Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 24, 2012

Mô Hình Sụp Đổ của Chế Độ Cộng Sản tại VN


Mô Hình Sp Đ

của Chế Độ Cộng Sản tại VN

*Quốc Phùng

Có rất nhiều chỉ dấu báo trước sự cáo chung của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. Những thực trạng xãy ra tại VN hiện nay rất phù hợp và tương tự như tình hình ở Liên Sô và các nướcĐông Âu trước khi tan rã. Ta thử lược qua vài chỉ dấu đưa đến sự sụp đổ của chế độ CS tại VN trước khi bàn đến sự sụp đổ này sẽ diễn ra trong bối cảnh như nào.

Sai Lầm Về Chủ Nghĩa Đưa Đến Chính

Sách Khinh Miệt Toàn Dân

Từ ngàn xưa trong đạo trị quốc, từ Đông sang Tây bao giờ một quốc gia muốn cường thịnh, xã tắc cơ đồmuốn bền vững, cấp lãnh đạo đều phải lấy dân làm trọng. Do đó mà Mạnh Tử hơn 2.300 năm trước đã có câu “Dân vi quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh”.
Câu nói trên có ý rằng Dân là quý (trọng) nhất, kế đến là Sơn Hà Xã Tắc (Quốc Gia) và sau cùng mới đến Vua (Người Lãnh Đạo). Đế quốc La Mã được hùng cường trong một thời gian dài cũng là nhờ biết tổ chức xã hội theo mô thức dân chủ và lấy ý kiến của dân (Citizen) làm chính sách.

Chủ nghiã Cộng Sản, vềcăn bản đã không tôn trọng con người. Lý tưởng Cộng Sản là mục tiêu tối thượng trong khi con người chỉ là phương tiện thực hiện cải tạo xã hội. Phối hợp với Biện Chứng Pháp, con người rõ ràng chỉ là công cụ để thực hiện chủ nghĩa không tưởng đó mà thôi.

Vì quá quen thuộc với cách hành xử độc đoán và coi rẽ người dân, Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc lấy dân làm gốc mà tất cả các nước Dân Chủ Tự Do đều tôn trọng. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (1) là một văn kiện xiển dương nhân quyền quan trọng nhất của nhân loại ngày nay.
Việt Nam là thành viên Liên Hiệp Quốc nhưng hoàn toàn không tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này. Đó là sự khinh miệt các quyền căn bản của toàn dân Việt Nam và lừa dối thếgiới.

Từ nguyên thủy, đảng CSVN nắm quyền cai trị toàn dân không qua bất cứ một cuộc bầu cử dân chủ nào. Không một chức vụ công quyền từ thượng tầng đến cơ sở mà người dân được quyềnứng cử, ngoài trò hề “Đảng cử, Dân bầu”, kể cả Quốc Hội đại diện cho dân.
Điều 83 của Hiến pháp CSVN 1992 xác định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam…Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
Nhưng người dân có được quyền tự ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội hay không? Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã từng nạp đơn xin ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội nhưng không bao gìờ được đảng cầm quyền chấp thuận. Không cho người dân thường được quyền tham chính, đó là một sự khinh miệt trầm trọng nhất vai trò của người dân trong hệ thống công quyền của CSVN.

Những quyền căn bản khác của người dân như quyền được biết những Hiệp Ước ký kết với ngoại bang vềbiên giới lãnh thổ và lãnh hải, quyền được thể hiện lòng yêu nước qua việc biểu tình phản đối ngoại bang chiếm cứ biển đảo của Việt Nam đều bị cấm đoán.
Những quyền công dân khác như quyền có ý kiến về việc khai thác Bauxite gây nguy hại môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến ngưới dân, chưa kể đến vấn đề an ninh quốc gia. Việc cho ngoại bang thuê rừng đầu nguồn làm thiệt hại tài nguyên và có nguy cơ mất đất biên giới vĩnh viễn.
Dự án Đường Cao Tốc vay mượn tốn kém phải trả hàng mấy thế hệ. Thất thoát tài sản quốc gia qua tập đoàn Vinashin hàng chục tỷ USD v..v… Người dân thường lúc nào cũng bị cấm đoán không được bàn tới vì đó là “bí mật quốc gia” hoặc “vấn đề nhạy cảm”.
Đây là sự khinh miệt vai trò của người công dân trước sự tồn vong của đất nước. Quyền tự quyết tối thượng của dân tộc để được bảo vệ tổ quốc và bảo vệ các thế hệ tiếp nối mai sau bịngăn cấm một cách trắng trợn.

