Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, August 13, 2012

TAY CHAY HANG HOA TAU CONG LA YEU NUOC VIET NAM

XIN HÃY CHUYỂN-TIẾP CHO NHIỀU NGƯỜI
2012/8/11 Thuan
Thực-phẩm Ba-Tàu nhãn-hiệu California !
Whole Foods Market China Organic California blend ?

Đây là một vụ lừa-gạt trắng-trợn đối với công-chúng Hoa-Kỳ .
Những ai còn tin-tưởng hàng ORGANIC nên suy-nghĩ lại !
Gạo giả Ba-Tàu !
Chinese Fake Rice !
Tuần báo Hong Kong tiếng Đại Hàn tại Hong Kong trích nguồn truyền thông Singapore cho biết hỗn hợp trên được tạo hình giống như hạt gạo.
Đáng sợ nhất là các loại bột khoai tây và khoai lang được kết dính thành “hạt gạo” bằng loại nhựa resinđộc hại cho sức khỏe người tiêu thụ.

Một nhà hàng Tàu cảnh báo nếu ai ăn phải lượng “gạo nhựa” tương đương ba chén cơm, họ đã cho vào bụng một túi nylon.
a
Trong khi đó, giới thương nhân cho rằng vì “gạo nhựa” rất rẻ nên có khả năng nhiều người hám lợi vẫn bán với khối lượng lớn dưới hình thức trộn cùng gạo thật.
Trước đó, truyền hình Trung Hoa từng cảnh báo một công ty ở Tây An, cũng thuộc tỉnh Sơn Tây, đã sản xuất gạo nhái một loại gạo nổi tiếng thơm ngon ở đây bằng cách thêm hương liệu hóa chất.
Hồi tháng 8-2010, tờ Nhật báo Thượng Hải cũng đưa tin Thái Lan tuyên bố điều tra một loại gạo nhái gạo thơm Thái Lan được bán ở Trung Hoa.
Viên chức toà Đại sứ Thái Lan cho biết 90% gạo Thái là hàng Trung Cộng làm giảvà được sản xuất chính yếu ở tỉnh Giang Tây.
Hai loại gạo này nhìn bề ngoài không phân biệt được nếu chưa nấu.
a
loi go nha này là tkhoai tây, khoai lang, và nha resin
a
Go gi được bày bán , Ba-Tàu Cht ni tiếng là làm go gi t nha, ri phân phi khp nơi ...
a
Mt công ty ti Xi'an tng sn xut go Wuchang gi cht lượng cao bng cách b mùi v vào loi go trung bình.
Tất cả người Việt-Nam chúng ta hãy tẩy-chay hàng-hóa Ba-Tầuđộc-hại !
Đã đến lúc chúng ta không thể làm ngơ để hàng Ba-Tàu tràn qua VN và nhắm mắt tiêu thụ một cách khờ khạo như thế được .
Nếu chúng ta không cương quyết ngay từ bây giờ thì có ngày con em hoặc người thân của chúng ta cũng sẽ bệnh tật hay thiệt mạng !
Đây là một vài thí dụ:
Sữa bột giả
a
Trứng gà giả
a
Khô mực giả làm bằng plastic
a
Hậu quả đi dép Made in China
a
Trái cây "made in china" nhum cht hoá hc, bt mt bên ngoài, thi bên trong
a
Hóa cht tìm thy trong kem đánh răng "Made in China" gây ung thư
a
... Và chúng còn làm tin gi đ phá hoi kinh tế Vit Nam

Hãy siết chặt tay nhau tẩy-chay hàng-hoá Ba-Tàu tại Việt Nam va o My luon!

Nhiều kẻ vô lương tâm đang tiếp tay cho bọn làm hàng giả tại bên Tàu .

Vì lợi nhuận, chúng sẵn sàng đưa hàng giả vào nội địa VN tiêu thụ, đặc biệt là khu vực phía Bắc phải hứng chịu đầu tiên.

Cả nước Việt nam đang phải chịu tai hoạ từ hàng giả Ba-Tàu , không thể phân biệt được chất lượng. Nguy hiểm hơn, bọn người Tàu dã man còn làm giả nhãn hiệu Thái Lan và VN, dán nhãn mác "Made in Thailand" hoặc " Made in Vietnam", vì chúng biết người Việt đã cảnh giác và tẩy chay thực phẩm hàng hóa của chúng .

Nhiều người nghèo VN phải chấp nhận xài hàng độc hại vì giá rẻ mạt.

Còn các giađình kinh tế trung bình trở lên đã bắt đàu chiến dịch huỷ bỏ hàng loạt đồ gia dụng của Ba-Tàu , nhiều người đã mạnh dạn vứt bỏ tất cả chén, đĩa, ly uống nước, bình thuỷ (phích nước), giày, dép, quần áo, mùng mền (chăn), gối, nệm... của Ba-Tàu dù đã lỡ mua !

Riêng rau, quả, củ, thịt cá... thì thật khó phân biệt bởi nhiều loại tưởng như chỉ có ở miền Nam nhưng bọn Chệt đã lai giống theo kiểu công nghiệp ngắn ngày và tiểu thương thường đánh lừa người tiêu dùng là hàng Thái , trái cây Thái hoặc trái cây Philippines !

Thật nguy hiểm cho cả dân tộc Việt khi nhiều thế hệ đang chết dần mòn vì hàng Ba-Tàu , muôn hình vạn kiểu tràn qua biên giới không kiểm soát được.

Mỗi người Việt chúng ta hãy đề cao cảnh giác tự bảo vệ mình, khuyên mọi người xung quanh và láng giềng , hãy tẩy chay toàn bộ hàng hoá Ba-Tàu .

Hãy siết chặt tay nhau để bảo vệ lấy giống nòi Việt Nam của chúng ta !

XIN HÃY CHUYỂN-TIẾP CHO NHIỀU NGƯỜI !

