Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, August 11, 2012

Dầu Khí và Dân Khí

 

 Dầu Khí và Dân Khí

(08/08/2012)

Tác giả : Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vấn đề Trung Quốc của Thế Giới và Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam

Chiều mùng bốn Tháng Tám, tại Trung Tâm Công Giáo ở Quận Cam, miền Nam California, đã có một cuộc hội thảo về đề tài "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông". Bốn diễn giả lần lượt là:

1)Cựu Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà Vũ Hữu San, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư trong các chiến hạm đã đối đầu với Hải quân Trung Quốc năm 1974 để bảo vệ Hoàng Sa. Sau 1975, tai Hoa Kỳ ông trở thành một chuyên gia có uy tín về hải dương và chủ quyền của Việt Nam ngoài Đông hải. Tác giả của các cuốn biên khảo: Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân VNCH; Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa; Vịnh Bắc-Việt & Chủ-Quyền Hải-phận; Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa; Sơ-lược Hải-Sử & Thủy-Quân Nước ta; Chiến-hạm & Chiến-Đĩnh VNCH.

2)Ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng giám đốc Viện Hối đoái tại Miền Nam, nhà báo và sau này là doanh gia, và một vị học giả cao niên trong nhiều lãnh vực.

3)Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

4)Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch đảng Đại Việt.

Sau đây là phần phát biểu ngắn của ông Nguyễn-Xuân Nghĩa trước khi đi vào phần thảo luận.

Khi còn đi học, nếu có cái may được đi học, đa số chúng ta thường ít chú ý đến hai môn địa dư và lịch sử. Đấy là một thiệt hại cho nhận thức của chúng ta.

Những người có lý tưởng hay tham vọng đều mong hoặc nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt của xã hội, quốc gia hay thế giới cho người hay vì mình. Thật ra, chúng ta đều bị địa dư ràng buộc mà không ý thức được và nếu có hiểu rõ sự ràng buộc đó trong quá khứ qua môn học về lịch sử thì may ra mình nhìn ra những cách xoay trở để thoát khỏi điều kiện của không gian là địa dư và thời gian là lịch sử. Hai diễn giả Vũ Hữu San và Huỳnh Văn Lang vừa nhắc lại các điều kiện về địa dư và lịch sử đó làm khuôn khổ suy tư cho chúng ta.

Khởi đi từ đó, chúng tôi xoay ngược tầm ngắm vào Trung Quốc để tìm hiểu về mục tiêu và những giới hạn của họ.

Sự Thật Về Trung Quốc

Có lãnh thổ bát ngát tới 10 triệu cây số vuông, thật ra Trung Quốc là một ốc đảo nghèo, thiếu đất và thiếu nước trong khu vực Trung Nguyên trù phú nhất của họ ở miền Đông, trên vùng châu thổ của hai con sông lớn là Hoàng hà và Dương tử.

Thiếu đất vì khu vực Trung Nguyên, cái nôi của văn hoá chính trị xứ này, chỉ có diện tích canh tác tính theo đầu người bằng một phần ba của trung bình thế giới. Thiếu nước vì diện tích nước, tức là vùng chuôm ao sông hồ, chỉ là 0,28% và họ có trữ lượng nước cho dân số thuộc loại thấp nhất Á châu vốn dĩ là lục địa thiếu nước nhất địa cầu - mà càng kỹ nghệ hoá lại càng cần nước.

Ngày nay, 30 năm sau cải cách kinh tế và có sản lượng đứng thứ nhì thế giới, Trung Quốc vẫn là một nước đói ăn và khát dầu.

Đói ăn vì dù sản xuất nhiều nông sản nhất thế giới, xứ này vẫn phải nhập cảng lương thực, vốn dĩ là sản phẩm còn chiến lược hơn dấu thô. Và khát dầu vì công cuộc kỹ nghệ hóa đòi hỏi những nguyên nhiên hoạt liệu mà họ không có trong lãnh thổ và lại lạc hậu nên sử dụng kém hiệu năng.

Đặc tính thứ hai, thuộc về địa dư và lịch sử của xứ này. Trung Quốc là nơi mà sự sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức của lãnh đạo mọi thời và đã được dựng thành một kỳ quan của thế giới, có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, được mở mang tu bổ trong các đời Tần, đời Minh.

Nỗi sợ hãi ấy xuất phát từ sự kiện Hán tộc kiêu căng đã bị các dị tộc mà họ khinh miệt nhiều lần tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc và vào làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ, từ Hung Nô, Tây Hạ đến Kim, Liêu, Mông Cổ hay Mãn Thanh.

Trong nội bộ, địa dư hình thề là cảnh "tam phân" đến nay vẫn là một nan đề kinh tế.

