Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, July 29, 2012

BÀO VỆ NGƯÒI DÂN TRONG HIẾN PHÁP NHÂN BẢN.

BÀO VỆ NGƯÒI DÂN TRONG HIẾN PHÁP NHÂN BẢN.

 

                                                                                                                                                                                                NGUYỄN HỌC TẬP

 

Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân ".

Nói như vậy, ai cũng nói được.

Nhưng Đảng và Nhà Nước có phương thức nào để bảo vệ dân, để cho rằng mình " của dân, do dân và vì dân " không?

 

Những dòng dưới đây là những gì Hiến Pháp Nhân Bản của thiên hạ tiên liệu, ngay cả lúc Hiến Pháp được ban hành, để có thể ngẩng mặt nói mình là " của dân, do dân và vì dân".

 

   -  " Tự do cá nhân bất khả xâm phạm.

Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình.

Mỗi người được tự do triển nở hoàn toàn con người của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền lợi người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý ( Điều 2, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

 

    - " Không thể chấp nhận bất cứ mọi hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, trưng thu , hoặc các phương thức giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không có án trác có lý do của tư pháp, trong các điều kiện và theo thể thức luật định .

Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt .( Điều 13, doạn 2 và 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

   - " Tính cách có thể được chấp nhận và thời gian kéo dài của việc trất hữu hay giảm thiểu tự do chỉ có vị thẩm phán có quyền định đoạt. Trong trường hợp quyền tự do bị truất hữu không do cơ quan tư pháp ra lệnh, cần phải cấp bách yêu cầu quyết định của tư pháp. Cảnh sát tự mình không có quyền cầm giữ ai đến ngày hôm sau, khi bị bắt. Các chi tiếc sẽ được luật pháp quy định"

Bất cứ ai tạm thời bị bắt giam vì tình nghi phạm pháp, nội trong ngày hôm sau phải được đem đến trước quan toà. Vị quan toà phải thông báo cho đương sự lý do bị bắt giam, nghe đương sự trình bày hay làm cách nào để đương sự có thể biện minh. Sau đó quan toà hoặc phải đưa ra trác án giam giữ có lý chứng, hoặc phải ra lệnh phóng thích tức khắc. Nhân viên công lực tự mình, không có quyền giam giữ ai ( Điều 104, đoạn 2 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD)

 

A –Thể Chế Nhân Bản đứng ra bảo đảm cho tự do cá nhân, sau khi xác nhận phẩm giá con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm trong tổ chức Quốc Gia.

Với câu

 

   - “ Nền Cộng Hoà nhận biết  và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các xã hội trung gian , nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình, và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội” ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)  ( Cf. PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ) ,

 

Thể Chế Nhân Bản nhìn nhận con người  như là giá trị tối thượng trên các giá trị nền tảng của Thể Chế, trên đó một Quốc Gia văn minh, tôn trọng con người được xây dựng.

Quốc Gia được thiết lập là để phục vụ con người.

 

Mục đích của  nguyên tắc nền tảng  đang bàn của  Thể Chế Nhân Bản là bảo vệ tự do cá nhân:

 

 Tự do cá nhân bất khả xâm phạm.

    Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình” ( Điều 2, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) .

 

Quan niệm tự do cá nhân phải được bảo vệ được đã có từ ngàn xưa, từ lúc có con người.

Tự do cá nhân nói riêng và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người nói chung, được viết thành văn bản và có hệ thống từ thề kỷ XVIII, với Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789.

 

Nhưng dấu vết của ước vọng con người cho mình có được tự do, chúng ta có thể tìm thấy trước hơn nữa, trong sắc lệnh của hoàng gia Anh," Habeas Corpus“. Hoàng gia Anh dành cho mình quyền giải thoát các thần dân bị cáo khỏi uy quyền của các lãnh chúa và đem về xét xử bằng toà án của triều đình, để cứu  sống họ.

Dần dần nguyên tắc trên trở thành tập tục cho quyền của cá nhân được bảo toàn mạng sống khỏi bị  hành hạ, ngược đãi bằng bạo lực, theo cách hành xử tùy lúc, tùy hứng của các lãnh chúa ( hay của bọn côn đồ công an và xã hội đen đối với giáo dân Con Cuông chẳng hạn).       

Dấu vết tự do cá nhân được bảo vệ, chúng ta có thể tìm thấy trong "Habeas Corpus“ , như vừa nói, nhưng ước vọng con người được tự do khỏi áp bức, hành hạ, giết chết không phải chỉ mới phát xuất từ đó, mà hiện hữu từ lúc có con người.

Hơn ai hết, người Anh đã xác tín điều đó, nên nền tảng dân chủ và nhân bản của Quốc Gia đối với họ không phải chỉ là những gì được ghi trên các văn bản viết ra, mà còn cả những gì tiềm tàng trong trong ý thức của con người, được thể hiện trong niềm tin và cách thức hành xử của con người theo tập tục qua bao thế hệ.

Người Anh gọi niềm tin và lối hành xử đó trong tập quán là “  Common Laws ” ( Luật lệ chung của mọi người, theo xác tín,  tâp tục).

Bởi đó chúng ta không lạ gì những tuyên ngôn, thỉnh nguyện, văn bản về nhân quyền như  

- Magna Charta Libertatum 1215,

- Petition of Rights 1628,

- Bill of Rights 1689 ,

trên thực tế là những bản văn Hiến Pháp liệt kê các quyền và tự do người dân, đòi buộc giới đương quyền phải tôn trọng, được người Anh viết ra như là những gì họ chỉ nhắc lại, nhìn nhận và xác quyết những điều đã có sẵn trong “ Common Laws ”.

 

Để tránh cho bài viết quá dài, chúng tôi xin tạm gát lại các tư tưởng về

   - tự do cá nhân,

   - tự do cá nhân theo quan niệm luật tự nhiên,

   - tự do cá nhân trong quan niệm khế ước

và đi thẳng vào những gì phải có, để áp dụng thực tế bảo vệ an ninh cá nhân và mạng sống người dân

( nhưng chi tiết vừa kể, qúy vị  có thể xem thêm, www.thegioinguoiviet.net, n.10, cfr. TỰ DO CÁ NHÂN).

 

Và đây là những phương thức được Hiến Pháp Nhân Bản tiên liệu để bảo vệ người dân:

 

1 - Nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị.

“  Mỗi người được tự do triển nở hoàn hảo nhân phẩm của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý " ( Điều 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) .( cfr. THỂ CHẾ QUỐC GIA PHÁP TRỊ ),

 

Tính cách tương đối hóa và giới hạn  của tự do cá nhân trong cuộc sống chung của Cộng Đồng Quốc Gia, chúng ta vừa có dịp đề cập đến ở trên.

Nhưng đọc phần 2 của câu văn,

 

“… miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý ”,

 

chúng ta có cảm tưởng rằng Thể Chế Nhân Bản  chỉ cho phép việc “ triễn nở hoàn hảo nhân phẩm  ” dưới hình thức tiêu cực, " miễn là..." .

Nhân phẩm  con người của cá nhân khỏi bị “ quyền của người khác…, thể chế hiến định và lề luật luân lý ” giới hạn.

Suy nghĩ kỹ hơn, ý nghĩa của quan niệm căn bản Thể Chế Nhân Bản  không phải chỉ có ý nghĩa như vậy.

Trong cuộc sống chung với người khác và liên hệ với quyền của người khác, không hẳn tự do cá nhân, "  phát triển hoàn hảo con người của mình " chỉ có điều bất lợi là bị giới hạn. 

