Những người lính Cảnh Sát Dã Chiến trên đường phố Saigon.

 

Họ vẫn chưa tan hàng, và tiếp tục chống trả mãnh liệt để bảo vệ thủ đô đến giờ phút cuối. Hình chụp tại Sài Gòn ngày 29 tháng 4/1975. (HÌNH ẢNH: sưu tầm)


Biệt Ðoàn 222 cũng từng được tăng phái Bộ Chỉ Huy tỉnh Biên Hòa để bao vây, bắt trọn tổ chức kinh tài của Cộng Sản trong Làng Cô Nhi Long Thành. Với nhiệm vụ truy lùng các tổ chức hạ tầng cơ sở Cộng Sản, Cảnh Sát Dã Chiến đã hành động hết sức chính xác. Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong lúc chúng tôi bị tập trung vào làng Cô Nhi Long Thành, chúng tôi đã gặp lại một cán bộ Việt Cộng nằm vùng đã từng bị Cảnh Sát Dã Chiến bắt giữ trước đây.

 

Nay anh ta trở lại làng này để tiếp tục kinh tài cho Việt Cộng. qua việc bán chuối, tương, chao, đậu phọng, cho khoảng 3,000 viên chức các cấp của chính quyền miền Nam đang bị tập trung cải tạo tại trại tù này.

 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ÐỘNG TẠI ÐỊA PHƯƠNG

Kể từ năm 1968 trở về trước, các tỉnh và thị xã biệt lập có 5 quận hành chánh trở xuống được thành lập một Ðại Ðội Cảnh Sát Dã Chiến với 4 trung đội tác chiến và một Ban Chỉ Huy Ðại Ðội. tỉnh và thị xã biệt lập nào có từ 6 quận trở lên được thành lập 2 đại đội Cảnh Sát Dã Chiến. Kể từ năm 1969 trở về sau, do nhu cầu yểm trợ chiến dịch Phượng Hoàng, Cảnh Sát Dã Chiến ở các tỉnh trên toàn quốc được tổ chức lại.

 

Mỗi tỉnh và thị xã biệt lập chỉ còn lại một ban chỉ huy đại đội và một trung đội trừ bị đóng tại hậu cứ đại đội. Tất cả các trung đội được đưa xuống hoạt động ở khắp các quận hành chánh của tỉnh liên hệ. Mỗi quận được bố trí một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến.

 

Do đó, một đại đội Cảnh Sát Dã Chiến ở cấp tỉnh được thành lập với nhiều hay ít trung đội là tùy thuộc vào số quận hành chánh của tỉnh địa phương. Thí dụ Ðại Ðội Cảnh Sát Dã Chiến có nhiều Trung đội nhất là Ðại Ðội 102-Cảnh Sát Dã Chiến Thừa Thiên. Ðại Ðội này có đến 13 trung đội, vì tỉnh Thừa Thiên có thêm 3 quận hành chánh của thị xã Huế. Trong khi đó một đại đội ở các biệt đoàn Cảnh Sát Dã Chiến chỉ có 4 trung đội như nhau.

 

Những thành quả quan trọng trong nhiệm vụ là tiêu diệt hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Cảnh Sát Dã Chiến đã đạt được rất nhiều, tỉnh nào cũng có, quận nào cũng có. Dưới đây là một số kết qủa điển hình mà đến hôm nay chúng tôi vẫn còn nhớ mãi.

 

Trong một đêm vào cuối năm 1972, môt tiểu đội của Ðại Ðội 401 CSDC Ðịnh Tường (Mỹ Tho ) tổ chức một cuộc phục kích bên một bờ kênh nhỏ có cầu tre bắt qua. Trong trận này, họ bắn hạ 11 cán binh Việt Cộng, tịch thu được 10 súng AK và một súng nhỏ.

 

Ðại Ðội 410 CSDC Phong Dinh (Cần Thơ) trong một lần phục kích đêm tại rạch Bến Bạ, Cần Thơ, đã tiêu diệt một toán Cộng Sản, tịch thu một số vũ khí quan trọng khi đối phương dùng xuồng vận chuyển vũ khí qua sông.

 

Tại mặt trận Quảng Trị và Bình Long, Cảnh Sát Dã Chiến cũng làm tròn trọng trách của mình, cũng ở hầm, cũng đánh giặc, cũng gian khổ như các đơn vị khác. Nói tới mặt trận Bình Long (trận chiến tại thị xa An Lộc) thì cũng phải nói tới công của N.V.K.là đại đội đrưởng của Ðại Ðội 302 Cảnh Sát Dã Chiến Bình Long thời đó. Cảnh Sát Dã Chiến cũng tử thủ tai An Lộc.

 

Khi được lệnh đến thăm BCH/CSQG Bình Long, tôi và Trung Tá D.T.Y được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB đóng tại Lai Khê giúp đỡ để được đi cùng trực thăng tải thương đến phi trường Xa Cam An Lộc. Chúng tôi đã được Trung tá L.V.T. (chỉ huy trưởng của Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Bình Long) và Thiếu Tá L.V.Ð. (chỉ huy phó) ra đón bằng hai xe Honda 67, vì thành phố đỗ nát không còn nhà cửa, đường sá không còn sử dụng xe Jeep được. Vả lại lúc đó Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Bình Long cũng không còn xe Jeep nào để đi.

