Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 10, 2012

TÂM THƯ KÍNH GỞI QUỐC DÂN ĐỒNG BÀO


TÂM THƯ KÍNH GỞI QUỐC DÂN ĐỒNG BÀO

Kính thưa Đồng Bào thân yêu,



Vì ''Vận Nước lâm nguy'': Giặc tàu chệt Bắc Kinh tuyên bố như sau: ''Hãy giết chết hết bọn giặc Nam man và san bằng Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.'', tôi xin phép kêu gọi Đồng Bào ''đồng tâm, nhất trí'' vùng lên, tống cổ chúng nó ra khỏi Quê Hương Việt Nam như Ông Cha chúng ta đã làm để viết lên những Trang Sử Sáng Ngời cho Dân Tộc.

 

Kính xin Quốc Dân Đồng Bào đọc kỹ bài dưới đây để thấy rõ âm mưu của Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng và của thằng chệt Bắc Kinh kết hợp với tên tòng phạm Đài Loan (phần tô màu đỏ) khiến đảng Việt gian cộng sản cấm đoán, bắt bớ, bỏ tù NGƯỜI YÊU NƯỚC BIỂU TÌNH CHỐNG ''TRUNG QUỐC'' bấy lâu nay.

Hóa ra, ''Luật Biển'' mà Quốc Hội bù nhìn Việt gian vừa ''trình làng'' chỉ là ''VỞ TUỒNG'' do sự xếp đặt của thằng chệt Bắc Kinh nhắm tạo cái cớ cho NÓ xâm chiếm lẹ làng Trường Sa của Việt Nam. Thế thôi!!!

Giờ đây đã lộ rõ cái bản chất của đảng Việt gian là: phản quốc, vong ân, bội nghĩa với Tổ Tiên, kinh thường lời dạy của Vua Trần Nhân Tông về kẻ thù Phương Bắc, bán Nước, hại dân, nô lệ tàu chệt, vô luân, vô Tổ Quốc, vô Việt Đạo...


Nếu Quân Đội và Công An (cả hai đều tự xưng là của ''NHÂN DÂN'') không cùng Nhân Dân đứng lên đuổi giặc tàu chệt thì đảng Việt gian sẽ đầu hàng kẻ thù truyền kiếp để có lợi cho một mình cái đảng bán Nước mà thôi!!!

  Hồn Thiêng Đất Nước ôi! Hội Nghị Diên Hồng ôi! Đức Thánh Trần Hưng Đạo ôi! Vua Quang Trung ôi! Anh Hùng Ngô Quyền ôi! Hai Bà Trưng ôi! Vua Lê Lợi ôi!...Xin các Ngài ''đoái nhìn đến'' DÂN TỘC VIỆT NAM.

 Miêu Duệ Lạc Hồng ôi, hãy vùng lên trị tội Bộ Chính Trị Việt gian bán Nước!!!

 Xin Quốc Dân Đồng Bào cùng hát:

 

                             1.  Phải Lên Tiếng _ Ca Ðoàn Ngàn Khơi -Asia DVD - YouTube

 

Quân Đội và Công An của chế độ cộng sản cũng diễn hành (?) với ca khúc:

 

                                        2.  Phải lên tiếng ! - YouTube

 

                                        3.  Hùng Ca Sử Việt - Đáp Lời Sông Núi - YouTube

 

                                        4.  Thề Không Phản Bội Quê Hương - trích trong Hùng Ca Sử Việt - ASIA 2011 - YouTube

 

                              5.  Bạch Đằng Giang - YouTube

 

                                        6.  Chiến Sĩ vô Danh - HÙNG CA SỬ VIỆT - Trung Tâm ASIA 2011 - YouTube

 

                                        7.  Hùng Ca Sử Việt - Việt Nam Việt Nam - YouTube

 

 

Người giới thiệu bài viết: Phan văn Phước

 

BÀI VIẾT:  

 

                                  TRUNG CỘNG CHUẨN BỊ XUA QUÂN ĐÁNH VIỆT NAM 

Đây là nội dung bài báo Tàu đã được dịch:

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi.

Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất.

Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc.

Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm.

Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta.

Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được.

Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền.

Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là bọn vong ân bội nghĩa Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công và san bằng Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam mà đại diện là Hồ chí Minh và Phạm văn Đồng đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc bằng văn bản giấy trắng mực đen hẵn hoi. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng đất đai và biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui (sát nhất nhân vạn nhân cụ). Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipine thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ. Hơn nữa Việt Nam vốn là phiên thuộc của ta, thì nay ta thu hồi lại cũng là lẽ tất nhiên.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu tận diệt bọn vong oân bội nghĩa Việt Nam để thu hồi Nam Sa.

. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội ta ngày thêm tinh nhuệ, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên (ta và Đài Loan) lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia, mặt này Đài Loan cam kết yểm trợ ta.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng vì bí mật quốc phòng nên không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.

Mặc dù nói chúng ta đánh bọn Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ tận gốc không chừa một con đỏ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết.

 Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiện chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney... giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nhỏ nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.

Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ, ta cũng làm thế, khi quần đải Nam Sa đã nằm trong tay ta thì ai làm gì được ta, lấy gương Tây Tạng mà soi. Nếu Việt Nam nguyện làm tiền tiêu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay, tiên hạ thủ vi cường há chẳng phải là kế sách ưu việt của tổ tiên ta hay sao.
Hãy giết chết hết bọn giặc Nam man và san bằng Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.

 

Dai Nhac Hoi Cam On Anh, 12 thang 8, 2012 se thanh cong...


"Hải ngoại không quên tình chiến sĩ,
  Đồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh”.

































 



 

Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn

Đừng Đợi Ngày Mai...


RẤT NHIỀU NGƯỜI có thể không biết nhạc sĩ Trần Duy Đức là một quân nhân từng phục vụ tại Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku trước 1975. Nhưng ngày nay, tại hải ngoại cũng như quốc nội, hầu như ai cũng biết lời ca “Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ, đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời”(1), mà tác giả là nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ thơ Ngô Tịnh Yên

Câu hát như một lời kinh, ai nghe cũng đồng tình. Mà đúng vậy, không lẽ đợi đến ngày mai, lúc nghĩa tận, mới rủ rê thăm viếng, nói lời yêu thuơng, đặt vòng hoa phúng điếu, thậm chí còn sưu tầm tướng mạo quân vụ, làm lễ phủ cờ, gác quan tài, đọc điếu văn nữa thì ích lợi gì ? Đến lúc đó thì đã muộn màng vì “cát bụi làm sao mà biết mỉm cười?”(1), cát bụi làm sao biết nói lời tạ ơn những biểu hiện của tình cảm trân quý đó?
Cho nên, nếu “có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ”(1). “Tôi” trong lời ca là nói chung cho con người, cho dân tộc hay gia tộc, cho bằng hữu hoặc đồng bào đồng đội cùng màu cờ sắc áo...

