Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, June 9, 2012

Thiện trí thức


    Thiện trí thức

                

                   Đông Triều

    

    Đạo và đời, đạo là niềm tin tinh thần, là con đường dẫn đi đến '' Chân, Thiện, Mỹ ''. 

 

 Đầu trọc, áo Cà sa, miệng thì niệm Phật, lễ bái, mà chẳng hiểu được tự tánh của mình.

 

Cũng nói, cũng ăn, nhưng ăn chưa no, miệng chỉ giảng thuyết suông, thì muôn kiếp cũng chẳng được kiến tánh, rốt cuộc rồi, cũng vô ích thôi.

 

Cần phải tĩnh tâm để niệm, trong kinh Phật giáo đã dạy :-'' Thiện trí thức, trí là Bồ Ðề Bát Nhã '' của chúng sanh vốn tự sẵn có.

 

Chỉ vì tâm mê không thể ngộ được, nên mới có kẻ trí, người ngu, ngu đến độ mình là con người tu theo đạo Phật, học theo triết lý của Phật, mà chẳng hiểu biết chi cả.

 

Đức Phật nói;- Những kẻ ấy, là những kẻ tu mù, tu mê, tu sân, tu si, tu chạy theo danh vọng, vật chất, tình tiền, mà chẳng ngộ được lý tánh. Mang danh nghĩa là Thầy tu, Thiền Sư, Hòa thượng, Thưọng Tọa, Viện Chủ …Mà không ngộ được lý tánh sao? mà vẫn hành theo tà đạo, ác quỉ, chạy theo bọn tà ma ngoại đạo, gian manh, lường gạt, mà hể hả trên sự đau khổ của mọi người.

 

Những vị chân tu, cần phải tu tâm, dưỡng tánh, hành đạo. Chẳng phải niệm ở miệng, mà niệm ở tâm, thì mới chuyển hóa được sự đau  khổ.

 

Miệng niệm, tâm hành, thì tâm và miệng mới tương ứng, thì bản thể, tâm tánh mới hóa giải được sầu não.

 

Tâm nguyện quảng đại hư không, không hình tướng, không nghe, không thấy, không màu sắc, chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng thiện, chẳng ác. Để trở về với bản thể, diện mục của con người vốn đã có sẵn, là không. “ Không tức thị sắc, sắc tức thị không “. 

 

Thiện trí thức, trong kinh '' Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật '' là tiếng Phạn, được dịch ra là; '' Đại trí huệ đã đến bến bờ bên kia, chân không ''.

 

Nếu muốn có thì phải do tâm thành, tâm hành, tánh chơn chánh thì mới đắc. Thiện trí thức không nên làm những chuyện trái với lương tâm, nghịch lại đạo lý, đạo và đời. Không nghe, không chấp và phải biết phân biệt chuyện vui, chuyện buồn, chuyện thiện, chuyện ác. Thiên đàng hay địa ngục, tất cả đều có ở trong tâm.

 

Từ chổ chuyện không mà có, hay đã có như; chuyện, chạy sô, thấy Micro, ống kính truyền hình là chạy tới, ăn nói ba phải, chuyện đạo và đời.

 

Đi tham dự yểm trợ cho bọn tà ma ngoại đạo, gian manh, lường gạt. Không không mà có, chuyện không thể tưởng, muôn pháp đều do tự tánh mà có, Tánh của các ông thích háo danh cho nên kênh kênh, ta đay là người hiểu biết hơn người, là Sư sãi,Thầy chùa, là Hòa thượng, Thượng tọa, Viện chủ. . .Vì đức Phật đã nói; trong chúng sanh, có giới Vô Tình và Hữu Tình, vì muôn pháp, ở tự tánh của con người mà có.

 

Tất cả đều do tự tánh mà có, chẳng chấp, chẳng nhiễm, khi tâm mê thì tọa thiền, tâm tĩnh thì trăm điều cũng tĩnh, chẳng tự xưng, tự đại mà bị rơi vào tà kiến.

 

Thiện trí thức là tâm của con người luôn luôn quảng đại, ứng dụng hiểu biết, để đi đến tâm thể vô ngã, tức là Bát Nhã. Trí Bát Nhã đều do tự tánh mà ra, nhất chơn, nhất thiết, việc lớn việc nhỏ đều phải do tâm.

 

Tâm địa, tâm độc ác, tâm địa là nơi đất nẩy mầm cho mọi công việc lớn nhỏ, khổ đau, mê muội. Không chấp chặt, ngu mê, miệng niệm chơn không mà không biết chơn không, nếu hiểu được thì gọi đó là Trí Bát Nhã.

 

Trong lúc niệm có trật, có sai, có vọng niệm, nếu không hành được chơn tánh, nếu không ngộ được pháp nầy, chẳng tu mà gọi là phàm phu tục tử.