 

Chúng tôi đã có dịp lưu lại một đêm tại bộ chỉ huy này để được chứng kiến những gian khổ của anh em Cảnh Sát Quốc Gia nói chung và của Cảnh Sát Dã Chiến nói riêng. Sau hơn một tháng ở dưới hầm, toàn đơn vị thiếu thốn đủ mọi thứ, từ thức ăn cho đến nước uống và cả sự liên lạc với gia đình cũng bị gián đoạn.

 

Vai trò của một sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến hết sức phức tạp, không những phải am tường về luật pháp mà còn phải quán triệt về quân sự. Tiêu diệt cơ sở hạ tầng Cộng Sản thì chỉ cần biết tin tức tình báo từ Cảnh Sát Ðặc Biệt (CSÐB) hoặc các cơ quan bạn để Cảnh Sát Dã Chiến có thể thi hành nhiệm vụ. Còn đối với các cuộc biểu tình và nhiễu loạn dân sự thì Cảnh Sát Dã Chiến phải khéo léo, tế nhị hơn và nhất là phải biết rõ quyền hạn và trách nhiệm của mình.

 

Thật vậy, với nhiệm vụ thứ hai này, Cảnh Sát Dã Chiến luôn luôn thi hành đúng mức và đúng luật. Bằng chứng là vào giữa năm 1973, Linh Mục Trần Hữu Thanh từ Sài Gòn ra Quảng Ngãi xúi giục học sinh và dân chúng địa phương biểu tình chống chính quyền. Vì số người xuống đường quá đông nên ngoài Cảnh Sát Dã Chiến ra, vị tỉnh Trưởng còn điều động thêm quân đội địa phương đến hỗ trợ.

Kết quả của cuộc giải tỏa đám biểu tình này là đã làm một học sinh bị trúng đạn ở chân. Cha mẹ của học sinh bị nạn gởi đơn kiện Cảnh Sát Dã Chiến đã bắn vào con họ. Nhưng qua cuộc điều tra mới biết rằng Cảnh Sát Dã Chiến chỉ sử dụng các dụng cụ chuyên môn sẳn có như lăng khiên, đoản côn, lựu đạn khói cay, vòi phun nước.

 

Vã lại tầm mức bạo động ở đây luật pháp chưa cho phép Cảnh Sát Dã Chiến phải dùng đến vũ khí. Thêm nữa, giảo nghiệm đầu đạn bắn là đạn của súng Colt 45 mà Cảnh Sát Dã Chiến không được trang bị loại súng này. Do đó mà Cảnh Sát Dã Chiến đã thoát khỏi bị qui trách làm sai luật pháp.

 

Rất tiếc trách nhiệm của Cảnh Sát Dã Chiến chưa hoàn thành thì tháng 4 năm 1975 lại đến. Những ước vọng cải tổ, sửa đổi để biến lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến trở thành một lực lượng võ trang lớn mạnh nhất trong thời bình đã bị tan vỡ. Cảnh Sát Dã Chiến cũng như các đơn vị khác được lệnh ở đâu trở về đó để tan hàng.

 

Thông thường thì ở các trung tâm huấn luyện hay ở bất cứ đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến nào, trước khi được lệnh “tan hàng” đều hô to hai tiếng “cố gắng,” rồi sau đó 5 hay 10 phút đơn vị sẽ được tập họp trở lại để tiếp tục huấn luyện hay được phân chia công tác mới. Thế nhưng lần “tan hàng” này anh em Cảnh Sát Dã Chiến không có hô to hai tiếng “cố gắng” nữa.

 

Các chiến sĩ cảnh phục “hoa màu đất” của Biệt Ðoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến đang đánh nhau với Việt Cộng tại Ký Thu Ôn (Quận 8 Sài Gòn) đã được lệnh trở về hậu cứ biệt đoàn, để rồi tự buông súng trước sân cờ và giải tán từ đó.

Sau một tháng kể từ ngày thua trận trở về nhà, các sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh Sát Dã Chiến cũng cùng số phận với các viên chức khác của chính phủ VNCH, phải trình diện để được đưa vào các trại tù Cộng Sản. Thông báo trên báo chí và đài phát thanh của Cộng Sản, yêu cầu mọi người trình diện “học tập cải tạo” chỉ cần mang theo thực phẩm, quần áo và tiền bạc đủ dùng trong vòng mười ngày hoặc một tháng.

 

Thế rồi qua nhiều năm tháng , thân phận của những người tù trong đó có nhiều chiến sĩ Cảnh Sát Dã Chiến đã bị lưu đày qua biết bao trại tù từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vào Nam.

 

Trải qua những năm tháng gian khổ, đói rét, thiếu thốn đủ thứ, và tinh thần luôn luôn bị đe dọa, một số chiến hữu Cảnh Sát Dã Chiến đã ra đi vĩnh viễn, một số may mắn hơn sau khi ra tù đã vượt biên tìm đến bến bờ tự do hiện đang định cư ở nhiều nước trên thế giới, một số đông sau cùng đã được ra đi theo diện H.O. hiện đang cư trú rải rác trên các Tiểu bang của Hoa Kỳ.