Thứ nhất, khu vực duyên hải tương đối thịnh vượng tại miền Đông thì đất chật người đông. Thứ hai, khu vực bị khóa trong lục địa là miền Tây thì khô cằn nghèo đói với dân số cũng rất cao đã nhiều lần tiến vào Trung Nguyên làm "cách mạng", từ Tần Thủy Hoàng Đế đến Mao Trạch Đông. Thứ ba là vùng biên giới từ hướng Tây lên phía Bắc là khu vực hiểm trở của núi đèo quan ải, và sa mạc thảo nguyên, nơi xuất phát nhiều đợt tấn công của dị tộc.

Địa thế đó là một bài toán về chính trị và an ninh cho trung ương, triều đình hay Bộ Chính trị.

Chính trị là phải kiểm soát được thế mạnh của Hán tộc tại Trung Nguyên - hoặc của trung ương trên các địa phương nói theo ngôn từ hiện đại. Và an ninh là phải xây dựng "biên trấn" thành "phiên trấn", vùng trái độn quân sự trên lãnh thổ của dị tộc để bảo vệ Trung Nguyên. Vì vậy Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu mới thành các vùng chiếm đóng và củng cố như trái độn quân sự. Bên trong là các đặc khu tự trị hành chánh dành cho dị tộc nằm tại các tỉnh bị khóa trong lục địa.

Với di sản đó của địa dư hình thể và lịch sử Trung Quốc, chúng ta bước qua lãnh vực kinh tế.

Trong bốn ngàn năm có sử viết, bài toán kinh tế của xứ này luôn luôn bị bài toán an ninh chi phối. Trung Quốc có thể tồn tại với chế độ tự cung tự cấp và giải quyết nhu cầu trao đổi bằng đường bộ qua lãnh thổ Trung Á, mà ta gọi là "Con Đường Tơ Lụa". Chế độ tự cung tự cấp hoặc bế quan toả cảng đã được Mao Trạch Đông thử nghiệm lần cuối cùng và dẫn tới khủng hoảng.

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 - với lực đẩy tâm lý là những tổn thất quá lớn vì quân đội quá lạc hậu trong cuộc chiến tại Việt Nam năm đó – Trung Quốc đã mở ra ngoài. Nhờ đó mà kinh tế phát đạt hơn, nhưng cũng vì đó mà, lần đầu tiên trong lịch sử, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài.

Họ cần thị trường quốc tế cho một hệ thống sản xuất quá tải và lệch lạc so với khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ càng cần tới bên ngoài vì phải nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và kỹ thuật cho công cuộc kỹ nghệ hóa ở bên trong.

Nhưng thế giới bên ngoài đã thay đổi....

Chuyện cưỡi ngựa rong xe qua Trung Á không còn là giải pháp. Thế giới ngày nay đã mở ra và thu hẹp lại nên 90% lượng hàng buôn bán từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, rẻ nhất và có giá trị kinh tế nhất. Hàng hải là phải chở hàng qua biển....

Ra khỏi vùng châu thổ của các con sông lớn, người ta phải qua vùng biển nâu là nơi sông đổ ra biển, rồi biển xanh lục là vùng cận duyên trên thềm lục địa, sau đó mới là vùng biển xanh dương của các đại dương.

Trung Quốc có thể kiểm soát được vùng biển nâu và hết bị hải tặc hay "nụy khấu" giặc lùn uy hiếp như trong quá khứ. Và nay đang tiến ra biển xanh lục với tham vọng sẽ xây dựng được các hạm đội có khả năng tung hoành ngoại đại dương. Họ tập tành chuyện đó từ 20 năm nay và đang có giấc mơ lớn.

Nhưng, ra khỏi vùng biển nâu, Trung Quốc đã thấy sự hiện diện khó chịu và đáng nghi ngờ của đệ nhất siêu cường hải dương, đã có kinh nghiệm dày hơn cỡ trăm năm và phương tiện dồi dào tinh vi gấp bội, là Hoa Kỳ.

Với lối suy nghĩ truyền thống xuất phát từ sự hãi sợ trong xương tủy, lãnh đạo Bắ Kinh không tin vào nguyên tắc tự do lưu thông trên các hải lộ mà thế giới đề cao bằng luật lệ quốc tế - và Hoa Kỳ thực tế bảo vệ trên mọi đại dương của địa cầu.

Họ không tin thế giới và muốn kiểm soát quyền tự do đó vì sợ là có ngày sẽ bị Hoa Kỳ hay các nước bán đảo hoặc quần đảo ở chung quanh thắt họng qua các eo biển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á.

Không những vậy, vì nạn đói ăn khát dầu, Trung Quốc còn muốn chiếm vùng biển Đông Nam Á - nơi mà các nước vây quanh không là thế lực đáng kể như Đài Loan, Nam Hàn hay Nhật Bản - để khai thác tài nguyên, từ thủy sản đến năng lượng. Họ tin rằng dưới đáy biển, ngoài thềm lục địa của Việt Nam hay Phi Luật Tân, họ sẽ khai thác được từ một phần ba đến 40% yêu cầu về năng lượng mà khỏi phải tìm đến Trung Đông hay Châu Phi.