Những quyền căn bản khác được minh định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền luôn luôn bị chàđạp. Chẳng hạn quyền Tự Do Ngôn Luận: Cả một xã hội hơn 80 triệu con người Việt Nam tuyệt đối không có lấy một tờ báo hay cơ quan truyền thông tư nhân nào!
Những quyền khác như Tự Do Tín Ngưỡng, Tự Do Tư Tưởng, Tự Do Phát Biểu, Tự Do Lập Hội v..v… hoàn toàn bị kềm chế! Đó là sự kinh miệt quốc dân và lừa dối dưluận.

Khủng Hoảng Kinh Tế Gây Ra Bởi Tập

Đoàn Bất Tài Tham Nhũng

Việt Nam được cai trịbởi 15 Ủy Viên Bộ Chính Trị và 160 Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN. Đây là một tậpđoàn hoàn toàn được bè phái cất nhắc dựa trên lòng trung thành và phe cánh nên khả năng và học vấn chỉ là yếu tố phụ thuộc. Không một Ủy Viên nào được người dân tín nhiệm bầu lên nên điều hiển nhiên là các Ủy Viên này không có bổn phận phải phục vụ nhân dân mà chỉ có nghĩa vụ với bè phái và người đở đầu mà thôi!

Đại đa số trong 15 thành viên Bộ Chính Trị đều có trình độ học vấn rất thấp và không thông hiểu các định luật kinh tế, không có khả năng ngoại ngữ để nghiên cứu. Hầu hết chưa vượt qua trình độ Trung Học Phổ Thông nhưng theo danh sách cung cấp bởi đảng CSVN cho biết trong 15 thành viên này, 5 người có bằng Tiến Sĩ, 10 người còn lại đều có bằng cử nhân hoặc cao hơn.
Thật ra hầu hết đều là những bằng cấpđược gọi là “Tại Chức”, có nghĩa là vừa công tác vừa học thêm. Một cán bộ cao cấp càng cần giữ thể diện với nhân dân và thuộc cấp nên vấn đề bằng cấp cũng ưu tiên thuộc về diện “chính sách”.

Với một tập đoàn lãnhđạo toàn “trí thức” của Bộ Chính Trị đảng CSVN như vừa kể, cộng thêm quyền lực tuyệt đối không một cơ quan nào kiểm soát được, kể cả Quốc Hội, guồng máy tham nhũng mặc tình vơ vét. Từ tài sản công biến thành của riêng qua chính sách “Hoá Giá”(bán rẽ cho cán bộ), đất đai tài sản nhân dân bị “Quy Hoạch” (bồi thường rẻmạt giống như xung công) chuyển giao cho “Tập Đoàn” gồm toàn thân nhân giòng họcủa Lãnh Đạo.
Cho thuê biển, thuê rừng. Đơn cử một thí dụ: Dự án “đường cao tốc Bắc Nam” sau khi hoàn tất tốn khoảng 56 đến 60 tỉ USD, nếu tính theo lạm phát phí tổn có thể cao hơn. Như vậy hợp đồng khi duyệt ký Thủ Tướng được bao nhiêu phần trăm? Nên nhớ chỉ 1% thôi cũng đã là 600 triệu USD rồi. Đó cũng là lý do vì tranh ăn nên phe “Thủ Tướng” bị thất thế tại Quốc Hội.

Với trình độ kém cỏi và lòng tham lam vô độ như thế, nền kinh tế Việt Nam XHCN không “Xuống Hố CảNước” mới thật là chuyện lạ!

Khát Vọng Dân Chủ Của Toàn Dân

Khát vọng Dân Chủ là bản năng tự nhiên của tất cả mọi dân tộc trên hoàn vũ, không riêng gì dân tộc Việt Nam. Trong lúc cả thế giới đang tiến dần đến Toàn Cầu Hóa, internet được sử dụng rộng rãi khắp mọi nhà thì tại Việt Nam và Trung Quốc tường lửa hiện diện khắp mọi nơi. Yahoo và Google bị ép buộc phải cung cấp tin tức của các nhà bất đồng chính kiến.
Tuy nhiên, khát vọng Dân Chủ tại Việt Nam lúc nào cũng bỏng cháy qua các nhà hoạt động Dân Chủ, đa số là trí thức gồm Bác Sĩ, Luật Sư,Nhà Văn, Ký Giả, Linh Mục, Thượng tọa… Nhiều nhà tranh đấu bị bắt bớ, tù đày và bị quản thúc tại gia như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ… Tội của họ là yêu nước và đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho dân tộc Việt Nam.