Trong Không Quân, có Ban Quân Sử ghi chép những sự kiện liên quan đến hoạt động của Không Quân. Đặc San Lý Tưởng, các Đặc San KQ khác và các Trang nhà KQ có mục Không Quân Ngoại Truyện (KQNT) ghi lại những nhân vật đặc biệt của Quân chủng. Những bài viết về KQNT không hẳn là dã sử nhưng những tình tiết trong câu chuyện hoàn toàn dựa trên người thật việc thật, được viết với giọng văn kể chuyện đôi khi pha một chút hóm hỉnh, như là đặc tính của KQ mà người ngoài cuộc có khi không thấm để mà...cười!.


Trong hơn một triệu chiến sĩ phục vụ trong Quân Lực VNCH trước kia, rất ít người biết đến con số 6000 nữ quân nhân (NQN) hiện diện dưới cờ. Và trong 64 ngàn chiến hữu đệ huynh Không Quân (KQ) (2), rất ít người biết đến con số trên 300 NQN (?) phục vụ trong toàn Quân chủng mà người đứng đầu là Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.
Chúng tôi cũng nằm trong số “rất ít người” đó.

Trong cuộc chiến giữ nước khốc liệt trước kia, mỗi một quân nhân đều nhận một nhiệm vụ và ngày đêm lo hoàn thành nhiệm vụ do cấp trên giao phó, không ai rãnh rổi để đi tìm hiểu hoạt động của các đơn vị bạn, nhất là đơn vị bạn lại là...Nữ Quân Nhân! (trừ trường hợp cá nhân đặc biệt!).
Trải qua bao dâu bể, do cơ duyên, chúng tôi gom góp được ít điều chưa biết trước kia và muốn chia sẻ cùng quý vị, ngay bây giờ, vì chúng tôi e rằng nếu để đến ngày mai có khi muộn màng. Điều tôi muốn chia sẻ là, bóng dáng một Trưởng Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân, Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.

II- Một Mảnh Nhung Y Điểm Má Hồng


CHÚNG TÔI THẬT SỰ ái ngại khi muốn tiếp cận với chị. Phải bay lòng vòng thám sát mục tiêu, dọ hỏi quân bạn (các NTKQ Bồ Đại Kỳ kỹ thuật, Nguyễn Cầu radar, Nguyễn Văn Ức trực thăng, Nguyễn Quí Chấn khu truc...), cho đến khi đã nắm chắc một số dữ kiện (là chị Hạnh Nhơn thật là hiền lành chứ không chằn ăn trăn quấn đâu), chúng tôi mới quyết định gởi điện thư để xin được tiếp chuyện với chị qua điện thoại.

Nhìn chị trên TV qua các lần Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh...thì tôi vẫn nghĩ trong đầu, cao lắm thì chị Hạnh Nhơn hơn tôi vài niên kỷ và vài năm thâm niên quân vụ là cùng, (tôi nhập ngủ 1960). Nhưng không phải thế, chị thuộc loại Đại Niên Trưởng của tôi rồi. Năm 1950, chị gia nhập Việt Binh Đoàn ở Huế thì tôi đang học tại Trường Nam Tiểu Học Đà Nẵng. Năm 1952, chị trúng tuyển ngành Nữ Phụ Tá (P.A.F. =Personnel Auxiliaire Féminin), mang cấp Chuẩn Úy và năm 1957, thăng cấp Thiếu Úy đảm nhiệm chức vụ Sĩ Quan Tiếp Liệu Quân-Y-Viện Nguyễn Tri Phương - Huế, thì tôi vẫn còn vật lộn với sách đèn dưới mái trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng!

Ngày nay, không phải loại lão nhi như tôi mới có cái nhìn lệch lạc về dung nhan của chị Hạnh Nhơn, mà ngay cả lão trượng Vũ Văn Lộc, Đại Tá, tức nhà văn Giao Chỉ cũng mắc phải bé cái lầm một cách thật thà và dễ thuơng, như: “(…) Vâng, cả chị Hạnh Nhơn nữa, Giao Chỉ tôi lâu nay vẫn cậy mình ở tuổi cao niên nhưng bây giờ thì đã biết rằng vẫn còn thua các thuyền quyên xứ Huế về cả tuổi tác lẫn thâm niên quân vụ”. (Đặc San Cựu Nữ Quân Nhân QLVNCH, Hội Ngộ Kỳ IV, 08/2007. Niên Trưởng Hồ Thị Vẻ, Giao Chỉ, trang 9).


Quý Bô Lão Không Quân tại miền Trung Cali thường họp mặt vào đầu tháng 7 hằng năm. Ban Tổ Chức phát quà lưu niệm cho các Bô Lão đạt đến tuổi 70 trở lên, (cứ cọng thêm 5). Buổi họp mặt năm 2007, sau khi nhận quà lưu niệm có khắc tên và số 80 niên kỷ, KQ Nguyễn Cầu trong BTC bất ngờ phỏng vấn chị Hạnh Nhơn: “Xin Lão Trượng vui lòng cho biết, bằng bí kíp nào mà ở tuổi nầy trông Lão Trượng vẫn trẻ đẹp như Lão Nhi 70 vậy?”. Dù bất ngờ, nhưng chị đã ứng khẩu: “Bí kíp là tôi trường chay, xả bỏ mọi chuyện vô ích và làm việc thiện!”


Bi kíp mà chị công bố, mới nghe có vẻ dễ, khi nghĩ lại thì chỉ có thánh nhân mới thực hành nỗi, còn người phàm như chúng tôi thì...bù trất!

Người xưa bảo, coi mặt mà bắt hình dong, vào thời thanh niên, chị Hạnh Nhơn chắc hẳn là một Sĩ Quan đầy ắp sáng kiến và năng lực. Từ Việt Binh Đoàn, phụ trách kiểm soát lương bổng, chuyển qua Nữ Phụ Tá, vẫn làm việc tại Sở Hành Chánh Tài Chánh, sau đó chị được bổ nhiệm về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương - Huế. Tại đây, ông Y Sĩ Trưởng Quân Y Viện thấy chị còn “sữa” quá nên chưa dám giao việc. Mãi sau khi nhận nhiệm vụ mới, Thiếu Úy Hạnh Nhơn mới chứng tỏ khả năng và óc tháo vát của mình bằng cách nổ lực chỉnh trang lại Quân Y Viện (QYV) chỉ trong vòng 3 tháng, đã đưa sinh hoạt vào nề nếp quy củ và tô điểm QYV đẹp đẽ và khang trang từ bên trong đến bộ mặt bên ngoài. “Chị xin Quân Nhu kệ, bàn, tủ, máy đánh chữ..., xin Kho Y Dược thuốc, y cụ, giường nệm, chăn gối để thay thế những vật dụng củ, và cho sơn lại 300 giường bệnh lâu ngày đã rỉ sét. Chị còn xin Phái đoàn Viện trợ Hoa Kỳ cung cấp máy X Ray và dụng cụ Nha Khoa cho QYV nữa, làm cho vị Y Sĩ Trưởng phải ngạc nhiên về tài năng của Thiếu Úy Nguyễn Thị Hạnh Nhơn!” (Thư riêng. KQ Nguyễn Phúc Tiến, 10/28/2011)

Thời bấy giờ, KQ chưa bành trướng mà chị đã có sáng kiến đầy ắp tình đồng đội là, thực hiện một bãi đáp trực thăng trong QYV để đưa các thương binh từ mặt trận về hoặc chuyển các thương binh nặng vào Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng, “để rút ngắn sự đau đớn cho anh em nếu di chuyển bằng xe Hồng Thập Tự”.