Chuyện đói ăn, khát dầu, cướp đất, cướp nước ngọt, v.v... là phản ứng bình thường mà bất thường của một xứ lạc hậu!

Tuy nhiên, là những người trông rộng vì tính xa do kinh nghiệm quá khứ, lãnh đạo Trung Quốc còn muốn biến mặt biển vây quanh thành vùng trái độn quân sự, "hạch tâm nghĩa lợi", tương tự như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu hay Đài Loan.

Kết Luận

Vì địa dư hình thể, nơi duy nhất bộ binh Trung Quốc có thể tiến ra ngoài lãnh thổ để dựng vùng trái độn là miền Bắc nước Việt mà họ đã thử nghiệm lần cuối vào năm 1979. Mười năm sau, họ giải quyết bài toán đó với việc bình thường hóa bang giao với Hà Nội, và hai chục năm sau thì hoàn thành mỹ mãn nhờ sự góp sức của đảng Cộng sản Việt Nam với những hiệp định mờ ám và bất công.

Ba chục năm sau, là ngày nay, nếu ta tính từ năm 2009, họ tiến sang giải pháp biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự. Mục tiêu của những động thái vừa qua chính là như vậy.

Thế giới có để chuyện ấy xảy ra hay không là bài toán của các nước. Việt Nam có để chuyện ấy xảy ra hay không, đó là bài toán của người Việt. Nó nằm tại Hà Nội.

Chúng ta nên suy nghĩ về bài toán đó, nhưng không quên những khó khăn chồng chất của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trong. Những yếu tố ngoại xâm và nội loạn này của Trung Quốc phải là một phần trong cách suy ngẫm và ứng phó của chúng ta.

  • 0
  •  
  •  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Dầu Khí và Dân Khí




 Dầu Khí và Dân Khí

(08/08/2012)

Tác giả : Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vấn đề Trung Quốc của Thế Giới và Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam

Chiều mùng bốn Tháng Tám, tại Trung Tâm Công Giáo ở Quận Cam, miền Nam California, đã có một cuộc hội thảo về đề tài "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông". Bốn diễn giả lần lượt là:

1)Cựu Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà Vũ Hữu San, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư trong các chiến hạm đã đối đầu với Hải quân Trung Quốc năm 1974 để bảo vệ Hoàng Sa. Sau 1975, tai Hoa Kỳ ông trở thành một chuyên gia có uy tín về hải dương và chủ quyền của Việt Nam ngoài Đông hải. Tác giả của các cuốn biên khảo: Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân VNCH; Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa; Vịnh Bắc-Việt & Chủ-Quyền Hải-phận; Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa; Sơ-lược Hải-Sử & Thủy-Quân Nước ta; Chiến-hạm & Chiến-Đĩnh VNCH.

2)Ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng giám đốc Viện Hối đoái tại Miền Nam, nhà báo và sau này là doanh gia, và một vị học giả cao niên trong nhiều lãnh vực.

3)Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

4)Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch đảng Đại Việt.

Sau đây là phần phát biểu ngắn của ông Nguyễn-Xuân Nghĩa trước khi đi vào phần thảo luận.

Khi còn đi học, nếu có cái may được đi học, đa số chúng ta thường ít chú ý đến hai môn địa dư và lịch sử. Đấy là một thiệt hại cho nhận thức của chúng ta.

Những người có lý tưởng hay tham vọng đều mong hoặc nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt của xã hội, quốc gia hay thế giới cho người hay vì mình. Thật ra, chúng ta đều bị địa dư ràng buộc mà không ý thức được và nếu có hiểu rõ sự ràng buộc đó trong quá khứ qua môn học về lịch sử thì may ra mình nhìn ra những cách xoay trở để thoát khỏi điều kiện của không gian là địa dư và thời gian là lịch sử. Hai diễn giả Vũ Hữu San và Huỳnh Văn Lang vừa nhắc lại các điều kiện về địa dư và lịch sử đó làm khuôn khổ suy tư cho chúng ta.

Khởi đi từ đó, chúng tôi xoay ngược tầm ngắm vào Trung Quốc để tìm hiểu về mục tiêu và những giới hạn của họ.

Sự Thật Về Trung Quốc

Có lãnh thổ bát ngát tới 10 triệu cây số vuông, thật ra Trung Quốc là một ốc đảo nghèo, thiếu đất và thiếu nước trong khu vực Trung Nguyên trù phú nhất của họ ở miền Đông, trên vùng châu thổ của hai con sông lớn là Hoàng hà và Dương tử.

