Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, August 11, 2012

NGUYỄN MẠNH TƯỜNG “Chứng nhân của Lịch sử”




NGUYỄN MẠNH TƯỜNG “Chứng nhân của Lịch sử”


Posted on  by 1945quocvietanhpham

Phần XVII : Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) – Bài 2: Từ 1954 đến 1997


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (trái) và Giáo sư Hoàng Xuân Hãn tại Paris năm 1989.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (trái) và Giáo sư Hoàng Xuân Hãn tại Paris năm 1989.


DR

Thụy Khuê


“Chế độ cộng sản áp dụng lối sùng bái hình thức: Họ trang trí thế giới bằng những đồ giả. Những tước vị hào nhoáng gáy to nhất, không để tưởng thưởng cho người sống mà cho những con nộm hình người có kẻ đứng sau lưng, trên đầu hay trong đám đó dật dây. Những diễn viên múa may trên khán đài thuộc thế giới xi-nê-ma quá đát, cinéma câm”. Nguyễn Mạnh Tường.


 


 


Dự các hội nghị quốc tế


Mặc dù đã từ chối vào Đảng và luôn giữ khoảng cách với chính quyền, nhưng Đảng vẫn phải nhờ Nguyễn Mạnh Tường trong việc đối ngoại, bởi khó tìm được người có đủ khả năng thay thế: Ông được cử đi dự ba Hội nghị quốc tế vì tài hùng biện.


Về Hội nghị Bắc Kinh, 1952, hiện không có tài liệu.


Về Hội nghị Vienne, cuối 1952, đầu 1953, Boudarel phân tích khá kỹ:


“Năm 1952, vì vì nhu cầu tuyên truyền và viễn ảnh những thương lượng mới về Đông Dương đi đôi với vấn đề Triều Tiên đang thảo luận, người ta đã lôi Tường trong nhà tù bóng tối ra ánh sáng. Ông được gọi đi Vienne dự Hội nghị các dân tộc, do Phong trào hoà bình thế giới ảnh hưởng Liên Xô, tổ chức. Một lần nữa, ông lại làm phát ngôn viên khôn khéo và hùng biện cho chính phủ Hồ Chí Minh, dù ông không chia sẻ mọi quan điểm, nhưng đối với ông, chính phủ này, trước hết, bảo đảm nền độc lập.


Chuyến đi Vienne đã có thể là cơ hội lý tưởng cho luật sư Nguyễn Mạnh Tường chạy sang phía bên kia. Nhưng không. Mặc. Ông trở về xứ. Vì yêu nước. Vì muốn độc lập cho Việt Nam, mà cũng vì muốn làm thay đổi chế độ từ bên trong bằng sức mạnh của ngôn từ.”(Boudarel, bđd).


Bài phát biểu của Nguyễn Mạnh Tường tại hội nghị Vienne, viết thành Lettre à un ami de France (Thư gửi người bạn Pháp), lời lẽ khôn khéo, cảm động, để thuyết phục những người bạn Pháp hãy vận động cho việc ngừng chiến ở Việt Nam:


“… Từ Vienne náo động âm nhạc hoà bình trong tiếng xe hơi và tàu điện, tâm tư tôi hướng về đất nước đang rền vang tiếng đại bác. Từ Vienne chói lòa ánh sáng, tôi nhìn qua hai mươi ngàn cây số xa, về những thành phố của chúng tôi đang bị thiêu huỷ; làng mạc, ruộng đồng, trổi dậy sinh hoạt khi màn đêm buông xuống, nhờ bóng tối, máy bay ngưng cơn cuồng nộ. Tôi thấy con trai tôi, trong đêm lạnh, tay mang sách vở, lần bước để nhập bọn cùng bè bạn và những người dân quê, qua những con đường ngoằn ngoèo, cùng họp nhau dưới căn nhà lá dùng làm trường học. Chúng thắp những ngọn đèn dầu nhỏ mà ánh sáng vàng vọt, mù khói làm cay mắt, ngứa cổ. Chúng ngồi bệt dưới đất, tay tựa vào cái bàn nhỏ bằng lòng bàn tay, đem từ nhà đi. Thầy đến và lớp học bắt đầu. Chúng được học nhiều điều, đặc biệt là lòng yêu mến các dân tộc, sự kính trọng con người và giá trị cần lao. Có lẽ các bạn cũng không dửng dưng khi biết rằng những đứa con trai ấy còn học một ngoại ngữ, rằng ngoại ngữ ấy là tiếng Pháp và tiếng đầu tiên chúng được học là động từ YÊU. (…) Mỗi khi màn đêm buông xuống, chúng tôi giao cảm với nước Pháp đích thực, nước Pháp sống động, nước Pháp cụ thể, nước Pháp mà chúng tôi đã ngừng Yêu trong khổ đau nhức nhối, nước Pháp của Joliot-Curie, của Raymonde Dien, của Henri Martin, của nông dân, của thợ thuyền, của trí thức, của tất cả những ai đau khổ vì nỗi khổ đau của chúng tôi, những ai đòi hỏi quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương, để bi kịch huynh đệ phải chấm dứt, để con cái chúng tôi khỏi bị đạn bom xé thành trăm mảnh mà có thể nở hoa dưới ánh mặt trời của cuộc sống và được học tập trong hoà bình.” (dịch Lettre à un ami de France, Revue Défense de la Paix, tháng 1/1953).


Bức thư dù tha thiết, cũng không ngăn cản được cuộc chiến kéo dài đến 1954. Khi trở về nước, Nguyễn Mạnh Tường phải trực diện với bi kịch kinh hoàng Cải cách ruộng đất, trong sự bất lực hoàn toàn.


Ngày 22/5/1956, Hội nghị Luật gia Dân chủ họp ở Bruxelles trong lúc phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đang manh nha, ông lại được “vời ra” lần nữa, và ông cũng lại dùng tài hùng biện để biện hộ cho sự thống nhất Việt Nam, theo quan điểm của miền Bắc. Nhân chuyến đi này ông được các luật gia Tiệp Khắc và Nga và mời sang Praha và Moscou.


Khi trở về Hà Nội, ông đã nhận được rất nhiều vinh dự, nhưng ngày 30/10/1956, ông xuất hiện tại Mặt trận tổ quốc với bài diễn thuyết lịch sử: Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo, làm thay đổi vận mệnh của chính mình.


Nguyễn Mạnh Tường nhớ lại:


“Ngay khi trở về Hà Nội, tôi được phủ đầy “vinh dự”. Khoa trưởng Đại học Luật khoa đang hấp hối, Phó chủ tịch hội luật gia, Thủ lãnh luật sư đoàn, Khoa phó Đại học sư phạm, Giáo sư đại học dạy văn chương Âu châu, Ủy viên trung ương Mặt Trận Tổ Quốc và thành viên Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội; thành viên của hội hữu nghị Việt Pháp và Việt Xô, của Uỷ ban bảo vệ hoà bình, Chủ tịch sáng lập Câu lạc bộ Đoàn Kết trí thức… dư sức viết đầy hai mặt danh thiếp!


Những “tước vị hoành tráng” này chẳng phiền hà gì tôi cả, cũng chẳng tổn thương đến lòng khiêm tốn và tôi cũng không cảm thấy mình to đùng hay bé lại. Chế độ cộng sản áp dụng lối sùng bái hình thức: Họ trang trí thế giới bằng những đồ giả. Những tước vị hào nhoáng, gáy to nhất, không để tưởng thưởng cho người sống mà cho những con nộm hình người có kẻ đứng sau lưng, trên đầu hay trong đám đó dật dây. Những diễn viên múa may trên khán đài thuộc thế giới xi-nê-ma quá đát, cinéma câm. Vì cộng sản và ciné câm ra đời cùng một lúc, cho nên người ta tự hỏi chẳng biết cái nào ảnh hưởng đến cái nào” (dịch Un Excommunié, trang 75-76).


Nguyễn Mạnh Tường tiếp tục phân tích phong cách của Đảng:


“Phải chăng Đảng đã ngó ngàng tới tôi và muốn thổi phồng tôi lên thành một trong những con khỉ bác học được đưa chạy vòng quanh sân xiếc làm trò cười cho trẻ? Năm 1951, trong chiến khu miền Bắc, giữa kháng chiến chống Pháp, người ta đã đề nghị cho tôi vào Đảng, nhưng tôi từ chối vinh dự này. Năm 1946, khi đi theo kháng chiến với gia đình và cha mẹ, tôi đã dâng hết của cải, gồm ba dinh thự ở Hà Nội cho Cách mạng và Nhân dân. Trong suốt thời gian kháng chiến, tôi chấp nhận mọi hy sinh và dùng cả hai nghề luật sư và giáo sư để phục vụ dân tộc. Là thành viên của các phái đoàn Việt Nam đi dự bốn hội nghị quốc tế, Đà Lạt 1946, Bắc Kinh 1952, Vienne 1953 và Bruxelles 1956, tôi đã giữ vai trò chủ động và đạt một vài thành quả khiêm nhường… Có thể Đảng cũng muốn cho tôi một chứng chỉ tán thành bằng cách thăng cho những chức vụ dù chỉ là danh dự cũng có phần khả kính. Nhưng tôi thừa biết trí nhớ của Đảng tồi lắm, Đảng quên ngay công lao của cả những người ngày trước đã được Đảng công nhận, chỉ vì tội làm Đảng nổi giận. Ngay cả những người cộng sản nổi tiếng, đã từng đi tù chung với những lãnh đạo hiện ở trên ngai, cũng chẳng được hưởng ân sủng gì ngoài sự ngoan cố và độc ác của họ.


Trong những ủy ban chỉ đạo các tổ chức quần chúng, Đảng có lệ đem những trí thức nổi tiếng vào làm phụ tá cho những đảng viên cầm cương, cầm lái. Những con rối ngồi trên Chủ tọa đài, tuyên bố khai mạc và kết thúc các buổi hội thảo, được người ta uể oải vỗ tay và cũng uể oải vỗ tay đáp lễ. Cái lối hành xử này đã trở thành tập quán, chỉ để phô trương có sự cộng tác chặt chẽ giữa trí thức không đảng phái và những người cộng sản. Tôi biết thừa và chẳng ngạc nhiên gì. Tôi đợi bánh xe luân hồi của đạo Phật quay và sẵn sàng phòng thủ, không để cho những bất trắc đánh bại”. (Un Excommunié, trang 76-77) 


Tham gia Cải cách ruộng đất  


1953, sau khi dự Hội nghị Vienne về, ông phải tham gia Cải cách ruộng đất.