MỘT VIỆT KIỀU THỤY SỸ YÊU CẦU ĐÀI TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI XIN LỖI





THỨ HAI, NGÀY 13 THÁNG TÁM NĂM 2012


MỘT VIỆT KIỀU THỤY SỸ YÊU CẦU ĐÀI TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI XIN LỖI




CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_____________________



Biên Hòa, ngày 10 tháng 08 năm 2012



ĐƠN KHIẾU NẠI



Kính gửi: Ông Trần Gia Thái,

Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội,

Địa chỉ: Số 03 – 05 Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, Hà Nội

Người khiếu nại:

Tôi, Nguyễn Văn Ngoan sinh năm 1959, quốc tịch số PA CHE F1871949 Thụy Sĩ cấp ngày 20/06/2005, địa chỉ trú tại Route de la Brinaz 30, 1422 GRANDSON, Thụy Sĩ.

Người bị khiếu nại:

Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội về nội dung chương trình phát thanh chiều ngày 06/8/2012 (17:50 – 19:30)






NỘI DUNG:

Tóm tắt sự việc:



Tôi là Việt kiều Thụy Sĩ về Việt Nam thăm gia đình theo Giấy miễn thị thực nhập số AR 0337982 do Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Genève – Thụy Sĩ cấp ngày 27/01/2012. Tôi về Việt Nam của ga hàng không Tân Sơn Nhất vào chiều ngày 26/07/2012. Ngày 04/8/2012 tôi du lịch đến Hà Nội.



Khoảng sáng ngày 05/08/2012, tôi cùng một người bạn là Tuấn đi dạo ở bờ hồ, khi đi đến tượng đài Lý Thái Tổ thì thấy có một nhóm người đang nói với nhau về vấn đề biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược biển, đảo Việt Nam. Tôi nhìn qua phía bên kia đường, nơi tượng đài Lý Thái Tổ thì thấy có một số bảng cấm, vì vậy tôi cảm thấy có vấn đề không bình thường. Do đó tôi muốn tìm hiểu xem có vấn đề gì xảy ra ở đây. Tôi mới băng qua đường tìm gặp những người cảnh sát ở đó để hỏi, thì họ nói rằng nơi này “nhạy cảm”, thì tôi mới nói với họ rằng ở Hà Nội mà có tình trạng như thế này về vấn đề an ninh thì làm cho mình không được an tâm. 



Người mặc áo thường phục có vẻ như là một người an ninh mới nói rằng “Không sao hết!”. Lúc đó tôi mới hỏi rằng “Bây giờ tôi có thể chụp hình được ở tượng đài hay không?”, thì anh này mới nói rằng “Được!”. 



Tôi với người bạn, hai người chụp hình ở đó khoảng 10 phút, 15 phút, thì lúc đó khoảng 8 giờ 45. Rồi sau đó hai người mới rời tượng đài Lý Thái Tổ, băng qua đường. Khi băng qua đường thì thấy vắng bóng người hết cả thì thấy cũng lạ. Tôi và người bạn tiếp tục đi về hướng đền Ngọc Sơn, đi được một đoạn thì thấy có người chăng biểu ngữ biểu tình. 



Khi tôi rẽ ngang đi xuống hướng bờ hồ thì tự nhiên thấy một người áo xanh có đeo băng đỏ, ảnh đang lôi kéo những người phụ nữ, tôi chưa bao giờ thấy hiện tượng lôi kéo phụ nữ như thế cả, tôi mới nhảy tới nói rằng “Anh không được có thái độ như thế này với phụ nữ!”, và tôi kéo tay người đó ra và người phụ nữ này thoát được. 



Sau đó tôi thấy có hai người phụ nữ khác nữa họ cũng bị bắt trong tình trạng như thế do những người khác và tôi đã chạy theo để can thiệp cho hai phụ nữ này, và cũng vẫn lời nói này “Các người không được có thái độ như thế này giữa lòng Hà Nội. Nó rất là phản cảm”. Nhưng vì họ đông quá thành thử ra họ kéo người lên xe buýt thì tôi bị kéo lên theo. 



Rồi sau đó họ bắt tất cả lên xe buýt để chở về trại Lộc Hà ở Đông Anh, Hà Nội. Tại trại Lộc Hà, công an đã bắt tôi đưa tất cả những đồ đạc mang theo cho họ khám và họ mở tất cả các máy ra, rồi họ vào họ xem, họ chụp ảnh tất cả những dữ kiện trong đó, rồi sau đó họ niêm phong lại, gồm một máy tính xách tay MacAir và một cái Samsung Tablet Galaxy PT 1000, và một cái điện thoại. 



Một viên công an đã cố ý nói với tôi “Anh đến đây anh biểu tình chớ đâu có phải anh du lịch, phải không?” và chĩa camera của ảnh đang hướng về tôi. Do phải chờ đợi rất lâu và không khí nóng bức làm tôi mệt mỏi vô cùng nên đã tôi từ chối không ký tên và không làm việc nữa. 



Do đó, chuyện họ niêm phong, họ kiểm soát máy móc của tôi công an tự làm tôi không chứng kiến. Trước khi ra khỏi trại Lộc Hà tôi có yêu cầu công an cho tôi một tờ giấy chứng nhận những cái gì họ thu giữ của tôi nhưng mà họ không cho, họ chỉ giao cho tôi 01 giấy mời sáng 06/08/2012 đến cơ quan công an tại 89 Trần Hưng Đạo để làm việc.



Vì là công dân Thụy Sĩ nên sáng ngày 06/08/2012, tôi đã đến Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Hà Nội để trình bày sự việc xảy ra ngày 05/08/2012 và cần sự trợ giúp. Ông Simon Duss người có trách nhiệm tiếp tôi cho tôi biết là tôi có thể đến 89 Trần Hưng Đạo để lấy những vật dụng bị giữ hôm trước. 



Tôi có cho ông Duss biết là tôi chưa nhận được Hộ chiếu từ người nhà ở Biên Hòa gửi ra nên tôi chưa thể đến 89 Trần Hưng Đạo sáng nay được. Ông Duss cho biết tôi không nhất thiết phải đi nhận ngày hôm nay. Sau đó tôi gọi điện thoại cho ông Chung là người có trách nhiệm phía nhà nước Việt Nam rằng đến thứ Tư ngày 08/08/2012 tôi mới đến nhận các vật dụng của mình như lý do tôi nói ở trên.