Thiếu đất vì khu vực Trung Nguyên, cái nôi của văn hoá chính trị xứ này, chỉ có diện tích canh tác tính theo đầu người bằng một phần ba của trung bình thế giới. Thiếu nước vì diện tích nước, tức là vùng chuôm ao sông hồ, chỉ là 0,28% và họ có trữ lượng nước cho dân số thuộc loại thấp nhất Á châu vốn dĩ là lục địa thiếu nước nhất địa cầu - mà càng kỹ nghệ hoá lại càng cần nước.

Ngày nay, 30 năm sau cải cách kinh tế và có sản lượng đứng thứ nhì thế giới, Trung Quốc vẫn là một nước đói ăn và khát dầu.

Đói ăn vì dù sản xuất nhiều nông sản nhất thế giới, xứ này vẫn phải nhập cảng lương thực, vốn dĩ là sản phẩm còn chiến lược hơn dấu thô. Và khát dầu vì công cuộc kỹ nghệ hóa đòi hỏi những nguyên nhiên hoạt liệu mà họ không có trong lãnh thổ và lại lạc hậu nên sử dụng kém hiệu năng.

Đặc tính thứ hai, thuộc về địa dư và lịch sử của xứ này. Trung Quốc là nơi mà sự sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức của lãnh đạo mọi thời và đã được dựng thành một kỳ quan của thế giới, có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, được mở mang tu bổ trong các đời Tần, đời Minh.

Nỗi sợ hãi ấy xuất phát từ sự kiện Hán tộc kiêu căng đã bị các dị tộc mà họ khinh miệt nhiều lần tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc và vào làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ, từ Hung Nô, Tây Hạ đến Kim, Liêu, Mông Cổ hay Mãn Thanh.

Trong nội bộ, địa dư hình thề là cảnh "tam phân" đến nay vẫn là một nan đề kinh tế.

Thứ nhất, khu vực duyên hải tương đối thịnh vượng tại miền Đông thì đất chật người đông. Thứ hai, khu vực bị khóa trong lục địa là miền Tây thì khô cằn nghèo đói với dân số cũng rất cao đã nhiều lần tiến vào Trung Nguyên làm "cách mạng", từ Tần Thủy Hoàng Đế đến Mao Trạch Đông. Thứ ba là vùng biên giới từ hướng Tây lên phía Bắc là khu vực hiểm trở của núi đèo quan ải, và sa mạc thảo nguyên, nơi xuất phát nhiều đợt tấn công của dị tộc.

Địa thế đó là một bài toán về chính trị và an ninh cho trung ương, triều đình hay Bộ Chính trị.

Chính trị là phải kiểm soát được thế mạnh của Hán tộc tại Trung Nguyên - hoặc của trung ương trên các địa phương nói theo ngôn từ hiện đại. Và an ninh là phải xây dựng "biên trấn" thành "phiên trấn", vùng trái độn quân sự trên lãnh thổ của dị tộc để bảo vệ Trung Nguyên. Vì vậy Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu mới thành các vùng chiếm đóng và củng cố như trái độn quân sự. Bên trong là các đặc khu tự trị hành chánh dành cho dị tộc nằm tại các tỉnh bị khóa trong lục địa.

Với di sản đó của địa dư hình thể và lịch sử Trung Quốc, chúng ta bước qua lãnh vực kinh tế.

Trong bốn ngàn năm có sử viết, bài toán kinh tế của xứ này luôn luôn bị bài toán an ninh chi phối. Trung Quốc có thể tồn tại với chế độ tự cung tự cấp và giải quyết nhu cầu trao đổi bằng đường bộ qua lãnh thổ Trung Á, mà ta gọi là "Con Đường Tơ Lụa". Chế độ tự cung tự cấp hoặc bế quan toả cảng đã được Mao Trạch Đông thử nghiệm lần cuối cùng và dẫn tới khủng hoảng.

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 - với lực đẩy tâm lý là những tổn thất quá lớn vì quân đội quá lạc hậu trong cuộc chiến tại Việt Nam năm đó – Trung Quốc đã mở ra ngoài. Nhờ đó mà kinh tế phát đạt hơn, nhưng cũng vì đó mà, lần đầu tiên trong lịch sử, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài.

Họ cần thị trường quốc tế cho một hệ thống sản xuất quá tải và lệch lạc so với khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ càng cần tới bên ngoài vì phải nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và kỹ thuật cho công cuộc kỹ nghệ hóa ở bên trong.

Nhưng thế giới bên ngoài đã thay đổi....

Chuyện cưỡi ngựa rong xe qua Trung Á không còn là giải pháp. Thế giới ngày nay đã mở ra và thu hẹp lại nên 90% lượng hàng buôn bán từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, rẻ nhất và có giá trị kinh tế nhất. Hàng hải là phải chở hàng qua biển....

Ra khỏi vùng châu thổ của các con sông lớn, người ta phải qua vùng biển nâu là nơi sông đổ ra biển, rồi biển xanh lục là vùng cận duyên trên thềm lục địa, sau đó mới là vùng biển xanh dương của các đại dương.