 

Ngày nay người chiến sĩ Cảnh Sát Dã Chiến sống xa quê hương ít có cơ hội để gặp nhau theo định kỳ hoặc trong các chuyến công tác tại các đơn vị từ Quảng Trị cho tới Cà Mau như ngày nào. Cuộc sống nơi xứ người làm chúng ta không có nhiều thời giờ để liên lạc, trò chuyện, tâm tình khi xa xứ. Những thành qủa đạt được trong quá khứ nay chỉ còn là kỷ niệm.

 

Dù thời gian có lâu bao nhiêu đi chăng nữa cũng không làm phôi phai đi tình nghĩa đồng đội Cảnh Sát Dã Chiến. Chúng ta luôn luôn kính trọng các bậc đàn anh, thương mến đàn em.

 

“Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm” luôn luôn được chúng ta gìn giữ và tôn trọng. Khi không còn ở đơn vị nữa, thì dù ở bất cứ nơi nào, hoàn cảnh nào, người Cảnh Sát Dã Chiến cũng luôn luôn tự hào là không bao giờ để mất đi danh dự cao quý của mình.

 

*Nguyễn Văn Linh*

Bắc Kinh "dằn mặt" Luân Đôn trên vấn đề Tây Tạng

Bắc Kinh "dằn mặt" Luân Đôn trên vấn đề Tây Tạng

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc hủy bỏ chuyến đi Anh để trả đũa việc thủ tướng Anh gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (Reuters)

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc hủy bỏ chuyến đi Anh để trả đũa việc thủ tướng Anh gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (Reuters)

Trọng Nghĩa

Hôm nay 26/05/2012, một nguồn tin từ Bắc Kinh xin ẩn danh tiết lộ : Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc đã quyết định hủy bỏ chuyến công du Anh Quốc dự trù vào tháng này. Nguyên nhân là vì chính quyền Bắc Kinh hết sức phẫn nộ sau cuộc gặp gỡ mới đây giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và thủ tướng Anh David Cameron.

Theo hãng tin Pháp AFP, lẽ ra ông Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Quốc Hội và là người trên danh nghĩa là nhân vật số hai tại Trung Quốc sẽ đi thăm nước Anh trong tháng Năm này. 
Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Cameron và Đức Đạt Lai Lạt Ma khi ngài đến Luân Đôn để nhận giải thưởng Templeton, chính quyền Anh, vẫn theo nguồn tin trên, được thông báo là chủ tịch Quốc hội Trung Quốc sẽ không đến nữa vì Bắc Kinh “rất bực tức sau cuộc gặp gỡ này”. 


AFP nhắc lại là cuộc tiếp xúc giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và hai vị thủ tướng và phó thủ tướng Anh chỉ mang tính chất “riêng tư”, và không diễn ra ở phủ thủ tướng. Thế nhưng Bắc Kinh vẫn nổi giận, xem đấy là một hành động “sỉ nhục đối với dân tộc Trung Quốc” và đã chính thức phản đối Luân Đôn về sự kiện này. 


Sau nước Anh, có lẽ Trung Quốc sẽ phải tiếp tục bày tỏ thái độ phẫn nộ đối với nước Áo, vừa công khai thách thức Bắc Kinh khi đón tiếp người lãnh đạo tinh thần của dân tộc Tây Tạng. 


Vào hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được thủ tướng Áo tiếp kiến tại Vienna. Ông Werner Faymann đã giải thích răng cuộc gặp gỡ này là “một dấu hiệu chính trị rõ ràng nhằm ủng hộ nhân quyền, chủ trương bất bạo động, đối thoại và chống lại sự đàn áp’’. Ông còn cho rằng việc được tiếp xúc với một ‘gương mặt nổi bật’ như Đức Đạt Lai Lạt Ma, là một “kinh nghiệm cá nhân rất tốt”. 


Thủ tướng Áo không tỏ vẻ gì lo lắng trước khả năng Bắc Kinh bị phật ý. Đại sứ Trung Quốc tại Viennna, trả lời đài phát thanh nhà nước Áo hôm 21/05 đã cảnh báo là cuộc gặp gỡ “không có lợi cho quan hệ tốt đẹp giữa hai bên”. Thù tướng Áo đã phản ứng, nhấn mạnh rằng việc ông gặp ai là do chính ông quyết định, và “nước Áo luôn luôn cho thấy mình là một nước đứng về phiá nhân quyền.” 


Trong cuộc tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma, còn có sự hiện diện của Tổng giám mục Vienna, Đức Hồng y Christoph Schönborn

Chuyện có thật. Người Việt ở Sài Gòn

Trúc Quỳnh

 

Hôm nay, tôi lại góp thêm vài câu chuyện cười ra nước mắt cóp nhặt được sau những chuyến đi.

 

Người Việt ở Sài Gòn

 

* Tại chợ Bến Thành Lần đầu tiên cầm tiền Việt Nam, chồng tôi chưa kịp nhận diện giá trị tiền. Lúc hai vợ chồng vừa xuống khỏi taxi đến chợ Bến Thành thì một người đàn ông tật nguyền một chân chống nạng đến xin tiền. Chồng tôi rút luôn gần hai trăm ngàn ra đưa. Tôi giật mình: - Ối! Sao lại cho nhiều thế?Lúc tôi quay sang nhìn thì người đàn ông “tật nguyền” ấy - chắc nghĩ tôi sẽ giật lại số tiền đó hay sao mà nhanh như chớp, hai tay nhấc hai cái nạng, vác lên vai, co hai chân chạy thẳng. Ha ha ha. Chồng tôi lúc đầu choáng, xong lăn ra cười. Đến giờ mỗi khi nhắc lại vẫn cứ cười.