Các Bloggers mấy năm gần đây gần như không còn sợ hãi. Nhiều người bị bắt giam như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, anh Ba Sàigòn tức luật sư Phan Thanh Hải v..v…hoặc bị hăm dọa như MẹNấm Lê Thị Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu…

Qua những nhận định trên về tính cách độc tài toàn trị đưa đến kinh miệt người dân, tập đoàn bất tài tham nhũng khiến đất nước cạn kiệt tài nguyên, kinh tế càng khủng hoảng đời sống người dân càng khốn khó, cộng thêm với khát vọng Dân Chủ của toàn dân… Tất cả sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Câu hỏi đặt ra là: CSVN Sẽ Sụp Đổ Theo Cách Thế Của Liên Sô Năm 1990?

Boris Yeltsin tuyên bố sự cáo chung của chủnghiã CS

Tình hình Việt Nam ngày càng gần giống như tình trạng Liên Sô trước khi sụp đổ. Sự đổi mới nửa vời, thiếu cởi mở chính trị, tham nhũng lan tràn, đồng tiền mất gía và nạn lạm phát trầm trọng, nhất là gía cả thực phẩm lên cao cùng cực. Sự phẩn nộ của toàn dân, kể cả một số cán bộ đảng CS, gần như không còn kềm chế nổi.

Tháng 5 năm 1990 gióđổi chiều trên Liên Bang Sô Viết. Boris Yeltsin được bầu làm chủ tịch chủ tịchđoàn Sô Viết Tối Cao (chủ tịch Quốc Hội Liên Bang) và Mikhail Gorbachev đang làm Tổng Bí Thư đảng kiêm Chủ Tịch nước.
Do chính sách Glasnost (cởi mở và tựdo phát biểu) và Perestroika (tái cấu trúc) mà nhóm bảo thủ chống lại Gorbachev và muốn làm đảo chánh.
Trước đó một năm, Đặng Tiểu Bình, một lãnh tụ cấp tiến Trung Hoa Đỏ, vào tháng 6-1989 đã ra lệnh cho quân đội thẳng tay tàn sát phong trào dân chủ tại Thiên An Môn. Tháng 8-1991 khi Gorbarchev bị giữ tại Crimea. Boris Yeltsin và đám đông dân chúng can đảm chống lại phe “đảo chánh”.
Đài truyền hình ABC phát hình toàn thế giới cảnh Diane Sawyer phỏng vấn Boris Yeltsin bên trong toà nhà Sô Viết Tối Cao trong khi đoàn chiến xa bao vây bên ngoài sẵn sàng nhả đạn. Tình hình cực kỳ căng thẳng. Một vụ Thiên An Môn thứ nhì sắp sửa xãy ra trong cái nôi Cộng Sản? Nhưng sau đó, lực lượng “đảo chánh” rút lui trước khí thế của đám đông dân chúng quyết tâm bảo vệ nền Dân Chủ non trẻ vừa mới thành hình.
Chế độ Cộng Sản coi như cáo chung! Trước ống kính truyền hình, Boris Yeltsin đứng trên chiến xa bên ngoài toà nhà Quốc Hội đọc bài diễn văn trong đó có một câu để đời “Cộng Sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó”.
Cả thế giới thở phào nhẹ nhõm. Thành trì Cộng Sản đã thực sự sụp đổtừ đây! Chấm dứt 40 năm chiến tranh lạnh mấy lần suýt hủy diệt nhân loại bởi vũkhí hạt nhân.

Hiện nay Hoa Kỳ đang thay đổi chính sách tại Á Châu và nhất là tại Đông Nam Á. Hoa Kỳ đã có thái độcứng rắn hơn với Trung Cộng trong khi xích lại gần hơn với Việt Nam. Mọi người Việt từ quốc nội cho đến khắp mọi nơi trên thế giới cùng bày tỏ niềm hân hoan và hy vọng cho cuộc liên minh và đối đầu mới này.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn hoài nghi về tính khả thi này của CSVN. Đây là một chế độ chuyên chế, độc tài toàn trị và cực kỳ tham nhũng. CSVN muốn kéo dài thời gian thống trị hết đời con sang đến đời cháu vinh thân phì gia nên ngày càng lệ thuộc Trung Cộng và càng tỏ ra nhu nhược đớn hèn. CSVN chấp nhận thà mất Nước chứ không để mất Đảng!!!
Rất khó cho cấp lãnh đạo CSVN phải hy sinh quyền lực và đời sống vương giả đểchịu hy sinh cho nền độc lập vững bền cho dân tộc bằng cách bước ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng. Sau đại hội 11, đảng CSVN cũng vẫn ở vào vị trí chư hầu như từtrước đến nay vì các lý do sau:

- Chưa có một lãnh tụCSVN nào đủ tầm vóc thực hiện đổi mới như Mikhail Gorbachev qua Perestroika và Glasnost. Người lãnh đạo đó phải dám nói “không” với CS Trung Hoa và thực hiệnđúng mức chính sách liên kết với Hoa Kỳ và Đông Nam Á để bảo vệ tổ quốc. Phải chấp nhận có tiếng nói đối lập và lắng nghe đối lập. Phải bỏ điều 88 bộ luật hình sự dùng để khép tội những nhà bất đồng chính kiến và để đàn áp các Bloggers.
Người lãnh tụ đó phải có bản lãnh và can đảm từ chức như Gorbachev đã làm khi Liên Bang Sô Viết tan rã. Một vài nhà phân tích ngoại quốc cho rằng Nguyễn Chí Vịnh có thể đóng được vai trò này.
Tuy nhiên, hầu hết mọi người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước đều rất hoài nghi về tâm địa và thủ đoạn của Vịnh. Không khéo đây là một Lê Chiêu Thống tân thời sẳn sàng đem dâng sơn hà cho giặc…Phải chờ sau đại hội 11 để Vịnh chính thức vào Trung Ương đảng và sau đóđược đề cử vào Bộ Chính Trị.
Nhưng phần chắc là vận mạng dân tộc sẽ thê thảm hơn nhiều trước thành tích của Vịnh trong Tổng Cục 2 (tình báo quân đội) và những thập thò trao đổi tin tức với Cục Tình Báo Hoa Nam.

- Cấp lãnh đạo CSVN chưa sẵn sàng từ bỏ quyền lực để chấp nhận một lãnh tụ kiểu “Boris Yeltsin Việt Nam”. Điểm qua các thành phần lãnh đạo CSVN tham gia đại hội 11 sắp tới, ta chỉthấy xoàng xỉnh, không một khuôn mặt sáng gía nào có thể mạnh dạn đứng ra bảo vệ sự độc lập của Quốc Hội (dù đó chỉ là Quốc Hội bù nhìn được đề cử bởi Mặt Trận Tổ Quốc). Quốc Hội CSVN phải thực sự giám sát việc làm của đảng CSVN.
Phải có kiến thức để hiểu biết vấn đề quốc gia. Phải lắng nghe ý kiến của giới trí thức và chuyên gia Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước. Các vấn đề lớn như dự án Bauxite rất nguy hại cho an ninh quốc phòng, môi trường và cả về kinh tế. Cho thuê đất đai biên giới và rừng đầu nguồn, hủy diệt thảm thực vật gây ngập lụt cho hạ lưu và có nguy cơ mất luôn phần đất cho thuê vì dân Tàu định cư vĩnh viễn trên đất đó.
Dự án Đường Cao Tốc vay mượn phải trả đến đời con cháu cũng chưa dứt… Quốc Hội đó phải có trách nhiệm và biện pháp bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo như Hoàng Sa và Trường Sa, vô hiệu hoá các công hàm ngoại giao và hiệp định biên giới mà chính quyền CSVN đã ký kết với Trung Cộng…Tóm lại Quốc Hội đó phải có thực quyền để bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Việt Nam chứkhông phải làm bình phong cho đảng CSVN dể bề thao túng.

Chắc chắn là chế độCSVN phải sụp đổ. Nhanh hay chậm tùy hoàn cảnh và thời cơ.
Nhưng nếu CSVN không sụp đổ một cách ôn hòa theo cách thế của Liên Sô vì thiếu lãnh đạo tầm cở và có bản lĩnh. Vậy mô thức sụp đổ tương tự nào có thể xãy ra cho CSVN ? Sau đây là những vấn nạn của chế độ này và các hệ quả của nó đưa đến mô hình sụp đổ:

1.- Lòng dân căm phẩn vì “Đại Họa Mất Nước”:

Cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Dân chúng

Romania tay không đương cự với chiến xa

Chúng ta vẫn có lý do khi tin rằng tập đoàn lãnh đạo CSVN từ thượng tầng cho đến các cấp vẫn “mũ ni che tai”, lo tom góp tài sản riêng cho gia đình, dòng tộc để chuyển ra nước ngoài.
Họ ý thức rất cao một phong trào quần chúng trên địa bàn rộng lớn sẽ nổra bất cứ lúc nào. Lòng dân đang nung nấu là vấn đề không thể chối cãi hay che dấu được.
Với bản chất ươn hèn với ngoại bang nhưng lại tham tàn và bạo ngược với quần chúng nhân dân, đảng CSVN sẽ không đủ can đảm chọn thái độ tích cực bảo vệ tổ quốc và cải tổ chế độ cho một nền móng Dân Chủ Pháp Trị vững bền. Chắc chắn sau Đại Hội 11, CSVN lại càng thêm bộc lộ tính nô bộc đối với người thầy và cũng là ông chủ lớn Trung Quốc.
Đảng CSVN không có những cá nhân đầy đủbản lĩnh như Gorbachev và Yeltsin nên vấn đề chuyển giao quyền lực êm thấm sẽvô phương xãy ra. Sẽ có một sự liên kết rộng rãi để hình thành một khối đại thểdân tộc trước “Đại Họa Mất Nước” (2). Xem DVD.

2. Cuộc sống người dân ngày càng lầm than

khốn khổ:

Do nạn lạm phát phi mã, tình hình đời sống của giới bình dân và quãng đại quần chúng cực kỳ bi thảm (3). Thống kê chính thức của nhà nước CSVN cho biết lạm phát tăng 11% các mặt hàng, riêng thực phẩm tăng 15%.
Nhưng thực ra theo thống kê không chính thức của người dân cho thấy nhiều mặt hàng đặc biệt là thực phẩm đã tăng lên đến 50%. Nạn lạm phát tại Việt Nam phần lớn do dân chúng không tin tưởng vào thịtrường và giới chức có thẩm quyền cấu kết gian thương đầu cơ tích trữ tạo lợi nhuận riêng. Cộng thêm hối xuất đô la lên do các “đại gia” bỏ tiền thu mua đô la nên tiền Việt Nam xuống gía 17% (gía chính thức ngân hàng công bố nhưng không có đô la để đổi), thị trường chợ đen chênh lệch trên dưới 30%.
Chính phủvội vã tăng lãi xuất lên (thông báo chính thức 9% và có thể cao hơn nữa) đểchận đứng lạm phát. Đây là quyết định sai lầm tệ hại nhất khi bắt chước FED của Hoa Kỳ, thay vì chận đứng tệ nạn đầu cơ.
Hành động tăng lãi xuất đó cũng chận luôn đà tăng trưởng kinh tế vốn dĩ đã èo uột rồi! Đời sống nhân dân càng khó khăn gấp bội bởi sự tối tăm của các chính sách kinh tế ngu muội và sai lầm. Hố cách biệt giàu nghèo giữa giới đặc quyền đặc lợi và quảng đại quần chúng càng chênh lệch hơn bao giờ hết.
Đại đa số người dân lao động nghèo khó đang vật vã bán thân vì miếng cơm manh áo. Lòng căm phẩn dâng cao đến mức độ người dân khó thểnào tiếp tục chấp nhận được.

Hàng triệu công nhân làm việc cho các công ty cả nội địa lẫn ngoại quốc đang bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ và bị chèn ép, hành hạ bởi giới chủ nhân ngoại quốc hàng ngày. Dưới sự giám thị và tiếp tay đàn áp của chính quyền, qua sự móc ngoặc giữa“công đoàn nhà nước” với giới chủ nhân, nhân công chịu đựng không khác gì một cổ hai tròng. Trắng trợn nhất là đạo luật cấm công nhân đình công đi ngược lại mọi công pháp quốc tế và là đòn chí mạng đánh vào công nhân vì sự tự vệ duy nhất của họ là đình công!!! Bảo vệ chủ nhân ngoại quốc đàn áp chính người dân của mình: Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hình là đảng Mafia phản dân hại nước.