Trung Quốc có thể kiểm soát được vùng biển nâu và hết bị hải tặc hay "nụy khấu" giặc lùn uy hiếp như trong quá khứ. Và nay đang tiến ra biển xanh lục với tham vọng sẽ xây dựng được các hạm đội có khả năng tung hoành ngoại đại dương. Họ tập tành chuyện đó từ 20 năm nay và đang có giấc mơ lớn.

Nhưng, ra khỏi vùng biển nâu, Trung Quốc đã thấy sự hiện diện khó chịu và đáng nghi ngờ của đệ nhất siêu cường hải dương, đã có kinh nghiệm dày hơn cỡ trăm năm và phương tiện dồi dào tinh vi gấp bội, là Hoa Kỳ.

Với lối suy nghĩ truyền thống xuất phát từ sự hãi sợ trong xương tủy, lãnh đạo Bắ Kinh không tin vào nguyên tắc tự do lưu thông trên các hải lộ mà thế giới đề cao bằng luật lệ quốc tế - và Hoa Kỳ thực tế bảo vệ trên mọi đại dương của địa cầu.

Họ không tin thế giới và muốn kiểm soát quyền tự do đó vì sợ là có ngày sẽ bị Hoa Kỳ hay các nước bán đảo hoặc quần đảo ở chung quanh thắt họng qua các eo biển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á.

Không những vậy, vì nạn đói ăn khát dầu, Trung Quốc còn muốn chiếm vùng biển Đông Nam Á - nơi mà các nước vây quanh không là thế lực đáng kể như Đài Loan, Nam Hàn hay Nhật Bản - để khai thác tài nguyên, từ thủy sản đến năng lượng. Họ tin rằng dưới đáy biển, ngoài thềm lục địa của Việt Nam hay Phi Luật Tân, họ sẽ khai thác được từ một phần ba đến 40% yêu cầu về năng lượng mà khỏi phải tìm đến Trung Đông hay Châu Phi.

Chuyện đói ăn, khát dầu, cướp đất, cướp nước ngọt, v.v... là phản ứng bình thường mà bất thường của một xứ lạc hậu!

Tuy nhiên, là những người trông rộng vì tính xa do kinh nghiệm quá khứ, lãnh đạo Trung Quốc còn muốn biến mặt biển vây quanh thành vùng trái độn quân sự, "hạch tâm nghĩa lợi", tương tự như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu hay Đài Loan.

Kết Luận

Vì địa dư hình thể, nơi duy nhất bộ binh Trung Quốc có thể tiến ra ngoài lãnh thổ để dựng vùng trái độn là miền Bắc nước Việt mà họ đã thử nghiệm lần cuối vào năm 1979. Mười năm sau, họ giải quyết bài toán đó với việc bình thường hóa bang giao với Hà Nội, và hai chục năm sau thì hoàn thành mỹ mãn nhờ sự góp sức của đảng Cộng sản Việt Nam với những hiệp định mờ ám và bất công.

Ba chục năm sau, là ngày nay, nếu ta tính từ năm 2009, họ tiến sang giải pháp biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự. Mục tiêu của những động thái vừa qua chính là như vậy.

Thế giới có để chuyện ấy xảy ra hay không là bài toán của các nước. Việt Nam có để chuyện ấy xảy ra hay không, đó là bài toán của người Việt. Nó nằm tại Hà Nội.

Chúng ta nên suy nghĩ về bài toán đó, nhưng không quên những khó khăn chồng chất của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trong. Những yếu tố ngoại xâm và nội loạn này của Trung Quốc phải là một phần trong cách suy ngẫm và ứng phó của chúng ta.

  • 0
  •  
  •  








 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Một mùa thu đểu


10/08/12 |

Một mùa thu đểu




Lời Thưa Đầu: Khi già, tôi thấy mình gần với thiên nhiên hơn và lấy làm tiếc là đã có lúc sống quá hối hả nên quên để ý sự thay đổi hàng năm của đất trời. Cả bốn mùa – Xuân, Hạ, Thu, Đông – đều coi như “nơ pa” tuốt luốt.

Đêm qua, tình cờ đọc lại mấy bài thơ (Thu Ẩm, Thu Vịnh, Thu Điếu) của Nguyễn Khuyến mà bâng khuâng cảm xúc rạt rào mãi cho đến sáng. Sáng, nhủ lòng (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu) mình cũng nên có đôi lời về Mùa Thu – cho nó có vẻ văn nghệ sĩ chơi, chút xíu – dù chỉ là … Thu đểu!

Trân Trọng

——————————————-

Ngày 26 tháng 6, VNEXPRESS đi tin: “Hàng trăm công nhân Bình Dương nhập viện sau bữa cơm chiều.” Qua mấy bữa sau, 30 tháng 7, cũng VNEXPRESS lại đưa tin nữa: “Công nhân Bình Tân ngộ độc tập thể sau bữa cơm trưa.”