 

Niệm chân chánh tức là ngộ, ngộ tức là mở kiến tánh, niệm trước chấp sau tức là gây ra cảnh phiền não. Không trụ, không đi không đến mà phải dùng trí huệ phá đi ngũ uẩn phiền não, trong đời sống vì quá cố chấp.

 

Nếu  kẻ tu chân chánh thì phải mở trí huệ ra với tâm từ thiện, hành thiện do tự ở bản tánh mà có. Vì ở trong trần gian nầy biết bao nhiêu là cảnh khổ, người tu mà không ngộ, thì không thể cứu độ được chúng sanh.

 

Người hiểu được vô nhiễm trước cuồng vọng, phải dụng tâm tánh để bước tới, dùng trí huệ làm đèn chiếu sáng, chẳng Tôi, chẳng Ta, kiến tánh mà thành.

 

Nếu người tu hành mà đi vào giới Tam Muôi, chẳng hiểu biết gì về pháp tự ngộ, mà tự dẫn mình đi vào nghiệp chướng, phiền não. Cũng như một lớp mây che mặt trời, chẳng có ánh sáng, mặt trời che cho nên thầy không thấy trò, hay vì tiền tài vật chất che mờ trí thiện.

 

Trí của Bát Nhã vốn chẳng lớn chẳng nhỏ, chỉ vì chúng sanh tâm mê muội, chẳng đồng, tâm không mê tu, mà hướng về về danh lợi, tiền tài, vật chất, còn có tham vọng, tức là còn tham sân si.

 

Thì phiền não sẽ lao tới, ô nhiễm Kiến Tánh ngay, nếu con người không có tâm, thì pháp làm sao có.'' Không có lửa thì làm sao có khói ''. Trong con người, có người ngu kẻ trí, người tu mà ngu là tiểu nhơn, người mở huệ mở trí là đại nhơn, người trí thuyết pháp cho kẻ ngu, như nước đổ lá môn.

 

Kẻ ngu đốn từ tâm địa mới làm những việc mờ ám hảm hại kẻ khác. Người trí là tâm niệm được khai ngộ sáng suốt làm những việc có lợi ích cho con người và nhân loại.

 

Tâm tánh vốn thanh tịnh do tâm mà sanh ra bổn tánh, thoát thấy ngộ được là do tâm thiện tri thức.

 

Nếu các ông ngộ được, để hoằng dương chánh pháp thì khiến cho hàng Phật tử tu học sẽ trở lại cội Bồ Ðề, thì mọi người sẽ thấy bổn tâm, tự kiến tánh thiện,.

 

Nếu các ông không ngộ, cứ chấp chặt, luôn luôn cho ta là Thầy, là Hòa thượng, Thượng tọa, Viện chủ… Là thiện trí thức thì làm sao có kiến giải để giải thoát.

 

Vì vậy mong tự tâm của các ông, sẳn có tri thức để tự ngộ.

 

Nếu không, các ông sẽ không ra khỏi tà kiến, mê chấp vọng tưởng điên đảo.

 

Dầu cho gặp người thiện trí thức cũng không cảm hóa được, cũng chẳng cứu được. Trong lục trần nầy, mình hãy tự giải thoát, gọi là hạnh vô niệm, đừng trói buộc trước Tà Kiến, mà nên đem những Chánh Kiến, Chánh Hạnh, cùng phát nguyện để cùng tu học và cúng dường Ngôi Tam Bảo nhất định sẽ được vào Thánh vị. 

                                 

Thế giới hư không, bao gồm có sắc tướng của con người và việc làm do tâm mà ra, đạo là do tâm tại tọa, chẳng sanh chẳng diệt. Ngọn đèn có sáng mấy rồi cũng tắc, theo luật tuần hoàn nhân quả của tạo hóa, có sáng có tối, sáng là trí tuệ, tối là ngu muội là phiền não. Người tu học phải lấy trí tuệ để chiếu phá phiền não, ấy là kiến giải Nhị Thừa kẻ có Thượng Căn.

 

Thế nào là Nhị Thừa, thế nào là Thượng Căn; sáng chẳng sáng, phạm phu thấy có nhị, người trí liễu đạt tánh bất nhị, tánh bất bất nhị là thực tánh ở phàm ngu chẳng bớt. Nơi thánh hiền mà chẳng thêm, trụ nơi não mà chẳng loạn, ở nơi thiền định mà chẳng định. Chẳng thương, chẳng tiếc, chẳng ngày, chẳng đêm, tánh là tướng nhu như, chẳng biến chẳng đổi, đó gọi là đạo.

 

Thiện trí thức lấy pháp môn Ðịnh Huệ làm gốc, không nên nhầm lẫn Ðịnh Huệ khác nhau, Ðịnh Huệ vốn nhất thể, chẳng phải hai. Ðịnh là thể của Huệ, thấu được nghĩa định huệ đồng nhau.