Trả lời Hoà Khánh, ông cho biết:


Hỏi: Luật sư có đi tham gia Cải cách ruộng đất?


NMT: Có. Hồi ấy, tất cả mọi cán bộ đều phải về các địa phương để tham gia Cải cách ruộng đất cả. Tôi cũng phải đi.


Hỏi: Luật sư về địa phương nào?


NMT: Phủ Nho Quan.


Hỏi: Công việc của các cán bộ cụ thể là làm gì?


NMT: Để phụ với nhân dân tổ chức các cuộc Cải cách ruộng đất thôi.


Trầm ngâm một lát, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:


Chính trong những đợt đi xuống địa phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó. Lại im lặng. Chúng tôi cũng im lặng chờ đợi. Giọng của luật sư Nguyễn Mạnh Tường trầm trầm, buồn buồn:


Đầu tiên, về Phủ Nho Quan, chúng tôi được học tập là theo lệnh từ trên, tại địa phương này có cả thảy 80% dân chúng thuộc thành phần địa chủ. Tôi điếng cả người. Phẫn nộ, thấy ngay cách làm việc như vậy là rất trái khoa học. Khoa học nào cũng phải sử dụng phương pháp quy nạp, phải căn cứ trên quá trình điều tra thực tế cẩn thận, từ thực tế mà đúc kết thành nhận định. Đằng này thì mấy ông từ trung ương cứ tưởng tượng ra các chỉ tiêu rồi ra lệnh xuống bắt các địa phương phải thực hiện. Cán bộ địa phương muốn hoàn thành công tác thì phải kích thôi. Có nhiều gia đình nghèo xơ nghèo xác, ở trong một căn nhà hẹp có hai gian, tài sản đâu chỉ được một hai mẫu ruộng thế mà cũng bị ghép váo thành phần địa chủ. Để cho đủ số lượng mà! Tội lắm. Oan ức nhiều không sao kể hết được.


Hỏi: Luật sư có tham gia vào cuộc xử án nào không?


NMT: Không. Người ta đâu có cần luật sư. Mình đi là cốt để rèn luyện quan điểm, rèn luyện lập trường thôi, chứ đâu phải để xử án hay biện hộ cho ai.


- Thế thì ai làm chánh án, luật sư trong các vụ đấu tố?


NMT: Chẳng có chánh án, luật sư gì cả. Phiên tòa được tổ chức ở một bãi sân rộng đâu đó trong làng. Mấy anh thuộc thành phần bần cố nông ngồi ngất ngưởng trên bàn để luận tội, còn mấy người bị gọi là địa chủ thì bị xích cổ, trói chân, trói tay, quỳ mọp giữa sân…


- Có cả chuyện xích cổ ư?


Có. Suốt “phiên toà”, hết bần cố nông này lên tiếng chửi thì đến bần cố nông khác lên chửi tiếp. Xong rồi đến lượt hành hình địa chủ, vậy thôi.


- Luật sư có bao giờ can thiệp vào những sự đấu tố dã man như vậy không?


Có mà muốn chết à? Không. Có chẩy nước mắt thì cũng rán mà giấu đi.


- Có địa chủ nào được quyền tự biện hộ, tự thanh minh cho mình không?


- Không. Lúc đó, ai cũng hồn kinh phách tán cả rồi, mặt mũi xanh rờn, đứng còn không nổi nữa thì nói gì đến chuyện tự biện hộ. Mà ai cho? Cứ bị khép vào thành phần địa chủ là coi như đã chết” (Hoà Khánh, bđd).


 Bối cảnh Phủ Nho Quan sẽ được đưa vào tiểu thuyết Une voix dans la nuit – Tiếng vọng trong đêm, và cũng là nền tảng của bài diễn thuyết Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo tại Mặt trận tổ quốc ngày 30/10/1956. 


10/10/1954, quân cách mạng tiến vào Hà Nội 


Là nhân chứng không thể loại trừ, Nguyễn Mạnh Tường viết về ngày lịch sử 10/10/1954:


“Mười giờ sáng ngày 10/10/1954, lực lượng Kháng chiến long trọng bước vào thành phố đã chinh phục lại. Quân đội mở đầu, cờ cao, trống thúc! Cán bộ dân sự đứng trên xe vận tải chào mừng quần chúng tụ tập hai bên đường, tay vẫy cờ giấy, hoan hô cổ võ đến khàn giọng nghẹt thở (…)


Trong khoảng mười lăm ngày, cán bộ bị cấm trại ở một nơi, vì lý do gì, không ai biết (…) Về phía mình, một phần, nóng lòng được đặt chân về chốn tôi đã sinh ra, thành phố không ngừng ám ảnh tôi trong những năm dài xa cách; phần khác, lòng càng héo mòn ủ rũ vì ngay từ phút đầu đã không thể trở về nhìn lại mẹ cha, mà tuổi hạc càng làm tăng thêm ước muốn được âu yếm nhìn thấy đứa con đầu lòng, đã phải xông pha quá lâu, cho dù hai thân đã chấp nhận sự hy sinh ấy là cần thiết và chính đáng.


 Cuối cùng, rồi nỗi khổ tâm của chúng tôi cũng chấm dứt khi người ta thông báo cho biết tôi được nhận công tác tiếp quản Đại học Luật khoa. Sau nghi lễ, tôi chạy vội về nhà, cha mẹ tôi oà khóc khi thấy tôi còn sống! (…) (Un Excommunié, trang 23-24-25-26)


Song song với ngòi bút nhà văn, ngòi bút luật gia và chính trị gia phân tích tâm lý những người cộng sản:


“Thời gian trôi đi, Đảng lần khân và chậm quyết định mở lại hay đóng cửa trường Luật. Tôi hiểu những ngần ngại này. Trong nhiều năm được nhà cầm quyền chỉ định làm luật sư (avocat d’office) tại các toà án, và nhờ giao tiếp thường xuyên với những người được gọi là có trách nhiệm, tôi đo lường được trong cái vô thức bí mật của họ, sự ghê tởm luật pháp đến thế nào! (…)


 Trong khi người chính trị khẳng định chủ lực (volontarisme), thì người luật pháp chọn chủ luận (rationalisme). Một bên đặt vấn đề cụ thể, phân tích những yếu tố, khảo sát mối tương quan và hấp lực hỗ tương giữa các đối tượng, để tìm một giải pháp lợi hại nhất, và dùng quyền lực để thực hiện giải pháp đó. Họ không cảm thấy bị trói buộc bởi bất cứ nguyên tắc nào, họ không bị bắt buộc, họ tự do như con ngựa phi trên vùng thảo nguyên, bạo liệt như trận cuồng phong hung dữ chặt thủ cấp những nóc nhà, vùi sâu dân chài trong lòng biển cả. Trong cơn mê sảng, quyền lực chính trị lợi dụng những thế cờ thuận tiện để phất lên lá bài của mình và tỏ rõ sự sắt đá đã lột xác. Nhưng thời cơ thuận lợi của họ vấp phải sự cứng rắn của luật lệ, của luật pháp: Họ quyết định quét sạch luật lệ, dầy xéo luật pháp; tuy nhiên họ vẫn tiếp tục bình thản ngủ vùi, bởi trong chiến khu, Nhà nước chỉ nói chuyện với cỏ cây, súc vật trong rừng rú, dân chúng thì đã chín rụng vì lòng yêu nước cao độ và ý thức bổn phận, nên không ai làm phiền sự nghỉ ngơi của những kẻ thống trị. Nhưng tất cả mọi sự đều thay đổi khi trở về Hà Nội. Ở đây, dư luận thị thành luôn luôn khuấy động, cả sự ngậm tăm cũng làm chính quyền lo ngại. Nó tỏ sự tôn trọng luật pháp. Khi quyền lợi của họ bị xâm phạm, họ gõ cửa luật sư và pháp đình là thành lũy của công bằng và pháp lý.


Nhà nước cộng sản, để tỏ thiện ý, không thấy bất tiện việc giữ lại Luật sư đoàn, bởi đó là hàng quan chức tư pháp đã được thay thế bằng những người sùng bái Đảng và đã được Đảng giáo dục để quyết định số phận các cuộc tranh tụng. Vấn đề nội trị có thể giải quyết dễ dàng. Nhưng từ khi về Hà Nội, toàn thế giới nhìn vào Việt Nam, sự giao tế bây giờ thoát khỏi biên thùy các “nước anh em” mà kéo dài tới các nước tư bản. Nay, những nước này lại tỏ ra rất hâm mộ luật pháp và đưa cái bản Hiệp định [Genève] mà họ ký vào trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, những pháp viện và những tổ chức quốc tế chăm chú nhìn vào Việt Nam để phán xét xem họ có thể nghiêng cán cân về phiá nào: giúp đỡ hay phản đối. Chính nhờ con đường quốc tế mà luật pháp đã xâm nhập một cách vũ bão vào hiện tình Việt Nam và những người cầm quyền bắt buộc phải để ý”. (Trích dịch Un Excommunié, trang 28 và 30). 


Những dòng trên đây mô tả cuộc xung đột quyết liệt giữa chính trị và luật pháp, sau 1954, khi quân cách mạng tiếp thu Hà Nội và sự thủ tiêu luật pháp sau khi Đảng nắm vững chính quyền, đồng thời giải thích việc Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết tại Mặt trận tổ quốc, đòi tự do dân chủ và nhà nước pháp trị. 


Diễn thuyết tại Mặt trận tổ quốc: Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo


Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn ghi lại lời thầy Tường ở Hà Nội:


“Ở Hội nghị của Mặt trận Tổ Quốc, họp ở Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi ông Trường Chinh, thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, tự phê bình về các sai lầm đã phạm trong Cải cách ruộng đất, tôi đọc bản tham luận “Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”. Từ góc độ một người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, tôi nói đến một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự. Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa. Từ 1957 là thời kỳ đen tối của cuộc đời tôi. Tuy vậy, tôi đã lợi dụng thời gian rảnh rỗi này để viết sách, trong đó có cuốn Lý luận giáo dục châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tôi cố ý viết bằng tiếng Việt để lãnh đạo có thể đọc được.” (Nguyễn Văn Hoàn, bđd). 