Ôi, tưởng gì chớ mấy chuyện lẻ tẻ này thì ông Nguyễn Thanh Phong – Phó Cục Trưởng Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm – đã báo trước cả tháng rồi mà. Trong buổi gặp mặt báo chí sáng 14-6, tại Hà Nội, giới chức có thẩm quyền này cho biết: “Tình trạng ngộ độc thực phẩm quý II tăng hơn quý I” và nguyên nhân là “do thời tiết nóng bức ảnh hưởng rất lớn đến đường tiêu hóa.”

Thủ phạm, rõ ràng, đã bị chỉ tên.Tuy nhiên (và tất nhiên) không ai hẹp hòi và cố chấp tới cỡ chỉ trích, phê bình, bắt lỗi … thiên nhiên hay thời tiết!

Nắng mưa là bệnh của Trời.

Ngộ độc là bệnh của người không may!

Đợi qua qúi III, khi mùa Thu tới, khí trời trở nên mát mẻ “sẽ không ảnh hưởng lớn tới đường tiêu hóa” nữa thì tình trạng ngộ độc thực phẩm (automatic) sẽ giảm thôi. Còn chuyện những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng (như rau đểu, gạo đểu, bún đểu, bánh phở đểu, trứng đểu, thịt đểu, dầu ăn đểu, gia vị đểu …) đều là do bọn đểu làm ra.

Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm (nói riêng) và Nhà Nước (nói chung) hoàn toàn (và tuyệt đối) không dính dáng gì ráo đến những việc tiêu cực, xấu xa này. Nói tóm lại, và nói theo người đời thường là “Trời kêu ai nấy dạ.” Ăn uống (bậy bạ) nhằm lúc “thời tiết xấu” thì bị ngộ độc ráng chịu, vậy thôi.

Mà chỉ bị ngộ độc cấp tính vì thực phẩm thì kể như là chuyện nhỏ – và là chuyện xẩy ra hàng ngày – bất kể mùa màng hay thời tiết ra sao, ở xứ mình. Nơi đây, đồ ăn thức uống nhiều thứ gây ảnh hưởng độc địa hơn nhiều – có thể khiến “hại gan, suy tủy, ảnh hưởng thận – theo như tường thuật của hai ký giả Đoàn Huy và Thanh Tùng, qua loạt bài phóng sự (“Hãi Hùng Cà Phê Đểu”) đọc được trên Thanh Niên On Line bắt đầu từ ngày 17 tháng 7 năm 2012:

Trưa ngày 6.7, men theo con kênh nước đen bốc mùi trên đường Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú, chúng tôi tìm đến cơ sở rang xay cà phê Thông Phát (số 108 – lô 4 Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú). Cơ sở như một nhà kho, được xây dựng bằng sắt thép mái tôn cũ kỹ, trên diện tích hơn 500 m2. Bên phía tay phải cơ sở, chiếm 2/3 diện tích là nơi chứa hàng trăm bao tải đậu nành; phần còn lại đủ để 3 máy rang đậu và 1 căn phòng nhỏ chứa các thùng hóa chất…

“Cơ sở chế biến cà phê nhưng đố anh tìm được hạt cà phê nào” – một công nhân ở đây vừa cười vừa nói…

Dân Việt có thể sống với những toà án đểu, bệnh viện đểu, bằng cấp đểu, quan chức đểu, lý lịch đểu, dự án đểu, công ty đểu, qui hoạch đểu, truyền thông đểu, quốc hội đểu, chính phủ đểu … thì (lỡ) uống lai rai thêm vài ly cà phê đểu – nghĩ cho cùng – cũng không phải chuyện “hãi hùng” gì cho lắm. Điểm duy nhất đáng chú ý trong loạt bài phóng sự của Đoàn Huy và Thanh Tùng là họ khám phá ra được cách chế biến thế thôi:

Đậu nành + hoá chất = cà phê đểu!

Công thức giản dị này dễ khiến cho người ta liên tưởng đến một sự kết hợp nhuần nhuyễn khác, cũng tại Việt Nam:

Dối trá + bạo lực = cách mạng đểu!

Riêng về mặt “dối trá,” nhân dịp cả nước đang nô nức chuẩn bị đón chào và kỷ niệm cuộc Cách Mạng Mùa Thu, xin mời mọi người xem qua (một phần) cuộc phỏng vấn của một nhà báo trẻ với một nhà cách mạng lão thành:

Nói về Tổng khởi nghĩa 1945, một điều có lẽ là thắc mắc của một số người (tôi không nói là “nhiều người”, vì không biết nhiều ít thế nào), là thực sự thì cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hay không, khi mà Nhật đã bại trận trong Thế chiến và sẽ phải rút khỏi Đông Dương, Việt Nam đã có một chính phủ (của Bảo Đại và Trần Trọng Kim), v.v.
Tôi hy vọng những điều mà bà Lê Thi – một trong những nhân chứng của thời đó – nói trong bài dưới đây, có thể trả lời phần nào câu hỏi này – từ góc nhìn của bà… bà Lê Thi sinh năm 1926, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, con gái cố Giáo sư Dương Quảng Hàm; bà cũng là một trong hai thiếu nữ kéo cờ trong lễ Độc lập 2/9/1945.(Người kia là bà Đàm Thị Loan, phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái).”