Chị thân hành nghiên cứu sân bay Thành Nội rồi từ đó xin Công Binh cung cấp vỉ sắt để hoàn thành một bãi đáp đủ an toàn cho trực thăng tải thuơng.
Tôi nghe chị kể lại sự việc môt cách hào hứng bằng giọng Huế ngọt lịm mà lòng dâng trào một niềm cảm phục về sự năng nổ và tấm lòng từ ái của một bậc đàn chị đáng kính.


Năm 1964, Trung Úy Hạnh Nhơn thuyên chuyển về Sàigon, cùng các Nữ Sĩ Quan khác, thành lập Đoàn Nữ Quân Nhân & Trung Tâm Huấn Luyện NQN vào năm 1965 với chức vụ mới là Trưởng Phòng Hành Chánh Tiếp Vận. Thú thật, nếu không đọc Đặc San Nữ Quân Nhân số 08/2007 , thì chúng tôi không hề biết rằng, Quân Đội ta còn có một Trung Tâm Huấn Luyện NQN như thế !


Một lần nữa, cô gái đất Thần Kinh cao ráo (chị cao 1, 65m đấy!) lại có dịp thi thố tài năng và trách nhiệm của một Sĩ Quan Tham Mưu bằng cách ngày đêm theo dõi việc xây cất phòng ốc, các phòng học, kho quân trang, nhà ăn, nhà bếp...cho một Trung Tâm Huấn Luyện. Song song với việc xây dựng cơ sở, Trung Úy Hạnh Nhơn còn nghiên cứu soạn thảo các Chương Trình Huấn Luyện, thiết lập các Phiếu Huấn Luyện Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan NQN sao cho kịp thời gian khai giảng. Chị liên lạc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để xin tài liệu căn bản, bỏ đi những phần thuôc về nam quân nhân, thêm phần hướng dẫn tư cách cho Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan NQN. Với bao bề bộn như vậy, mà công trình cũng hoàn tất sau một tháng quyết tâm!


Sáng kiến tháo vát và sức làm việc bền bỉ của chị đã gây thán phục và ngạc nhiên cho các nữ Cố vấn Mỹ bấy giờ. Họ thán phục là phải, vì từ nước lã chị (và các vị Nữ Sĩ Quan khác) đã khuấy nên hồ. Từ một bãi đất trũng nước với nhiều cây cỏ rác rưới mà Trung Úy Hạnh Nhơn, qua giao tế đã làm chạnh lòng các đơn vị Công Binh bạn nên họ hăng hái đến giúp đở san bằng mặt nền cũng như cung cấp các vật dụng xây dựng khác để hình thành một Trung Tâm Huấn Luyện đẹp đẻ khang trang.

Công trình quy mô như rứa mà không thán phục sao được, có vậy thi nhân mới xưng tụng là...một mảnh nhung y điểm má hồng (3) chứ?!

Năm 1967, Đại Úy Hạnh Nhơn thuyên chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu, Văn phòng Đoàn Nữ Quân Nhân, chức vụ Trưởng Phòng Nghiên Cứu. Ở đây, chị hoàn tất một Bản Quy Chế của Nữ Quân Nhân QLVNCH.

Năm 1969, Thiếu Tá Hạnh Nhơn thuyên chuyển qua Bộ Tư Lệnh Không Quân, chức vụ Phân Đoàn Trưởng NQN, phụ trách tuyển mộ, lưu trữ hồ sơ, giám sát NQN thuộc Bộ Tư Lệnh KQ và các Sư Đoàn trực thuộc. Lúc bấy giờ các NQN rất cần nơi ăn chốn ở. Chị Hạnh Nhơn xin thượng cấp giúp lo cư xá cho họ. Chị tranh đấu về chuyện nầy quyết liệt đến nỗi “sau buổi họp, Đại Tá Phùng Văn Chiêu, Không Đoàn Trưởng Yểm Cứ Biên Hòa (sinh năm 1928, 84 tuổi, hiện ở El Monte, Cali) phải trốn luôn trong phòng (vì ông chưa giúp được cho vụ cư xá NQN) trong khi chị vẫn đứng chờ ông ngoài cửa phòng để nhắc ông giúp đỡ”. (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư Riêng, 10/28/2011).

Nghĩ cho cùng, các NQN nào phục vụ dưới quyền Thiếu Tá Hạnh Nhơn là vô cùng...lucky !

Năm 1972, chị thăng cấp Trung Tá cho đến tháng 4 năm 1975.

Tính ra, Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn đã cống hiến tuổi thanh xuân và năng lực của mình trong 25 năm (1950-1975) cho Tổ Quốc và Quân Đội. Để bù lại, chị đã được tưởng thưởng nhiều huy chương cao quý trong đó có Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẵng.

-Tôi, KQ võ ý, xin được trân trọng chào kính tấm huy chương mà chị xứng đáng đón nhận!

III- NQN & Nỗi Truân Chuyên

SAU 30 THÁNG TƯ, như hầu hết các chiến sĩ QLVNCH, chị Hạnh Nhơn phải chịu nhiều khổ nhục trong tù ngục cộng sản cho đến năm 1979, qua các trại giam Long Giao, Quang Trung, Hóc Môn, Hàm Tân (Z30D) và Long Thành.
Là một nữ tù, lại là một cấp chỉ huy, Trung Tá Hạnh Nhơn phải tỏ ra chịu đựng và can trường gấp bội so với nam tù nhân trước đòn lao động khổ sai và nhục mạ của cai tù, thì mới mong tồn tại.