Sống chung với người khác và liên hệ với quyền của người khác cũng giúp chúng ta phát triển chính con người của chúng ta.

Cuộc sống chung trong xã hội là cuộc sống trong đó hiểu biết của người khác giúp chúng ta mở mang hơn, hoạt động của người khác đem lại lợi ích cho họ mà cũng cho cả chúng ta, cho mỗi người chúng ta và cho công ích.

Cũng vậy, " thể chế hiến định và lề luật luân lý "  không phải chỉ là những khuôn viên bó buộc chúng ta không thể vượt thoát ra bên ngoài, mà là nền tảng Thể Chế Nhân Bản, với sự tôn trọng phải có, như là những điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể phát triển con người của chúng ta.

Nói cách khác, thể chế hiến định và nền tảng luân lý là khuôn sườn, là ngôi nhà bảo bọc, bênh vực con người, chống lại mọi yếu tố tác hại, nghịch cảnh để con người có môi trường và điều kiện phát triển hoàn hảo chính mình và giúp phát triển cho đồng bào mình.

Bởi đó, Thể Chế Nhân Bản, tôn trọng con người và tôn trọng phương thức dân chủ đa nguyên, đa dạng xây dựng đất nước, nhưng không phải là thể chế mềm nhũng không xương sống:

 

   - “  Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến sự tham dự của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp hay đến các nguyên tắc đã được nêu ra ở điều 1 và điều 20 ” ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

( Điều 1, liên quan đến phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và điều 20, định nghĩa Cộng Hoà Liên Bang Đức là Quốc Gia Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội).

 

Như vậy, dù Nhân Bản và Dân Chủ, chúng ta cũng có những nguyên tắc nền tảng bất di dịch của Thể Chế phải tôn trọng để bảo đảm cho con người.

Thiếu Thể Chế Nhân Bản và lề luật luân lý làm nền tảng cho ,

   -Thể Chế, là độc tài, khuynh đảo, lạm dụng quyền bính để  phục vụ đảng phái và lối sống mọi rợ, nếu không phải là lối sống thú vật ( con người hơn con vật bởi con người có tư cách sống theo lý trí,  luân lý, không phải chỉ biết hành động theo bản tính).

   - Và với cuộc sống xã hội làm môi trường cho cuộc sống liên đới hỗ tương , Thể Chế Nhân Bản hiến định và lề luật luân lý làm điều kiện thuận lợi và giềng  mối, con người được đặt vào hoàn cảnh và điều kiện sống thích hợp, hợp với bản tính tự nhiên của mình (xã hội tính, dân chủ và bình đẳng và phương cách hành xử xứng đáng với nhân phẩm con người), để tự do phát triển con người của mình, tung tăng như cá tự do bơi lội trong nước.

Trong những hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi đó, con người tự do phát triển nhân phẩm và năng khiếu của mình theo ba chiều hướng đã đề cập:

- chiều hướng nội tâm,

- hướng thượng

- và huớng tha.

 

2 - Bảo vệ bằng luật pháp.

 “ Không thể chấp nhận bất cứ hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, cầm giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không có án trác có lý do của tư pháp, trong các điều kiện và theo thể thức luật định ” ( Điều 13, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Đoạn văn vừa kể của những nguyên tắc nền tảng Thể Chế Nhân Bản,  được viết ra dưới hình thức hình thức nổi bậc, “  dành quyền tuyệt đối cho tư  pháp ” (riserva assoluta al potere giudiziario).

Là đoạn văn quan trọng,  liên quan đến bản thân con người, để bảo toàn thân thể và tinh thần của mỗi cá nhân, đoạn văn của Hiến Pháp phải được viết ra bằng tất cả các phương thức bảo đảm luật pháp thông dụng của các Hiến Pháp văn minh, nhứt định bảo đảm cho con người, trung tâm điểm và có địa vị tối thượng trong tổ chức Quốc Gia:

 

   a ) * Dành quyền hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge) :

đoạn cuối cùng của câu văn, " trong các điều kiện và theo thê thức luật định ", là hình thức bảo chứng tương đối thông thường " dành quyền  hạn chế cho luật pháp ", được hầu hết các văn bản Hiến Pháp đều áp dụng.

Đó là hình thức dành quyền hạn chế cho luật pháp hay chính xác hơn là dành quyền cho Quốc Hội, cơ quan dân cử duy nhứt, có quyền " lập pháp", " chuẩn y hay bác bỏ " các điều khoản luật, biến các dự thảo, đề án luật thành đạo luật thực định có hiệu lực bắt buộc..

Nói các khác, không ai có thể can thiệp vào con người, " ...bắt giam, lục xét, điều tra, trưng thu hay giảm thiểu tự do ", nếu không được luật pháp do Quốc Hội thường nhiệm đã " chuẩn y hay bác bỏ", trong các trường hợp và theo các thể thức được cho phép.

 

  b)  * Dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge) .

Như vậy, Hiến Pháp giao cho Quốc Hội thường nhiệm " lập pháp ", soạn thảo, " chuẩn y hay bác bỏ " luật pháp và thiết định " các điều kiện và theo thể thức " nào nhân viên công lực phải hành xử, không được như bọn công an phi nhân và kém văn minh chửi bới, đánh đập, đả thương, " trấn nước mụ Uá", " bịt miệng Cha Lý giữa phiên toà" không cho mình tự biện hộ, ném rác và phân hôi thúi và nhà chi Trần Khải Thanh Thủy  để trả thù và giết chết người dân, cũng như đang đánh đập giáo dân Con Cuông, giáo phận Vinh trong mấy ngày nay.

Nhưng nói như vậy, nhưng không phải Hiến Pháp " khoán trắng " cho Quốc Hội muốn " lập pháp " cách nào, " trong các điều kiện và theo thể thức luật định " thế nào cũng được, mà chính Hiến Pháp đứng ta " thiết định " trước,  " các điều kiện và theo thể thức luật định ", như là lằn mức không thể vượt qua.

Nói cách khác, Hiến Pháp đã " thiết định " cho Quốc Hội phải " thiết định ",  luật pháp, " trong các điều kiện  và theo thể thức luật định " đã được Hiến Pháp " thiết định ", không thể vi phạm, đi ra ngoài hay loại bỏ những gì Hiến Pháp đã xác định, nếu không muốn các đạo luật mình " chuẩn y hay bác bỏ " bị Viện Bảo Hiến phán quyết là vi hiến và trở thành vô dụng ( Điều 93 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Đó là phương thức " hạn chế tăng cường đối với luật pháp" ( riserva rinforzata di legge). Và đó là ý nghĩa của đoạn văn chúng ta ghi lại ở đầu bài:

 

   - " Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thể xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt ".

 

Quốc Hội không thể " lập pháp ", cho phép bất cứ ai " Đảng và Nhà Nước mình"  hay  công an hống hách ở phường xóm cũng vậy, hành xử ngược lại đối với lằn mức được Hiến Pháp xác định. Bởi vì đó là nguyên tắc nền tảng của toà nhà Nhân Bản:

 

- " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

- " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).   

 

- " Mọi áp bức, khủng bồ trên thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt".