Nhưng Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội phát thanh chiều ngày 06/8/2012 (17:50 – 19:30), nội dung:



“Sáng qua tại khu vực hồ Hoàn Kiếm có xảy ra vụ tụ tập đông ngươì trái phép thực hiện nghị định của chính phủ cũng như thông báo nhân dân thành phố về việc chấm dứt tụ tập đông người trái pháp luật, các lực lượng công an thành phố đã đưa 30 người về trụ sở để xem xét và xử lý. Trong các đối tượng được có quân chức năng đưa về trụ sở là các đối tượng thường xuyên tham gia biểu tình như: Lê Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Đặng Phương Bích, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Thị Mỹ Xuân tức Lê Hiền Đức và Nguyễn Văn Ngoan – Việt kiều Thụy Sỹ. 



Ngày sau khi được thông báo về chủ trương của Đảng và nhà nước quy định của Ủy ban thành phố về bảo đảm an ninh thành phố, những người này đã trở về với gia đình. Riêng Nguyễn Văn Ngoan là Việt kiều Thụy Sỹ đã có giấy mời sáng nay đến trụ sở phòng quản lý xuất nhập cảnh tại số 89 Trần Hưng Đạo để làm rõ vụ việc, tuy nhiên Nguyễn Văn Ngoan không chấp hành. Có thể khẳng định dù là người nước ngòai đang lưu trú tại Việt Nam, mọi người dân phải tuân thủ luật pháp Việt Nam.



Cùng với một số đối tượng đã được nhận dạng tham gia tụ tập đông người gây rối trật tự công cộng. Nhưng khi được mời lên cơ quan chức năng, Nguyễn Văn Ngoan đã thể hiện sự coi thường pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Dư luận nhân dân cho rằng hành động này cần phải lên án và xử lý theo pháp luật.



Mọi người dân yêu nước đều có quyền thề hiện tình cảm theo pháp luật. Người dân Thủ đô hiểu rõ điều đó, tự gíac chấp hành pháp luật ủng hộ chính quyền trong công tác giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an tòan xã hội. Nhưng hành vi trá hình, đội lốt yêu nước để tụ tập gây rối cần phải bị lên án và nghiêm trị.”



Tóm lại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đã cho rằng tôi:



Thường xuyên tham gia biểu tình;

Không chấp hành, coi thường pháp luật Việt Nam;

Có hành vi trá hình, đội lốt yêu nước để tụ tập gây rối cần phải bị lên án và nghiêm trị.



2. Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân tôi bởi các lẽ sau đây.



Thứ nhất: Tôi không tham gia biểu tình sáng ngày 05/08/2012. Tôi đến Hà Nội là để du lịch, trước đó tôi không quen biết ai trong số những người biểu tình, tôi không hô khẩu hiệu, tôi không mang biểu ngữ, tôi không đi trong đoàn người biểu tình mà chỉ ngăn cản khi nhìn thấy hành vi của những người không mặc sắc phục công vụ lại xông vào bắt bỡ phụ nữ vô cớ giữa đường, giữa ban ngày. Tôi làm điều này vì lương tâm, đạo đức và trách nhiệm của một con người với đồng loại.



Trước đó, tôi chưa bao giờ tham gia, hay có mặt tại bất cứ một cuộc biểu tình nào ở Việt Nam, bằng chứng là khi đó tôi không ở Việt Nam nên càng không thể nói rằng tôi thường xuyên tham gia biểu tình.



Thứ hai: Việc công an sáng ngày 05/08/2012, bắt giữ tôi và thu giữ vật dụng cá nhân của tôi trong khi tôi không có hành vi vi phạm pháp luật là trái với Điều 71 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, năm 2001 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định:



“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.



Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.



Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.”



Tôi không đến cơ quan công an tại 89 Trần Hưng Đạo, Hà Nội vào ngày 06/08/2012 theo giấy mời tôi đã gọi điện thoại cho ông Chung là người có trách nhiệm của nhà nước Việt Nam để nói rõ lý do. Hơn nữa, đây là “giấy mời” không phải là “giấy triệu tập” nên tôi có quyền không đến vào ngày 06/08/2012. Không có chứng cứ để nói rằng tôi “Không chấp hành và coi thường pháp luật Việt Nam.”



Thứ ba: Không có chứng nào để khẳng định rằng tôi tham gia biểu tình hoặc có hành vi giả dối nên không thể nói tôi “trá hình, đội lốt yêu nước để tụ tập gây rối”.

Thứ tư: Cách đưa tin của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội là thiếu văn hóa, cộc lốc, xúc phạm đến tôi một người không vi phạm pháp luật như cách gọi tôi là “đối tượng”, “Nguyễn Văn Ngoan – Việt kiều Thụy Sỹ”, “Riêng Nguyễn Văn Ngoan”, “Nguyễn Văn Ngoan không chấp hành”…



Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đã mạo danh, bịa đặt, trong khi chưa có một cuộc khảo sát, điều tra xã hội nào lại dám nói: “Dư luận nhân dân cho rằng hành động này cần phải lên án và xử lý theo pháp luật.”



Thậm chí Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội còn đe dọa, khủng bố vô cớ đối với tôi: “Nhưng hành vi trá hình, đội lốt yêu nước để tụ tập gây rối cần phải bị lên án và nghiêm trị.”

Căn cứ các điều của Hiến pháp 1992, sử đổi, bổ sung 2001 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định:



“Điều 50:

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.



Điều 75:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.”



Điều 81:

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.”

Căn cứ điều 37, Bộ luật Dân sự 2005 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định:

“Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

Căn cứ điều 9, Luật báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định:



“Điều 9. Cải chính trên báo chí



1- Báo chí khi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải đăng, phát sóng lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả. Trong trường hợp có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng kết luận đó.



2- Tổ chức, cá nhân có quyền phát biểu bằng văn bản về những nội dung đề cập trên báo chí khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến mình. Cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân đối với thông tin đã được đăng, phát sóng trên báo chí của mình.

Lời phát biểu của tổ chức, cá nhân không được xúc phạm cơ quan báo chí, danh dự, nhân phẩm của tác giả.



Kể từ khi nhận được lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì trong thời hạn năm ngày đối với báo ngày, đài phát thanh, đài truyền hình, mười ngày đối với báo tuần, trong số ra gần nhất đối với tạp chí, cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu đó.



3- Lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả và lời phát biểu của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được đăng, phát sóng tương xứng với thông tin do báo chí đã đưa ra theo quy định của Chính phủ.



4- Trong trường hợp cơ quan báo chí không cải chính, xin lỗi hoặc cải chính, xin lỗi không đúng các quy định của Bí thư Thành ủy Hà Nội Luật này, không đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì tổ chức, cá nhân đó có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án”.



Tài liệu kèm theo:

Quốc tịch số PA CHE F1871949 Thụy Sĩ cấp ngày 20/06/2005 (photo);

Giấy miễn thị thực nhập số AR 0337982 do Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sĩ cấp ngày 27/01/2012 (photo);




YÊU CẦU:

Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đăng tải Đơn khiếu nại này trên sóng của quý Đài;

Ra quyết định giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn Ngoan – Việt kiều Thụy Sĩ bằng văn bản trong thời hạn pháp luật Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định;

Thông báo trên sóng của quý Đài với thời lượng tương ứng lời xin lỗi và đính chính những thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, danh dự, nhân phẩm của ông Nguyễn Văn Ngoan – Việt kiều Thụy Sĩ.



Nơi nhận:

Như trên;

Ông Đinh Thế Huynh, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam,

Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, 71 Hàng Trống;

Ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội, 12 Lê Lai;

Ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy, 04 Lê Lai;

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Ủy ban nhà nước về người VN

ở nước ngoài, 32 Bà Triệu;

Ngài Andrej Motyl, Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Hà Nội;

Lưu, 07b.



Người làm đơn

Nguyễn Văn Ngoan 

huynhngocchenh.blogspot.com/2012/08/viet-kieu-thuy-sy-khieu-kien-ai-phat.html






XUONG DUONG

Biển Đông: Trung Quốc lại tiếp tục tìm kế chia rẽ ASEAN ?


Chủ nhật 12 Tháng Tám 2012

Biển Đông: Trung Quốc lại tiếp tục tìm kế chia rẽ ASEAN ?


Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì (trái) và người đồng nhiệm Indonesia Marty Natalegawa (phải) sau cuộc hội đàm tại Bộ Ngoại giao ở Jakarta ngày 10/08/2012.

Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì (trái) và người đồng nhiệm Indonesia Marty Natalegawa (phải) sau cuộc hội đàm tại Bộ Ngoại giao ở Jakarta ngày 10/08/2012.

REUTERS/Supri

Trọng Nghĩa


Vào lúc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á đang cố gắng hàn gắn lại rạn nứt đã bộc lộ công khai tại Hội nghị Phnom Penh vào đầu tháng Bảy trên lập trường đối với Bắc Kinh trên hồ sơ Biển Đông, Ngoại trưởng Trung Quốc đã tiến hành vòng công du ba nước ASEAN đang có tranh chấp với Bắc Kinh. Một trong những mục tiêu được tuyên bố là bàn về vấn đề Biển Đông. Sau khi ghé Indonesia, ông Dương Khiết Trì đã đến Malaysia vào hôm nay, 12/08/2012 và sẽ đi thăm Brunei.

Vòng công du của Ngoại trưởng Trung Quốc được giới quan sát rất chú ý vì Bắc Kinh từng bị tình nghi là đã mượn tay đồng minh Cam Bốt để ngăn cản không cho khối ASEAN đạt được đồng thuận trên hồ sơ Biển Đông, khiến cho Hội nghị Ngoại trưởng Đông Nam Á lần thứ 45 vừa qua tại Phom Penh bị thất bại, không ra được thông cáo chung, và cũng không chính thức hóa được các kết luận của mình về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông.

Câu hỏi đặt ra là phải chăng lần này, Bắc Kinh lại có ý định tiếp tục thúc đẩy âm mưu chia rẽ ASEAN mà họ đã gặt hái ít nhiều thành công trong thời gian trước đây, đặc biệt là không để cho khối Đông Nam Á hình thành một mặt trận thống nhất trên vấn đề Biển Đông hầu đối phó với các động thái quyết đoán của Bắc Kinh.

Những người thiên về giả thuyết trên ghi nhận là vòng công du lần này của ông Dương Khiết Trì đã né tránh hai nước Việt Nam và Philippines, được cho là hai thành viên có thái độ cứng rắn nhất đối với Trung Quốc, vì là hai quốc gia bị Trung Quốc lấn lướt và hù dọa nhiều nhất trong thời gian qua.

Trái lại, Bắc Kinh đã tập trung vào Malaysia và Brunei, hai nước tuy có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông với Bắc Kinh, nhưng cho đến giờ, hầu như không bị Trung Quốc đụng chạm đến. Mục tiêu quan trọng nhất của chuyến công du của ông Dương Khiết Trì tuy nhiên lại là Indonesia, nước có uy tín hàng đầu trong khối Đông Nam Á, và cho đến nay được cho là có quan điểm chừng mực nhất trong khối ASEAN đối với Trung Quốc, vì không trực tiếp tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển Đông, và là một quốc gia có quan hệ kinh tế khá chặt chẽ với Bắc Kinh.

Tại Jakarta, Ngoại trưởng Trung Quốc đã không ngần ngại công khai tôn Indonesia lên hàng “trung gian hòa giải trên vấn đề Biển Đông”, và nhắc lại cam kết “sẵn sàng tiến tới” một bộ quy tắc ứng xử với ASEAN. Các tuyên bố của ông Dương Khiết Trì rất hợp với mong muốn của Jakarta vì trong thực tế, ngay sau khi Hội nghị Phnom Penh bị đổ vỡ, Ngoại trưởng Indonesia đã cấp tốc phát huy vai trò trung gian hòa giải của nước mình để hàn gắn vết rạn, để thúc đẩy toàn khối thông qua được Sáu nguyên tắc ứng xử về Biển Đông.

Liệu Trung Quốc có thành công trong việc thuyết phục các nước ASEAN nói trên tin tưởng vào “thiện chí” của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông hay không ? Theo những phát biểu đầu tiên của giới lãnh đạo Indonesia và Malaysia, thì câu trả lời sẽ là không.