“Làm lụng thì vất vả mà ăn thì bo bo với muối trường kỳ nên sức khỏe ngày càng kiệt quệ. Chị em thay nhau bệnh tật triền miên...(...) Những căn bệnh của tù cải tạo đa số là:
- “Bệnh bao tử (vì ăn những thức ăn mà chỉ bao tử của súc vật mới nghiền nát được).
- “Bệnh tê thấp (vì phải nằm đất năm này qua năm khác).
- “Các bệnh gan, phổi, thận (có thể đi đến lao và ung thư vì lao động quá sức).
- “Bệnh tim và bịnh tâm thần (do quá tuyệt vong và bị mất sạch)”.(4)
((4) Đặc San Nữ Quân Nhân Kỳ IV-2007. Nữ Tù Nhân. Nguyên Hạnh, trang 82)

Trại nào cũng có những trò hú tim như thỉnh thoảng vào lúc nửa đêm, khi tù nhân đang say giấc, bổng nhiều tiếng kẻng tiếng phèn la inh ỏi nổi lên, rồi vệ binh theo nữ cán bộ cai tù vào trại giam ra lệnh thức dậy, xếp hàng điểm danh, khám xét, xong lại cho về...ngủ tiếp (4). Chúng hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần. Trò hú tim nầy cũng là thủ phạm gây nên căn bịnh yếu tim mà cánh tù NQN thường phải lãnh đủ.

Đã là tù nhân, ai ai cũng phải nếm mùi chuyển trại. Chuyển trại là một cực hình. Mỗi một xáo trộn đương nhiên phải kèm theo biết bao lo lắng mà nếu tinh thần sa sút thì rất dễ bị ngã quỵ.

“(…) Tất cả ở Z30D nầy đều quá mới lạ một cách hãi hùng đối với chúng tôi. Trong trại không có nước, không có giếng, không có bể nước. Tắm giặt đều ở cái khu suối thật xa sau giờ lao động trên đường về. (…) Đặc biệt nhất với chúng tôi là phải tắm suối. (…) Lần đầu tiên chúng tôi tắm suối thật kinh hãi, không thể tưởng tượng nổi có ngày phải như thế! (…) Thẹn với cả trời đất cỏ cậy! “ (4). Câu chuyện tắm suối mới đọc qua thấy buồn cười, nhưng là cười ra nước mắt như tác giả nói. Theo chúng tôi, câu chuyện “kinh hãi” tự nó đã nói lên nhân cách, lòng tự trọng, khí tiết và giấy rách giữ lấy lề của người chiến binh miền Nam nói chung, với quý vị NQN nói riêng.

Truyện “Nữ Tù Nhân” của tác giả Nguyên Hạnh (tức Hạnh Nhơn) đã trúng giải ba trong kỳ thi viết về “Chuyện Người Tù Cải Tạo” do Nhật Báo Viễn Đông tổ chức. Câu chuyện là một khúc phim bi hài được chiếu lại và chúng tôi như thấy rõ “một đám phụ nữ xinh đẹp trước kia được “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” nay đầu bù tóc rối, áo quần rách rưới, hì hà hì hục xúc, đẩy bột than, bụi tung mù mịt, mặt người nào người nấy đen xì chỉ trừ cặp mắt và hàm răng trắng toát như những người da đen cùng khổ (4).

Khúc phim quét qua mọi góc cạnh của cuộc sống trong ngục tù, từ sáng tinh mơ xuất trại, lao động khổ sai ở ruộng ở rừng, đến chiều tối vào “chuồng”, từ cảnh bị khám xét, lên lớp, nhục mạ đến cảnh thăm nuôi trong dòm ngó dở khóc dở cười, cảnh biệt ly do chuyển trại hoặc được thả về nhà tù lớn hơn...

“Nơi đó là “trại cải tạo Long Thành”, mà chúng tôi lại phải tiếp tục những ngày lao khổ khốn nạn nhất với công việc chăm lo một vườn táo rộng lớn. Quanh năm suốt tháng lam lũ đi xúc phân người ở các hố lớn khiêng cáng về vườn táo để bón cây, dẩy cỏ, cấm không được mang khẩu trang vì làm như thế là “ngại khó ngại khổ”. Suốt ngày áo quần lem luốc hôi hám từ đầu đến chân, chiều mới được về tắm gội ở một bể nước lớn chung với một số nữ tù hình sự đông đảo giam riêng gần đó (…) (4)


Có một điều kỳ diệu là, dù trải qua bao nghiệt ngã như vậy, dù chủ trương thâm hiểm là tiêu diệt lòng tự trọng của người tù qua các thủ đoạn trong đó có thủ đoạn “khẩu phần ăn”, tình đồng đội vẫn nở hoa trong tủi nhục và cay đắng. “Thời gian nầy tôi bị bệnh tê thấp nặng gần liệt cả hai chân, đi đứng rất khó khăn đau nhức, phải vịn tường lần đi từng bước, ở trong nhà, không ra lao động được nữa. Các anh từng đi ngang qua để xuống thung lũng trồng trọt, thấy tôi trong tình trạng đó, thế là hằng ngày các anh thay nhau lén ném thuốc vào cửa sổ giúp tôi chữa bệnh.” (4)
Hoặc là “Những lần chị (Hạnh Nhơn) thăm hỏi, săn sóc tận tình đến các em nữ tù ốm đau trong trại như tình chị thuơng em ruột thịt của mình”(Đặc San NQN kỳ IV-2007. Giấc Mơ. Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy, trang 41)

Vì ai gây dựng cho nên nỗi nầy? (Chinh Phụ Ngâm Khúc). Không phải đợi lịch sử trả lời, đợi như vậy lâu lắm. Ngày nay, người dân trong và ngoài nước đều biết là “AI” đã gây nên thảm cảnh khốc liệt nầy rồi!.


IV- Cám Ơn Anh, Người Thương Binh...

SAU CƠN MƯA trời lại sáng. Sau những năm tù đày, cuối cùng, gia đình Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn đã đến bến bờ Tự Do và định cư tại miền Trung Cali, Hoa Kỳ năm 1990 theo diện HO2.

Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. (Kim Vân Kiều). Nghiệp ỡ đây là nghiệp...Nữ Quân Nhân, là hy sinh và phục vụ. Vừa đến Mỹ, chân còn chưa ráo, một năm sau, năm 1991, chị Hạnh Nhơn lăn xã vào công việc cộng đồng, vác cái ngà voi, đảm nhận chức vụ Phó Chủ Tịch Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị (TT/TNCT). Hội chủ trương chăm lo giúp đở bước đầu các anh chị em cựu tù đến Cali mà không có thân nhân bảo trợ. Chị cũng là Chủ Bút “Nguyệt San Hội Ngộ” của Hội Tương Trợ nầy.