Trả lời Hoà Khánh ở Paris, Nguyễn Mạnh Tường cho biết thêm nhiều chi tiết hơn:


“Các anh cũng biết là, vụ Cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu, rồi ông Trường Chinh, rồi ông Xuân Thủy đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bầy cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm Cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao để cho chế độ xã hội chủ nghiã trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thủy, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa cho mấy ông xem.


- Thế trong cuộc hội nghị, luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?


- Không. Thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên thế mới chết chứ.


- Luật sư còn nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?


- Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thủy. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi.


- Thế thì luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài biết của luật sư lại lọt ra nước ngoài được không? Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:


Chịu thôi, ở đời vẫn có những bí mật như thế đó, các anh ạ.


- Thế sau khi bài viết bị tiết lộ ra ngoài thì cộng sản đối xử với luật sư như thế nào?


- Thì còn đối xử thế nào nữa. Kiểm điểm rồi đuổi việc thôi.” (Hoà Khánh, bđd)


Vậy, Trường Chinh và Xuân Thủy, ai là người chuyển văn bản của Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và với mục đích gì? 


Ba mươi năm sa mạc 


Trả lời Hoà Khánh:


- Luật sư có bị bắt, có bị giam cầm gì không?


- Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi tất cả những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên lụy đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi, đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác. Tôi cũng không trách gì họ. Vì sự an toàn của họ, họ phải làm thế thôi. Nhưng đau xót lắm.


- Trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?


Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận. Thoạt đầu, cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu. Bán bàn ghế, giường tủ, rồi bán quấn áo, giầy dép… cuối cùng phải bán đến cả sách vở tôi dành dụm thu thập sắm trong hai mươi năm. Bán theo giá bán giấy ký thôi. Rẻ mạt. Nhưng cần sống thì phải bán. Cứ mỗi lần bán sách là mỗi lần tôi có cảm tưởng như có ai lấy dao găm đâm vào tim mình. Rồi tất cả đồ đạc cạn dần, cạn dần. Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè. Lâu lâu người này cho cái đồng hồ, người khác cho một ít tiền.


- Những người giúp luật sư thuộc thành phần nào?


Một số là học trò cũ cũa tôi; một số là bạn bè của tôi lúc còn ở Pháp và một số khác nữa là hoàn toàn xa lạ vì nghe tiếng tôi, thương cho hoàn cảnh của tôi, từ Pháp thỉnh thoảng cho một ít quà.


- Họ là người Việt Nam hay là người Pháp?


- Người Việt có, người Pháp có”. (Hoà Khánh, bđd) 


Trả lời Phạm Trần:


“Cuộc sống thật gay. Khó khăn thật lớn. Nhưng cái khó khăn nhất là nỗi cô độc. Không ai dám tiếp xúc với mình. Học trò thấy mình từ xa thì đã né tránh. Nhưng tôi hiểu và thông cảm cho họ. Còn sau này, thỉnh thoảng vẫn có anh em cán bộ đi công tác và họ nhờ tôi chỉ vẽ đôi chút tiếng Pháp. Ai sẵn thì họ giúp chút ít. Thế thôi”. (Phạm Trần, bđd). 


Đói:


“Tôi muốn dạy tư Pháp văn tại nhà riêng. Nhưng vừa bắt đầu thì một bọn công an, có lẽ do thám tử và chỉ điểm quanh tôi, báo, ùa vào nhà, bảo rằng trong chế độ cộng sản, chẳng có gì riêng tư, kể cả những bài học do người thầy bần cùng nghèo đói dạy! Làm gì bây giờ? Vì cao tuổi, không thể đạp xích lô như một số đồng nghiệp trẻ, chứ tôi nào có sợ gì “người ta xầm xì này nọ” (…)


Tôi bị kết án đói kinh niên. Một sự mệt mỏi mênh mông, vô bờ bến, xâm chiến thân thể, như nước sông mùa lụt tràn ngập một miền, chỉ ngọn cây và đỉnh đồi là trồi lên được. Tôi có cảm tưởng như mình bị nhận chìm trong một trạng thái hôn mê mà sự sáng suốt của ý thức thỉnh thoảng bùng lên chọc thủng. Cố gắng đứng dậy đi vài bước lảo đảo nhưng rồi lại ngã lăn đùng ra giường, đợt sóng bạc nhược đánh tan tành tất cả sức lực cơ bắp còn lại. Cùng lúc ấy, dạ dầy quặn thắt trong một chuyển động tuần hoàn cực kỳ đau đớn. Những co giật làm tôi luân lưu giữa căng và dãn, trước khi bị vùi sâu trong cơn thuỷ triều bất tỉnh, mất hẳn khả năng tri giác. Ra khỏi những cơn khủng hoảng này, cật vỡ, hồn bầm. Tôi đã học tập kinh nghiệm đói!” (Un Excommunié, trang 254- 257- 258). 


Trở lại Pháp (10/1989-1/1990) 


Mùa xuân1989, dược sĩ Tống Lịch Cường, anh rể Nguyễn Mạnh Tường ở Paris, viết giấy bảo lãnh để ông sang Pháp, chuyến đi do các học trò cũ đài thọ.


Tháng 10/1989, ông đến Pháp, ở nhà nha sĩ Nguyễn Văn Lung, em ruột bà Hoàng Xuân Hãn, 12 rue d’Auteuil, Paris 16, gần nhà ông bà Hoàng Xuân Hãn, 60 rue Théophile Gautier Paris 16. Địa chỉ trên giấy tờ: 51 Boulevard Montparnasse (14/1/1990). 


Năm 1989, ở tuổi 80, những người bạn Pháp Việt mời tôi đi Pháp. Lúc đó, sau Đại hội VI của Đảng cộng sản, lần đầu tiên trong lịch sử, họ tuyên bố chủ nghiã tự do oe oe chào đời; tôi lợi dụng cơ hội để xin cấp giấy thông hành đi Pháp. Tôi cũng không nghĩ là đơn được chấp thuận với quá khứ chính trị nặng nề như vậy. Nhưng, ngạc nhiên vô cùng, chỉ hai tháng là tôi có giấy thông hành và hộ chiếu xuất ngoại. Chẳng may chính phủ Pháp lại làm khó dễ trong nhiều tháng mới cấp giấy nhập cảnh. Đúng là thế giới lộn ngược.


Tôi đến phi trường Orly một buổi chiều tháng mười. Những người bạn Pháp Việt đón tôi thật cảm động. Sau 60 năm, tôi tìm lại quê hương của trí tuệ tôi cùng với sự đón tiếp ân cần và tế nhị của những trái tim vàng. Sức khoẻ suy nhược bởi 40 năm thiếu dinh dưỡng thể xác và khốn đốn tinh thần làm tôi quỵ ngã. Lần đầu tiên trong đời, ở tuổi tám mươi, tôi vào một bệnh biện của Pháp, và đã được săn sóc hết lòng. Mười ngày sau, tôi liên lạc lại với bạn hữu và tiếp tục công việc. Trả lời phỏng vấn đài truyền hình TF1, thuyết trình hai lần, một ở Clermont L’Hérault, gần Montpellier, nơi tôi đã đến tìm tài liệu về J. Boissières để làm luận án phụ tiến sĩ văn chương, và một lần ở Paris VII. Tôi đến thăm Thủ lãnh luật sư đoàn Paris.” (Un Excommunié, trang 338-340). 


Trả lời Phạm Trần, ông nói:


80 tuổi rồi, chẳng còn dám đặt chương trình gì nữa. Có cái ước nguyện ôm ấp bao nhiêu năm nay là được sang đây để cám ơn các ân nhân (hầu hết là học trò cũ). Những người đã giúp đỡ tôi mấy chục năm qua. Không có họ thì tôi không chắc sống tới ngày nay. Mà bây giờ đã sang được. Thế là mãn nguyện.


- Làm sao sang được đây?


Mọi chi phí các học trò tôi lo. Chứ tôi làm gì dám nghĩ một cuộc Âu du như vậy” (Phạm Trần, bđd). 


 Phượng Linh Đỗ Quang Trị viết:


“Năm 1990 qua Pháp, thầy được con một ông bạn Pháp cùng học ở Montpellier đóng tiền bảo kê sức khoẻ. Ông bố đã mất nhưng con nhớ bố kể lại, rất khâm phục tài học của thầy Tường, nên đã giúp đỡ. Nhờ vậy mà khi thầy Tường ngã ngất vì tim yếu tại nhà anh Nguyễn Văn Lung là em Hoàng Xuân Hãn phu nhân. Thầy đã được đưa vào bệnh viện điều trị miễn phí”. (Phượng Linh Đỗ Quang Trị, Thầy Nguyễn Mạnh Tường không còn nữa, tài liệu đánh máy).


Trong thời gian ở Pháp, ngoài các buổi trả lời phỏng vấn và nói chuyện ở các đài truyền hình TF1, FR3, đại học Paris VII v.v… Nguyễn Mạnh Tường còn tiếp xúc rộng rãi với mọi tầng lớp Việt kiều, đặc biệt ông muốn gặp giới trẻ quan tâm đến tình hình đất nước và chúng tôi, theo lời yêu cầu của bác sĩ Trịnh Văn Tuất, bạn ông, cũng đã tổ chức một buổi tại nhà.


Trong những cuộc gặp gỡ ấy, ông đều nói thẳng nói thật, nhưng khi gặp những câu hỏi có tính cách chính trị, của những người muốn ông mạnh mẽ phản đối nhà cầm quyền, về sự đối xử với ông trong 30 năm sau Nhân Văn Giai Phẩm, ông ôn tồn trả lời: bản thân ông đã quên mọi oán thù. Về Hồ Chí Minh, ông bảo: hãy để lịch sử phán đoán. Lúc đó phong trào cách mạng nhung vừa khởi xuất, hỏi ông tiên đoán gì về tình hình Việt Nam? Ông mỉm cười: tôi không phải là nhà tiên tri. Việc gì phải đến sẽ đến.


Về phía ông, chuyến đi Pháp dường như là động cơ thúc đẩy ông viết, bởi khi về nước, chỉ trong vòng bốn năm (từ 1990 đến 1994), ông đã hoàn tất một lượng sách đáng kể. 