 

 

* Tại quầy lễ tân Khách sạn Riverside Sài Gòn Anh chị cho xem giấy kết hôn? - Chúng tôi không mang theo. Thế anh không thấy vợ chồng chúng tôi mang cùng họ trong hộ chiếu và cùng đến từ Đan Mạch à? - Nhưng đây là khách sạn 4 sao. Tất cả khách sạn 4-5 sao đều yêu cầu như vậy. - Chúng tôi xưa giờ toàn ở khách sạn 5 sao, hôm nay hết phòng nơi khác mới đến khách sạn 4 sao của anh để ở đấy chứ. Có thấy nơi nào quy định vậy đâu? - Không, khi một người Việt đi với một người nước ngoài thì bắt buộc xuất trình giấy kết hôn. - Thế người yêu đi với nhau cũng không được à? - Không, vì có thể là gái mại dâm. - Thế anh nói vợ tôi là gái à? - Vâng, không có giấy kết hôn thì bị coi là vậy.(Kết quả sau đó: Suýt choảng nhau!!!)

 

 

* Ngoài đường Hai vợ chồng tôi về Việt Nam chơi, mấy người chạy xe ôm cứ mời đi không ngớt (mà thiệt lạ, người ta mặc váy mà cứ mời đi xe ôm thì ngồi kiểu gì nhỉ??!). Tôi luôn miệng trả lời không, lấy lý do là vì thích đi bộ ngắm phố phường hơn. Nhóm xe ôm bám nhì nhằng cả 15 phút không được, mới buông giọng: “Xời ơi, keo gì mà keo thế? Nói cho cô em biết, cô em lấy chồng Tây thì phải chia sẻ cho đồng bào một chút, nhá?”.

* Trong công viên nước Hai vợ chồng và mấy đứa cháu đi công viên nước chơi, tôi đang chơi bóng dưới hồ tạo sóng với cháu gái thì một gã bơi đến:- Em ơi, sao em lại đẹp quá vậy? Mà người vừa nãy đứng cùng em là chồng em hả? Ôi, sao em lại lấy chồng Tây, anh là người Việt Nam, cũng đâu đến nỗi nào. Em bỏ nó, em lấy anh đi, nhé em!Mặc tôi ngó lơ, hắn cứ “bao vây” bằng những hành động và lời nói cợt nhả như thế dưới bể bơi hàng chục phút đến khi tôi không chịu nổi phải trèo lên bờ.

 

 

Người Việt ở Hà Nội

* Tại khu phố cổ, lúc 10 giờ đêm Hai vợ chồng dắt cô cháu gái đi chơi, nhìn thấy con búp bê trong cửa hàng đẹp quá, tôi ghé vào định mua cho cháu thì:- Ê ê, mười giờ đêm rồi, có biết phải mua gì chưa? Chắc chắn mua thì hẵng vào, nhá! - bà chủ cửa hàng chua một chất giọng còn mạnh hơn cả… giấm.. - Chưa coi hàng chất lượng ra sao, sao biết chắc mua hay không hả cô? - tôi hỏi lại.Nghe vậy, bà chủ nhảy lên, tưởng muốn chạm nóc nhà.- Chắc thì hẵng vào, muộn rồi, không thì… xéo… cút xéo thẳng, đừng vào nhá.Hết hồn!

 

 

Người Việt ở Hạ Long

Tôi ngủ dậy muộn trên tàu du lịch ở vịnh Hạ Long, lúc nhìn xuống thấy có 2 cô gái trẻ trên hai chiếc thuyền (chợ nổi) treo bán đủ thứ bánh kẹo đang trò chuyện rất to. Không biết tôi là người Việt Nam, một cô chỉ vào chồng tôi, cười hả hê nói:- Này, lúc nãy tao mới bán cho ông Tây kia cái hộp bánh 220 ngàn đấy, lãi hẳn 200 ngàn mày ạ, hí hí hí. - !!!

 

 

Người Việt ở Sapa

Chồng tôi vào chợ Sapa hỏi mua giúp tôi một chai nước tẩy sơn móng tay. Hai bà bán hàng nói với nhau (rất to): “Nhớ xé cái mác giá đi, trên đó ghi có 2 ngàn à”. “Ừ! Thế nói nó giá bao nhiêu nhỉ. Năm chục ngàn nhỉ?”. “Ừ!”. - Fifty thousand Dong! (Năm chục ngàn) - bà ta nói với chồng tôi. Tôi đứng đó, bật cười:- Chứ không phải cái lọ đó giá chỉ 2 ngàn thôi sao hả chị? Tẽn tò!