Tại Indonesia, Ngoại trưởng Trung Quốc đã được nghe chính Tổng thống Indonesia Yudhoyono yêu cầu là Bắc Kinh phải tôn trọng các nghị quyết của ASEAN về việc tránh dùng vũ lực và giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp trên biển Đông. Về phần mình, Ngoại trưởng Natalegawa cũng nhắc nhở Bắc Kinh là “Giải quyết vấn đề biển Đông (một cách hòa bình) cũng phục vụ lợi ích của Trung Quốc".

Thái độ của Malaysia có vẻ rõ ràng hơn nữa khi Ngoại trưởng nước này yêu cầu ASEAN đoàn kết hơn nữa trên vấn đề Biển Đông, và kêu gọi toàn khối và Trung Quốc “sớm đúc kết” của một bộ quy tắc ứng xử nhằm giảm thiểu các mối căng thẳng xuất phát từ tranh chấp đánh cá, quyền đi lại và thăm dò dầu khí trong vùng Biển Đông.

Lời kêu gọi sớm đúc kết bộ quy tắc ứng xử được đưa ra vào lúc cho đến nay, Trung Quốc vẫn cho rằng họ chỉ thương thảo với ASEAN về văn kiện này khi “thời cơ chín muồi”, trong lúc báo chí Trung Quốc tiếp tục đưa ra luận điểm là Bắc Kinh chỉ chấp nhận một bộ quy tắc tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc nằm bên trong tấm bản đồ 9 đường gián đoạn mà chính họ vẽ ra.


 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc




12/08/12 |

Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc


Áo và Tiệp Khắc là hai quốc gia bị Đức cưỡng chiếm đầu tiên ngay cả trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong lúc Đức chiếm Áo không gây nhiều phản ứng vì Áo có nhiều liên hệ với Đức về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chính bản thân Hitler vốn là người Áo, việc cưỡng chiếm Tiệp Khắc là một biến cố lớn vì Tiệp Khắc là một nước độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và được xem là một trong số mười cường quốc châu Âu thời đó.


Thủ đô Praha trong chiến tranh thế giới thứ 2. Ảnh Super stock

Suốt thời gian dài hơn sáu năm dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã, nhân dân Tiệp đã chịu đựng vô số thương vong, thiệt hại. Hàng trăm ngàn người bị giết và hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại tập trung. Thế nhưng phải chăng ngày đó Tiệp Khắc yếu đến mức không bắn được phát súng nào?

Không. Trước Thế chiến thứ hai, thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật của thời đế quốc Áo Hung, Tiệp Khắc là một trong sốt ít quốc gia có một quân đội đông đảo nhất và được trang bị tối tân nhất châu Âu. Việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan:

(1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức,
(2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, và một lý do chủ quan:
(3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.


Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức.

Sau giai đoạn cách mạng 1848, Đức trở thành cường quốc. Sức mạnh của Đức thể hiện không chỉ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự, dân số mà cả khoa học. Tổng số giải Nobel các khoa học gia Đức được tặng thưởng trong giai đoạn 47 năm tồn tại nhiều hơn tổng số giải Nobel của các khoa học gia Anh, Pháp, Nga và Mỹ cộng lại. Năm 1871, Đế Quốc Đức bao gồm 27 khu vực, dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck đã vượt qua đế quốc Anh. Giống như mọi đế quốc khác trong lịch sử, để tiếp tục lớn mạnh cần phải có tài nguyên thiên nhiên.

Đức là quốc gia nằm ngay giữa châu Âu và về mặt địa lý chính trị, suốt nhiều thế kỷ, các chế độ quân chủ Đức cũng chủ trương các quốc gia phía Đông trong đó có Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary là hàng rào an ninh của Đức để đương đầu với hai nước lớn khác là Pháp và Nga.

Sau khi sáp nhập Áo vào tháng Ba năm 1938 không cần dùng đến võ lực, Hitler tập trung vào chiến lược chiếm Tiệp Khắc bất chấp sự chống đối của nhiều tướng lãnh cao cấp trong đó có tướng Ludwig Beck, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Đức. Bản thân của Hitler cũng đánh giá Tiệp rất cao nên không dám công khai đưa quân vượt biên giới xâm lăng quốc gia này. Vì vùng Sudetenland có đông dân Đức và có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn nhất của Tiệp Khắc, Hitler nghĩ đến việc chiếm vùng Sudetenland trước và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc.

Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các các lãnh đạo Anh, Pháp đứng đầu là Thủ tướng Nevill Chamberlain đã “khuyến khích” Đức chiếm Tiệp Khắc.

Sau Thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.

Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh. Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland.

Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.

Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả. Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào. Câu Phản bội Tiệp Khắc để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó.

Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Nevill Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc.

Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc.

Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp và đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.

Konrad Henlein một thầy giáo bậc trung học, lúc đó đang hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện. Mỗi tháng đảng Sudeten nhận 15 ngàn Đức Mã để trang trải các chi phí hoạt động.

Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị.

Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết.

Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten, và cũng trong lúc đó hàng chục sư đoàn Tiệp được trang bị đầy đủ được chính phủ ra lịnh rút lui. Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland.

Konrad Henlein gia nhập lực lượng an ninh Đức và tham gia vào đảng Quốc Xã. Mặc dù sinh ra, lớn lên trên đất Tiệp, Konrad Henlein đã góp phần quan trọng trong việc rước voi Đức giày lên Tiệp Khắc. Y được thưởng nhiều chức vụ và được cho phép làm công dân Đức. Sau khi Tiệp Khắc được đồng minh giải phóng, tên Tiệp gian phản quốc Konrad Henlein bị bắt và y đã tự sát bằng cách cắt gân máu ở cổ tay.

Kẻ phản bội thứ hai là tổng thống bù nhìn Emil Hacha. Sau khi Edvard Benes, tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc từ chức, tân tổng thống Emil Hacha là một người nhu nhược. Buổi tối ngày 11 tháng Ba năm 1939, Hitler cho triệu Hacha đến Bá Linh và thông báo cho ý định chiếm toàn bộ Tiệp Khắc bằng võ lực và hứa nếu Hacha chịu hợp tác, Tiệp Khắc sẽ được hưởng quyền tự trị rộng rãi còn nếu nghịch sẽ bị đoàn quân Hitler tấn công Tiệp bằng mọi phương tiện trong đó có cả việc không quân của Đức cày nát thủ đô Prague. Emil Hacha quy thuận Hitler.

Dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng y được giữ chức vụ tổng thống bù nhìn nhưng buộc phải tuyên thệ trung thành trước Hitler. Mặc dù có nhiều tài liệu cho thấy Emil Hacha trong thời gian phục vụ Hitler cũng lén lút giúp cho phong trào kháng chiến chống Đức thuộc chính phủ lưu vong của Edvard Benes nhưng công không đủ để chuộc tội cho y. Sau khi Prague được giải phóng vào tháng Năm năm 1945, Emil Hacha bị bắt và chết hơn hai tháng sau đó trong hoàn cảnh bí mật. Y được chôn trong một ngôi mộ không đề bia tại nghĩa trang Vinohrady. Hiện nay, tại nghĩa trang Vinohrady có một tấm bảng ghi dấu nơi chôn của Emil Hacha.

Jozef Tiso là một kẻ phản quốc đội lốt tôn giáo. Mặc dù thụ phong linh mục nhưng y cũng là một trong những đảng viên nòng cốt của đảng Nhân Dân Slovak. Lợi dụng sự suy yếu của Tiệp Khắc sau hiệp ước Munich, đảng Nhân Dân Slovak do Tiso lãnh đạo tuyên bố Slovak tự trị trong vòng Tiệp Khắc. Vào 13 tháng Ba năm 1939, giống như vừa đe dọa Emil Hacha vài hôm trước đó, Hitler triệu Jozef Tiso đến Bá Linh và buộc y phải tuyên bố Slovak độc lập, tách rời khỏi Tiệp Khắc, nếu không Hitler sẽ thúc giục Hungary và Ba Lan chiếm đóng phần lãnh thổ còn lại của Slovakia. Jozef Tiso cũng tuân phục Hitler và trở nên một cộng tác viên trung thành cho chế độ Quốc Xã.

Từ năm 1939 đến năm 1945, Tiso là tổng thống bù nhìn Slovakia chư hầu của Đức. Đảng Nhân Dân Slovak do y lãnh đạo liên kết chặt chẽ với đảng Quốc Xã Đức và chia sẻ quan điểm diệt Do Thái. Khi hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm Slovakia tháng Tư năm 1945, Tiso bị bắt và bị kết án phản quốc. Jozef Tiso bị treo cổ ngày 18 tháng Tư năm 1947. Chính phủ Tiệp Khắc chôn y tại một nơi bí mật.

Chính phủ Tiệp Khắc nhu nhược không quyết tâm bảo vệ đất nước. Phân hóa và thiển cận trong thành phần lãnh đạo của hai sắc dân Slovak và Czecho trong chính phủ Tiệp đã làm thượng tầng kiến trúc lãnh đạo sụp đổ nhanh chóng.

Tiệp Khắc trong giai đoạn năm 1938-1939 đứng trước những khó khăn và áp lực quá lớn không những từ quốc tế mà ngay cả tại trong nội bộ Tiệp, nhưng thay vì đoàn kết để đương đầu với ngoại xâm, các sắc dân Tiệp đã phân hóa, chia rẽ và tiếp tay làm yếu khả năng đối đầu với Đức.

Xét về tương quan quân sự. Theo tổng kết của Giáo sư Sử học Carroll Quigley, đại học Georgetown dựa theo các tài liệu thuộc văn khố quân sự Mỹ sau Thế chiến thứ hai, trong giai đoạn đầu thù địch Đức Tiệp bùng nổ, Đức có 36 sư đoàn nhưng không được trang bị đầy đủ trong lúc Tiệp Khắc có 35 sư đoàn thiện chiến và được trang bị một trăm phần trăm hỏa lực.

Vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín năm 1939, quân đội Tiệp Khắc đã có một triệu quân với 34 sư đoàn tinh nhuệ trong lúc toàn bộ quân Đức để phối trí tại hành lang châu Âu chỉ có từ khoảng 31 đến 36 sư đoàn. Về không quân, vào tháng Chín năm 1938, Đức trội hơn Tiệp Khắc chút ít. Đức có 1500 máy bay trong lúc Tiệp có gần 1000 chiếc nhưng nếu tính cả Anh, Pháp số lượng phi cơ của ba nước cộng lại vượt xa Đức.

 Liên Xô ủng hộ Tiệp nên cũng gởi 36 phi cơ chiến đấu đến Tiệp qua ngã Rumania. Về chiến xa, tăng của Đức còn yếu hơn tăng của Tiệp Khắc. Ngoại trừ loại tăng thuộc thế hệ Mark III có trang bị pháo 37 li, phần lớn tăng thế hệ Mark II của Đức chỉ trang bị đại liên. Tiệp Khắc có mấy trăm xe tăng hạng nặng 38 tấn trang bị pháo 75 li hiện đại nhất thời đó.

Nếu đánh nhau với Đức trong một cuộc chiến tranh quy ước, chưa chắc Tiệp đã thua. Mà dù có thua, Tiệp Khắc cũng kéo dài cuộc chiến được một hai năm đủ thời gian cho quốc tế can thiệp hay tìm cách lôi kéo các nước châu Âu vào ván cờ sinh tử. Khi tràn ngập Tiệp Khắc vào tháng Ba năm 1939, Đức tịch thu của Tiệp 469 xe tăng, 1500 phi cơ chiến đấu đủ loại, 43 ngàn súng máy và nhiều triệu súng trường. Số lượng vũ khí đó Đức đã phải tốn hàng năm mới sản xuất được.

Tiệp Khắc, một quốc gia có điều kiện kỹ thuật tiên tiến nhất châu Âu và từng là một phần của đế quốc Áo Hung hùng mạnh đã bị Hitler xóa tên khỏi bản đồ thế giới không tốn một viên đạn. Với một quân lực cả triệu người và phương tiện đầy đủ nhưng chỉ vì sự yếu hèn của cấp lãnh đạo, Tiệp Khắc trở thành đỉa thịt bò tươi trong bữa cơm chiều của nhiều khách lạ.