 

Các ông là người tu học theo đạo Phật biết rõ định, rồi mới phát sinh ra huệ, kiến giải thành pháp nhị tướng, miệng nói lành mà tâm chẳng lành.

 

Có định mà không có huệ thì chẳng đồng nhau, nếu tâm miệng đều lành, trong ngoài nhất thể, tức là huệ định đồng nhau.

 

Khi nói ra tâm và miệng đều lành tức là tự ngộ trong việc tu hành, chẳng tranh chấp chẳng hơn thua chấp ngã, chẳng mê là lia được tướng nhân ngã chúng sanh thọ giả.

 

Tâm là đạo, tâm được tịnh độ, chớ nên nói lanh quanh, khó hiểu, đỗ lỗi cho người khác hay mạ lỵ người khác một cách vô tội vạ, đổ thừa, tại bị bởi vì…

 

Thiện trí thức là dạy cho con người phải có tâm nhất quán tịnh, chứ đừng mê rồi chẳng hiểu lý lẽ hèn hạ lầm lổi. Nên trụ với bản tánh thiện của con người đối với tất cả chúng sanh, thiện ác, kẻ thù, người thân trên thế gian này.

 

Nếu là người tu hành, khi bị hàm oan đều tâm niệm là Mô Phật A Di Ðà Phật để tâm tịnh. Để cho mọi việc dữ qua đi, tất cả đều là không, chẳng nghĩ đến việc trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ đến ngoại cảnh ác trượt, không chấp ngã, không trói buộc với pháp niệm Phật, mới lấy được tâm trụ làm bản gốc.

 

Nếu chơn như tự tánh khơi niệm, thì lục căn giác trí sẽ không bị rối loạn, ở ngoại cảnh, chọn tánh tự tại pháp tướng, khởi động thì không bị động.

 

Tại sao gọi là giới hương, giới hương là tự tâm chẳng làm việc ác, chẳng ganh tỵ, chẳng tham sân si, tự tu hành, tu định tâm tánh, thấy những cảnh sắc tướng thiện ác, tâm chẳng loạn, gọi là định hương. Hương là hương thơm, tự tâm vô ngã dùng trí huệ để soi sáng tâm tánh.

                           

Không tạo nên nghiệp ác mà thương xót kẻ cô đơn, nghèo nàn, thương xót cho những người Việt vì Quốc gia Dân tộc đã bị bọn quỉ đỏ cộng sản VN hành hạ, trong trong các trại tù lao động khổ sai, đày ải đến các nơi rừng thiêng nước độc.

 

Các ông nên thương, cầu nguyện cho người dân Việt thoát khỏi cảnh đọa đày và những  người dân đang bị đói rét ở quê nhà.

 

Không nên câu nệ vì  bậnTu học, vào Kiết hạ hay viện lý lẻ nầy nọ, mà phải ra tay cứu độ chúng sanh, chẳng chấp ngã, tự tại vô ngại mới gọi là giải thoát hương.

 

Miệng thì niệm tay thì lần chuổi hạt, tâm trí không nên ngu mê mà niệm, không nên kêu căn dối trá, không nên ganh ghét người này, người kia, mà nên giác ngộ để sám hối.

 

Không nên tạo thêm nghiệp nữa mà nên thề nguyện mọi tâm ác phải dứt sạch.

 

Thường thường giới tu học theo đạo Phật, hành theo Phật, là nên phát nguyện hạnh lực, nguyện hành theo Vô tướng, Tam Qui Y Giới.

 

Thời kỳ chinh chiến tạm qua, ổn định được nơi định cư của người Dân Việt tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại, mới xây dựng lên các ngôi chùa mời Thầy về trù trì, để hướng dẫn các Phật tử tu học, chứ không thể mời những tên Sư sãi,

 

Thầy chùa, Hòa thượng, Thượng tọa, Viện chủ quy y theo bọn tà giáo, trá hình để thờ tên đạo tặc giặc Hồ và tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản.   “ Loài lan sói không thể nuôi, kẻ ác không thể làm vua “.