Trở lại Hà Nội – Những năm tháng cuối


Thư từ trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung (1916 – 2009)


Vận động Francophonie và viết sách 


Chúng tôi công bố những thư viết tay và đánh máy của Nguyễn Mạnh Tường gửi Nguyễn Văn Lung, vì đây là chứng từ đích thực về giai đoạn 1990- 1994, thời kỳ ông viết mạnh nhất.


Francophonie (Cộng đồng quốc tế các nước nói tiếng Pháp) là một tổ chức được thành lập năm 1986, trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp tại Paris. Việt Nam tham dự tổ chức này từ tháng 12/1989, nhân chuyến thăm của Alain Decaux, bộ trưởng đặc trách khối Pháp Ngữ. Nha sĩ Nguyễn Văn Lung, qua thư từ trao đổi với những người Pháp, chứng tỏ ông đã hết sức vận động Bộ Ngoại Giao Pháp tài trợ để mở các Câu lạc bộ Pháp ngữ tại Việt Nam. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường chấp nhận đứng ra tổ chức và làm đại diện cho Câu Lạc Bộ Pháp ngữ Hà Nội.


Là bạn thân của Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Lung về Sài Gòn tháng 1/1990 và ở lại đến tháng 4/1990, lo việc mở mang Francophonie ở Việt Nam. Nguyễn Mạnh Tường từ Paris về Hà Nội tháng 1/1990. Họ gặp lại nhau tại Hà Nội.


Tất cả thư từ trao đổi đều viết bằng tiếng Pháp. Nha sĩ Lung trao cho chúng tôi bản chính, và dù ông không nói ra, chúng tôi cũng hiểu, ngụ ý của ông, là để sau này, nếu có điều kiện, nên gửi những tư liệu quý giá này về viện bào tàng lịch sử hay văn học. Thư viết ngắn gọn, trực tiếp nói vào việc chính, thỉnh thoảng có vài lời thăm hỏi, vài câu về chuyện gia đình. Chúng tôi dịch các phần chính, liên quan đến văn học và lịch sử, lược bỏ việc riêng. Lời thư tỏ hết tâm tư và nguyện ước của Nguyễn Mạnh Tường và nói lên không khí ông sống trong những năm tháng cuối. Độc giả tiếp xúc trực tiếp với ông, không qua trung gian của ngòi bút nào. 


Thư ngày 26/1/1990, gửi Fax từ Sài Gòn, của Nguyễn Văn Lung gửi Maharadja Indien, Emir Sarfaraz Husain, Đại sứ Ấn độ tại Unesco.


Lá thư này khá dài, có hai mục đích chính:


- Nhờ Emir Husain trợ giúp mở rộng Francophonie ở Việt Nam, chủ đích tiến tới việc cấp học bổng cho các bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, đi tu nghiệp ở Pháp.


- Giới thiệu giáo sư Nguyễn Mạnh Tường như một nhân vật văn hoá Pháp-Việt đầy uy tín, mà ông Husain có thể giới thiệu với giới trách nhiệm Francophonie, để tổ chức và hình thành một “sách lược” đưa tiếng Pháp trở lại Việt Nam ở bậc Trung và Đại học. 


Thư ngày 10/4/1990, Nguyễn Văn Lung gửi Nguyễn Mạnh Tường:


Anh Tường,


Việc in sách tiếng Việt:


Sau khi thảo luận với luật sư Hiệp [Trần Thanh Hiệp], chúng tôi đã quyết định:


- Anh gửi cho tôi 4 tác phẩm viết tiếng Việt về vấn đề nghiên cứu Hy Lạp-La Tinh.


- Chúng tôi sẽ cố gắng nhờ Hội Văn Bút Pháp hoặc Mỹ; hoặc nhờ l’ACCT (France) giúp đỡ. [ACCT là Agence de Coopération Culturelle et Technique-Cơ quan hợp tác kỹ thuật và văn hoá, Jean-Louis Roy làm Tổng thư ký năm 1990].


Việc in lại sách tiếng Pháp:


Về bốn cuốn: Sourires et larmes d’une jeunesse, Pierres de France, Apprentissage de la Méditérénée và Le voyage et le sentiment, tôi sẽ tìm hai cách:


Hoặc nhờ l’ACCT in lại. Hoặc nhờ Bộ Ngoại Giao Pháp (qua ông Portiche).


Tôi đang vận động Bộ Ngoại Giao để xin 20.000 cuốn sách giáo khoa, cho các Câu lạc bộ Pháp Ngữ Sài Gòn, Đà Lạt, Huế và Hà Nội. Câu lạc bộ Sàigòn đã hoạt động, Đà Lạt đã có giấy phép. Chỉ còn chờ Hà Nội và Huế. 


Thư ngày 8/4/1990, Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:


“Anh nói với Husain và Portiche rằng việc hợp tác và chương trình Francophonie tiến hành khó khăn, không phải vì chuyện thơ lại, nhưng có lẽ vì tài chính, tuy vậy tôi vẫn hy vọng.


Anh nhớ nhắc người bạn dạy Sorbonne (mà tôi quên tên), đã hứa giúp việc in sách của tôi ở Pháp. Tôi đang đánh máy những tác phẩm mới: “Hồi ức của một người trí thức và diện mạo Việt Nam trong 80 năm đời tôi, chủ yếu 40 năm dưới sự lãnh đạo của cộng sản”[Ông muốn nói đến bộ hồi ký Larmes et Sourires d'une vieillesse]. Hy vọng cuối năm nay sẽ viết xong.


Tôi sẽ mở lại văn phòng luật sư với sự cộng tác của một trong những luật sư đã tập sự với tôi ngày trước (Luật sư Dương Văn Đam) [hay Đàm, vì không để dấu], chúng tôi chỉ chuyên về luật quốc tế, chủ yếu về kinh tế”. 


Thư ngày 1/5/1990:


“Cám ơn anh đã cố gắng giúp tôi trong việc in tác phẩm. (…) Tôi đang cố cho xong bộ hồi ký Larmes et Sourires d’une vieillesse và cuốn Triptyque, cả hai đều viết bằng tiếng Pháp, hy vọng từ giờ đến cuối năm sẽ đánh máy xong. Về Francophonie vẫn đang gặp khó khăn… 


Thư ngày 27/5/1990:


Anh Lung,


Ông bạn Fouilloux (Les Echelles -2 allée des Ecuyers- Chambourcy) đã chụp được cuốn sách thứ tư của tôi, Le voyage et le sentiment- kịch 3 màn. Tôi đã nhờ ông ấy chuyển cho anh một bản để anh có đủ 4 tác phẩm của tôi đã in ở Việt Nam năm 1940 mà chưa in ở Pháp. Anh xem có thể làm gì được không, và nhất là nhờ anh dò ý nhà xuất bản Việt (mà tôi quên không ghi tên và địa chỉ) xem họ còn muốn giữ lời hứa in lại những sách ấy không. Cám ơn anh. Và bây giờ tôi có vài dòng về Câu lạc bộ Pháp ngữ:


1- Nhà cầm quyền Việt Nam chưa động tĩnh gì. Họ sợ, không muốn cho phép mở. Có thể phải nhờ sự can thiệp của chính phủ Pháp.


2- Phải có trợ cấp để thuê một nơi làm phòng đọc sách và diễn thuyết. Vấn đề tài chính cũng quan trọng như vấn đề giấy phép của chính quyền. 


 Ngày 18/6/1990, bác sĩ Lung gửi Fax cho luật sư Tường qua ông Dominique Gallet [nhân viên Bộ ngoại giao Pháp], ông này nhờ một dân biểu Pháp sang VN đem lại:


“Anh Tường,


Từ tháng tư, khi về lại Paris, tôi vẫn chờ tin của ông Maurice Portiche, về việc gửi những dụng cụ làm việc (sách học, cassettes, v.v…) về các trung tâm dậy tiếng Pháp trong nước, như Sài Gòn, Đà Lạt, Huế, Hà Nội.


Ông Fouilloux cũng đã chụp được cuốn “Le voyage et le sentiment” (kịch) ở Thư viện quốc gia Pháp và gửi cho tôi. Và bà Musain Claire cũng đã chụp dùm những cuốn còn lại. Như vậy, tôi đã có đủ 4 cuốn sách của anh để in lại. Hy vọng sớm tìm được “người bảo trợ” cho việc “làm sống lại” tiếng Pháp ở Việt Nam.


Khi nào có tin mừng cho các giáo sư và học sinh đang đợi sự bảo trợ để tiến hành chương trình Francophonie, tôi sẽ báo cho anh.” 


Thư ngày 3/7/1990, Nguyễn Mạnh Tường gửi ông Tống Lịch Cường (anh bà Nguyễn Mạnh Tường), nhờ nhắn với ông Lung:


“Như anh [Cường] đã biết, tình trạng Việt Nam càng ngày càng tồi tệ. Dân chủ lùi bước, nhà cầm quyền thắt chặt kiểm soát, dân chúng và trí thức chờ đợi những giờ phút đen tối nhất. Vì thế, những cố gắng xây dựng Câu lạc bộ Francophonie trở thành vô ích. Người ta không cho phép tôi hành nghề luật sư tư với tư cách cá nhân. Người ta bắt tôi phải vào Hiệp hội chính thức luật sư nhân dân (La Corporation officielle des défenseurs populaires) có nghiã là người ta không cho tôi hành nghề luật sư. Đó là hiện tình Việt Nam. Nhờ anh gọi điện thoại hỏi Lung xem việc in 4 cuốn sách của tôi tới đâu đâu rồi. Từ khi Lung về lại Pháp tôi không nhận được tin Lung nữa.”


Thư ngày 21/7/1990


Về việc Francophonie, tôi đã nhận được thư Alain Decaux [Bộ trưởng đặc trách khối Pháp ngữ] và tôi đã trả lời, đại ý:

Dân đã thức sao Đảng vẫn ngủ?


Dân đã thức sao Đảng vẫn ngủ?


Đăng bởi cheoreo1 lúc 4:16 Sáng 10/08/12


VRNs (10.08.2012) – California, USA – Tổ tiên người Việt có câu ”cháy nhà ra mặt chuột” cho nên khi chuyện nhà, việc nước gặp chuyện  không hay ta mới biết ai là kẻ trung, người hiếu hoặc người nào dễ dàng chấp nhận số phận để được an thân, dù trong tay kẻ thù hay những kẻ phản bội.

Bằng chứng này đã phản ảnh rất rõ trong cách ứng xử của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) trước các hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo Việt Nam của Trung Cộng từ sau khi Luật Biển ra đời  ngày 21 tháng 06 năm 2012.