“Ngày Quân Lực 1992, có 7 cựu tù HO ở nam Cali có quyết định thành lập Hội HO Cứu trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH. Trong lần họp nội bộ, họ đã nghĩ đến việc mời Trung Tá Hạnh Nhơn tham gia. Nhưng bà quá bận với Hội TT/TNCT và với tờ Đặc San Hội Ngộ, nên không có mặt từ khởi thủy. Cho đến khi Hôi TT/TNCT ngưng hoạt động, và đó là cơ duyên đã đưa chị về với Hội H.O Cứu Trợ TPB & QP/VNCH” (Trích “Đôi Điều Về Cựu Nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn”, Cựu Mủ Nâu Đại Úy Nguyễn Phán)

Năm 1996, chị Hạnh Nhơn giữ chức vụ Tổng Thư Ký Hôi H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH. (TPB & QP/VNCH)
Năm 2006, chị đảm nhận chức vụ Hội Trưởng do đa số tuyệt đối anh chị em trong Hội bầu lên từ đó cho đến nay và không biết cho đến bao giờ!

Để có ngân khoản hoạt động cứu trợ như tên gọi, Hội tổ chức gây quỹ tại các Nhà Hàng. Số tiền kiếm được chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu ngày càng tăng, chị Hạnh Nhơn nẫy ra ý định mời MC nhạc sĩ Nam Lộc tiếp tay (5). Anh Nam Lộc vui vẻ nhận lời, dù gì anh từng có kinh nghiệm tổ chức Đại Hôi Nhạc Trẻ ngoài trời từ trước 1975. Và anh Nam Lộc mời thêm nhạc sĩ Trúc Hồ, Giám Đốc Đài Truyền hình SBTN và MC ca nhạc sĩ Việt Dzũng. Các nghệ sĩ có lòng nầy đã lôi kéo hầu hết các ca sĩ nỗi tiếng tại Hải Ngoại tham gia vào Chương Trình cứu trợ qua các Đại Nhạc Hôi Cám Ơn Anh, Người TB VNCH...


Mới biết, đàn bà như chị Hạnh Nhơn dễ có mấy tay! Công việc cứu trợ xem ra quá đơn giản phải không thưa quý vị? Thưa, không hẳn vậy mà nhiêu khê rắc rối vô cùng. Nếu không có tấm lòng nhân ái thực sự, không trầm tĩnh, thông cảm và chịu đựng thì rất dễ...phủi tay! Tôi đã ghé nhà trước là thăm chị sau là muốn tìm hiểu qua về việc điều hành của cái “Cơ Quan Trung Ương” (6) trong việc cứu trợ TPB và QP ra sao.


Điều tôi ngạc nhiên là cơ cấu tổ chức điều hành của Hội thật khoa học và thiết thực, phù hợp với luật pháp và nhu cầu cứu trợ. Ngoài những nhân sự và chức vụ thông thường của một Hội Đoàn, tôi thật bất ngờ và thán phục đến sự phân chia rành mạch các trách vụ để giúp việc cứu xét và gởi quà chính xác và hiệu quả. Đó là: Ủy viên Tài chánh. Thủ quỹ. Thư tín-Phân phối-Lưu trữ Hồ sơ. Phụ trách TPB Vùng 1 &2 CT. Phụ trách TPB Vùng 3 & 4 CT. Phụ trách Quả phụ. (Tài liệu do KQ Nguyễn Phúc Tiến, Data Entry của Hội cung cấp)


Chị Nguyễn Thị Hoàng, Phụ trách TPB Vùng 1 & 2 CT có cho chúng tôi xem một hồ sơ tại Quãng Ngải không được cứu xét, lý do, môt TPB có hai tấm hình, kiểu dáng và thương tật giống hệt nhau, cùng một quê quán mà có đến hai tên, hai số quân, hai địa chỉ hoặc ngược lại, v.v...

Do kinh nghiệm và cách làm việc chu đáo, Hội đã phát hiện ra một số hồ sơ như vậy và dĩ nhiên việc cứu trợ được xếp lại để chờ phối kiểm cho chính xác. Trước sự việc đáng tiếc, dù tôi nghĩ đến 4 chữ Từ Bi Hỉ Xã của Phật Giáo mà lòng vẫn cứ man mác buồn...

Vào Thứ Tư mỗi tuần, các thành viên trong Hội HO tập họp tại tư gia của chị Hạnh Nhơn ở Garden Grove, CA , để giải quyết các hồ sơ liên quan và nhận hồ sơ mới đem về nhà làm việc. Công việc thật bề bộn đòi hỏi nhiều công sức và thời giờ, nhưng trách nhiệm chính vẫn đè nặng hai vai chị Hội trưởng, nên ngày đêm, chị sống vì...uy tín và công tác của Hội!

(...) Được làm việc chung với Chị hơn mười mấy năm qua, nay tôi lại có nhận xét thêm về Chị: Chị Nguyễn Hạnh Nhơn trong thân xác người thường như chúng ta, mang một “trái tim Bồ Tát” (…) Làm việc không lương từ sáng sớm đến tận khuya (chúng tôi gọi đùa là Chị làm việc không chỉ “full time”, không chỉ làm “overtime”, mà còn làm “doubletime” quanh năm suốt tháng – với Chị, không có ngày nghỉ Chủ Nhật, không có “weekend”, không có “Holiday”, ngoài những lúc cần phải đi ra ngoài). Chị lúc nào cũng “trực ba phone” trong lúc làm việc, ngay cả khi ngủ, lúc đi vào rest room. Chị tâm sự: “để mất một cú phone, nếu họ gọi đến Hội cho tiền, mà mình không bắt phone, họ hiểu lầm, đổi ý, thì uổng quá” (Đôi Điều Về Cựu Nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Mủ Nâu Đại Úy Nguyễn Phán).


Từ 2006 đến nay, Hội đã tổ chức được 5 kỳ Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh với thành tựu thật đáng đồng tiền bát gạo. (Xin xem chi tiết phần chú thich 7)

Tổng kết trong “4 Kỳ Đại Nhạc Hội, gởi được 20,000 lượt giúp.(Kỳ 5 chưa tổng kết) . Chưa kể những số tiền ân nhân đã gởi đến Hội từ năm 1993 đến nay, Hôi đã gởi được 18,500 lượt giúp. Tổng cộng từ ngày thành lập Hội đến nay: 38,500 lượt giúp” (*) (Đây là tổng kết 4 kỳ ĐNH, kỳ V chưa tổng kết*)

(*) Theo Tâp giới thiệu “ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 5”, Sunday, 7 Tháng 8-2011)

Những con số đã nói lên được một phần nào lòng biết ơn chân thành của tất cả đồng hương, quân dân cán chính hải ngoại đối với TPB và QP đã hy sinh một phần thân thể của mình để bao người được sống còn đến ngày hôm nay.

Những con số cũng đã xoa dịu một phần nào những cơ cực, lầm than, những khổ đau tủi nhục trong uất hận, trống vắng, hiu quanh suốt 36 năm từ ngày nước mất nhà tan.

Những con số như tiếng phi cơ quan sát bao vùng, tiếng trực thăng tải thương, tiếng vận tải thả dù...Những con số như hỏa châu soi sáng niềm tin và dường như có tiếng quân xa hối hả mở đường tiếp tế chia xẻ hiểm nguy, bên thương phế binh và quả phụ cô nhi, vẫn còn chúng tôi quan hoài...