 

Chùa là nơi che chở hồn Dân Tộc, cửa chùa là của chung, đâu phải của riêng của các thầy, những sự lớn mạnh của Phật giáo ở hải ngoại, đều do những người Phật tử Việt tỵ nạn Cộng sản xây dựng thành, ở nơi đất khách quê người. Đối với người dân Việt và dân bản xứ, chùa là nơi trang nghiêm thờ Phật, chùa là của Dân Tộc Viêt Nam tỵ  nạn cộng sản, '' Có treo cờ Quốc gia VNCH, cờ vàng ba sọc đỏ và chào cờ mỗi khi có lễ lớn ''. Thì chẳng bao lâu dân chúng đến rất đông, thăm viếng cảnh chùa lễ Phật, tổ chức những ngày lễ truyền thống như: Tết Nguyên Ðán, Phật Ðản, Rằm tháng bảy…

 

Chẳng may bị bọn ác quỉ đỏ cộng sản tìm đến, nổi giáo với đám quỉ đỏ là Sư Sãi, Thầy chùa, Hòa Thượng, Thượng tọa, Viện chủ, quốc doanh làm tay sai cho bọn cộng sản, làm phân hóa Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam do cộng  sản dựng lên từ tháng 11 năm 1981, tại chùa Quan Sứ Hà Nội, giáo hội ấy là hiệp hội thành viên của Mặt trận Tổ Quốc của cộng sản để chống phá Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã có từ lâu đời.

 

Sự phân hóa nầy, cũng như những phân vân suy nghĩ của những người Phật tử và những người theo đạo Phật, không biết các ông nầy là ai ?

 

Mà mai danh ẩn tích, mà làm các việc thật là mờ ám hay các ông bỏ chánh theo tà, bỏ kiến tánh theo quỉ đỏ. Như vậy là các ông chưa lãnh hội được triết lý tu học của đạo Phật, chúng sanh đau  khổ bởi lỗi tại ai. Các ông nên tự xét lấy bản thân, không nên chấp pháp tướng ở bên ngoài. Tâm tự biết sai trái chứ đừng mượn pháp tụng niệm để lý ngộ kẻ khác, thuyết pháp ẩm ờ, tuyên truyền có lợi cho cộng sản.

 

 Có tính cách mạ lỵ người khác, vạn pháp vô thừa, tất cả chẳng nhiễm chẳng lìa xa pháp tướng, vô sở đắc.

 

Người tu thì phải hành, chẳng nên tranh biện hay nhìn qua một góc độ, gia đình và hôn nhân. Nên tu hành, tự tánh như như, vẫn biết chúng sanh có thân là có khổ, có sanh có diệt, cũng có vui, có buồn, vui là có kẻ thọ dụng danh vọng, buồn vì bị mất quyền tước, thường hay biến ứng trong các căn dụng tự tánh chẳng đắc ý.

 

Nó hiện ra như hình với bóng hay hiển hiện trong gương luôn luôn là như vậy. Có đôi lúc các ông tự tôn cho mình là chánh thọ, chánh định.

 

Các ông là Sư Sãi, Thầy chùa, Hòa Thượng, Thượng tọa Viện chủ quốc doanh ra đời để làm suy đồi triết lý Phật giáo.

 

 Các ông không nên vọng tưởng những hư danh phiền não, thương hay ghét giận hờn vu vơ mà nên tham thiền để đốn ngã những u mê hãy tự suy nghĩ lại, nên dứt ngay những phiền não chấp chặt.

 

Đã là một đệ tử của Phật thì nên sớm tối công phu tu niệm Phật và thực hành đúng những lời Phật dạy.

 

Nếu niệm đúng không đổi dời nhất tâm bất loạn, tham thiền thì có kết quả, ai ác ai thiện, ai trái, ai phải, ai chánh, ai tà, thì biết rõ, chớ nên vọng tưởng mà vướng nhiễm lục trần.

 

Chuyên cần tu niệm chân chánh, lấy vị tha làm trọng, biết thương xót những người đang mê nhiễm trần tục, tội lỗi, tội lỗi… Người tu hành không lấy tham sân si để hưởng thụ vật chất, vật chất là nguồn gốc gây ra khổ, mọi thứ đều do tâm để chấp ngã, giận hờn, thù oán…

 

Mà hảy bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham sân si, đều buông bỏ, nếu tâm tha thiết với sự thật là sự thật, nếu tâm giã thì tướng giã, tướng do tâm hành mà có, nếu niệm Phật, mà tâm không làm chủ được thì Mộng ảo sẽ hiện ra.

     

              Đông Triều

Tầu ngầm Mỹ có thể tiêu diệt nửa Hạm đội Nam Hải.




Tầu ngầm Mỹ có thể tiêu diệt nửa Hạm đội Nam Hải.

Love Parade - Lễ hội sexy cuồng nhiệt mùa hè tại Berlin, Đức




Love Parade - Lễ hội sexy cuồng nhiệt mùa hè tại Berlin, Đức

Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương

Date: Saturday, June 9, 2012, 5:08 AM

  

Source: http://nhabaovietthuong.blogspot.com/2012/06/gs-robert-f-turner-hau-qua-cua-viec-hoa.html 

Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương

Giáo sư Robert F. Turner

Trung tâm an Ninh Luật Pháp Quốc Gia

Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân.