Sau khi Tiệp bị Hitler cưỡng chiếm, hàng ngàn người dân Tiệp yêu nước phải tự phát rút vào chiến tranh du kích chỉ bằng vài tạc đạn và vài khẩu súng ngắn. Nguồn tiếp tế quá xa và kho súng đạn khổng lồ đã bị tịch thu, họ đã phải chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn. Hàng trăm ngàn người Tiệp đã chết dưới bàn tay sắt của tử thần SS Reinhard Heydrich.

Tướng SS Reinhard Heydrich, cai trị Bohemia và Moravia (vùng đất Tiệp sau khi sáp nhập vào Đức) được các sử gia đánh giá là tên tướng độc ác nhất trong hàng tướng lãnh công an mật vụ SS Đức.

Y là một trong những kiến trúc sư của kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái Holocaust. Hitler ca ngợi Heydrich là “con người có trái tim bằng sắt”.

Y bị kháng chiến quân Tiệp ám sát tại Prague vào cuối tháng Năm năm 1942. Đức trả thù tàn bạo. Hai làng Lidice và Lezaky, tình nghi che giấu kháng chiến quân, bị đốt thành tro, tất cả đàn ông đều bị bắn chết, chỉ còn một ít phụ nữ và trẻ em bị đày vào các trại tập trung.

Sự chịu đựng của nhân dân Tiệp đã để lại nhiều bài học cho Việt Nam khi đương đầu với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á

Như đã trình bày trong bài “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ”, vì các lý do an ninh, chính trị, kinh tế, Trung Quốc phải tìm mọi cách khống chế biển Đông. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo CS Trung Quốc là sợ bị bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Quốc.

Nhìn quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Quốc, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc không chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước.

 Tuy nhiên, khác với Đức Quốc Xã, Trung Quốc không dám tung một cuộc tấn công toàn lực như Hitler chuẩn bị cho Tiệp mà chủ trương gậm nhấm từng phần đất, từng ngọn núi và từng hải lý của Việt Nam.

Nắm được yếu điểm của CSVN, trong lúc tiếp tục phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao với hầu hết các quốc gia từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Trên mặt biển Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam, bắn thủng ghe tàu, thành lập thành phố Tam Sa, đưa hàng ngàn tàu đánh cá ra khơi, tàn sát ngư dân Việt Nam.

Lãnh đạo CS Trung Quốc biết những hành động lấn ép đó không đủ mạnh, đủ lớn để làm quốc tế lưu tâm. Không một Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc nào rảnh rỗi để bàn chuyện vài chiếc ghe đánh cá của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” húc ngoài Quảng Ngãi hay đặt vấn đề tại sao các tàu đánh cá Trung Quốc cứ tiếp tục thả lưới trong vùng biển Việt Nam.

Những sự kiện ghe tàu đó đối với các cường quốc là chuyện vặt nhưng với một nước nhỏ như Việt Nam nơi có nhiều triệu dân gắn liền với ngư nghiệp lại là chuyện lớn. Đặc tính hèn hạ, nhỏ mọn đó của Trung Quốc là sản phẩm của chế độ độc tài CS và đừng ai hy vọng gì các đặc tính đó thay đổi một khi chế độ sinh ra chúng còn tồn tại.

Đàm phán với Trung Quốc ư? Đàm phán đa phương quốc tế Trung Quốc không tham dự nhưng đàm phán song phương là rơi vào chiếc bẫy của Trung Quốc. Nếu ai theo dõi chuyện Trung Quốc và Liên Xô tranh cãi nhau về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri sẽ thấy.

Các phiên họp tranh cãi chủ quyền kéo dài tới 20 năm, từ thập niên 1970 cho đến 1990 nhưng không đem lại kết quả nào. Mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc chở theo một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc biết dù chở cả xe bằng chứng cũng chưa hẳn thuyết phục được Liên Xô nhưng chỉ muốn kéo dài thời gian đàm phán để chờ đợi thời cơ.

Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ

Trong bài viết Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước tôi có dịp trình bày chính sách Mỹ hiện nay là sự bước tiếp nối của chính sách ngăn chận thời Chiến tranh lạnh trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhiều người Việt lầm lẫn nghĩ rằng hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh thả neo ngoài khơi Đà Nẵng là để bảo vệ Việt Nam. Thật ra, cả Trung Quốc và Mỹ đều biết dù áp dụng chính sách nào hay dù có thái độ nào, xung đột võ trang giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới có phụ thuộc quá sâu, quá phức tạp về kinh tế không thể xảy ra trong một giai đoạn ngắn tới đây.

Về phía Trung Quốc, không giống Đức Quốc Xã cần chiến tranh để phục hồi và phát triển, Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trên trong cũng như bên ngoài, việc phát động một cuộc chiến tranh quy mô ở Á châu và Thái Bình Dương như Hitler đã làm với Tiệp Khắc là một điều giới lãnh đạo CS Trung Quốc không dám thực hiện. Hơn ai hết, giới lãnh đạo CS Trung Quốc biết họ phải cần nhiều chục năm kỹ thuật và một ngân sách hải quân khổng lồ mới mong đuổi kịp Mỹ. Ngoài ra, chủ nghĩa Cộng Sản đã chết, Trung Quốc hiện đang sống nhờ vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Thế chiến thứ nhất 1914-1918 dẫn đến tự sụp đổ của Đế Quốc Đức, Đế Quốc Áo Hung, Đế Quốc Ottoman đã dạy họ một bài học: Các đế quốc gây chiến trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng những không thắng mà đều tan rã từ bên trong.

Về phía Mỹ, ngoài các lý do kinh tế, riêng trong lãnh vực quân sự cũng không phải dễ dàng. Chính phủ Mỹ trong lúc muốn duy trì ảnh hưởng trong vùng, cũng không muốn bị cuốn vào các xung đột mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa dân tộc như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam. Tháng Giêng 2011, Tổng thống Barack Obama trải thảm đỏ tiếp đón Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào như quốc khách với 21 phát đại bác chào mừng.