- " Không có bất cứ trường hợp nào, một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Như vậy sự việc công an " bề hội đồng ", xúm nhau đánh đập kỷ sư Đổ Nam Hải mới đây ở đồn công án; xung vào tư gia, chửi bới, mắng nhiếc, đánh đập, giết chết và bắt bỏ tù " bọn Tin Lành"  khi " tụi nó " họp nhau tại tư gia để thờ phượng Chúa, vì "nhà thờ tụi nó bị ủi sập "; cũng như trên 50 công an, xúm lại áp đảo và trấn nước " mụ Úa" ở Kiên Giang mới đây làm cho những ai còn có lương tri con người phải đặt câu hỏi về 

- giá trị của Hiến Pháp 1992 CHXHCNVN " không có con người "không? , như Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, ( Hortz S.J , La Nuova Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica, 1978, 340 )

-  cách " lập pháp " quái đảng của Quốc Hội mình,

- hay đó là về cách hành xử " cóc cần luật pháp ",  mọi rợ của " Đảng và Nhà Nước mình " đồng loả với công an?

 

 c) * Dành quyền tuyệt đối cho tư pháp. 

Phương thức thứ ba được Thể Chế Nhân Bản  nêu lên trong câu trích dẫn ở phần đầu của đoạn đang bàn, đó là phương thức " dành quyền tuyệt đối cho tư pháp", ( riserva assoluta al potere giudiziario) để bảo vệ tự do cá nhân:

 

   - " Không thể chấp nhận bất cứ một hình thức giam giữ...nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp ".

 

Giả xử Chính Quyền và cánh tay quyền lực của Chính Quyền đã vượt qua hai trạm kiểm soát đầu tiên,

   - được Quốc Hội chuẩn y ban hành luật pháp để áp dụng và luật pháp của Quốc Hội tuân theo những điều khoản " không thể vượt qua " đã được Viện Bảo Hiến phán quyết và cho phép thi hành ( Điều 100, đoạn 1 Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức) ,

   - Chính Quyền và công an các cấp của Chính Quyền cũng chưa dám vì cầm được cuốn luật trong tay, hoá mắt thiên hạ để xông vào tư gia, mò mẫm trên thân thể, lột quần lột áo dân chúng để lục xét, chớ đừng nói gì chữi bới, đánh đập, đả thương, bắn giết, bắt bỏ tù.

Bởi lẽ đó là những động tác liên hệ, ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân cá nhân của người dân, nên Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ " dành quyền tuyệt đối cho tư pháp ", chỉ có khi nào cơ quan tư pháp ra án trác có lý chứng, ra lệnh và cho phép cơ quan Chính Quyền mới được xử dụng:

 

- " Không thể chấp nhận bất cứ hình thức giam giữ, lục xét, điều tra, giam giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do nào khác, nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp,..."  

 

Bởi lẽ,

- " tính cách chấp nhận được và thời gian giảm thiểu tự do chỉ có vị thẩm phán mới có quyền ra lệnh. Dù sao đi nữa, việc truất hữu quyền tự do không do quyền tư pháp quyết định, phải thôi thúc tư pháp quyết định liền sau đó. Cảnh sát không có quyền bắt giữa ai qúa ngày hôm sau khi bị bắt giữ..." ( Điều 101, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

- " ai bị tạm thời bắt giữ vì tình nghi can phạm tội trạng, có cùng lắm là ngày hôm sau phải được trình diện trước quan toà, để quan toà báo cho biết lý do anh ta bị bắt giữ, hạch hỏi anh ta và lắng nghe đương sự trình bày lý do phản cung. Vị quan toà phải tức khắc ra lệnh bắt giữ với án lệnh được viết thành văn bản và có lý chứng, nếu không phải ra lệnh thả lập tức" ( Điều 101, đoạn 3, id.).

 

Và rồi " án trác có lý chứng đó của tư pháp ", nếu người dân cho là oan ức, không xác thực, tự mình hay cùng với người khác có thể kháng cáo lên các cơ quan có thẩm quyền:

   - " Bất cứ ai vị cơ quan công quyền vi phạm các quyền của mình, đều có thể đệ đơn tố cáo đến cơ quan tư pháp thường nhiệm" ( Điều 19, đoạn 4 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

   - " Mỗi người tự mình hay cùng chung với người khác có quyền đệ trình thỉnh nguyện thư hay đơn tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền hay đến cơ quan đại diện dân chúng" ( Điều 17, id.).

Và các cơ quan có thẩm quyền hay đại diện dân chúng đó có thể là

   - Tổng Thống Cộng Hoà ( Điều 87 và 90, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),

   - Lưỡng Viện Quốc Hội ( Điều 50, id.),

   - Tối Cao Pháp Viện ( Điều 103, id.),

   - Viện Bảo Hiến ( Điều 136, đoạn 1, id.).

 

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng những nguyên tắc nền tảng được Thể Chế Nhân Bản  tuyên bố là những điều khoản luật thực định để tổ chức Quốc Gia,  có giá trị bắt buộc phải thi hành ( precettive), được tuyên bố dưới hình thức " mệnh lệnh tính ",  chớ không phải chỉ là những lời tuyên bố suông, hay những câu tuyên bố có tính chương trình hành động ( programmatiche).

Bởi lẽ ngay ở quan niệm nền tảng đầu tiên của văn bản Thể Chế đã xác định:

 

Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền đòi buộc trực tiếp ” ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ) ;  ( Cf. PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ).

 

Vậy thì những

 

   - “ hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, cầm giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào…đều không thể được chấp nhận”,

 

là một điều khoản luật  “  có giá trị bắt buộc trực tiếp đối với các cơ chế Quốc Gia ”.

Nói cách khác, bất cứ ai , tư nhân cũng như cơ chế Quốc Gia nào hành xử ngược lại, là cách hành xử vi phạm vào các điều khoản nguyên tắc nền tảng của Thể Chế Nhân Bản, nền tảng trên đó chúng ta ao ước xây dựng Quốc Gia chúng ta trong tương lai, không những phạm pháp mà còn là hành động vi hiến, bất cứ chủ thể đó là ai.

Và vì là quyền “ có giá trị bắt buộc trực tiếp  ” được chỉ định các chủ thể bị quy trách (lập pháp, hành pháp và tư pháp ) , nên người dân có thể tố cáo  (actionable)  đòi buộc quyền tự do của mình phải được tôn trọng, đến các cơ quan có thẩm quyền được Hiến Pháp chỉ định.

 

Điều đó cho thấy rằng tự do cá nhân trong Thể Chế Nhân Bản là

    - những quyền thực hữu ( diritti sostanziali),

    - được bảo vệ bởi luật lệ thực định ( legge positiva),

   - chủ thể được quy trách ( soggetti imputati) rõ ràng,

   - là những quy luật bắt buộc ( precettive).

Ngoài ra trong câu “ …  hoặc các hình thức giảm thiểu cá nhân nào…”, Thể Chế Nhân Bản cũng lưu ý đến những trường hợp khác trong đó tự do cá nhân không phải chỉ bị giảm thiểu bằng áp bức, giam cầm, cưỡng bách, lục soát, trưng thu  trên thân thể, mà còn cả những trường hợp bị dọa nạt, đặt điều kiện và lường gạt gian dối  làm cho con người không có khả năng đủ để xử dụng tự do của mình.

Trong lao tù và trong các bệnh viện, nhứt là bệnh viện chuyên về thần kinh, cá nhân có thể bị doạ nạt, đặt điều kiện, bị áp đặt phải chịu chữa trị theo phương pháp nầy hay theo phương pháp khác, trái với ý muốn của mình.

Ở những trường hợp vừa kể cá nhân đương cuộc có thể đệ đơn tố cáo những ai có trách nhiệm các nhà giam và bệnh xá vi phạm tự do cá nhân đến tư pháp.