 

 

Người Việt ở Pháp

Trong nhà hàng Cây Ớt – Quận 13, Paris

Hai vợ chồng chọn được 5-6 món, hào hứng ngồi chờ. Bàn bên cạnh là hai thực khách Pháp. Chủ nhà hàng mang ra một nồi thịt kho tộ, một đĩa xào (giống tôi đã đặt) nhưng lại bỏ lên bàn của hai vị khách Pháp. Có lẽ vì là người nước ngoài nên họ không biết, bắt đầu cắm cúi ăn. 5 phút sau, dường như phát hiện ra sự nhầm lẫn, bà chủ liền chạy ra, không nói câu nào, giựt mạnh nồi thịt kho và đĩa xào từ bến đó bỏ sang bàn tôi. Mặc kệ hai vị khách kia miệng đang há, tay đang cầm đũa cắm vào nồi thịt. - Này chị ơi, nhầm lẫn thì làm lại chứ bắt chúng tôi ăn thừa à? - tôi hỏi. - Nhầm có mấy phút mà làm sao? - Không, chị phải làm lại chứ. Khách người ta ăn vào rồi còn gì. - Không. Chi mà khó tính dữ vậy. Nhầm có chút xíu mắc chi tôi làm lại - mặt bà chủ cau có. - Vậy chị cho tính tiền nước đi, chúng tôi không ăn nữa - tôi chán nản nói. Hai vợ chồng chủ quán mang hóa đơn xuống bàn, rồi nói với nhau: - Lần sau nhớ mặt hai đứa này, đừng cho vào nhá. - Cũng chẳng ai muốn đến nữa đâu chị ơi - tôi lắc đầu cười méo mó. - Đến có mà tao tát vào mặt, nhá! - bà chủ tru tréo như còi xe lửa. Ôi, nghe muốn xỉu.

Huyền thoại "nàng thơ T.T.Kh." chỉ là giả tạo

Huyền thoại "nàng thơ T.T.Kh." chỉ là giả tạo

 

Chỉ cần đọc một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”, tôi đã nghĩ rằng không thể một cô gái 17 tuổi vào thời xa xưa đó lại có thể sáng tác được bài thơ với ngôn từ khá già dặn như vậy. Người làm bài này phải là một thi nhân đã từng biết làm thơ trước đó. Và ngày nay, đúng là họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình tức thi sĩ Thâm Tâm (tác giả bài Tống Biệt Hành) sáng tác bài thơ đó đề tên Trần Thị Khánh hay Thâm Tâm Khánh (T.T.Kh.) để che dấu nỗi đau nhục bị cô Khánh bỏ rơi.

 

Huyền thoại về “Nàng Thơ T.T.Kh.” chỉ là giả tạo.

 

- Nguyễn Thạch Kiên, thi nhân đấu tranh trong lãng mạn.

 

* Tạp ghi QUỐC NAM

 

Một buổi tối chớm đông, những sợi mưa tuyết giăng trắng khung trời Cao Nguyên Tình Xanh Washington, tôi lái xe từ đài phát thanh SRBS trở lại nhà. Tôi chợt nghe tiếng chị Nguyễn Thuý Phượng qua điện thoại "Bố tôi vừa mất sáng nay". Lập tức, nỗi buồn nghẹn lại trong tâm hồn tôi. Chị Phượng là trưởng nữ của nhà văn, nhà thơ, nhà báo lão thành Nguyễn Thạch Kiên. Hôm đó là ngày 13 tháng 12 năm 2008. Ông hưởng thọ 83 tuổi.

Mùa lễ Thanksgiving, tôi về San Diego viếng thăm Chị Cả tôi (năm nay 86 tuổi) đã đau yếu liệt giường. Như một linh tính nhiệm màu, tôi điện thoại thăm nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, thì được chị Phượng cho biết ông đã nhập viện mấy ngày nay. Tôi tức tốc lái xe lên Quận Cam đến Garden Grove Hospital vào sáng thứ bảy ngày 30 tháng 11 năm 2008. Tôi gặp chị Thúy-Phượng và anh Long (phu quân của chị) tại phòng đợi. Anh chị hướng dẫn tôi lên phòng nhà văn nằm bệnh. Lúc đó, ông Nguyễn Thạch Kiên đã mê sảng rồi. Tuy vậy, khi chị Phượng nói tên tôi, thì nhà văn hé mở mắt và nói "Quốc Nam ở Seattle hả?". Tôi ghé sát tai ông và nói: "Vâng. Quốc Nam đến thăm anh đây. Luôn luôn Quốc Nam kính mến anh, và vẫn nhớ mãi những ngày đầu làm báo với anh khi Quốc Nam còn rất trẻ’. Nhà văn có vẻ cảm động, nhưng nói lan man điều gì đó mà tôi không nghe rõ.

 

Thi sĩ Quốc Nam chào vĩnh biệt Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại Garden Grove Hospotal cuối năm 2008. Hình từ trái qua phải: Bà Nguyễn Thúy Phượng, Cụ Nguyễn Thạch Kiên và ông Quốc Nam.

 

Trong cuộc đời cầm bút mưu sinh liên tục ngót nửa thế kỷ qua, tôi đã không có đàn anh hoặc đàn em văn nghệ. Tôi may mắn đứng vững được trên chính đôi chân của mình trong giới truyền thông báo chí và văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, tới khi ông Nguyễn Thạch Kiên bỏ tôi ra đi, thì tôi mới cảm nhận rằng: quãng đời sinh hoạt văn chương chữ nghĩa của tôi cũng có một đàn anh. Đó là nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thạch Kiên.