Trong buổi tiếp tân, TT Obama ca ngợi “sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước”. Khi trả lời buổi phỏng vấn dành cho tờ Wall Street Journal, Hồ Cẩm Đào công nhận sự quan trọng trong quan hệ tốt giữa Trung Quốc và Hòa Kỳ. Họ Hồ cũng nhấn mạnh đến việc hai quốc gia phải “hành động phù hợp với quyền lợi căn bản của nhân dân hai nước, và tôn trọng quyền lợi chung của hòa bình và phát triển thế giới”.

Dân biểu Ileana Ros-Lehtinen, thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện trong một văn bản công bố cho báo chí sau đó, đã nghiêm khắc phê bình Trung Quốc không xứng đáng là một cường quốc vì nhiều lý do và một trong những lý do, Trung Quốc đã ngang nhiên xem Biển Đông như là “quyền lợi chính” và xem thường quyền hàng hải và lãnh thổ của các quốc gia vùng Đông Nam Á. Các lãnh đạo Cộng Hòa cũng tố cáo TT Obama đã thực thi chính sách “Nhân nhượng” của Nevill Chamberlain để đối phó với Trung Quốc. Dĩ nhiên, TT Barack Obama phủ nhận những lời kết án này.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Trung Quốc biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền che đậy sự sợ hãi trước đàn anh CS Trung Quốc. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương như vậy đừng nói chi là những nước mang số phận sân sau như Việt Nam. Các nước nhỏ như Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đài Loan, Nam Hàn vượt qua được những nhược điểm khách quan và chủ quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ Thổ Nhỉ Kỳ cần Anh Quốc mà Anh Quốc cũng cần Thổ Nhĩ Kỳ và tương tự không chỉ Đài Loan cần Mỹ nhưng Mỹ cũng cần Đài Loan.

Quan hệ Trung Quốc và Việt Nam không giống như quan hệ giữa Mỹ và Philippine hay Mỹ và Nam Hàn. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Quốc. CS Trung Quốc và CS Việt Nam chia sẻ nhau một lịch sử lâu dài từ ngày đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Hai đảng gắn bó về cả vật chất lẫn tinh thần. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến.

Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của và người của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Nợ máu xương chồng chất. Tuy không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu của bao nhiêu thế hệ từ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết.

Bài học từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan

Bài học lớn nhất mà nhân loại học được từ Thế chiến thứ hai là sự thụ động, tiêu cực của con người trước hiểm họa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của 70 triệu người không chỉ là Adolf Hitler, Benito Mussolini và Kideki Tojo nhưng còn là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Tổng thống Pháp Édouard Daladier. Chính người dân Đức đã bỏ phiếu cho Hitler và người dân Anh đã nhảy nhót vui mừng khi lãnh thổ Tiệp rơi vào tay của Đức.

Trong một thời gian ngắn trước Thế chiến thứ hai, không chỉ Đức thôi mà cả nước yếu kém hơn Tiệp như Ba Lan, Hungary cũng dự phần vào bữa tiệc nấu bằng thịt xương Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai có thể đã không xảy ra hay xảy ra với mức độ tác hại thấp hơn nếu số lớn nhân loại ngày đó không thỏa hiệp, không đồng lõa với cái ác.

Từ đó để thấy, việc ngăn chận chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc ngày nay phải là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý bởi vì lịch sử chứng minh chủ nghĩa dân tộc cực đoan dẫn đến chiến tranh ngay cả trong trường hợp các kẻ chủ trương cực đoan không muốn. Chưa từng có một trường hợp nào ngược lại. Giới lãnh đạo CS Trung Quốc là những người nhúm lên ngọn lửa dân tộc cực đoan nhưng lửa cháy mạnh hay yếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố có khi không nằm trong vòng kiểm soát của họ.

Các chủ trương đồng hóa và diệt chủng các dân tộc yếu thế là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ giai đoạn sau cách mạng Pháp 1789 đến Thế chiến thứ nhất rồi Thế chiến thứ hai cho tới các cuộc chiến đẫm máu vùng Balkans giữa các nước thuộc liên bang Nam Tư cũ, máu nhân loại đã đổ liên tục vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau cực tả là cực hữu, bản đồ thế giới chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng như trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua.

Các nhà phân tích thường dựa vào hậu quả hơn là tìm hiểu nguyên nhân nên không lấy làm lạ ít người so sánh Hitler với Đặng Tiểu Bình. Đa số vẫn đánh giá họ Đặng như một nhà lành đạo CS tiến bộ, mở cửa hiện đại hóa, làm dịu căng thẳng giữa hai khối. Tuy nhiên, quan điểm của Hitler và Đặng Tiểu Bình có nhiều điểm giống nhau hơn cả giữa Hitler và Stalin, Hitler và Mussolini hay Hilter và Mao bởi vì cả hai đã dùng chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để kích thích “niềm kiêu hãnh quốc gia”, vẽ lên trong nhận thức con người về “một loại đất nước huy hoàng tưởng tượng”, làm gia tăng nhất thời sức mạnh kinh tế và tạo áp lực thường xuyên trên các nước yếu hơn trong vùng.

Nhân loại nguyền rủa Hitler, kết án Mao và phỉ nhổ Stalin, tuy nhiên, nếu chiến tranh bùng nổ tại Á Châu, với dân số 1.3 tỉ người mà bầu nhiệt huyết được đun sôi bằng ngọn lửa hận thù, hậu quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình nhóm lên từ năm 1978 sẽ khủng khiếp đến dường nào. Giữa Hitler và Đặng Tiểu Bình ai tàn ác hơn ai, chưa biết được.

Có hy vọng nào cho dân tộc Việt Nam?

Nhìn lại Việt Nam, chưa bao giờ dân tộc lại phải chịu đựng sự phân hóa, chia rẽ trầm trọng như hôm nay. Một người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc nào cũng đau lòng nhận ra điều đó. Tuy nhiên, dù có thể còn khác nhau trong cách trả lời, chúng ta không thể không đồng ý rằng, để cứu đất nước, trước hết phải tháo gỡ chiếc gông độc tài chuyên chính ra khỏi cổ người dân và trả lại cho họ những quyền bẩm sinh mà ai cũng có, đó là quyền làm người, quyền quyết định sinh mệnh của chính mình và của dân tộc mình. Bởi vì, chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ, tự chủ, cường thịnh mới mong thắng được chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

© Trần Trung Đạo

  
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link