Trên 36 năm tan đàn xẩy nghé, tưởng mọi sự đã vùi vào quên lãng, bặt âm vô tín. Nhưng hôm nay, anh TPB húp một ngụm trà ấm lòng, trên bàn thờ di ảnh, chị quả phụ thắp sáng một nén hương tưởng niệm cho chồng, cháu cô nhi mơ màng suy nghĩ, đồng đội của bố vẫn còn thương tưởng đến bố thật sao?


Xin hãy lắng lòng mà nghe, tiếng nghĩa tình từ cõi bất hạnh vọng về:

“...Thưa quý vị, tôi đã nhận được $200 USD của quý vị thương gởi về giúp đở. Tôi là thương phế binh Nguyễn Văn Toàn, số quân 74/425.623 thuộc Sư Đoàn 5 BB. Ngày 22/08/1974 trong một trận đánh tại An Điền, Bến Cát, Bình Dương, tôi bị đạn xuyên qua cổ, nên bị tê liệt toàn thân, đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Biến cố 30/4 xảy ra, tôi bị đuổi khỏi Tổng y viện Cộng Hòa. Cuộc sống thật vất vả, nên khi nhận được tiền của quý vị, tôi biết ơn quý vị nhiều. (Nguyễn Văn Toàn – Ban Mê Thuột)
*
“...Ba con đã nhận được tiền là 100usd vào ngày 27/03/2011. Gia đình chúng con xin cám ơn các bác chú và cô có tấm lòng vàng trong Hội từ thiện đã giúp đỡ ba con trong cơn túng thiếu, ngặt nghèo. Ba con nay đã già mà nhận được tiền cứu trợ cho ba con, cũng là niềm an ủi, trong những ngày còn lại của cuộc đời bất hạnh, ba con mừng lắm vì trong cuộc đời ba con chưa từng có số tiền nhiều như vậy...” (Nguyễn Thị Lệ con của Nguyễn Văn Ngoan – Bến Tre)
*
“Vào ngày 06/01/2011 tôi có nhận được 50USD từ Hội Cứu Trợ TPB&QP/VNCH. Tôi rất mừng và hạnh phúc, không sao cầm được nước mắt. Vì quí Hội đã quan tâm đến các anh em tử sĩ, những TPB hy sinh vì đất nước và những quả phụ còn lại sau chiến tranh. Số tiền mà quí Hội đã gởi cho tôi, đã đủ cho tôi sinh hoạt và uống thuốc được 2 tháng so với căn bệnh cao huyết áp, tai biến mạch máu não trong 10 năm qua. Một lần nữa xin chân thành cám ơn quí Hội”. (Quả Phụ Nguyễn Thị Tuyết – Sài Gòn).

Những thành tựu nầy, Hội HO Cứu Trợ TPB & QP/VNCH xứng đáng nhận được lòng quý trọng và tin cậy của tất cả đồng đội đồng bào ở Hải ngoại cũng như trong nước.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa, Địa Hạt 34, Tiểu Bang California, đã tuyển chon để vinh danh các phụ nữ mà ông quý trọng vì họ đã đóng góp công sức khả năng của mình cho cộng đồng và cho đất nước Hoa kỳ, trong số 5 phụ nữ Việt, có chị Hạnh Nhơn.
(…) “Thật sự ra tôi muốn làm việc trong im lặng thôi, không có muốn đến những chỗ như thế này. Mình làm, mọi người vui là được rồi nhưng mà mấy anh bên Liên Hội Cựu Chiến Sĩ nói, ông Lou Correa nói với mấy anh đề nghị một phụ nữ, mấy anh thương quá, mấy anh đề nghị tôi, chứ thật sự ra đâu phải một mình tôi mà làm được. Bao nhiêu thiện nguyện viên, bao nhiêu các anh, rồi Asia, rồi SBTN, bao nhiêu người phụ với mình mới làm được, thật ra mình tới đây chỉ là đại diện thôi, chứ đâu phải cá nhân mình mà làm được. Tuy nhiên, dù sao đi nữa tôi cũng rất là vinh dự được đến đây hôm nay nhận cái phần thưởng nầy. Xin cám ơn tất cả” (Trích Viễn Đông, A9, TNS Lou Correa Vinh Danh 80 Phụ Nữ, 5 Người VN. Thanh Phong, Thứ Bảy 26 Tháng 3, 2011)

Thưa chị Hạnh Nhơn, chúng tôi rất cảm phục và trân quý tính nhân hậu và đức khiêm cung của chị qua phát biểu nêu trên. Chúng tôi cũng học được tinh thần tập thể (team work) là working together winning together, nhưng thưa chị, tập thể nào cũng vậy, muốn winning together đều phải cần một vị lãnh đạo tài đức vẹn toàn chị ạ.

Hội HO ngày nay không là một Đơn vị Quân Đội mà chị là Đơn Vị Trưởng. Hội cũng không là một Công Ty mà chị là Tổng Giám Đốc. Nếu là Đơn Vị Trưởng hay Tổng Giám Đốc thì...dễ thôi. Đằng nầy là một Hôi Thiện Nguyện vô vị lợi mà nếu người Hội trưởng thiếu hòa nhã nhỏ nhẹ, hăng hái kiên trì, phân minh, khiêm tốn và vị tha (8) thì Hội không dễ gì đạt những thành quả khích lệ và tồn tại đến ngày nay.

“Có những lúc Chị đã khóc khi nhận những cú phone “đay nghiến”, “kết tội” mà không có bằng chứng từ một vài đồng hương vì cố ý hay vô tình (!). Nhưng nghĩ lại tình cảnh của các TPB về cuối đời, tưởng tượng những giọt nước mắt mừng vui trên những khuôn mặt nhăn nheo, tiều tụy của các Quả Phụ khi nhận được tiền..., chị lại hăng say cùng anh chị em thành viên của Hội, cặm cuội bên những chồng hồ sơ mỗi ngày một dày hơn...”(9). Vâng, chị Hạnh Nhơn đã thực hành đức hỉ xã của nhà Phật, và “chúng tôi rất sung sướng, hãnh diện, đã biết và làm việc chung với chị” (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư riêng, 10/29/2011).

Trong một thư riêng cho chúng tôi, có đoạn chị viết: “Anh Ý ơi, Đôi khi tôi thật tức cười cho tôi. Với cái tuổi nầy mà chưa rút chân ra được Hội HO để...dưỡng lão, vì không ai chịu thay thế, cứ bắt làm việc hoài. Vậy thì có bất công không chứ!”


Chị Hạnh Nhơn ơi, không bất công đâu chị à, vì sinh hoạt của Hội bây giờ là không khí và là nguồn sống đó chị à, nếu thiếu chúng, e rằng chị sẽ trống vắng và...hụt hơi ngay thôi! Phương chi, “sau khi anh chị em trong Hội nói “nếu Chị thôi vai trò đó thì các anh chị em khác khó có thể có được uy tín như Chị để kiếm tiền cho các TPB/QP...”(9).