 

Và cơ quan tư pháp có thể xét  xem chủ thể đương cuộc có là những chủ thể  thực sự nguy hiểm đến sức khoẻ,

 

   - “ ...là quyền cá nhân và  lợi ích xã hội, phương hại đến an ninh, tự do và nhân phẩm con người   ” ( Điều 41, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),

 

định giá tương xứng giữa nguyên nhân và hậu quả để có những phán đoán cân nhắc tương xứng.

Cũng trong tinh thần vừa kể để bảo vệ tự do cá nhân, người đương cuộc có thể tố cáo những trường hợp gian xảo lường gạt, biến chất hóa thức ăn ( adulterazione alimentare) chẳng hạn, bằng cách trộn vào thức ăn, đồ uống, thuốc hút, dầu thơm  để làm cho người tiêu thụ bị nguy hại thân thể,  bị nghiện ngập phải tìm  mua loại nhu yếu vừa kể.

Trường hợp vừa đề cập làm cho cá nhân không còn đủ khả năng xử dụng trí óc sáng suốt để tự do lựa chọn của mình.

Những trường hợp đang bàn đã và đang xãy ra ở các quốc gia tân tiến, và tổ chức Quốc Gia có bổn phận " nhận biết và bảo vệ "  quyền bất khả xâm phạm của người dân như là những quyền

 

    - " có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp".

 

 

3 - Trong trường hợp cần thiết và khẩn trương.

Trong các trường hợp cần thiết và khẩn cấp được luật pháp quy định rõ, cơ quan công quyền có thể áp dụng những phương thức tạm thời, nhưng phải báo cho quyền tư pháp biết trong vòng 48 tiếng đồng hồ và, nếu cơ quan tư pháp không không chấp thuận trong vòng 48 tiếng đồng hồ kế tiếp, các phương thức tạm thời vừa kể phải được coi là đã bị thu hồi và không còn bất cứ hiệu lực nào " ( Điều 13, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Nhưng dù sao đi nữa thì:

 

   - " Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên  thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt ” ( Điều 13, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)

 

Với đoạn văn vừa kể Thể Chế Nhân Bản tuyên bố phương thức bảo vệ tự do cá nhân dưới hình thức “  dành quyền tương đối cho luật pháp ”( riserva relativa di legge), Quốc Hội thường nhiệm có thể soạn thảo ra những đạo luật xác định trường hợp và thể thức can thiệp phải tuân theo:

 

    - " trong các truờng hợp cần thiết và cấp bách, Chính Quyền  có thể..."

 

do tình trạng cần thiết và khẩn cấp đòi hỏi.

Cần thiết và khẩn cấp để làm gì?

Đó là những trường hợp cẩn thiết và gắp rút để bảo vệ thế chế dân chủ, tự do và nhân bản hiến định, ngăn chận những hành động nguy hiểm đối với

 

   - “ lợi ích xã hội, có phương hại đến an ninh cá nhân, tự do và nhân phẩm con người”  ( Điều 41, đoạn 4, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Nói cách khác, trong trường hợp cướp giựt, phạm pháp sát nhân, khủng bố, chiến tranh hay có thể gieo rắc bệnh truyền nhiễm nguy hại sức khoẻ dân chúng…

Trong các trường hợp đại để như vậy, các nguyên tắc căn bản của Thể Chế Nhân Bản  cho phép cơ quan công lực có quyền áp dụng tạm thời các phương thức giảm thiểu tự do.

Và dù cho tự do cá nhân bị giảm thiểu trong trường hợp “ dành quyền tuyệt đối cho cơ quan tư pháp ” hay  “ dành quyền hạn chế cho luật pháp ”, hoặc " dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp " ,  chính Hiến Pháp đứng ra xác định những lằn mức không thể vượt qua: không có bất cứ trường hợp nào Thể Chế Nhân Bản cho phép dùng

 

   - “ Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và đối với tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt ” ( Điều 13, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)  

.

hay nói như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức:

 

- " Không có bất cứ một trường hợp nào, trong đó một quyền căn bản có thể bị xúc phạm đến nội dung thiết yếu của nó " ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Bỏi lẽ đi ngược lại với nguyên tắc tối thượng nền tảng đầu tiên mà Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ tuyên bố :

 

 Phẩm giá con người bất khả xâm phạm . Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là nhận biết và bảo đảm nhân phẩm đó " ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức),

 

Bởi lẽ đó là hành động của súc vật, vì coi con người như súc vật.

 

Hiến Pháp của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " và " đỉnh cao trí tuệ " có tiên liệu những phương thức thực dụng như vừa kể , để bảo vệ dân hay không?

Hỏi cách khác: bọn côn đồ công an và xã hội đen đang đánh đập giáo dân Con Cuông, giáo phận Vinh, như súc vật. Hành động đó dựa trên thể thức " quốc gia pháp trị nào ? " và  " điều khoản nào bảo vệ bằng luật pháp  " để đàn áp dân?

Hiến Pháp của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " và " đỉnh cao trí tuệ " có tiên liệu điều khoản nào bắt buộc để bảo vệ dân hay chỉ là Hiến Pháp " đỉnh cao trí tuệ " " mỵ dân " ( démagogique ) chỉ tuyên bố để mà tuyên bố ?

Hiến Pháp là văn bản nền tảng để thiết định, kiến trúc, tổ chúc Quốc Gia,

Nếu Hiến Pháp đã là Hiến Pháp " mỵ dân ", thì ai còn chờ đợi  đến "lập pháp ", hành pháp " kể cả " tư pháp " , công an côn đồ và xã hội đen súc vật có cách gì đối xử Nhân Bản với người dân?

Hỏi để những thành phần còn có lương tri của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " trả lời.

 

Tự Do hay là Chết?

 

Tự Do hay là Chết?
Bảo Giang


Câu hỏi lạ lùng và khắc nghiệt làm sao! Tuy thế, nó lại là việc khởi đầu của một hành trình đem đến những đổi thay tốt đẹp cho mọi người. Thật vậy, lịch sử của thế giới, của nhiều quốc gia, cũng như sự trải nghiệm của rất nhiều cá nhân đã chứng minh gía trị sâu sắc của câu hỏi xem ra “ khắc nghiệt” này. Bạn nghĩ sao? Việt Nam ta thế nào?

I. Những lý do để đi tìmTự Do.

Trong những ngày gần đây, nhiều nguồn tin ở trong nước đã làm cho cuộc sống của người Việt ở trong nước và hải ngoại bỗng giao động. Họ bị giao động vì những trò chơi chết người của nhà cầm quyền Việt cộng đang tái diễn với nhân dân Việt Nam, đặc biệt là đối với những người tranh đấu cho nền Thịnh Trị, Hòa Bình, Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Độc Lập của quê hương còn ở trong nước.

Chuỵện Việt cộng đàn áp và đấu tố nhân dân Việt Nam không phải là mới bắt đầu từ những năm gần đây. Nhưng từ ngày 3-2-1930, ngày Hồ chi Minh và tập đoàn cộng sản được lệnh Tàu, Nga lập chi bộ đảng cộng sản Đông Dương ở Tân Trào thì người dân Việt Nam đã phải nếm mùi máu tanh của cái mã tấu, mùi rỉ xét của cái búa, cái liềm của chúng. Chỉ bất hạnh là, cái nùi máu tanh ấy lại là niễm hãnh diện, là biểu tượng của nền văn hóa Vô Đạo của nhà nước CHXHCNVC hiện tại, nên người Việt Nam không có nhiều phương án để chọn lựa.

a. Phương án một: Tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của cái mã tấu trong tay Hồ chí Minh và đồng bọn. Không còn biết, còn nghe, còn nói gì đến những ngôn từ Độc Lập Tự Do Nhân Quyền Dân Chủ nữa. Nghĩa là “ Nó muốn làm gì thì mặc mẹ nó”, phần mình thì nhắm mắt lại, vô giác, vô cảm. Coi như đời đã chêt ngay từ lúc nhập thế.

b. Phương án hai: Hãy đứng dậy, nắm lấy tay nhau cho ấm mà đi. Đi, đường có xa mấy cũng đến. Chết thì ai cũng một lần chết. Làm con giun cho chúng dày xéo thì cũng chết. Nhưng đi, chưa chắc đã chết. Hơn thế, đứng lên đi là có đổi thay. Chính sự đổi thay sẽ đem đến cho mình và cho đời nhiều ý nghĩa tốp đẹp hơn. Như thế, bạn chọn phương cách nào đây? Đứng lên đi, hay ngồi chờ chết nào?