- Và ngày 17 tháng 8 đã diễn ra như thế nào? Với tư cách một người tham gia cả quá trình, từ lúc chuẩn bị tới khi thực hiện, xin bà kể lại những gì bà còn nhớ về sự kiện 17 tháng 8.
- Ngày hôm đó, chúng tôi dán cờ đỏ sao vàng bằng giấy, giấu sẵn trong người, kéo tới quảng trường Nhà hát lớn để dự mít tinh từ sáng sớm. Khi người của chính quyền Trần Trọng Kim vừa chuẩn bị khai mạc, thì một người – sau này tôi biết đó là ông Trần Lâm, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Việt Nam – đã lên được gác hai tung cờ đỏ sao vàng của ta lên. Lá cờ rất lớn, phấp phới bay trong gió, đẹp và oai hùng lắm. Cùng lúc đó, Việt Minh cũng giành micro từ tay người của phía chính quyền, chuyển nó cho hai phụ nữ đại diện của Mặt trận Việt Minh lên nói chuyện
…”

(“Đoan Trang. “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Tuần Việt Nam 18 Aug. 2009).

Tuy bà Lê Thi mô tả đây là một cuộc khởi nghĩa của “những người tay không” (*) nhưng – rõ ràng – họ đã “giấu sẵn trong người” và trong tâm nhiều điều khuất tất. Họ đã “giành micro,” “chớp thời cơ,” và “cướp chính quyền” từ một chính phủ hợp hiến mà vẫn trơ tráo nhắc lại với rất nhiều hãnh diện.

Bằng vào những thủ thuật gian trá tương tự (cùng với bạo lực) hơn nửa thế kỷ qua, những người cộng sản Việt Nam đã tạo dựng ra một Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa – với rất nhiều nét đặc thù:

“Tổ quốc đã trở thành đao phủ. Những người địa chủ và tư sản không những bị ruồng bỏ mà còn bị coi là thù địch và bị tàn sát. Rồi cũng nhân danh tổ quốc họ phát động chiến tranh thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ.Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc. Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái ‘ngụy quân, ngụy quyền’ ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.”

“Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng.” (Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc Ăn Năn. Không có tên NXB. Paris 2001, 570 – 571).



Ông Nguyễn Gia Kiểng nói (nghe) có vẻ hơi quá lời nhưng thực ra vẫn chưa đủ ý. Xin nghe thêm vài nhận xét nữa của nhà vănPhạm Đình Trọng – người hiện đang sống ở trong nước – về những “thảm hoạ” mà Cách Mạng Tháng Tám đã “mang lại” cho người dân Việt:

Thảm họa chia cắt đất nước. Chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai phe, hai trận tuyến chém giết nhau cả chục năm đằng đẵng, hàng triệu người lính Việt Nam, hàng triệu dân thường Việt Nam bị chính người Việt giết chết, hàng triệu người vợ góa bụa, hàng triệu người mẹ cô đơn, hàng triệu gia đình tan nát. Đất nước thành núi xương, sông máu. Cả dân tộc điêu linh, nghèo đói vì đất nước bị chia đôi, hai miền Nam, Bắc thành hai trận tuyến bắn giết nhau.”


Di cư 1954. Nguồn ảnh: langven.com

“Thảm họa Cải cách ruộng đất. Chia một dân tộc vốn yêu thương đùm bọc nhau, thương người như thể thương thân, thành những giai cấp đối kháng luôn hằm hè đấu tranh giai cấp, luôn nung nấu hận thù giai cấp, đấu tố, thanh trừng, sát phạt, hãm hại nhau dẫn đến hàng trăm ngàn cái chết oan ức, tức tưởi cho người lương thiện. Cải cách ruộng đất hủy diệt những giá trị vật chất, hủy diệt cả những giá trị văn hóa, tâm linh. Khối đoàn kết dân tộc vốn là sức mạnh, là tài sản của dân tộc Việt Nam bị phá nát. Đạo lí, văn hóa dân tộc bị hủy hoại. Niềm tin tôn giáo thánh thiện bị loại bỏ để bây giờ chỉ còn niềm tin thô tục, thấp hèn, sì sụp lễ bái cầu tài, cầu lộc, cầu thi đỗ, cầu được cơ cấu, cầu được trúng cử trong đại hội đảng kì, cầu tiêu diệt, trừ khử được đối thủ cạnh tranh trong chính trị, trong làm ăn.