Tôi mưu sinh bằng ngòi bút bắt đầu từ năm 1961, từ lúc nhà xuất bản Trần Văn Phương mướn tôi viết một số truyện nhi đồng hoặc giáo dục thiếu nhi. Tuổi trẻ tôi đã ngụp lặn trong thế giới thần tiên, với những nàng tiên, hoàng tử hoặc công chúa quý phái và xinh như mộng. Niên khóa 1962-1963 tôi học Lớp Đệ Nhất B3 trung học Chu Văn An với những bạn cùng lớp như Hoàng Duy Hiệu, Nguyễn Trọng Nhi, Lê Thiệp, Nguyễn Văn Thiệp, Phí Ích Bành, Nguyễn Vô Lượng, Phạm Trinh Huân v.v... Thì một vài bạn tôi rất ngạc nhiên khi biết tôi viết văn mà được trả nhuận bút để tiêu xài rỉ rả.

Đến đầu năm 1964, tôi đang học ở Đại Học Khoa Học & Luật Khoa, thì ông Giám Đốc nhà xuất bản Trần Văn Phương giới thiệu tôi với nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (dạo đó là Chủ Nhiệm tuần san giáo dục Tinh Hoa), tòa soạn đặt tại nhà in Chấn Hưng đường Lê Văn Duyệt, đô thành Saigon. Nhà văn nhìn tôi đầy thiện cảm, và buột miệng nói: "Cậu nhỏ vậy mà lên Đại Học rồi hả?".

Tôi lễ phép trả lời: "Dạ, thưa anh. Quốc-Nam không còn nhỏ đâu. 19 tuổi rồi!"

Ông có vẻ thích thú, nói: "Vậy cậu phụ tôi làm báo Tinh Hoa nhé".

Thế là tôi trở thành người Thư Ký Tòa Soạn (có lẽ NHÍ nhất) của một tuần báo, giữa thời điểm mà nền báo chí tại Miền Nam Việt Nam chưa phát triển lắm.

Tôi làm công việc chọn lựa bài vở và thơ văn hàng tuần cho tuần san Tinh Hoa, trình lên cho Chủ Báo Nguyễn Thạch Kiên coi sơ qua, rồi mang xuống nhà in để mấy người thợ làm công việc sắp chữ. Thời đó, các thợ nhà in phải sắp từng con chữ vào những trang báo, rồi làm bản kẽm để đưa vào máy in.

Ở vai trò chọn bài vở cho tuần san Tinh Hoa, tôi được một số nữ sinh Sài-Gòn hoặc nữ sinh viên Văn Khoa o bế khá nhiều, để mong được có bài đăng trên báo.

Tháng 9 năm 1996, tôi đặt vé máy bay mời nhà văn nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên lên Seattle để giới thiệu tác phẩm mới của ông nhan đề "Về Những Kỷ Niệm Quê Hương". Cố văn sĩ Huy Quang tức cựu Trung Tá Vũ Đức Vinh (nguyên Giám Đốc Đài phát thanh Saigon trước năm 1975), ông Trần Thế Khiêm (Cán Bộ cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng) và tôi đã ra tận cửa máy bay tại phi trường Sea-Tac để đón rước ông.

 

Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại phi trường Sea-Tac (Washington) năm 1996. Hình từ trái qua phải: Quý ông Trần Thế Khiêm, Nguyễn Thạch Kiên & Quốc Nam.

 

Buổi ra mắt sách của Tác giả Nguyễn Thạch Kiên được đồng hương tham dự đông đảo. Họ ngồi chật cứng nhà hàng Moonlight đường South Jackson, Seattle.

 

Đề tài nổi cộm trong cuốn sách là “Huyền thoại T.T.Kh.”. Sách dày 260 trang, với một nửa cuốn sách đề cập tới những chi tiết quanh các bài thơ ký tên T.T.Kh. rất lý thú. Một số tiểu mục được Tác Giả Nguyễn Thạch Kiên phân chia như sau: Huyền thoại về Nàng Thơ T.T.Kh., Dưới giàn hoa máu, Tống Biệt Hành, T.T.Kh. Nàng là ai?, Nguyên nhân nào khiến sống dậy huyền thoại T.T.Kh.?,  Nguyễn Vỹ viết về T.T.Kh., Thanh Châu nhận định về T.T.Kh., Truyện ngắn “Hoa Ti-gôn” năm 1937 của Thanh Châu, Trong lửa đạn thù...

 

Câu chuyện T.T.Kh. bắt đầu từ truyện ngắn “Dưới giàn hoa máu” của nhà văn Thanh Châu đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy năm 1937 chủ trương bởi nhà xuất bản Tân Dân của ông Vũ Đình Long, nội dung căn cứ vào lời kể về mối tình giữa họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) và một thiếu nữ tên Khánh.

 

Theo một số nhân chứng sống biết rõ về “huyền thoại T.T.Kh.” (trong số này có văn sĩ Nguyễn Vỹ và Hồ Văn Thông, người bạn chiến đấu cạnh Thâm Tâm trong khu Kháng Chiến Việt Minh gần Thủ đô Hà Nội), chính nhà thơ Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình đã thố lộ:

 

Sau truyện ngắn đó, Thâm Tâm đã sáng tác bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” và nhờ cô em họ mang tới tòa báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Khi bài thơ này phổ biến thì dư luận rất thương cảm người thiếu nữ bất hạnh và muốn biết T.T.Kh. là ai? Trong thời điểm đó, tình trạng báo chí ở Hà Nội đang cạnh tranh gay gắt, nhất là giữa nhà xuất bản Tân Dân (Tiểu Thuyết Thứ Bảy) và Tự Lực Văn Đoàn (báo Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ trương). Bỗng dưng, người ta tìm cách tạo dựng huyền thoại T.T.Kh. để bán báo cho nhiều hơn các đồng nghiệp khác. Cũng từ đó, một số bài thơ tầm thuờng xuất hiện cũng ký tên T.T.Kh. Trong lần tâm sự riêng với Hồ Văn Thông ở chiến khu. Nhà thơ Thâm Tâm thú nhận rằng suốt từ năm 1937 đến 1939, chỉ có 3 bài thơ đề tên T.T.Kh. do chính ông sáng tác là: Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất & Bài thơ cuối cùng.