BẰNG CHỨNG BUÔNG XUÔI

Sau đây là những việc làm đã khiến nhân dân nghi ngờ về quyết tâm chống Trung Cộng để bảo vệ Tổ quốc của những người có trọng trách trong giới cầm quyền ở Việt Nam:  

- Quân đội và Lực lượng Biên phòng Việt Nam không có bất cứ động thái bảo vệ chủ quyền nào, kể cả trong trường hợp ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng tấn công, cướp của, đánh đập dã man hoặc dùng võ lực ngăn chận không cho đánh cá trong vùng biển Việt Nam.

- Để mặc cho các tầu đành cá Trung Cộng, nay đã lên tới 23,000 chiếc tự do xâm nhập và đánh bắt tự do trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt quanh vùng Hòang Sa, Vịnh Bắc bộ và Trường Sa.

-Không dám thi hành Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam ban hành ngày 26/01/2008 quy định quyền bảo vệ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và nghiêm trị những vi phạm chủ quyền của Việt Nam theo pháp luật của Việt Nam và các  điều ước quốc tế.

 -Ngăn cấm không cho dân biểu tình chống Trung Cộng xâm lược.

-Khủng bố, đe dọa, hạch hỏi, điều tra, theo dõi ngày đêm những ai “có dự tính” xuống đường biểu lộ tinh thần yêu nước.

- Kể từ năm 2007, tăng cường theo dõi, ruồng bắt những người “đi biểu tình” chống chính sách bá quyền, bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh.

-Chỉ thị cho Báo-Đài của nhà nước chụp mũ người yêu nước phá rối trật tự, an ninh, mắc mưu các  “thế  lực thù địch” và “gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt – Trung.” Thậm chí còn bịa đặt cả chuyện có kẻ “phát tiền cho người tham dự biểu tình”, dù không chứng minh được.

-Tuyên truyền ru ngủ người dân bằng luận điệu đầu hàng, buông trôi trách nhiệm với lời khuyên: “đã có  đảng và nhà nước lo”.

-Bất lực trước các âm mưu phá họai kinh tế, đầu cơ, hàng lậu, xâm hại môi trường, khai thác Bauxite, quặng mỏ, qúy kim, súc vật, nông phẩm, hải sản, gỗ qúy trên khắp lãnh thổ.

-Cho Tầu thuê đất chiến lược dài hạn 50 năm trên vùng cao, ven biển, mở khu phố Tầu, xây thị tứ, gia cư.

-Để cho các khu “kinh tế Tầu” làm chủ trên lãnh thổ Việt Nam được tự do “phong tỏa” sự dòm ngó của người Việt và chính quyền Việt.

-Các cơ quan Lao động,  Công đòan, Công an của Nhà nước từ trung ương về địa phương hòan toàn bất lực, hoặc để cho  bị mua chuộc trong các vụ kiểm soát vi phạm lao động và bảo vệ quyền lợi của công nhân người Việt làm cho các công ty Tầu.

-Không kiểm soát nổi nạn người Tầu nhập cư bất hợp pháp; không nắm vững được số công nhân Tầu đội lốt chuyên viên đang có mặt ở Việt Nam. Nhà nước chỉ biết có từ 35 đến 40 ngàn “công nhân người nước ngòai” đang làm việc ở Việt Nam, nhưng báo chí Việt Nam, từ 2 năm trước, đã nêu ra con số 75 ngàn công nhân người Hoa làm việc cho các Công ty Tầu trên lãnh thổ Việt Nam.

-Không dám tố cáo các hành động xâm lược của Trung Cộng trước Liên Hiệp Quốc và các Tổ chức Quốc tế.

-Không tập trung các tài liệu và dữ kiện lịch sử về chủ quyền lãnh thổ và biển đảo để phổ biến trong nhân dân, đưa vào hệ thống giáo dục tòan quốc.

-Không có kế họach dịch ra tiếng nước ngòai các văn kiện lịch sử  về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt về chủ quyền 2 quầbn đảo Hòang Sa và Trường sa, để phổ biến tới các nước có quan hệ ngọai giao với Việt Nam, các Tổ chức  Quốc tế và Liên Hiệp Quốc để chống lại hệ thống tài liệu, bản đồ và sách báo tuyên truyền xuyên tạc của Trung Cộng.  

- Tại sao, Tiến sỹ Sử học Nguyễn Nhã, người đã có công sưu tầm các dữ liệu lịch sử để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên 2 Quần đào Hoàngh Sa và Trường Sa  phải lặn lội từ Việt Nam sang Mỹ để mưu tìm sự giúp đỡ dịch qua tiếng Anh (chưa chắc đã được)  công trình nghiên cứu của ông để phổ biến cho cả Thế giới biết vể chủ quyền lãnh thổ, trong khi nhà nước lại để mất hàng ngàn tỷ bạc  vào các dự án kinh tế không đem lại phúc lợi cho dân như  trường hợp của Vinalines và Vinashin ?

Hãy nghe  lời thở than của Tiến sỹ Nhã trong thư ông gửi từ Hoa Kỳ cho các bạn trẻ: “ Tháng 8 năm 2011, tôi cùng nhà cựu ngoại giao Dương Danh Dy nói chuỵên về Hoàng Sa & Trường Sa tại Trường Đại học Ngọai thương ở Hà Nội. Một nữ sinh viên đã phát biểu một câu: “Bất cứ ai vô cảm với Hoàng Sa & Truờng Sa đều có tội với tổ tông và dân tộc”, sau khi nghe tôi nói: “Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với tổ tông và dân tộc”. Tôi cũng đã từng nói: “Sự thật lịch sử chỉ có một. Lịch sử rất công bằng và nghiêm khắc với bất cứ ai kể cả nhà sử học”.

Ngày 16 tháng 6 năm 2012 tới, từ Việt Nam, mặc dù tuổi đã cao, tôi vẫn cố lặn lội đến Boston, chỉ cốt nói với các du học sinh tại Trường Đại học Harvard về sự thật lịch sử chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa, với ước mong các bạn du học sinh ở Trường Harvard giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh hơn 500 trang hồ sơ tư liệu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa, cùng giúp tôi đưa đến các thư viện có trong danh sách mà năm 1960, Headquarters, U.S. Pacific Broadcasting and Visual Activity AP0331 đã gửi tài liệu “Analysis on The Spratley – Paracel Islands Dispute”, no 010660.

Cuối thư, tiến sĩ Nguyễn Nhã viết:

“Không có cách nào khác, trước những nguy cơ chưa từng có tại biển Đông, các bạn trẻ Việt Nam không phân biệt chính kiến, hãy cùng nhau dẹp bỏ những gì “xấu xí” của người Việt Nam như quá ham những tư lợi, thiếu đoàn kết… mà phải có lòng yêu nước chân  chính, có tâm, có tầm như người Nhật Bản để cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường.

Mong vậy thay!”  (Báo Dân trí, ngày15-06-2012).

Sự lạnh nhạt của giới cầm quyền Việt Nam trước công lao của Tiến sỹ Nhã có nên đặt ra một nghi vấn về lòng ái quốc và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ của họ trước vong linh của Tổ tiên chăng?



NỐI GIÁO CHO GIẶC ?

Song song với thái độ đáng lên án này, nhà cầm quyền đã :

-Ngăn cấm không cho Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình ở Sài Gòn, thành lập năm 2006 bởi Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Địa phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa Bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam, tổ chức hội thảo về tình hình đất nước, đặc biệt về tình hình  “dầu sôi lửa bỏng” ở  Biển Đông.

Câu Lạc Bộ này chỉ tổ chức  chung được một lần với Nhà xuất bản Tri Thức  về đề tài “Biển Đông và hải đảo Việt Nam”  ngày 24,25-07-2009. Sau đó chính quyền Cộng sản  ở Thành phố Hồ Chí Minh đã cấm không cho tổ chức cuộc thảo luận lần 2 về đề tài “Công lý và Hòa bình trên Biển Đông” dự trù tổ chức vào ngày 17 tháng 09 năm 2011.

Bản Thông báo hủy bỏ của CLB  đưa ra chiều ngày 16/09/2011 cho biết họ lấy làm tiếc rằng “Một cơ hội góp phần khẳng định chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông “ !

Tại sao đảng CSVN lại sợ hãi Trung Cộng đến thế ?

Họ cũng :

-Gạt bỏ ngòai tai những đề nghị và lời khuyên chí tình của nhiều Trí thức, Cựu Lão thành Cách mạng về các giải pháp đòan kết dân tộc trong – ngòai Việt Nam để chống ngọai xâm; đổi mới chính trị; thi hành nghiêm chỉnh các quyền tự do của dân ghi trong Hiến pháp; áp dụng triệt để luật lệ quốc gia đồi với sự thao túng, công khai phạm luật của người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ quyền làm chủ đất nước của người dân.

-Tiếp tục giấu kín những cam kết chính trị, lãnh thổ và kinh tế với Trung Cộng mà thực tế đã chứng minh bất lợi cho công cuộc đấu tranh bảo vệ sự vẹn tòan lãnh thổ cùa quốc gia, tiêu biểu nhất là Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14/09/1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.

-Tiếp tục khờ khạo, hay bị áp lực từ Bắc Kinh để  tin vào lời lẽ đường mật 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt  “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”  trong khi Trung Cộng  tăng cường các hoạt động chiếm đóng các vị trí chiến lược ở biên giới và các vùng biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông.

-Bác bỏ yêu cầu đình chỉ dự án khai thác Bauxite trên Tây Nguyên của trên 3,000 Trí thức, trong đó có cả Bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên Phó Chủ tịch Nước vì ai cũng thấy chỉ có Tầu hưởng lợi trong việc khai thác vì chính Tầu đã thúc bách Lãnh đạo Việt Nam để được đặt chân vào vùng đất chiến lược Tây Nguyên mà ngay cả Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng phản đối.

-Trong khi đó lại cố tình dung túng những hành động “phù Tầu”, “xuyên tạc lịch sử anh hùng Việt Nam” để bôi nhọ lịch sử đấu tranh của dân tộc; ngoảnh mặt làm ngơ những thiệt hại về người và của do quân Tầu gây ra cho nhân dân 6 Tỉnh biên giới  cực bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu) trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.  