Đúng là chị bị triệt buộc rồi chị Hạnh Nhơn à! Mà cũng có thể hiểu đó là... ý dân, mà ý dân là ý...trời phải không thưa chị?

V- Tạm Kết, Nếu Có Yêu Tôi...

CHÚNG TÔI THẬT SỰ vinh hạnh được chị Hạnh Nhơn cho phép viết về chị như là...Không Quân Ngoại Truyện! Chị cứ dặn tới dặn lui là không nói chi nhiều về chị mà nên tập trung nói về Hội. Dĩ nhiên là chúng tôi phải...tuân lệnh ngoài mặt mà trong lòng vẫn cứ...hay quên! Chị Hạnh Nhơn sợ thiên hạ họ cười, họ bảo “mèo khen mèo dài đuôi” Chị sợ như vậy cũng phải, nhưng nếu mèo không có đuôi, hoặc cụt đuôi thì tôi lấy cái lý do gì mà khen đuôi dài cho được chứ? Phương chi, tâm huyết của chị, khả năng của chị ngày nay không còn giới hạn trong vòng đai Bộ Tư Lệnh Không Quân nữa mà chị là của Cộng đồng và của Tập thể Quân Cán Chính VNCH từ lâu rồi.

Chị đâu biết rằng, chính tôi mới là người đang ganh tỵ với những cống hiến cho tha nhân của chị và của các anh chị em trong Hôi vì không có cơ duyên phụ một tay cho quý Hôi. Ganh tỵ nhưng trân trọng. Vì trân trọng nên tôi nguyện phát tâm tùy hỉ những công tác từ thiện vô vị lợi của bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào.

Không phải chị đã biểu hiện cách sống “mình vì mọi người” qua các trách vụ mà chị đã thực hiện cho Quân Đội từ thuở gia nhập Việt Binh Đoàn, rồi Nữ Phụ Tá, Nữ Quân Nhân, trong ngục tù cho đến Hội HO ngày nay đó sao? Thôi thì, chuyện cũ bỏ qua, nhưng mới đây, khi nhận giải thưởng cuộc thi viết về Chuyện Người Tù Cải Tạo, chị Hạnh Nhơn đã phát biểu: “(...) Do đó, với phần thưởng hôm nay, tôi sẽ chia sẻ một phần vào “Quỹ Tình Thương Nữ Quân Nhân” mà chúng tôi đã lập ra mấy năm nay để Nữ Quân Nhân Hải Ngoại cùng nhau đóng góp gởi về giúp đở các chị em bất hạnh ở quê nhà” (Đặc San Cựu NQN Kỳ IV, 2007. Phát Biểu Của Tác Giả Nguyên Hạnh (Nguyễn Thị Hạnh Nhơn) trang 92).

Chị đã gieo nhân lành, đương nhiên sẽ nhận quả ngọt. Môt trong những hạnh phúc ấm áp khác là các con cháu trong gia đình đều hổ trợ công việc “bao đồng” của chị: “Trong những lần tổ chức “ĐNH Cám Ơn Anh”, có lẽ gia đình chị là một gia đình duy nhất mà người Mẹ là trưởng ban tổ chức, lo đôn đáo từ việc lớn đến việc nhỏ, ngày như đêm ròng rã mấy tháng trước cho ngày ĐNH, mà vào ngày ĐNH, tất cả các con cháu hơn một tá, đều phải mua vé để vào làm việc thiện nguyện”. (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư Riêng, 10/29/2011).


Các cháu mua vé không những để làm việc từ thiện mà còn là dịp để các cháu cảm nhận niềm hãnh diện và tự hào về người Mẹ người Bà tuyệt vời của các cháu. Chắc chắn ở tận cõi vĩnh hằng, phu quân của chị, anh Lý Nhựt Hướng, một Trưởng Hướng Đạo Việt Nam, cũng mỉm cười mãn nguyện vì họ đã tiếp nối bước đi của anh. Được biết, trước lúc lâm chung (2002) anh đã căn dặn thân bằng quyến thuộc, “thay vì mua vòng hoa, gởi tiền phúng điếu, thì nên dùng số tiền đó để cứu giúp cho Thương Phế Binh và các trẻ mồ côi ở quê nhà. Ước mơ của anh đã được người thân thực hiện trọn vẹn”. (KQ Phạm Đình Khuông, Thư riêng, 10/21/2011 Bản Tin Hội HO Cứu Trợ TPB/QP. Một Bông Hồng Cho Người Nằm Xuống, Nguyễn Phán)


Xin nhắn các bạn trẻ thế hệ nối tiếp, nếu tình cờ đọc bài Không Quân Ngoại Truyện nầy, mong các bạn sẽ tự hỏi lòng mình, là tại sao các bạn và bà con thân thuộc của mình lại có mặt ở Mỹ, để rồi các bạn thử suy nghĩ là có nên góp môt bàn tay cho Việt Nam ngẩng mặt với đời, góp một nhịp tim cho quê hương và đồng bào của của mình thoát cảnh đọa đày? Thực tiễn hơn, nếu các bạn muốn tìm cho mình môt cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc thì cũng đơn giản thôi, đó là ta sống cho ta ta sống cả cho đời, cho đồng bào đồng đội bất hạnh của mình, như thế hệ chúng tôi đã từng, cách riêng qua bài viết. Thế hệ chúng tôi sắp tàn, chúng tôi kỳ vọng ở thế hệ các bạn đó.

Có bao giờ các bạn dám mơ ước sẽ là những Cánh Chim Tự Do của Việt Nam ngày mai không? Sao lại không được nhỉ?


Thưa chị Hạnh Nhơn,
Tôi rất tâm đắc với lời ca trong bài hát Nếu Có Yêu Tôi của nhạc sĩ Trần Duy Đức, cho nên tôi rất mong khi có dịp thì chị thử lắng lòng mà nghe khúc ca ngọt ngào như ca dao, thanh thoát như lời kinh và cần thiết như nước và không khí nầy.
Rât tiếc tôi không biết ca, nhưng không sao, tôi biết nói. Và lời tôi nói, sẽ là,

-Thưa chị Hạnh Nhơn, tôi thật sự quý mến chị qua nhân cách, tinh thần phục vụ và tính nhân bản thủy chung của một quân nhân QLVNCH. Tôi hãnh diện là đồng đội của chị, cùng chung vối chị một bầu trời, một màu cờ trước kia và một ước vọng về một Việt Nam Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền hiện nay.

Chị là bậc đàn chị khả kính của tôi đó chị Hạnh Nhơn à.
Thân kính chúc chị sức khỏe thật an khang, Phúc như biển Thái Bình, Thọ như ông Bành Tổ, nghe chị!