(Trích trong “những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)

 

Tôi là một sinh viên trong số tương đối ít ỏi đã thực tin rằng việc chống Cộng sản xâm lược là việc đúng của Hoa kỳ ở Việt Nam, Lào, Cambodia là đúng.

Tôi lần đầu đến Việt Nam trong một giai đoạn ngắn khi là phóng viên năm 1968, rồi quay về đi lính, bắt đầu chức vụ Trung úy rồi sau lên Đại úy rồi trở lại đó hai lần làm việc tại một bộ phận của toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, là Văn phòng Nghiên cứu về Bắc Việt và Việt Cộng. Tôi có cơ hội được đi tới nhiều địa phận tại Việt nam, khoảng 44 tỉnh thành, có chỗ chỉ đi ngang qua. Tôi được qua Lào, Cambodia. Sau khi giải ngũ tôi gia nhập Hoover Institution, tôi đã viết cuốn sử quan trọng đầu tiên bằng tiếng Mỹ về “Cộng sản Việt Nam” .

Trong hơn hai chục năm, tôi đã có nhiều khóa giảng dạy tại viện Đại học Virginia về Chiến tranh Việt Nam. Vì thời giờ có hạn, tôi phải nói ngắn, nhưng trước khi đề cập tới chủ điểm của bải thuyết trình, tôi xin có thêm một lời cảnh báo, nhất là với các khán thính giả trẻ tuổi.

Rằng đa số lập luận “sáng suốt phổ biến” của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam thật ra lại không đúng. Rất đáng tiếc rằng điều ấy có nghĩa là đa số những gì được giảng dạy tại cấp trung và đại học lại gần với thần thoại hơn là lịch sử. Tôi chi xin đơn cử hai thí dụ, hai thí dụ quan trọng:

1- Ngày nay, chúng ta được nghe rằng cuộc chiến Việt Nam là “bất khả thắng”. Chúng ta đứng sai chỗ. Tôi xin được góp tiếng bên cạnh nhiều sử gia thuộc loại xuất sắc nhất ngày nay khi nêu lập luận ngược rằng chúng ta không chỉ hy vọng thắng mà thực tế đã thắng vào đầu thập niên 1970. (Và khi nói “chúng ta”, tôi không nghĩ rằng đấy là Quân lực Hoa Kỳ mà là nỗ lực chung của hai quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ cùng với người dân miền Nam).

2- Chuyện gì đã xảy ra? Khi tôi tuyên bố là có thể thắng. Tôi xin đưa câu nói của người bạn thân Douglas Pike: ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đổi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, ông Pike nói rằng: Tôi tin rằng chúng tôi có thể đã thắng cuộc chiến Việt Nam. Tôi tin rằng trong tương lai lịch sử sẽ nói rằng chúng ta đã thắng. Đó là sự thật.

Một số thí dụ sau đây sẽ chứng minh.

Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004 do Giáo sư John Lewis Gaddis Khoa trưởng Americạn Diplomatic Historians nói rằng: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nh­ưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định.

Nhưng quốc hội với áp lực của “Phong trào Hòa Bình” đã thông qua dự luật vào tháng năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng Thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng “Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la”. Đó là sự thật. Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là, Việt Nam không có đạn, không có xăng. không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe. Ngay sau khi sơ tán từ Việt Nam về tới Mỹ, tôi gặp Nghị sĩ Ted Kennedy tại Thượng Nghị Viện. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông ấy khi trở về Mỹ. Ông ấy đứng cách tôi khoảng 3 mét. Tôi cung tay phải lên và tự nhủ: “mình phải cho nó biết tay, phải đấm gục hắn ta và nói cho thế giới biết rằng chúng tôi vừa mới phản bội chính danh dự của mình và bỏ rơi những người đáng yêu.

John Kerry with Ted Kennedy

Nhưng tôi đã tự cản bản thân mình vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến cương vị Nghị sĩ của tôi và Ted Kennedy sẽ trở thành người hùng. Không phải là việc làm đúng đắn nhưng đôi lúc tôi nghĩ là mình đã bỏ rơi cơ hội ấy.

Sau khi Quốc Hội cắt hết viện trợ cho Việt Nam, Trung cộng gia tăng viện trợ cho Hà Nội. Phạm Văn Đồng nói rằng: “Được cho kẹo tụi nó cũng không dám quay lại”. Đó là lý do của sự thất bại tại chiến trường Việt Nam.

Quân nhân Mỹ, QLVNCH, và miền Nam Việt Nam không bị bại trận, mà thua vì cái gọi là “tự do” của Quốc hội Hoa Kỳ.

Điềm thứ 2 tôi muốn đưa lên là: Việt Nam rất quan trọng. Họ cho rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “phi lý” tiến hành không lý do chính đáng, do hiểu lầm về vụ đụng độ không đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ. Thật sự là ngớ ngẩn.