Sở dĩ có câu hỏi này là vì nhìn về qúa khứ, tính từ ngày Hồ chí Minh thành lập chi bộ cộng sản theo lệnh Tàu đến nay, không có sách vở nào có thể ghi cho đủ, ghi cho hết được danh tính của những người dân Việt bảo vệ chữ Tự Do, Dân Chủ, cũng như bảo vệ nền luân lý đạo đức của quê hương đã bị chúng thủ tiêu, bị giết chết vì cái búa, cái liềm, cái mã tấu của CS. Tệ hơn thế, mỗi một nhân mạng Việt Nam bị tàn xát ấy lại bị CS nhân danh man rợ, bất lương mà khoác cho họ những bản án đầy dối trá như “phản động”, “Việt gian bán nưóc” “ cường hào ác bá”. Xa thì như trường hợp Khái Hưng, Trần Thế Nghiệp, Phạm Quỳnh, Ngô đình Khôi... Gần hơn là 172000 ngàn người dân Việt bị giết trong mùa đấu tố 1953-1956. Ấy là chưa kể đến hàng trăm ngàn người khác bị đưa vào nhà tù, hoặc bị đày lên vùng rừng thiêng nước độc Cao Bắc Lạng, hay trong các trại tù mang tên Cổng Trời, Đầm Đùn, Thanh Hoá. Và điều tệ hại hơn cả là, những bạo ác khủng bố này không có dấu hiệu ngừng lại.

Kế đến, tôi tin rằng tất cả mọi người Việt Nam còn sống hôm nay chưa ai quên được nỗi kinh hoàng đã xảy ra cho Huế vào tết Mậu Thân 1968. Chỉ sau ba mươi ngày tạm chiếm thành phố. Hồ chí Minh, Việt cộng và bọn tay sai như loài thú Hoàng phủ ngọc Tường, Ngọc Phan, thị Trinh, Nguyễn đắc Xuân… đã giết chết hơn 3000 đồng bào vô tội. Phần chúng thì thẳng đường vào vinh quang với bác với đảng?

Rồi trường tiểu học Cai Lậy, chợ búa, nhà thờ, nhà chùa của miền nam đã phạm vào những loại tội gì để Việt cộng nhắm điểm pháo, đặt mìn vào những nơi này? Chẳng lẽ, vì trường học là nơi mở mang trí tuệ cho con người, dạy cho trẻ biết Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín, biết lễ giáo, nhưng đối nghịch với cái vô đạo của CS, nên chúng phải ra tay để tiêu diệt ngay những mầm non của dân tộc Việt? Chẳng lẽ nhà thờ, Chùa chiền là nơi giúp con người sống lương thiện hơn, đạo đức, tử tế hơn. Hoặc gỉa, dạy cho người biết phải quấy, làm lành lánh dữ, nên chúng phải đặt mìn phá chùa, đốt nhà thờ, bắt tu sỹ, tăng ni chăng?

Riêng câu chuyện sau 30-4-1975, phải là câu chuyện để đời, tạo kỳ tích. Bởi vì, cho đến nay, nó còn bám chặt lấy từng người Việt Nam. “ đàn bò vào thành phố” Trịnh công Sơn bảo thế. Và đúng thế, chả có lời nào diễn tả đúng hơn và giá trị hơn một câu ngắn trong bài hát của nhà nhạc sỹ đa tài nhưng bị lắm tiếng bấc, tiếng chì này dành cho họ vào những ngày ấy. Sau những đôi mắt ngơ ngác nhìn cảnh lạ, vật lạ là những ngổ ngáo, những tay nghề chuyên nghiệp hành động. Chúng chia nhau tỏa ra khắp nơi, tận tình tháo gỡ từng tấm tôn của nhà trường, vặn từng con ốc ở nơi công sở đem chuyển về đất bắc làm đồ gia bảo ( chuyện xảy ra từ sau 30-4-1975- 78). Phải nói thật là ngưởi miền nam vô cùng kinh ngạc về cái món nghề tháo gỡ, chôm chỉa của các đoàn đảng viên Việt cộng. Mãi sau này, họ mới vỡ lẽ và bảo nhau. “ thế mới biết, họ hơn hẳn người trong nam ta. Bởi vì phi trộm cắp, dối trá, bất thành đoàn đảng viên Việt cộng”!

Điều này không phải tự tôi viết hoặc đặt điều cho Việt cộng đâu. Câu chuyện trong mìền nam là như thế và hơn thế, nó đã được chứng minh. Vào tháng 10-2006, ( vnexpress.net đưa tin, phỏng vấn) phó chủ tịch của cái gọi là Quốc Hội của nước CHXHCN ở Hà Nội là Trần Quốc Thuận đã công khai lên tiếng các minh rằng:: “ Cơ chế này (chế độ cộng sản) sinh ra nói dối hàng ngày….. Chúng ta đang sống trong một xã hội phải tự nói dối nhau để mà sống.. Nói dối hàng ngày nên thành thói quen, thói quen ấy lập lại nhiều lần thành đạo đức.. . mà cái đạo đức ấy là rất mất đạo đức. Nhưng nó là đạo đức cách mạng!”

Cũng thế, sự bạo tàn, man rợ của cộng sản chính là lý do đẩy hàng triệu người ra khơi trên những chiếc thuyền mong manh để tìm Tự Do sau ngày 40-4-1975. Có nhiều người đến được đến bến bờ tự do, nhưng còn hàng trăm ngàn người mất mạng trên đường đi.Thế nhưng chẳng có mấy người từ bỏ mộng ra đi. Tôi cho rằng, cuộc hành trình này còn là một nỗi đau khó quên của dân tộc. Trong khi đó, những kẻ đuổi theo sau lưng họ, là các cấp bộ từ trung trương đến địa phương của đảng Vem, xem ra là những người hạnh phúc nhất trên trần gian? Hạnh phúc bởi vì, sau cuộc rượt đuổi ngắn ngủi bằng súng đạn ấy, các cấp đoàn, đảng, cán bộ, có được tất cả mọi thứ. Từ căn nhà, căn phố và sản vật của người bỏ ra đi biến thành của mình. Ngay đến đôi đũa, cái chén, cái bát, manh quần, manh áo của người ra đi còn dể lại cũng được bác đảng tận tình chiếu cố như là một chiến thắng vinh quang, to lớn nhất. Đó là một số lý do cơ bản để cho ta đứng lên mà đi.