Kính thư,
Bắc Đẩu võ ý
Corona, CA. Thu 2011


SOS: Cấp cứu công nhân VN tại Nga bị chủ giam và bỏ đói


Date: Sun, 29 Jul 2012 03:10:07 -0700 (PDT)
Subject: nmc gửi các chị các anh [1 Attachment]

 

[Attachment(s) from Nguyen Minh included below]

Chào các chị, các anh,

Có việc này đang xảy ra ở Moscow mà chúng tôi cùng với Lan Hương đang cố sức tìm cách giải quyết. Đây là một trong nhiều vụ buôn bán người ghê tởm đã và đang xảy ra ở trên đất Moscow.

Tôi xin kể qua câu chuyện để các chị các anh rõ: ở Moskva có  Xưởng may tên là Vinastar của Trần Thị Kim Dung (giám đốc), chồng chị ta tên là Tuân (anh này là một "tay đầu gấu" độc ác, nắm quyền hành thật sự) có đưa 102 công nhân từ VN đến Nga, (người thì đã làm việc ba năm, người làm việc 6 tháng) ở xưởng may này.

Vì anh chị em CN bị lừa bịp bằng những lời hứa hẹn hoang đường để đưa sang Nga (nào là lương tháng sẽ được 1000 đô la...), đến đây thì họ bị bóc lột quá nặng nề (lương tháng tính ra trên 100 đô la, nhưng phải trừ đủ thứ nên chỉ còn 1000 rúp - tương đương chừng 30 đô la, có người bị trừ nợ nên không còn gì chỉ đủ ăn thôi), lại còn bị đối xử tàn tệ (làm việc 10 giờ/ngày, nhiều khi phải làm thêm từ 2 đến 6 giơ/ngày, có khi đến 10 giờ/ngày; ốm đau không được săn sóc, có khi ốm vẫn phải làm việc: bị nhốt trong một phòng làm việc chật chội, chỉ có 4 lỗ thông khí, mùa đông không có sưởi ấm; nước tiêu dùng thiếu thốn,,,), thậm chí có người bị đánh đập tàn tệ. Anh chị em công nhân trong xưởng  đã nhiều lần khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền VN, khiếu nại, kêu cứu đến tận Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ trưởng lao động, v.v... nhưng chẳng có kết quả gì, chẳng nhận được hồi âm gì hết. 

Gần đây, họ lại khiếu kiện lên sứ quán VN ở Nga, lên đai diện Cục quản lý lao động ngoài nước của Bộ lao động VN, nhưng cũng không được giải quyết.

Bí quá, vào trung tuần tháng 07 năm 2012, họ tung lời kêu cứu của họ lên mạng. Và các đài nước ngoài như BBC, RFA... đã đưa tin, làm phóng sự và phỏng vấn SQ VN, cố nhiên là ở SQ không ai trả lời các nhà báo. Cũng vì thế, ông Nguyễn Hùng Anh, đại diện của SQ, khi đến gặp công nhân gần đây đã tuyên bố: “chúng tôi chỉ giúp những người tin vào Đảng và Nhà Nước chứ  không giúp người ‘phản bội’ Nhà nước, rồi ông đứng dậy bỏ về.”  Vì thế, vụ việc này chẳng giải quyết được gì hết, và chủ xưởng lại càng được thể để không giải quyết những yêu cầu của công nhân.

Bây giờ, chủ xưởng may lại có cách đối phó mới rất độc ác. Sáng 27.07.2012, anh chị em công nhân gọi điện cho biết: ngày 26.07 người chủ đã cho dọn hết máy móc, đồ đạc, nồi niêu, xoong chảo, gạo, thức ăn, cắt điên, và đóng khóa nhà lại, nhốt 89 công nhân (trước là 102 người, nhưng hình như có một số phải khuất phục chủ lấy đi theo, nên chỉ còn 89 người còn đấu tranh) trong nhà, chủ để một người bảo vệ gác.

 Chủ xưởng lấy 30 công nhân cũ từ trước đi theo làm việc ở chỗ mới và để lại 89 người đấu tranh trong hoàn cảnh như vậy. Họ đang kêu cứu  thảm thiết.

Lúc 13h30 hôm nay 27.07.2012 – anh chị em cho biết chủ vừa cho người đưa cháo và nước đến, mỗi người được một bát cháo và một cốc nước trắng.

Trưa nay, không được ăn uống gì, Vao luc 15h 00, theo tin cua nhom cong nhan o xuong may Vinastar  ở làng Savvino, chu xuong da mang cho ho moi nguoi 1 chiec banh mi va noi do la khau phan an cua moi nguoi trong 1 ngay. Ngoai  ra ho duoc phat them 0,5 lit nuoc de uong. Da 2 thang nay o day khong co nuoc de sinh hoat. Truoc day cu 2-3 ngay ho lai di dau do chở ve cho moi nguoi 1 binh 5 lit nuoc de sinh hoat.

Nhung nay thi hoan  toan khong co nuoc de sinh hoat nua. Moi ngay ho chi duoc phat 1 lit nuoc de uong. Về thực chất 89 người này đang bị giam đói. Tình trạng thật nguy cấp.

Chúng tôi đang tìm mọi cách giúp đỡ thức ăn, bước uống... cho anh chị em này, đồng thời đang nhờ anh Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Ngọc Thành.... giúp đỡ và bày vẽ cách gì để giải thoát họ ra khỏi cảnh bị giam đói và bị làm nô lệ này. SQ VN ở Nga thì đã đứng về phe chủ vì đã bị chủ mua rồi nên không thể hy vọng gì được ở họ cả. 

Chỉ có dư luận quốc tế mới đủ sức phá tan hệ thống buôn bán người đang tồn tại ở VN và được kẻ cầm quyền nuôi dưỡng.

Tôi xin gửi đến các chị, các anh những tài liệu này, xin các chị các anh chịu khó đọc và chịu khó xem hết các YouTube

mà anh chị em làm ra để tung lên mạng. Những tài liệu này rất quý.

Xin nhờ các cơ quan truyền thông đưa v/đ này lên. 

RFA, BBC đã tung lên rồi. Vừa qua LH đã giúp cho BBC-tiếng Nga bí mật lọt được vào và làm phỏng vấn, quay phim, chắc thứ hai họ sẽ tung lên. Xin anh Bảo nói Đài Đáp lời sông núi và anh Tuấn RFI liên lạc với LH để tung chuyện này giúp. LH đã đến tận nơi gặp anh chị em hai lần và thường xuyên liên lạc với anh chị em qua điện thoại nên nắm v/đ chắc chắn và chân thực.

Nhờ anh Bích chuyển giúp cho Đài VOA vì hình như đài này chưa biết..  

nmc

Attachment(s) from Nguyen Minh

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link