- Không nhớ là Quân Tầu đã chiếm  cao điểm chiến lược quan trọng 1.502 (Tầu gọi là núi Lão Sơn) ở xã Thanh Thủy,huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (tên cũ là Hà Tuyên), sau cuộc chiến biên giới lần 2 giữa hai nước năm 1984. Từ vị trí này, quân Tầu nhìn thấy hết các hoạt động bên dưới của Việt Nam.

Trong số những lãnh đạo đã nói những lời làm nhân dân bầm gan, tím ruột có cả Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đưa ra ngày 10/07/2012 tại Hà Nội về việc tăng cường “công tác tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống Việt-Trung bằng các hình thức đa dạng, phong phú, tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức, địa phương Trung Quốc từng giúp đỡ Việt Nam.”

Hay như trường hợp của hai Lãnh đạo Bộ Quốc phòng là Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND và Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng tại Hà Nội hôm 28/07/2012.

Hai người này cũng đã nói những câu nghe chói tai, làm đau lòng những thân nhân của trên 40,000 quân và dân đã bỏ mình trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ chống Tầu năm 1979 và 64  binh sỹ đã hy sinh trong trận chiến chống quân Tầu xâm lăng Trường Sa năm 1988 khi Việt Nam linh đình tổ chức lễ  “kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (1-8-1927/1-8-2012)”.

Mai Quang Phấn nói trước mặt  Khương Tái Đông, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước CHND Trung Hoa tại Việt Nam rằng : “Đây là dịp để chúng ta ôn lại những kỷ niệm sâu sắc, ghi nhớ những tình cảm quý báu, cao đẹp, sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình có hiệu quả, mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dành cho Đảng, Nhà nước, nhân dân và QĐND Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.”

Còn Phùng Quang Thanh lại tha thiết hơn: “Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam



BÁO-ĐÀI XUYÊN TẠC

Bên cạnh những hành động đầu hàng, đàn áp những người yêu nước nêu trên, đảng và nhà nước CSVN còn khuyến khích và dung dưỡng một số cơ quan báo-đài viết bài ru ngủ, xuyên tạc và bóp méo các nỗ lực bảo vệ chính nghĩa của nhân dân chống lại kế họach xâm lược của Trung Cộng đang ngày một lên cao ở Biển Đông và trên đất liền.

Bằng chứng như  lời lẽ phun nọc độc của Báo Hà Nội Mới ngày 05/08/2012  đã xuyên tạc : “Những cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến TTATXH (trật tự an ninh xã hội), đến hình ảnh Thủ đô Hà Nội – Thành phố vì hòa bìnhtiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, ngộ nhận tham gia biểu tình tự phát là thể hiện tinh thần yêu nước, trong khi đó số đối tượng chống đối trong và ngoài nước đang ráo riết lợi dụng vấn đề trên để tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt – Trung, kích động, tập hợp lực lượng gây mất an ninh trật tự và ổn định chính trị đất nước.”

Tại sao những cuộc biểu tình có mang theo biểu ngữ xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa, cũng như những lời hô “đả đảo Trung Quốc xâm lược” lại có “tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta” ?

Nếu biết có “tiểm ẩn” thì hãy thẳng thắn nói ra cho mọi người biết xem cái “yếu tố” gây “mất ổn định chính trị” là cái gì, ở đâu và do ai chủ mưu để  “chống đảng, nhà nước” ?

Ngọai trừ chỉ biết “ăn ốc nói mò” hay “vu vạ cáo oan” cho người lương thiện thôi chứ những biểu ngữ như  thế này thì chỉ có những kẻ “nội gián, ăn cơm của Tầu” mới nói là “chia rẽ quan hệ Việt-Trung:“China, hands off” (Trung Quốc, hãy buông tay tham vọng), “Yêu cầu ông Hào, Phó Chủ tịch Tỉnh Hưng Yên Trực Tiếp Chỉ Huy Cưỡng chế Trung Quốc” (thách đố ông Nguyễn Khắc Hào, người có trách nhiệm trong vụ đàn áp cưỡng chế đất dân ở Văn Giang, Hưng Yên, ngày 24/04/2012); hay “Tổ quốc gọi chúng con có mặt vì bình yên xã tắc, sơn hà”, “Đả đảo Trung Quốc xâm lược”, “Xin đừng Vô Cảm”, hoặc “Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam. NO-U ” (ám chỉ đường Lưỡi Bò mà Tầu tự vẽ, tự nhận là của mình ở Biển Đông)

Những người đi biểu tình, trong số có nhiều Trí thức như Bác sỹ Phạm Hồng Sơn, Cụ Bà Lê Hiền Đức, Nhà báo Nguyễn Thượng Long, Nhà văn Nguyễn Tường Thụy, hay trước đây như các  Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Nguyên Ngọc, Tiến sỹ Nguyễn Quang A v.v…thì ai xúi giục được họ làm những điều trái đạo lý, chưa vội nói đến những hành vi “gây chia rẽ khối đại đòan kết tòan dân” như cái lưởi rắn Hổ Mang của báo Hà Nội Mới.

Cũng trong vụ này, những người làm báo đảng hãy đọc  Đoan Trang, Phóng viên thường trú tại Hà Nội của Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh, người đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng ngày 5-08-2012.

Cô viết : “Tôi viết bản tường trình này liên quan đến việc tôi đi biểu tình sáng 5-8 tại khu vực Bờ Hồ và bị bắt đưa về trại lưu trú Lộc Hà. Việc tôi đi biểu tình là hoàn toàn tự nguyện, không có bất kỳ ai rủ rê, lôi kéo, xúi giục, thúc ép….

“…Như tôi đã nói với cơ quan điều tra cũng như tại blog cá nhân của mình, việc người dân biểu tình ôn hòa chống những hành vi gây hấn, có tính chất bá quyền và ngày càng leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông, là việc làm tốt, thể hiện lòng yêu nước, chính kiến của người dân, hình thành một mặt trận ngoại giao nhân dân, cùng với Nhà nước bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Một trong các lý lẽ mà cơ quan công an đưa ra để trấn áp hoạt động biểu tình là “sợ người dân bị các phần tử cơ hội chính trị, chống đối Nhà nước, lợi dụng kích động, xúi giục gây rối trật tự công cộng hoặc chống phá chính quyền”. Thiết nghĩ, nếu thực trong hàng ngũ người biểu tình có những thành phần cơ hội chính trị như thế, thì cơ quan an ninh, công an có thể xử lý họ, nếu xác định được họ có hành vi vi phạm pháp luật. Chứ không thể gộp tất cả những người biểu tình vào một “rọ” để trấn áp tuốt, theo cái lối tư duy “không quản được thì cấm”, chỉ vì một khía cạnh nào đó rất nhỏ mà chụp mũ, bôi nhọ một mục đích tốt đẹp của hoạt động biểu tình.”



VỤNG VỀ ẤU TRĨ

Hành động “chụp mũ” và “xuyên tạc sự thật” của báo đảng viết theo lệnh của cơ quan chủ qủan tờ báo hay đài theo lệnh từ  Ban Tuyên giáo của đảng là điều không mới.

Nhưng cách thông tin, tuyên truyền từ  cuộc biểu tình ngày 05/08/2012 lại lộ ra một cách vụng về và ấu trĩ của đài Truyền hình Hà Nội.

Trong bản tin buổi trưa ngày 05/08 đài này nói như  rồng gặp nước rằng: “Đáng chú ý là trong cuộc tụ tập sáng nay, quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người biểu tình”.

Đài này còn tố cáo “Bộ mặt thật cái gọi là biểu tình yêu nước đã bị lộ tẩy”, và hứa sẽ có thêm chi tiết và bằng chứng trong bản tin buổi chiếu lúc 18:30 (6 giờ 30 chiều) cùng ngày.

Tuy nhiên, trong bản tin sau đó lúc 18:30 lại không hề cung cấp thêm bằng chứng về việc này. Đài này cũng “tự ý cho quên luôn” những điều mình nói trước đó.

Sự việc không có mà tự ý vu oan cáo vạ cho người đi biểu tình là hành động phỉ báng và bội nhọ nhân dân.

Ngòai ra, việc nhà cầm quyến ở Hà Nội đã huy động cả ngàn công an, dân phòng đi bắt người dân yêu nước biểu tình ngày 05/08/2012 rồi đưa họ về Trung tâm lưu trú Lộc Hà (tên gọi cũ là Trại phục hồi nhân phẩm Lộc Hà ) để điều tra ai đã tổ chức xuống đường và với mục đích gì là hành động chỉ làm cho người dân kiên quyết hơn.

Hơn nữa việc chọn một trại “phục hồi nhân phẩm” để điều tra hành động của những người yêu nước là nhà nước đã tự mình hạ thấp nhân phẩm của mình.

Trường hợp này cũng giống như luận điệu của Báo Cựu Chiến Binh khi từ bỏ nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức của những người cựu Bộ đội là nuôi dưỡng tinh thần “vì nước quên mình” cho Quân đội Nhân dân, nơi đang có con, cháu họ phục vụ để bảo vệ Tổ quốc.

Thái độ này đã phản ảnh trong Bài bình luận ngày 19/07/2012  của tờ báo khi họ cũng “tát nước theo mưa” cùng với báo chính thống  chống người dân đi biểu tình chống Trung Cộng.

Bài báo  viết : “ Nhìn bề ngoài thì dường như những hoạt động đó thể hiện lòng yêu nước nhưng thực chất bên trong là mưu đồ chính trị không thể xem thường. Ban đầu, những hoạt động tụ tập, tuần hành của một số người dân mang tính tự phát nhưng sau đó đã xuất hiện sự kích động, lợi dụng hưởng ứng tuần hành, biểu tình thành các hoạt động có tổ chức, gây rối trật tự công cộng, có biểu hiện chống chế độ với những hành vi phản đối chính quyền của một số người bất mãn lâu nay vẫn tìm cách chống chính quyền, chống đối chế độ.”

Bài bình luận vu vạ rằng : “Bản chất của cuộc tụ tập, tuần hành đã thay đổi hẳn, trở thành chống đối chế độ, chống đối Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, một số trang mạng xã hội trong nước cũng như ngoài nước liên tục kêu gọi tham gia tuần hành, biểu tình, làm mất trật tự an ninh xã hội mà ẩn chứa đằng sau nó là sự tập dượt tập hợp lực lượng gây mất ổn định về đời sống chính trị nước ta. Thực chất, đây là những ngón đòn không mới của chiến lược “diễn biến hòa bình”, là những “kinh nghiệm” của các cuộc cách mạng màu sắc ở nhiều quốc gia trên thế giới trong thời gian qua mà các thế lực thù địch đang mưu toan áp dụng ở Việt Nam.