II. Những qủa lừa vĩ đại của Hồ chí Minh

Thêm cho những bạo ác ấy là những cú lừa vĩ đại của tập doàn cộng sản Việt Nam. Mục đích của mùa đấu tố 1953-56 là cướp đoạt toàn bộ tài sản của đất nước vào trong tay đảng cộng sản. Nhưng Hồ chí Minh lại ba hoa tuyên bố là chính sách “ cải cách ruộng đất, lấy ruộng lại cho dân cày”. Ai nghe cũng khoái lỗ tai, lại tưởng thật, ngưòi dân nhào vào cuộc đấu tố do Hồ chí Minh và Trường Chinh lãnh đạo. Kết qủa, có hơn 172000 ngàng ngưòi dân bị giết. Sau 1959, thợ cày vẫn trắng tay. Máu dân chảy ngập đồng, xương chất thành gò. Sau này, theo báo cáo và tập san Kinh tế của nhà Nuớc CHXHCNVN in ấn, xác nhận là có hơn 72% số ngưòi bị giết nằm trong diện bị giết oan! Người còn sống mặt không còn chút máu. Hồ chí Minh lại láo lếu bảo rằng đó là thành phần “ trí phú địa hào” phải “đào tận gốc, trốc tận rễ!”. Thực tế, từ đó toàn bộ tài sản của đất nước lọt vào tay đảng cộng sản nắm giữ với toàn quyền sinh sát. Phần Hồ chí Minh sau khi gỉa nhân gỉa nghĩa lên truyền thanh mà nhỏ vài gịot nước mắt, nhận trách nhiệm vì nhầm, vì không biết có nhiều ngươi bị chết oan trong vụ đấu tố là hết trách nhiệm. Chả có tên ma bùn Việt cộng nào bị sử lý vì cái tội giết cả trăm ngàn nhân mạng đồng bào Việt Nam này! Đến khi lau nước mắt chưa khô thì cũng chính Hồ chí Minh tuyên bố cuộc đấu tố này là một chiến thắng long trời lở đất! Thật là kinh khủng!

Đến chuyện chống Mỹ cứu nước mới là kinh dị. Hãy hỏi thử xem, biết bao nhiêu nhân tài vật lực của Việt Nam đã bị Hồ chí Minh và Việt cộng phỉnh gạt và bị chết mất xác trong cuộc chiến tuyên truyền này. Hỏi xem, một cuộc chiến mà Hồ chí Minh từng tuyên đố là đánh cho đến người cuối cùng theo lệnh của Tàu cộng đem lại những gì cho Việt Nam? Có phải là sự kiện Phan văn Khải, thủ tướng Việt cộng được chạm bàn tay vào cái gót dày của đế quốc Mỹ trong công viên ở New York hay không? Thật là nhảm nhí! Hàng trăm ngàn thanh niên miền bắc phải chết trên rừng vì sốt rét, vì bom rơi đạn lạc, hoặc vì đói bệnh. Hàng ngàn, hàng vạn người dân miền bắc, miền nam bị chết oan để đổi lấy một nụ cười của Phan văn Khải khi Y được sờ bàn tay vào cái mũi giày của đế Quốc Mỹ! Ôi đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, cho dù phải đánh cho đến ngùi cuối cùng, tưởng là vĩ đại thần thánh. Hóa ra chỉ là một mưu đồ thâm độc của Hồ chí Minh, muốn tiêu diệt cho hết mọi phần tử dân tộc Việt Nam để Y mở đường đón rước Tàu cộng tràn sang cho nhanh!

Công hàm bán nước 1958. Đây là một chưng minh rõ nét nhất cho việc tập đoàn CS đả đưa Tàu sang, để Tàu chiếm nước ta. Nhưng bấy nhiêu gian trá chồng lên gián trá, họ vẫn chưa thỏa lòng. Họ còn quyết tâm đưa cả nước vào đường diệt vong. Bị diệt vong vì nền văn hóa vô đạo, nô lệ của cộng sản càng lúc càng phá hủy tận căn nền văn Hóa Nhân Lễ Nghĩa Tri Tín là đạo nghĩa và luân lý của dân tộc. Bị diệt vong vì nền luân lý của tôn giáo bị chúng lên án. Và bị diệt vong vì “ chủ nghĩa cộng sản anh em ảo tưởng ” mà chúng đưa toàn khối dân tộc và đất nước Việt vào tay bành trướng Bắc phương, bằng cách ngăn chặn những tiếng nói yêu nước của ngưòi Việt Nam! Đây mới chính là cái tai họa to lớn nhất

Rồi nhiều thập niên qua, người dân Việt không có mùa xuân, nhưng đoàn đảng viên Việt cộng thì mỗi lúc một lẫy lừng, trở thành những đại gia đỏ bằng chính những lao khổ và mồ hôi và nước mắt của dân tộc Việt. Lịch sử đang mỗi ngày ghi lại những điều chính xác về cái tập thể này. Kẻ thì bán đất, dâng biển của Tiền Nhân cho ngoại bang để bám lấy quyền lực, để hưởng lợi. Kẻ thì dùng bạo lực mở ra những vùng quy hoạch cưỡng chế để cưóp tài sản, đẩy nhân dân vào cảnh khốn cùng không nhà không cửa, để làm giàu cho phe cánh. Kẻ thì trộm cướp, ăn chặn tiền viện trợ nhân đạo của thế giới rồi tạo ra hối lộ tham nhũng để nợ cho dân. Đã gây ra bấy nhiêu tội ác với dân tộc chúng còn chưa thỏa lòng, lại còn hành hung, bạo ác trên đời sống của lương dân. Đã bán nước, tự nguyện làm những cán cộng nô lệ cho bá quyền Trung cộng, còn vênh vang với cuộc lừa dối vĩ đại qua ngôn từ của Hồ chí Minh là: Độc Lập, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc!

a. Độc Lập

Độc Lập ở đâu khi lần lượt Hoàng Sa, Trường Sa rồi Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, bãi biển Tục Lãm, vịnh bắc bộ là đất, biển, đảo của quê hương ta lần lượt bị nhà cầm quyền CS đem dâng cho bành trướng Bắc Kinh như một loại qùa biếu để cầu lấy cuộc bảo hộ từ phương bắc? Và còn tủi nhục nào hơn cho người dân, người chiến sỹ của quê hương khi nằm xuống để bảo vệ lấy phần đất của quê hương trong cuộc chiến 1979 thì không có chỗ chôn thây, nói chi đến một nghĩa trang ghi ơn và vinh danh họ. Trong khi đó, nhà nước Việt cộng xây đài, lập và trang hoàng cả chục “nghĩa trang liệt sỹ” cho những quân cướp cạn ở ngay trên quê hương mình? Như thế là định nghĩa của Độc Lập ư?

b. Tự do

Tự Do ở đâu khi người dân muốn nói lên Sự Thật, Công Lý. Họ đã không được bảo vệ. Trái lại bị nhà nước hành hạ, đấu tố. Điển hình là trường hợp của TGM Kiệt, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, hay bị bỏ tù như LM Nguyễn văn Lý, LS Lê thị Công Nhân, Lê văn Đài, Củ huy hà Vũ, Lê Công Định, Trần huynh Duy Thức, Phạm Hồng Sơn…. Hoặc gỉa là bị bịt miệng như trong trường hợp của Bùi Hằng, Nguyễn chí Đức, cụ bà Hiền Đức, Lê quốc Quân, Nguyễn hữu Vinh… và bao người trẻ khác ăn no đòn của công an nhà nước khi họ thể hiện lòng yêu nước tích cực bắng những lời hô vang: Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam. Thế là Tự Do ư?