 

 

 

Tôi đã viết 450 trang trình bày trong luận án đạt giải danh dự năm 1966. Tôi đã ghi lại vào tháng Năm 1975 đảng Lao động của Cộng sản Việt Nam đã quyết định từ Tháng Năm năm 1959 là mở ra đường mòn Hổ Chí Minh và gửi vào Nam nhiều ngàn lính và vô số chiến cụ với mục đích lật đổ chính phủ trong Nam. Đây là hành động xâm lược quốc tế và vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ tham chiền để giúp người dân miền Nam tự vệ vì cùng một lý do như việc chúng ta tham chiến tại Cao Ly, nhằm bảo vệ tự do của con người và thực thi việc chống xâm lược đã được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc.

Trong cuốn sách “Cộng sản Việt Nam” xuất bản năm 1975, Hà Nội đã nhiều lần xác nhận sự thực đó từ Tháng Năm năm 1959 ngay ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. 10 năm trước, chúng tôi đã thảo luận tại Đại học Luật Virginia về vấn đề hợp pháp này. Luật quốc tế và Hiến chương Liên hiệp. Không thể thảo luận nối vì Hà Nội lập luận rằng đó là nội chiến trong miền Nam VN v.v... hãy bỏ qua 1 số điểm vì thời gian có hạn.

Tôi nêu lên hậu quả của việc bỏ rơi VN.

Tôi có thể nói hoài về việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tôi là người đứng ngay trong trận khi Quốc Hội biểu quyết không giúp đỡ Angola vì sự xâm lăng của Xô Viết. Kết quả nạn nhân bị tử vong ở đấy được ước lượng là không dưới trăm ngàn người.

Đến việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan khiến cả triệu người chết. Sẽ không xảy ra nếu chúng ta không rút lui.

Và lần đầu tiên trong sáu chục năm, Moscow bảo với tay sai của họ ở Mỹ châu La Tinh rằng tiến hành “đấu tranh võ trang” để cướp chính quyền thì cũng được, từ đấy mới xảy ra nội chiến tại El Salvador, Nicaragua, Honduras, Guatemala, Costa Rica và các nước khác trong vùng. Vô số người lại thiệt mạng vì chuyện đó. Một số lớn súng M16 tịch thu được từ quân phiến loạn El Salvador, căn cứ theo số xê ri là súng bỏ lại tại chiến tranh VN của quân đội Mỹ. Hà Nội đã cung cấp cùng với Xô Viết qua đường Cuba rồi đưa lậu qua El Salvador.

Cho những người nói chiến tranh VN là phi lý. Họ đã sai.

Nhưng hôm nay tôi không muốn tập trung về các vấn đề dù rất quan trọng là đia dư chiến lược. Tôi muốn nói về hậu quả của quyết đinh của Hoa Kỳ đối với con người.

“Phong trào hòa bình” của phe phản chiến - trấn an chúng ta rằng Hoa Kỳ chỉ lần rút quân và chấm dứt chiến tranh thì mình sẽ phát huy “nhân quyền” và “ngăn nạn tàn sát”. Tôi rất ngại nói về những gì xảy ra tại Việt Nam sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, vì trong hội trường này và tại khu “Little Sàigon” có nhiều người đã trực tiếp nếm mùi và biết rõ hơn những gì mà mọi “học giả” Mỹ có thể muốn biết. Nhưng có một số sự thật thì đã rõ ràng.

Hãy trước tiên nói về nhân quyền. Tháng Tư năm 1975, khi sự chiến thắng của Cộng sản đã thành hiển nhiên cho mọi người, Đệ nhất Bí thư đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố rằng: sau khi “giải phóng” Miền Nam, chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Tới Tháng 10 năm 1978, nhật báo Times đầy uy tín tại Luân Đôn đã báo cáo sự thật: Cộng sản Việt Nam đã biến nhà trường và cô nhi viện thành nhà tù vì họ có quá nhiều tù nhân.

Điều 11 của Hiệp định Paris ký kết năm 1973 cấm “mọi hành vi trả thù hay kỳ thị các cá nhân hay tổ chức đã hợp tác với một phe bên này hay bên kia”, và còn rõ ràng bảo đảm quyền tự do báo chí, tôn giáo, tự do sinh hoạt chính trị và một loạt những quyền thiêng liêng khác. Vậy mà Tháng Năm năm 1977, tờ Quân đội Nhân dân công khai thông báo “triệt để cấm mọi hành vi chống lại chế độ và tước hết mọi quyền tự do của những kẻ không tin vào xã hội chủ nghĩa”. Bài báo tuyên bố: “Với bọn phản cách mạng... nhân dân ta dứt khoát xoá bỏ quyền tự do ngôn luận và trừng phạt đích đáng”.