Cuối củng bài viết kêu gọi : “ Sự tỉnh táo của mỗi người, nhất là của các Cựu Chiến Binh chúng ta trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết. …Mỗi người dân cần nắm chắc các nguyên tắc pháp lý của Việt Nam cũng như quốc tế về lãnh thổ, lãnh hải; hiểu rõ lịch sử đất nước qua các thời kỳ và nắm chắc các diễn biến tình hình thời sự liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải đất nước để có các hành động chuẩn mực, thể hiện lòng yêu nước trong mỗi công việc của mình, theo đúng các quy định pháp luật, theo sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Thể hiện lòng yêu nước không phải là hành động làm rối trật tự xã hội, đừng biến một hành động mang ý nghĩa cao cả thành một hành động phản cách mạng do các thế lực thù địch giật dây.

Lập luận của báo Cựu Chiến Binh và các báo của đảng đã bị người dân trong nước thẳng thắn phê bình nói suông, và họ yêu cầu nhà nước phải có hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền.



DÂN LÊN TIẾNG

Trước thái độ “bình chân như vại” của chính quyền và của báo đảng, nhiều người dân trong nước đã khuyến cáo đã đến lúc phải có biện pháp mạnh với các tầu đánh cá Trung Cộng xâm phạm hải phận Việt Nam.

Ý kiến của người dân đã được Báo Thanh Niên phản ảnh trong số ra ngày 07/08/2012 như sau:

Độc giả Nguyễn Văn Trực nói : “ Tôi cho rằng cùng với việc dứt khóat trong việc bắt giữ tàu Trung Quốc xâm lược chủ quyền biển, đảo của ta, ta phải lên tiếng mạnh mẽ và công khai trên các diễn đàn Quốc Tế nhất là tại Đại Hội Đồng LHQ và Hội Đồng Bảo An. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ hành động xâm lược của Trung Quốc tại các diễn đàn Quốc Tế như thế này. Có như thế thế giới mới thấy bộ mặt thật của TQ. Chứ cứ ngồi nhà mà “chửi thầm” thì chả có ý nghĩa gì. Nhà ta đang cháy thì phải hô to lên cho cả làng nghe thấy họ mới tới chữa được.”

Đỗ xuân Vinh phát biểu từ Hà Nội : “Đúng là không chỉ phản đối mà chúng ta phải có hành động quyết liệt để thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng lãnh hải VN dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật biển của VN, cảnh sát biển hãy thực thi nhiệm vụ bất kỳ ai vi phạm chủ quyền vùng biển thì phải bắt giữ để xử lý theo pháp luật VN.”

Từ Hải Phòng, độc guiả Thế Phong góp ý : “ Người dân Việt Nam chúng ta luôn yêu hoà bình nhưng không co nghĩa là chúng ta có thể để cho các thế lực bên ngoài chà đạp lên như vậy. Nếu không ngay bây giờ ta không hành động cứng rắn hơn mà chỉ với các khẩu hiệu yêu cầu, đề nghị… thì một ngày nào đó Việt Nam chúng ta sẽ chẳng còn chủ quyền. Gậy tre mà ông cha ta còn thắng bom đạn hiện đại thì chẳng có lý do gì mà lúc này ta phải e sợ: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Trong khi đo, độc giả tên Sơn ở Qủang Trị nói : “Tôi thấy Ngư dân chúng ta thì bị chúng bắt, nộp phạt lên đến tiền tỉ. Vậy mà khi chúng ngang nhiên làm bậy trên lãnh địa của chúng ta thì chúng ta chẵng có động thái gì ngoài mấy tờ báo rêu rao phản đối. Chúng ta cần phải có các động thái mạnh để đẩy lùi âm mưu xâm lược của chúng.”

Bạch Ngọc Miện cũng lên tiếng từ Thị xã Phú Thọ : “Không phải bàn bạc gì nữa. Phải bắt giữ ngay kẻ nào xâm phạm chủ quyền của nước ta. Âm mưu của chúng , ta đã rõ. Phải đập tan âm mưu đen tối của kẻ xâm lược. Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã có nhiều biểu hiện….. lấy thịt để đè người – họ liên kết với nhau để xâm phạm chủ quyền nước ta như vậy thì chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn chứ không thể nói suông được.”

Độc gỉa Quân Tử nói thẳng với nhà nước : “Nói phải đi đôi với làm. Đã ra luật Biển thì phải làm cho thật nghiêm thì mới gọi là luật.”

Hoài Uyên cũng bức súc : “Mình làm theo luật chứ có làm xằng làm bậy gì đâu mà sao chính quyền cứ e dè mãi vậy. Phải làm cho chúng hết mơ tưởng sang đất nhà mình chứ.”

Ý kiến của Thanh Tùng từ Sài Gòn cũng thẳng thắn : “ Hãy đập tan âm mưu của bọn cướp trước khi chúng hành động xâm chiếm. Nên bắt hết những tàu cá của chúng khi vào vùng biển của Việt Nam.”



BÀI HỌC SÁNG MẮT

Ngòai hành động xâm lược trên đất liền, qua “Hiệp ước biên giới trên đất liền”, được hai nước Việt-Trung  ký  ngày 30 tháng 12 năm 1999, Trung Cộng còn không tôn trọng “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”  “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ”  mà hai bên đã ký ngày 25/12/2000 khi ngang nhiên gửi 23,000 tầu đánh cá xâm nhập Vịnh Bắc bộ, khu vực biển Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam từ ngày 01/08/2012.

Trên mặt trận báo chí, tuyên truyền, phiá Trung Cộng đã cho phổ biến nhiều bài viết và thảo luận trên Truyền hình kêu gọi quân đội tiến chiếm hết các đảo của Việt Nam trên Biển Đông.

Theo tiết lộ của Giáo sư Vũ Cao Đàm ở trong nước thì từ năm 2010,  báo mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn” của Đảng Trung Cộng đã công khai mạt sát, đe dọa nhân dân Việt Nam bằng những lời hung hãn, hạ cấp và “sặc mùi hiếu chiến của bọn thảo khấu trong cái Đảng Cộng sản Đại Hán đang phát xít hóa còn hung hãn khát máu hơn cả Hitler và Mussolini.”

Bài  báo của Tầu mang tên : “Giết bọn giặc Việt để làm lễ tế cờ Nam Sa (Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ – Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam) được Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch đăng trên báo mạng Bauxite Việt Nam phổ biến lần thứ nhất ngày 14-5-2010.

Giáo sư Vũ Cao Đàm đã yêu cầu Bauxite Việt Nam phổ biến lần hai vào ngày 02/08/2012 sau khi ông nghe được những lời nói chói tai “biết ơn” các “đồng chí” Trung Cộng của một số viên chức Việt Nam như đã đề cập đến 3 trường hợp của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND và Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng.

Vị Giáo sư uyên thâm chữ Hán giải thích tại sao ông đã làm việc này : “Thế rồi tôi đặt câu hỏi: Vì sao cái mà một số kẻ được gọi là “đảng anh em” lại đi rao giảng cái bài “Giết giặc Việt”? Vì sao chúng gọi nhân dân “anh em” là “Giặc”? Nhưng đau hơn, là vì sao mà một số người vẫn tâng bốc chúng là “ân nhân”, lại vuốt ve chúng là “anh em đồng chí”? Họ “khôn khéo”, hay họ “mơ ngủ”. Họ có biết rằng nhân dân sẽ hiểu là họ cố tình nhắc nhở nhân dân ta phải biết ơn, tệ hơn nữa phải cúi đầu thần phục cái bọn sơn lâm thảo khấu đó? Và hậu quả là nhân dân sẽ nghĩ gì về họ, nhất là khi họ không chỉ dừng lại ở những lời biết ơn các “đồng chí” thảo khấu sơn lâm, thẳng tay đàn áp những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, gọi những người yêu nước là “thế lực thù địch”, thậm chí đánh đập, hành hạ, và thẳng chân đạp vào mặt những người yêu nước… Họ có nghĩ sẽ đến một ngày nào đó tái xuất hiện một pho sách “Đại Nam thực lục chính biên hiện đại” – mà chắc chắn là thế –, ghi chép hay nói đúng hơn là đóng đinh những sự kiện này vào trong sử sách? Họ sẽ giải thích thế nào với các thế hệ con cháu mai sau?”(Bauxite Việt Nam, 02/08/2012)

Giáo sư Vũ Cao Đàm khẳng khái nói với những người này : “ Tôi muốn khẳng định rằng: Chúng ta không cần phải biết ơn bọn Trung Cộng. Trung Cộng không xứng đáng để chúng ta biết ơn. Trung Cộng không đủ tư cách để người Việt Nam biết ơn. Chính Trung Cộng phải biết ơn nhân dân Việt Nam, vì đã có hàng triệu người con của cả hai phía Việt Nam ngã xuống để tạo một vành đai chắn cho Trung Cộng và phe XHCN được yên hàn xây dựng cuộc sống hòa bình. Cái phe XHCN được bảo vệ đó ngày nay đã sụp đổ, Trung Cộng đang trên đường phát xít hóa. Cái “trách nhiệm trước thời đại” thuở xưa cũng đã đi vào quá vãng.”

Tiếng nói gang thép này của Giáo sự Vũ Cao Đàm và những phát biểu khẳng khái quyết không đầu hàng giặc của những người dân đi biểu tình chống Tầu xâm lược, và trên báo Thanh Niên đã đủ rót vào tai Lãnh đạo đảng và Nhà nước CSVN chưa, hay đợi cho đến khi  giặc vào nhà bắt qùy gối, còng tay đem đi thì họ mới tỉnh ngủ ?

Phạm Trần


Phim ve Tay Tang va Duc Dalai Lama




Phim ve Tay Tang va Duc Dalai Lama

Xin giới thiệu tiếp với quý ĐH một vài phim tư liệu về Tây Tạng.