c. Ấm No

Ấm No tìm đâu ra khi biết bao nhiêu người dân Việt lang thang, mất nhà, mất nghiệp vì những quy hoạch, cưỡng chế bởi lớp cán bộ có đủ bạo lực ở trong tay. Ấm No ở đâu khi ngưòi dân không có mảnh đất làm nhà thì hàng 100000 mẫu rừng, biển cả được dâng cho những chủ thầu Trung cộng khai thác dài hạn không thuế. Sau 50 năm, những vùng đất thuê ấy thuộc về Tàu hay thuộc về ta, khi những chủ thàu hôm nay và lớp lao công của họ đến từ phương bắc đã có hàng lũ con cháu, chắt được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy. Nó không biêt một chữ tiếng việt, phong tục Việt. Nó sẽ là ngươi Việt Nam hay người Tàu đây? Ấy là chưa kể đến hàng tỷ tỷ đô la tiền vay nợ từ ngoại quốc, nay đã mất cả vốn lẫn lời vì tiền vốn mượn đã chui vào túi của các quan cán tham nhũng chia nhau, và đổ tràn gánh nợ lên những thế hệ mai sau của Việt Nam. Như thế là định nghĩa về Ấm No chăng?

d. Hạnh Phúc

Hạnh Phúc tìm ở đâu ra khi cả một nền Văn Hóa, luân lý, đạo đức của xã hội, của Tôn giáo đặt căn bản trên Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín đã bị cộng sản sói mòn và thay thế bằng cái nền văn hóa bất nhân vô đạo của Hồ chí Minh để xã hội Việt Nam càng ngày càng có hàng loạt những loại tội đại ác như giết cha, giết mẹ, giết người thân, giết bạn bè, giết ngưòi cướp của… khiến mọi ngưòi phải rùng mình kinh sợ. Mà kẻ gây ra tội ác đa phần là cán bộ đảng viên, trẻ vị thành niên, hay kẻ không kiếm được công ăn việc làm, không được giáo dục về đạo nghĩa xã hội? Thử hỏi xem, cả một dân tộc đang bị mất dần nền móng văn hóa đạo đức của mình mà có được hạnh phúc ư?

Hẳn nhiên là không. Bởi vì, đến nay không còn một người Việt Nam Nam nào tin chủ nghĩa cộng sản sẽ giúp dân, cứu nước nũa. Trái lại, mọi người, mọi nhà, mọi tầng lờp trong xã hội đều biết rõ ràng rằng: Đã đến lúc toàn thể dân ta phải biến câu hỏi đầy nghiệt ngã Tự Do hay là Chết này thành cuộc vận động hiện thực. Bởi vì, nếu tiếp tục thụ động như những năm qua, chúng ta và con cháu chúng ta sẽ còn tiếp tục bị cộng sản lừa dối qua hàng ngàn những phương cách, ngôn từ hào nhóang khác. Rồi tất cả sẽ trở thành những qủa bong bóng vô định hướng cho đến lúc bị nỗ tung. Bởi vì, quy luật sống còn của cộng sản là không bao giờ để cho dân chúng có đời sống ổn định. Mà muốn cho dân chúng có đời sống bất ổn định là phải tạo ra những khác biệt trong gian dối và bất công.

III. Đi tìm Tự Do bằng cách nào?

Boris Yeslsin bảo rằng: “Cộng sản không thể sửa chửa, nhưng phải đào thải nó”. Chuyện lớn qúa, nên dành cho những ngưòi khác. Phần tôi, ở trong trang giấy hạn hẹp này, tôi đề nghị với bạn một cách thức thật nhỏ bé, thật dễ thi hành, nhưng ít nhất mỗi tuần bạn sẽ có được 15 phút, hay nửa giờ trong không khí hoàn toàn thoái mái với sự tự do của bạn trong tiếng thở với quê hương.

Ở gần nhà bạn có cái công viên nào không? Ở phường, xã, quân huyện, tỉnh lỵ nào mà chả có công viên công cộng phải không? Nếu có, bạn hãy ra đó, mang theo cho bạn một cái điện thoại cầm tay, hay cái Mp3 trong đó có một bản nhạc mà bạn yêu mến nhất. Thì dụ như: “Dậy mà Đi” của nhạc sỹ Tôn thất Lập. ( Kính xin BBT chỉ cho một đường Link để các bạn trẻ có thể vào tải về). Nếu được, bạn rủ thêm vài ngưòi bạn thân nữa. Ra đó, cùng nhìn trời nhìn đât. Hít thở lấy không khí trong lành, rồi nắm lấy tay nhau mà mở bản nhạc lên mà nghe. Nghe vài ba lần bạn sẽ thấy lòng bạn gần kề với quê hương, Như thế là bạn thở hơi vào quê hương rồi đấy. Và cách riêng là bạn cũng đã có được 15 phút, hay nửa giờ mỗi cuối tuần tuyệt với ròi đấy. Tuần sau, lại rủ bạn cùng đi, nhưng thêm những bản nhạc khác. Thi dụ như “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của nhạc sỹ Nguyễn đức Qunang, hay “ Lá Đỏ”… lại đến công viên và hát cho nhau nghe. Nếu bạn tiếp tục hành trình này, tôi tin chắc bạn sẽ có cùng một nhịp thở với quê hương, và bạn sẽ thấy quê hương và dân tộc trong vòng tay yêu thương của bạn. Nói cách khác, quê hương là bạn và mọi người sẽ chuyền cho nhau hơi thở quê hương. Bạn thấy phương cách này có thể thực hiện không?

Trường hợp ở gần nhà bạn không có công viên thì ta áp dụng sách của cụ Nguyễn công Trứ, “ tri túc đãi túc, hà thơi túc”. Bạn ra đứng ngay trước cửa nhà hay ngay trong sân trường để mà thưởng thức những giây phút đặc biệt này. Nhưng nhớ, đừng mở nhạc lớn kẻo làm phiền lòng ngưòi khác. Ước mong từ bắc tời nam. Từ trong các làng mạc, xã thôn ra thành thị, mọi người, đặc biệt là bạn trẻ đều tự tìm được những giây phút tự do, êm đềm, đầm ấm và giao hòa với quê hương. Khi người người, nhà nhà đã có niềm vui tự tại thì hạnh phúc của quê hương đã là ở trong tầm tay rồi. Mời bạn thử đi. Không bao giờ là qúa trễ đâu.

Tuy thế, cũng có vài điều tôi xin nói trước với bạn nhá. Có thể những lần đầu bạn lẻ loi lắm, chẳng có ai đến với bạn đâu. Nhưng mình đi tìm hơi thở Tự Do mà, sớm muộn cũng có những cánh chim đồng cảm với tâm tình của bạn. Khi nhóm của bạn có 4, 5 người là vui rồi, cứ thế mà giữ lấy niềm vui với nhau, và giữ lấy nhau bằng chân tình. Kế đến, bạn cũng biết, bò vàng nhiều lắm đấy, chúng sẽ dí mũi vào những cuộc găp gỡ của bạn, nên tuyệt đối bạn phãi cảnh giác bạn hữu là không mang theo cờ quạt biễu ngữ băng rôn gì hết. Kẻo lại bị chúng chụp mũ bạn đi biểu tình, làm mất trật tự công cộng thì phiền lắm.