Sau đó, một dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép tham gia cái gọi là “Quốc hội Thống nhất” đã tuyên bố: Chế độ mới cai tri bằng bạo lực và khủng bố. Không có tự do di chuyển hay lập hội; không có tự do báo chí hay tự do tôn giáo hay... cả quyền tự do có ý kiến riêng... Sự sợ hãi tràn ngập khắp nơi”

QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ

Tháng Chín năm 1970, Trưởng phòng Sài Gòn của tờ Christian Science Monitor là Daniel Sutherland ông bạn của tôi vào thời ấy - có viết một bài dài về “quyền tự do báo chí” trong Nam. Ông viết: “Dưới bộ luật báo chí mới, Miền Nam bây giờ có một nền báo chí thuộc loại tự do nhất Đông Nam Á...”. Tôi tin chắc rằng mình không là người duy nhất trong hội trường này có thề xác nhận điều ấy. Riêng Sài Gòn thì đã có hơn ba chục tờ báo, và nhiều tờ trong số đó kịch liệt chống chính phủ.

Dĩ nhiên là để thu thập dữ kiện về quyền tụ do ấy, tôi thường cầm máy ảnh lang thang trong Sài Gòn vào những chiều Chủ Nhật được nghỉ. Tôi thấy bày bán công khai những quyển sách như “Chiến tranh Nhân dân và Quân đội Nhân dân” của Tướng Võ Nguyên Giáp là cuốn chỉ nam về nổi dậy của Việt Cộng, vài cuốn của lãnh tụ cộng sản Cuba là Ché Guevarra, và cả các cuốn sách về hay của Mao Trạch Đông. Sau ngày gọi là “giải phóng”, người Cộng sản chiếm đóng đã “tạm thời” đình chỉ xuất bản mọi tờ báo hay tạp chí độc lập. Chưa đầy một tháng sau, mọi tiệm sách báo đều bị đóng cửa và việc mua bán hay tàng trữ các văn hoá phầm xuất hiện “dưới chế độ cũ!” đều bị cấm.

TÙ CHÍNH TRỊ

Một trong các vấn đề nặng nề nhất là những người chống Việt Nam thường nêu ra, là cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam đã giam giữ hơn 200 ngàn “từ chính trị”. Khi trở lại Đông Dương vào Tháng Năm 1974 cũng là dịp thăm viếng Cam Bốt và Lào – tôi chú trọng đến việc điều tra những lời cáo giác trên.

Tôi ghé thăm Linh mục Chân Tín, nổi danh lãnh tụ của “lực lượng thứ ba” nhưng có lẽ là một cán bộ của Hà Nội. Tôi hỏi ông là tìm đâu ra con số “202 ngàn tù nhân chính trị?” Ông ta bảo rằng mình đã hỏi các tù nhân cũ và gia đình thân nhân của họ là họ nghĩ xem có bao nhiêu tù nhân. (Tôi nghi là họ đã cộng lại tổng số của các câu trả lời). Sự thật thì thời đó chỉ có khoảng 35 ngàn tù nhân trong tất cả các nhà tù của Miền Nam.

Tên việt gian Chân Tín đội lớp linh mục để phá hoại VNCH

 

Tôi cũng gặp một lãnh tụ khác của “lực lượng thứ ba” là bà Ngô Bá Thành, người nói với tôi rằng định nghĩa của bà về “tù nhân chính trị” có thể gồm cả người nh­ Sỉrhan Sirhan, là tay cán bộ người Palestine đã ám sát nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng Sáu năm 1968. Mục đích của hắn, bà Ngô Bá Thành giải thích là, “chính trị” khi hắn ám sát một ứng cử viên Tổng thống rất nổi tiếng của Hoa Kỳ .


Luat su Ngo Ba Thanh qua doi
 
Tài liệu việt gian cs : 

Ngô Bá Thành Phó Chủ tịch Hội luật gia cs việt gian  Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch UBTWMTTQ việt gian cs Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc hội việt gian cộng sản Việt Nam , Đại biểu QH việt gian cs khoá 6,7,8,10...  

Ls Ngô Bá Thành là người phụ nữ đã từng nổi danh trong phong trào đấu tranh chống sự can thiệp của Mỹ và đối lập với chính quyền Sài Gòn trước kia, là người nổi tiếng trong những năm đỉnh cao của phong trào "đô thị và lực lượng chính trị thứ ba với đàm phán Paris"; tờ báo Mỹ New York Times đã gọi bà là "tinh thần thép". Năm 1998 Uỷ ban về Phụ nữ của Trung tâm tiểu sử Quốc tế (ABI) đã bầu bà là "Người phụ nữ thiên niên kỷ".(tài liệu việt gian cs về thành tích ăn cơm Quốc gia VNCH thờ ma tên Đại Việt Gian HCM ) 

Rồi còn vụ “chuồng cọp” đầy tai tiếng tại Côn Sơn, được họ mô tả như sau:

,”… xà lim chôn dưới mặt đất với các đống sắt, đồng trên trần thay vì ở dưới. Mà trần xây thấp đến nỗi tù nhân không thể đứng được …”

.”… những hố nhỏ được đào dưới đất và che bằng chấn song sắt.”