1. The Message of The Tibetans (Thông điệp của người Tây Tạng)

Đây là một bộ Phim tư liệu rất quý giá. Phim gồm 2 phần Phật Giáo và Mật Giáo (Buddhism and Tantrism). Năm 1963 tác giả Arnaud Desjardins đã đến gặp Đức Dalai Lama và được sự Hỗ trợ của Ngài để làm những thước phim này. Có rất nhiều Bậc Đạo Sư tôn quý đã đồng ý tham gia vào bộ phim như: Đức Dalai Lama, Đức Dudjom Rinpoche, Đức Diglo Khyentse Rinpoche, Đức Karmapa thứ 16... Chúng ta rất may mắn khi được xem lại những khung cảnh truyền pháp, quán đảnh, ban phước... của các Ngài một cách sống động. Bộ phim còn ghi dấu lại những sinh hoạt đầy bản sắc truyền thống của dân Tây Tạng... và một điều thật quý giá là chúng ta sẽ được xem những thước phim với phiên bản có màu sắc, điều rất khó kiếm vì các các thước phim này đang được chia sẻ trên mạng hầu hết là bản trắng đen.

Link xem phim: http://zerokun.com/?p=925


Phim có phiên bản tiếng Pháp: http://zerokun.com/?p=968 (Mong rằng cô GQ và các ĐH ở Pháp sẽ thích)

2. The Spirit of Tibet

Tên đầy đủ của phim là: The Spirit of Tibet - A Journey to Enlightenment - The Life and World of Dilgo Khyentse Rinpoche. Bộ phim nói về Đức Thánh Sư tôn quý quá cố Dilgo Khyentse Rinpoche, Ngài là một trong những vị Thầy của Đức Dalai Lama.

http://zerokun.com/?p=897

3. Words of My Perfect Teacher

Bộ phim có cùng tên với một quyển sách rất nổi tiếng The Words of My Perfect Teacher (Lời Vàng của Thầy Tôi).

http://zerokun.com/?p=941

4. Sacred Sites of the Dalai Lamas (A Pilgrimage to the Oracle Lake)

Những nơi bí mật của các vị Dalai Lama (Cuộc hành hương đến hồ thiêng Oracle). Đây là một bộ phim cho những ai thích hành hương đến những thánh địa ở Tây Tạng. Phim giới thiệu nhiều hang động của các Bậc Đại Đạo Sư ở Tây Tạng đã từng tu tập, khung cảnh một số tu viện nơi các vị Dalai Lama và những bậc Đạo Sư khác đã từng sống và dạy đệ tử...

Nhưng nơi bí mật đó có: Potala, Jokhang, Drepung, Nechung, Thung lũng Drak Yerpa, các hang động của Đức Songsten Gampo, Đức A Đề Sa, Đức Guru Rinpoche; Tu Viện Samye, hang động nơi Lama Tsong Khapa thiền định, Hang động Milarepa và nhiều hang động của các bậc Đạo Sư khác và đặc biệt là hồ thiêng Oracle (Lhamo Lhatso). Nơi đã xuất hiện những linh ảnh để tìm ra Hóa thân của Đức Dalai Lama hiện nay.

Xin trích đoạn về giai thoại này như sau:


Khi Đạt-Lai Lạt-Ma thứ 13 viên tịch vào năm 1933, chính phủ Tây Tạng gặp khủng hoảng trong việc tìm kiếm một người thừa kế. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ linh thiêng này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, Ka và Ma hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ.

Năm 1937, chính phủ Tây Tạng đã gởi những hình ảnh thiêng liêng từ hồ thiêng đến các tỉnh thành của Tây Tạng để tìm kiếm nơi tái sinh của Đạt-Lai Lạt-Ma. Một phái đoàn tìm kiếm tái sanh được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, và Lạt-ma Kewtsang cải trang thành người thị giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang một xâu tràng hạt (rosary) của Đạt-Lai Lạt-Ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là "Sera aga", nghĩa là "Lạt-ma ở tu viện Sera". Tiếp đó, sư hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng, và chú cũng cho biết tên chính xác của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt-Lai Lạt-Ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: "của tôi, của tôi". Chú bé ấy chính là Đạt-Lai Lạt-Ma hiện nay.

5. Discovering Buddhism

Bộ phim cho những ai muốn học Phật Pháp theo truyền thống Tây Tạng đặc biệt là dòng truyền thừa Gelugpa của Đức Dalai Lama. Phim có 13 phần với sự tham gia của nhiều bậc Đạo Sư và các vị Thầy Âu Mỹ xuất gia theo truyền thống Tây Tạng. Phim được dẫn chương trình bởi 2 diễn viên Phật Tử nổi tiếng là Richard Gere và Keanu Reeves (diễn viên chính trong phim Ma Trận).

http://zerokun.com/?p=963

6. The Glory of Drikung Kagyu Lineage

Bộ phim tài liệu nói về Dòng Drikung Kagyu Quang Vinh

http://zerokun.com/?p=956

7. Unmistaken Child
Bộ phim này đã từng được giới thiệu trên diễn đàn nhiều lần. Phim nói về hành trình đi tìm hóa thân của Đức Geshe Lama Konchog.

http://zerokun.com/?p=891

Hiện mình đang rất cần người giúp dịch phụ đề tiếng Anh ra Việt Ngữ, mình đã có file text english subtitle. Nếu ai tình nguyện xin thông báo để mình gửi. Chân thành cảm ơn.

8. Tibet: A Buddhist Trilogy

http://zerokun.com/?p=851

Mong rằng những bộ phim tư liệu này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho những ai thích tìm hiểu và nghiên cứu về Phật Giáo Tây Tạng,
HT

========

Xin chào các Đạo Hữu,


Kính gửi đến các ĐH một vài bộ phim rất hay về Xứ Tây Tạng và Đức Dalai Lama.


1. Phim Kundun (Câu chuyện về cuộc đời Đức Dalai Lama thứ 14)


Kundun là tiếng người Tây Tạng dùng gọi 1 cách tôn kính đức Dalai Lama, vị lãnh đạo tối cao của Tây tạng cả về đạo và đời.


Phim kể về quãng đời thật của đức Dalai Lama thứ 14 từ khi hơn 2 tuổi khi được khám phá ra là hoá thân của Dalai Lama đời thứ 13 qua đời 4 năm trước đó. Được đưa về điện Potala ở Lhasa để giáo dục và tu học, Ngài đã phải đăng vị Dalai Lama khi mới được 15 tuổi, nhận lấy trọng trách lèo lái Tây Tạng sớm hơn dự định khi Trung quốc xâm lăng Tây Tạng vào năm 1950. Phim kết thúc lúc Ngài vượt thoát đến Ấn độ, thành lập chính phủ lưu vong. Hiện Ngài đang sinh sống tại Dharamsala, phía Bắc Ấn độ, và vẫn mong có ngày sẽ làm được cuộc hành trình về lại cố hương.


Phim diễn tả Tây Tạng một cách trung thực và hoành tráng trong trang phục, đền đài cũng như khi tái hiện các lễ hội tôn giáo. Ấn tượng nhất phải kể đến cảnh quay Dalai Lama vấn linh Oracle ( Cốt Thánh) trước khi có các quyết định hệ trọng, cũng như cảnh điểu táng người chết chỉ có ở Tây Tạng huyền bí. (The State Oracle of Tibet là Nechung, vị thần linh bảo hộ của Tây Tạng. Thần được gọi lên vào đầu mỗi năm hay khi Dalai Lama cần có quyết định quan trọng. Thần sẽ nhập vào đồng nhân (medium) trong 1 buổi lễ tuy hơi giống như lên đồng ở Việt nam nhưng trang trọng và thần bí hơn).


Hình ảnh, âm thanh và nhạc nền đều rất tuyệt. Còn nội dung?…Phim sẽ mang lại cho chúng ta một cảm giác bồi hồi xúc động khó tả được.


” The film of the year ” – CBS TV


” Visually stunning ” – The New York Times


” Scorsese…our greatest director ” – LA Weekly


Đạo diễn Martin Scorsese (Taxi driver, the last temptation of Christ) đã can đảm phiêu lưu về tài chính và uy tín khi quay một chủ đề xa lạ với thị hiếu khán giả Tây phương. Ông cũng gặp nhiều khó khăn khi tìm ngoại cảnh vì Trung quốc cấm không cho vào quay tại Tây tạng.


Xin ngã nón khâm phục Scorsese, tuy là người phương Tây nhưng đã đến với phương Đông bằng cả một tấm lòng.


Hãy xem phim, bạn sẽ hiểu thêm về Tây Tạng, xứ sở của Con đường mây trắng. Hãy xem phim, bạn sẽ thấm thía hơn về thân phận nhược tiểu của quê hương.


Link xem phim: http://zerokun.com/?p=687 (phim có phụ đề Việt ngữ)


Các bạn có thể xem Trailer về bộ phim này để thấy tổng quát cách dàng dựng và nội dung phim:





-------------------------------



2. [BBC Film] Tây Tạng Ngày Xưa (The Lost World of Tibet)


Tây Tạng Ngày Xưa” là bộ phim tài liệu 90 phút – sản phẩm hợp tác giữa BBC và Viện Điện Ảnh Anh quốc. Nội dung chủ yếu là các cảnh quay Tây Tạng trước những năm 1950 với những nhân vật còn sống bình luận – trong đó có Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.


Link xem phim: http://zerokun.com/?p=668 (phim có phụ đề Việt ngữ)



-------------------------------



3. The Dalai Lama: The Soul of Tibet


Đức Đạt Lai Lạt Ma: Linh hồn xứ Tây Tạng


Link xem phim: http://zerokun.com/?p=613 (phim tài liệu tiếng Anh)


-------------------------------



4. Phim Vị Tiểu Phật (Little Buddha)


Lạt ma Norbu đang tìm hóa thân của người thầy đã mất là Lạt ma Dojre. Một trong các ứng cử viên là một cậu bé ở Seatle. Quá trình tìm hiểu về cậu bé này ở Mỹ và thuyết phục cha mẹ cậu bé cùng cậu bé đến Butan, và sau này là quá trình đưa cậu bé cùng các ứng cử viên khác đến Butan được xen kẽ với cậu chuyện cuộc đời Đức Phật từ khi sinh ra cho đến khi đạt Niết bàn.


Link xem phim: http://zerokun.com/?p=679 (phim có phụ đề và thuyết minh Việt ngữ)



-------------------------------



Một số phim cũng như tài liệu khác về Phật Giáo Tây Tạng: http://zerokun.com/?cat=9


















Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link