Bạn nhớ đấy, chủ đích của mình chỉ ra bờ hồ, đến công viên, sân nhà thờ, tìm hơi thở trong lành để thư dãn cuối tuần thôi, nên phải tránh xa những kẻ trá hình, mang theo cờ quạt đến rủ rê, hoặc nhập vào nhóm của bạn để mua lấy phiền phức cho bạn. Dĩ nhiên là mình sẽ đón bạn mới, nhưng đường đi rất dài, không thể gây ra phiền phức cho mình và cho người khác được. Mỗi nhóm lý tưởng là có từ 5- 7 người, nhiều hơn thì nên tách ra. Kế đến, công viên rộng lớn lắm, nhóm của bạn cũng không nên gia nhập vào nhóm của các bạn khác để sinh hoạt chung( lâu lâu một lần thì chẳng sao, tuyệt đối không thể thưòng xuyên). Nếu có quen biết thì nên tìm cách trao đổi bạn với nhau hơn là xát nhập lại với nhau. Bởi lẽ, nhóm đông thì vui thật nhưng rất phiền toái và dễ bị bể lắm. Ấy là chưa kẻ đến bò vàng chúi mũi vào. Chúc bạn vui và tìm thêm bằng hữu trong mục đi tìm hơi thở Tự Do trong tình tự của quê hương nhá. Bạn có ý kiến gì không?

Phần tôi, tôi tin rằng, mỗi ngày bạn làm cho chính bạn, dù chỉ là vài cái vưon vai trước nhà, và noí với đất trời rằng: Tôi Muốn Tự Do, Tôi Yêu Nước Tôi, và mỗi tuần bạn làm với bạn hữu của bạn ở công viên, sân truờng, bờ hồ, bạn sẽ thấy sự thay đổi kỳ diệu sẽ đến. Trước hết lòng bạn sẽ vui hơn và kiên tâm hơn trong lý tưởng bạn theo đuổi. Sau là chính bạn đem niềm vui ấy cho người chung quanh và đem vào non nước. Khi đó, sự thay đổi kỳ diệu kia sẽ không dành cho riêng bạn nhưng có thể là cho cả đất nước của chúng ta. Bạn hãy bắt đầu thực hiện và nói cho bằng hữu cùng thực hiện xem sao. Dĩ nhiên, bài báo này cũng sẽ có nhiều bò vàng bò vào đọc, nhưng mình có làm gì sai đâu. Chỉ vươn vai và nói với mây với gió với đất nước cho vừa đủ nghe Tôi Muốn Tự Do, chắc không ai làm hại mình.

Cầu chúc cho hoa Tự Do nở tràn ra khắp non sông Việt. Để nhà Việt Nam mãi là mái ấm Độc Lập của dân Việt. Ở đó, người dân sẽ cùng nhau chung hưởng sự Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Nhân Quyền trong cuộc sống Thái Bình, Ấm No, Hạnh Phúc và Thịnh Vượng, đặt trên nền tảng văn hóa nhân bản Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín của dân tộc, và tôn trọng nền văn hóa đạo đức của các tôn giáo. Để từ đó sự hoàn thiện sẽ triển nở trong tiến trình xây dựng một xã hội trong ổn định và an bình.

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH

 

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH

Trần Đỗ Cung

 

 QLVNCH dựng cờ tái chiếm Quảng Trị mùa hè 1972. Photo Trung tá Nguyễn Ngọc Hạnh

Vài lời của người dịch.


Tôi được một bạn trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc gửi cho tôi bài diễn văn ông đã đọc tại Đại Học Kỹ Thuật Texas TTU về đề tài Reassessing ARVN. Ông có ý muốn nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Mỹ gốc Việt. Tôi đã đọc kỹ bài thuyết trình giài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử liệu và nhân bản và đã chấp thuận đề nghị.


Trong bài thuyết trình Tiến Sỹ Sorley đã dùng nhãn quan của một quân nhân và một trí thức khoa bảng để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt Nam trong một thời kỳ chiến đấu cam go gian khổ nhất của nước nhà. Ông đã dầy công nghiên cứu các tài liệu đã bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng về khả năng, lòng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước những búa rìu bất công của các lực lượng phản chiến và thiên tả Mỹ Quốc. Những tên tuổi lớn ông đưa ra như Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại Tướng Creighton Abrams, Thiếu Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, trùm CIA William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp Vận Việt Nam Đồng Văn Khuyên, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tướng Cộng Sản Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn vv là những nhân vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương và đau đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.

 

Nói về chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đã đưa ra những con số cho thấy địch quân đã bị thiệt hại nặng nề và quân ta tuy không thắng trận nhưng đã không thất bại như bọn chủ bại bên Mỹ đã rêu rao.

 

Tôi được biết viên Trung Tướng cộng sản chỉ huy chiến dịch là Trung Tướng Phạm Hồng Sơn, tên thật là Phạm Thành Chính là một sinh viên luật cùng thời với tôi và cùng ở Đại Học Xá Bạch Mai. Anh ta là anh em đồng hao với Võ Nguyên Giáp, cùng là con rể nhà học giả Đặng Thái Mai, lấy con út ông Mai là nhà văn và nhà giáo Đặng Anh Đào. Hiện tại Tướng Phạm Hồng Sơn đã 84 tuổi, đã lãng trí và cũng đã ra rìa như Giáp tuy được cấp một biệt thự lớn ở đường Lý Nam Đế Hà Nội.

 

Có cả năm trang dành cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước hết tôi phải nói rằng tôi cũng như nhiều đồng hương đã không mấy có thiện cảm với ông Thiệu. Riêng tôi lại có một điều hận trong lòng khi ông ta cho tôi là đàn em của Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1948 khi tôi vào Sài Gòn với mấy bạn Đại Việt Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Đình Tú tôi đã được đưa đến thăm ông Nguyễn Văn Kiểu là anh lớn của ông Thiệu ở đường Kitchener. Ông Kiểu là một đảng viên Đại Việt miền Nam, người rất hiền hậu và trung thực làm chủ một cửa hàng bán nước mắm ở đó và chúng tôi đã trở thành khá thân thiết. Hồi tôi nhận chức Thứ Ủy Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mà không có nhân viên phòng sở thì tôi đã được tạm dùng bàn giấy của ông Kiểu ở Trụ Sở Liên Minh Á Châu Chống Cộng số 122 trên đường Hồng Thập Tự.

 

Sau khi tôi rời TCTT, lúc ông Thiệu lên làm Tổng Thống thì ông Kiểu đã đưa ý kiến cho chú em là “Tám, tại sao không dùng anh Cung” thì được một câu trả lời lạnh lùng, “Cung là tay chân đao búa của Nguyễn Cao Kỳ”. Nghe vậy tôi cho là một sỉ nhục. Vì coi tôi như là một lũ điếu đóm xun xoe mạt chược, nhậu nhẹt, ăn tục nói phét xung quanh ông Kỳ thì hơi quá!

 

Trong phần dành cho ông Thiệu tôi thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời kỳ mười năm nắm vận mệnh quốc gia, đương đầu với Mỹ, với đe dọa đảo chính và với tình hình đa đoan của nước nhà. Được đọc bài phỏng vấn cựu Phụ Tá thân cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nhìn rõ sự cô đơn của một lãnh tụ thông minh, mưu trí nhưng sinh bất phùng thời.

 

Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông để đặt câu hỏi “một người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh lớn hơn không”?

Trần Đỗ Cung (Prunedale, tháng 10, 2006)

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH

Trong một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nhìn rõ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hôm nay tôi trình bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai phụ khoản.

 

Chính Phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ. Đặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc “1960…” Người ta đã không ghi niên điểm cuối cùng bởi lý do dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm vì đó là mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực điểm. Trong giai đoạn này chúng ta có môt cái nhìn tổng thể về thành tích của quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975.

 

Vài năm trước đây tôi đã viết một bài nhan đề “Dũng cảm và xương máu” để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công tháng Tư 1972. Bài đã được đăng trong báo Parameters của trường Đại Học Quân Sự. Hồi còn sinh thời ông Douglas Pike đã bình luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau: “Đã có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu vãn danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền hình thương mại ngu dọ

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link