“Thảm họa Nhân văn Giai phẩm. Đầy đọa cả một đội ngũ trí thức, nghệ sĩ, xóa sổ đội ngũ trí thức, nghệ sĩ đích thực, chân chính để chỉ còn những trí thức, những nghệ sĩ bị công chức hóa, nô lệ hóa, giết chết sự sáng tạo cả một nền văn học nghệ thuật.


Đấu Tố. Nguồn: Nhà Xuất bản Mỹ thuật, 2010.

Thảm họa tập trung cải tạo. Tù đày không án hàng trăm ngàn người Việt Nam khác biệt ý thức hệ. Đất nước thống nhất mà vẫn phân chia ta, địch trong lòng dân tộc, vẫn khoét sâu trận tuyến ý thức hệ trong lòng dân tộc, dân tộc mãi mãi li tán.

Thảm họa tha hương. Hơn ba triệu người phải xa người thân yêu ruột thịt, rời bỏ quê hương đất nước ra đi để chối bỏ sự phân biệt đối xử, trốn tránh cuộc đấu tranh giai cấp độc ác, vô lương. Nửa triệu người bỏ xác dưới đáy biển. Xa nước đã hơn ba chục năm, đến nay nhiều người vẫn chưa được một lần về thăm nước chỉ vì khác biệt ý thức hệ, bị chính quyền trong nước vẫn coi là thế lực thù địch, bị cấm cửa không cho về. Những ai đã xa nước mới thấm thía việc ngăn cấm con người trở về với quê cha đất tổ, trở về với cội nguồn dân tộc là độc ác, vô lương không còn tính người như thế nào!

Thảm họa Bắc thuộc. Chính quyền nhà nước ở Việt Nam hiện nay như không còn là chính quyền của nhân dân Việt Nam, như không còn là chính quyền của đất nước Việt Nam nữa mà là chính quyền của Đại Hán phương Bắc.

Dù phải sống với chừng đó thảm họa, hàng năm – cứ vào đầu Thu – nhà nhà vẫn phải chưng ảnh và treo cờ. Người người vẫn phải hân hoan, nhiệt liệt chào mừng và kỷ niệm Cách Mạng Mùa Thu. Chỉ cần tỏ ra không hân hoan hoặc kém nhiệt liệt (chút xíu) là lôi thôi lắm, và lôi thôi ngay, chứ không phải bỡn.

Thiệt là một mùa Thu đểu!

© Tưởng Năng Tiến

  








 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Trung Quốc : Một phụ nữ được trả tự do nhờ phong trào phản đối trên internet




Thứ sáu 10 Tháng Tám 2012

Trung Quốc : Một phụ nữ được trả tự do nhờ phong trào phản đối trên internet


Việc bà Đường Tuệ bị bắt đi cải tạo đã gây nên một làn sóng phẫn nộ  trên mạng

Việc bà Đường Tuệ bị bắt đi cải tạo đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trên mạng

DR

Thụy My


Một phụ nữ Trung Quốc bị bắt đi cải tạo lao động vì đòi tăng án phạt đối với bảy người đàn ông đã buộc con gái bà phải hành nghề mại dâm, hôm nay 10/08/2012 đã được trả tự do, sau khi cư dân mạng đã đồng loạt lên tiếng ủng hộ bà. Hãng tin Pháp AFP dẫn nguồn tin từ báo chí Trung Quốc cho biết như trên.

Bà Đường Tuệ (Tang Hui) đã bị phạt 18 tháng « cải tạo lao động », sau khi đã nhiều lần đến bên ngoài trụ sở chính quyền địa phương, kịch liệt phản đối bản án dành cho các thủ phạm mà bà cho là khoan hồng. Bà còn tố cáo công an thành phố Vĩnh Châu thuộc tỉnh Hồ Nam đã giả mạo các bằng chứng để bảy bị cáo trên được hưởng án nhẹ hơn.

Tân Hoa Xã cho biết, vào tháng 10/2006 con gái của bà Đường Tuệ mới 11 tuổi đã bị bảy người đàn ông bắt cóc và cưỡng hiếp, rồi buộc phải bán dâm. Hai tháng sau cô bé mới được giải cứu, sau khi đã phải tiếp khách hơn 100 lần.

Việc bà Đường Tuệ bị bắt đi cải tạo đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trong dư luận Trung Quốc, đặc biệt là trên mạng. Hàng ngàn người cũng đã chỉ trích chế độ cải tạo lao động vốn thường dành cho các nhà ly khai, và đòi hỏi cần có sự cải cách.

Cũng theo Tân Hoa Xã, bà Đường Tuệ được trả tự do hôm nay nhờ luật sư của bà đã kháng cáo. Chính quyền còn hứa sẽ xem xét lại vụ làm giả chứng cứ của công an, theo như tố cáo của bà.









 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link