- “[Mấy hầm đó] quá hẹp cho những người Việt Nam dù thấp bé cũng không thể nằm duỗi thẳng và trần quá thấp nên tù nhân khó có thể đứng thẳng người”

Thật ra, tôi có đến đảo Côn Sơn và thăm những chuồng cọp này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng đồng ý là tôi hơi cao hơn đa số người Việt Nam. Vậy mà tôi chưa thể với tới các chấn song trên trần - vốn cao tới ba thước (khoảng 10 bộ) kể từ mặt đất lên.

Ngay cả lực sĩ Nghiêu Minh (Yao Minh) người Tầu - tay trung phong của đội bóng rổ Rocket's ở Houston bên Texas cũng chỉ cao tới bảy bộ và sáu phân hơn hai thước hai - nên anh ta cũng chẳng gặp khó khăn gì đề duỗi dài trong căn xà lim một bề thước rưỡi một bề ba thước của cái gọi lả “chuồng cọp”.

Ít nhất, một số cán bộ chống (VNCH) Việt Nam đã từng cáo giác chuyện “chuồng cọp” biết là họ nói láo. Trước khi qua Việt Nam năm 1974, tôi nói với một người trong số này rằng tôi dự tính sẽ tới nhà tù Côn Sơn đề tự minh xem tận mắt và anh ta có vẻ khó chịu – có lẽ biết rằng tôi sẽ thấy sự thật. Anh ta nói rằng vấn đề thật bây giờ chính là tại nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.

Vì vậy sau khi thăm Côn Sơn, tôi xin phép vào xem nhà tù Chí Hòa và chưa đầy 48 tiếng sau đã được tới đó trong mấy tiếng đồng hồ. Đây không là nơi mà mình thích sống nhưng cũng chẳng tệ hơn đa số các nhà tù và bên trong tôi không thấy dấu vết gì của những sự lạm dụng phổ biến. Tôi nói riêng với vài người Mỹ đã từng ở trong này và họ nói rằng dù có nghe nhiều lời tố cáo nhưng tất cả đều cho biết là họ không hề nghe thấy “tiếng gào thét trong đêm vắng” hoặc được báo cáo về nạn tra tấn hay hành hạ tù nhân.

NGĂN CHẬN TÀN SÁT

Bi thảm nhất của những người chống (VNCH) Việt Nam là lý luận của họ, rằng cắt viện trợ cho Miền Nam là Hoa Kỳ sẽ “ngăn được nạn tàn sát”. Họ sai lầm tới chừng nào. Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hòa Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được “giải phóng” lên tới 643 ngàn.

- Khoảng 100 ngàn bị xừ tử qua quít ngay sau khi Cộng sản nắm quyền. Qua quít vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về “tiến trình hợp pháp” hay một toà án.

- Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là “thuyền nhân” bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chê độ độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Ty nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát. Nhiều người tử nạn sau khi bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số “chết một phần ba” cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.

Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là “A Better War” - một Cuộc Chiến Khá Hơn - mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các “Trại Cải Tạo” do chế độ Cộng sản lập ra.

- Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đày vào các khu “Kinh Tế Mới” để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về “Trại Cải Tạo” và khu “Kinh Tế Mới” và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử.

CĂM BỐT

Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa.

Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yêm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”. Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” - Protocole States - đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954. Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương. quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào. Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization). Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khờme Đỏ. Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khờme của họ thật ra chẳng còn là bí mật. Và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là đễ cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt. Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết.

Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy. Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho lả có hơn hai triệu. Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người - hơn 20% dân số toàn quốc.

Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí Nattonal Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản giọng chúng vào thân cây”.

Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước lư­ợng dè dặt nhất, có nhiều thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam hơn là tổng số nạn nhân trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu... Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.

Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nêu như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ. Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện. Chúng ta phải kể lại chuyện này - một cách chính xác và cẩn trọng – đểngười khác sẽ biết rất lau về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa. Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.

Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại. Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism” - Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản”. Do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.

Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.

Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thận tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu. Nhưng khi đa số của Quốc hội phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. Họ cũng phản bội sự hy sinh của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.

Happy Memorial Day!
Happy Memorial Day!

Diposkan oleh kuning.semut di  13:10

Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín. Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chịa sẻ với ng­ười khác. Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội. Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí.

Xin cảm tạ quý vị và cầu xin Thượng Đế sẽ phù hộ chúng ta./.

 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link