 

Tâm sự với nhà văn Nguyễn Vỹ, Thâm Tâm kể rằng: Khoảng tháng 2 năm 1936, Tuấn Trình (họa sĩ cho báo Bắc Hà, tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) 19 tuổi làm quen đuợc với cô Trần Thị Khánh 17 tuổi sắp thi bằng Tiểu Học. Khi cô viết thư gởi Thâm Tâm báo tin sắp lấy chồng, ông rất đau buồn nhưng cũng biết được rằng nàng không yêu ông nhiều như ông tưởng. Trong bài viết “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh.”, cố văn sĩ/chủ báo Nguyễn Vỹ viết nguyên văn như sau:

 

“Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị nguời yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thắng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can. Vì chút tự ái văn nghệ đối với mấy nguời kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là HAI SẮC HOA TI GÔN ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ (con gái của người cô ở phố Cửa Nam) mang đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô đã ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là đằng khác. Tuấn Trình nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận đuợc một bức thư cuối cùng của Khánh, tỏ ý không bằng lòng anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô”.

Tác giả Nguyễn Thạch Kiên là con nguời rất hiền hòa và rộng lượng. Trong tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, ông đưa ra khá nhiều bằng chứng thuyết phục về “Huyền thoại T.T.Kh.” chỉ là giả tạo, nàng thơ T.T.Kh. không hề có thật trên đời! Tuy nhiên, đàn anh của chúng tôi vẫn rất dễ thương cho rằng “Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại”. Trong lãnh vực chính trị cũng vậy, ông Nguyễn Thạch Kiên đã hoạt dộng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng hơn nửa thế kỷ qua, nhưng tinh thần đấu tranh trong tim óc ông luôn luôn đượm màu lãng mạn. Thế nhưng tôi rất yêu qúy ông, bởi chính tôi từng là đảng viên kỳ cựu của Đại Việt Cách Mạng Đảng và tinh thần cách mạng trong tôi cũng đượm màu lãng mạn như ông. Nói tóm lại, ông Nguyễn Thạch Kiên và tôi đều từng hoạt động chính trị một cách vương đạo, không thể bá đạo và dã man như bọn Việt Cộng đuợc.

Do đó, khi kết luận tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, nhà văn của chúng ta viết như sau:

 

“Chúng tôi quan niệm huyền thoại hẳn phải là một cái gì đó rất đẹp, rất lý tưởng, và không sao với tới được. Phải, nó làm phong phú trí tưởng con người. Phanh phui, phân tích, tìm hiểu từng chi tiết, khác nào ta bóc trần một cổ vật hằng trân quý. Một người khác phái ta say mê mà không sao được kề cận, vẫn mãi mãi là một ám ảnh, làm suốt đời ta thèm day dứt, tôn thờ. Chuyện tình T.T.Kh. với mấy bài thơ oan trái xuất hiện từ năm 1937, đã trở thành huyền thoại sử thi, góp phần không nhỏ vào sự hình thành nền thơ mới của một thời đại cần đổi mới thơ văn là một thí dụ”.

 

Đây là lần đầu tiên tôi không đồng ý với Tác giả Nguyễn Thạch Kiên. Câu chuyện mấy bài thơ ký tên T.T.Kh. đã trải qua hơn 70 năm qua, thế mà vẫn có nhiều người tin rằng có một thiếu nữ đã làm mấy bài thơ ai oán như vậy. Tôi đã vào nghề cầm bút gần nửa thế kỷ qua, nên biết rất rõ khá nhiều người đàn ông làm báo đã núp dưới tên phụ nữ để giải đáp tâm tình hoặc phụ trách mục thơ văn nào đó. Trường hợp báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội cuối thập niên 1930 đã “câu” độc giả bằng huyền thoại nàng T.T.Kh. cũng là chuyện thuờng tình xảy ra trong làng báo Việt Nam xưa và nay.

 

Ngay từ năm 1961, khi bắt đầu mưu sinh bằng ngòi bút, tôi đã thắc mắc về “người thơ T.T.Kh.”. Chỉ cần đọc một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”, tôi đã nghĩ rằng không thể một cô gái 17 tuổi vào thời xa xưa đó lại có thể sáng tác được 1 bài thơ với ngôn từ khá già dặn như vậy. Người làm bài này phải là một thi nhân đã từng biết làm thơ trước đó.

 

Nếu người nào suy nghĩ sâu một chút và phân tích từng chữ nơi các câu thơ trong 3 bài thơ đề tên T.T.Kh. nêu trên, sẽ nhận thấy được dòng thơ đó không thể sáng tác bởi một cô gái chưa đậu Tiểu Học ở thời điểm xa xưa ấy. Xin mời quý vị đọc vài đoạn thơ sau đây coi sao:

 

- Từ đấy, thu rồi thu lại thu,

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

“Người ấy”... Cho nên vẫn hững hờ...

- Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,

Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi.

Và từng thu chết từng thu chết,

Vẫn giấu trong tim bóng một người...

- Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

 

Hoặc chữ “HỪ” rất ít người con gái xử dụng trong thơ văn, ở “Bài Thơ Cuối Cùng” đề tên T.T.Kh., nguyên văn như sau:

 

Từ đây anh hãy bán thơ anh,

Còn để riêng tôi với một mình.

Những cánh hoa lòng... Hừ, đã ghét,

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

 

Và ngày nay, đúng là họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình tức thi sĩ Thâm Tâm (tác giả bài Tống Biệt Hành) sáng tác mấy bài thơ đó đề tên Trần Thị Khánh hay Thâm Tâm Khánh (T.T.Kh.) để che dấu nỗi đau nhục bị cô Khánh bỏ rơi.

Bây giờ thì đàn anh văn nghệ của tôi, Tác giả Nguyễn Thạch Kiên đã về miền vĩnh cửu. Tôi xin cám ơn ông đã lưu lại cho hậu thế một số tài liệu văn học cần thiết, để những nguời tìm hiểu nền văn học nghệ thuật Việt Nam được biết rằng “Huyền thoại T.T.Kh” chỉ là một trò chơi chữ nghĩa bởi một số người cầm bút dối gian hoặc thiếu vương đạo!

                                                       ***

Ngày 19 tháng 12 năm 2008, tôi về thăm bằng hữu tại Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, Bắc California). Buổi tối đó, tôi được một số Thân Hữu đãi một bữa cơm thân mật, tại nhà hàng Cao Nguyên (đối diện khu thương mại Lion Plaza). Tôi thật sự xúc động gặp gỡ một số nhân vật tên tuổi trong bàn tiệc, gồm: quý thi sĩ Hà Thượng Nhân, Trường Giang (thi văn đoàn Bốn Phương), Đông Anh Nguyễn Đình Tạo & Chinh Nguyên (Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt); quý nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, Phạm Mạnh Đạt; cựu Đại Tá Lương Văn Ngọ (Trung Tâm Trưởng Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ); nhà báo Duy Văn (chủ nhiệm tuần báo Đời Mới); giáo sư Nguyễn Hùng Tâm (Thứ Nam của cố chủ nhân nhà sách Khai Trí, Saigon ngày cũ).

 

Một số văn nghệ sĩ hội ngộ tại Thung Lũng Hoa Vàng trung tuần tháng 12/2008. Hình từ trái qua phải: (Ngồi) Quý cụ Trường Giang, Hà Thượng Nhân & Vũ Đức Nghiêm; (Đứng) Quý ông Chinh Nguyên, Phạm Mạnh Đạt, Nguyễn Hùng Tâm, Duy Văn, Quốc Nam, Lương Văn Ngọ & Đông Anh.

 

Sáng hôm sau, ngày 20/12, tôi dùng điểm tâm với nhà văn nhà thơ Hồ Linh, nhà báo lão thành Sao Biển, nhà thơ Hoàng Ngọc Văn và nhà hoạt động cộng đồng Nguyễn Hữu Lộc (Trưởng Ban Sáng Lập Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài Long Beach, CA).

 

Hầu hết quý vị nêu trên đều sẵn lòng hỗ trợ Đông-Phương Foundation sẽ tổ chức một chương trình thơ nhạc đặc biệt tại miền Bắc California, để đánh dấu “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” (nhất là Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và Hội Từ Thiện Sóng Tình Thương của ông Nguyễn Hữu Lộc). Bởi tôi là người đã tình cờ gọi mỹ danh “Thung Lũng Hoa Vàng” cho thành phố San Jose (Silicon Valley) từ năm 1979.

 

Tưởng nên nhắc lại, trong bài Tạp Ghi Cuối Năm 2008, tôi nhắc tới 9 nhân vật thân thiết tôi đã khuất bóng trong 1 thập niên qua. Thực ra, nếu chính xác, thì 11 nhân vật văn hóa hoặc chính trị quen thân Quốc-Nam đã bỏ tôi ra đi trong thời gian qua, gồm: quý thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan, Hoàng Anh Tuấn, Duy Năng, Phan Lạc Giang Đông, Phương Triều; quý nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng, Nguyễn Hiền; nhà cách mạng Hà Thúc Ký (Đại Việt Cách Mạng Đảng); học giả/giáo sư Vũ Ký; họa sĩ Choé Nguyễn Hải Chí; nhà văn/nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên.

 

Nhóm Đông-Phương chúng tôi trang trọng tạ ơn quý Ngài, và nguyện cầu Ơn Trên ban cho quý Ngài được thảnh thơi trên cõi vĩnh hằng. Bởi chính quý Ngài đã khích lệ và tặng tôi một mớ hành trang lên đường, tiếp tay làm rạng danh nền văn hóa Việt-Tộc đối với năm châu bốn biển.

 

Kính xin Ơn Trên phù hộ chúng ta và cho ngôn ngữ Việt bất diệt trong bất cứ nghịch cảnh nào.

 

QUỐC NAM

(Tháng 2/2009)

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link