Thêm vào đó, mấy chục triệu nông dân đang khốn khổ vật vã đói khát trên vựa lúa do chính công sức mình tạo nên. Tại sao nông dân nghèo túng và đói khổ như vậy? Đó là do chính sách cho vay khắc nghiệt của ngân hàng nhà nước và chính sách thu mua đầy dẫy bất công. Khi cho nông dân vay vốn để mua giống, phân bón, thuốc sâu rầy và nhiên liệu v..v… nông dân phải chịu tiền lời cao và các hợp đồng ràng buộc.
Khi thu hoạch, gía cả bị kềm lại có chủ ý và nông phẩm được thu mua rẽ mạt bởi tưnhân vì tập đoàn nhà nước… không đủ kho chứa! Chưa kể lề thói quan liêu vô trách nhiệm của các “Tổng Công Ty” khi ký hợp đồng cung cấp gạo và nông phẩm gía rẽ cho ngoại quốc làm thiệt hại nông dân mình. Góp phần đánh gục nông dân là thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu rầy mà không được chính quyền quan tâm trợgiúp.
Có thời đại nào trong lịch sử Việt Nam mà con cái của nông dân phải bịbán đi làm tì thiếp, nô lệ tình dục và làm lao nô khắp nơi trên thế giới vì nghèo đói? Duy nhất chỉ có thời đại Cộng Sản mới sản sinh những tai họa quáiđản cho dân lành.

3. Chính sách sai khiến, đàn áp trí thức và tôn giáo:

Cảnh nhân dân Romania nổi dậy trên đường

phố Bucharest 1989

Đảng CSVN lo sợ giới trí thức và tôn giáo lãnh đạo toàn dân nổi dậy chống lại chính quyền nên đã sửdụng triệt để công an và những phần tử bất hảo, vô thần, đàn áp những nhà trí thức bất đồng chính kiến và các lãnh tụ tôn giáo, làm cho nhân tâm càng thêm công phẩn. Sức chống đối càng thêm được tập trung và quyết liệt hơn khi thời cơ đưa tới. Sẽ có một cuộc Cách Mạng Toàn Dân! Một phong trào quần chúng liên kết nhau lan rộng trên bình diện toàn quốc chống lại bạo quyền để bảo vệ đất nước.Đảng CSVN sẽ bị phân hóa và bị vỡ ra làm hai hay nhiều mảnh là chuyện hoàn toàn có thể xãy ra.

Ta có thể nhìn thấyđược rõ ràng, chỉ cần một biến cố gây tác động nhân tâm rộng lớn, hoặc một sự đàn áp thô bạo sẽ như một mồi lửa dấy động mọi thành phần nhân dân. Những ngườiđang bất mãn đời sống nhọc nhằn nghèo khó và căm ghét chính quyền. Giới trí thức và những nhà hoạt động Dân Chủ cùng tập thể thanh niên sinh viên nếu biết vận dụng quần chúng nhân dân thì các lực lượng công nhân, nông dân sẽ là nòng cốt đứng lên lật đổ bạo quyền. Tiếp tay để tạo cuộc Cách Mạng Quần Chúng là các khối giáo dân Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo…Lực lượng sinh viên học sinh HS-TS-VN, các tổ chức Dân Oan và quảng đại quần chúng sẽ cùng tham gia. Tổchức chính đảng Quốc Gia sẽ cùng sát cánh với các lực lượng nhân dân để tạo nên cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Các chính đảng và tổ chức đấu tranh tại Hải Ngoại sẽvận động Quốc Tế yểm trợ phong trào Dân Chủ của nhân dân Việt Nam, vận động Quốc Tế để cùng áp lực Trung Cộng không được can dự vào nội bộ Việt Nam giải cứu đàn em.
Đồng bào Hải Ngoại sẽ sát cánh cùng Quốc Nội yểm trợ mọi phương tiện đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản…

Xem ra cuộc Cách Mạng Toàn Dân của Việt Nam sẽ mang màu sắc tương tự một cuộc nổi dậy của nhân dân Romania chống chế độ độc tài Cộng Sản, lật đổ và xử tử hình nhà độc tài Nicolae Ceausescu. Rất khó cho Việt Nam có được cuộc cách mạng nhung như là một diễn biến hòa bình, hay một cuộc cách mạng màu do bởi sự ngoan cố và tham lam vô độcủa đảng CSVN. Một cuộc Cách Mạng Toàn Dân có lẽ sẽ là giải pháp thích hợp nhấtđể bảo vệ giang sơn gấm vóc do cha ông để lại.
Đây là lúc từng đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam nên sám hối, trở về với dân tộc. Bài học của đảng Cộng Sản Liên Sô được “hạ cánh an toàn” nhờ không đàn áp nhân dân khốc liệt như đảng Cộng Sản Romania đáng để cho người Cộng Sản Việt Nam suy ngẫm.

QUỐC HÙNG

*(1) Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

http://www.vietnamhumanrights.net/vi.../phanmodau.htm
(2) DVD “Đại Họa Mất Nước” do Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện:

http://www.ustream.tv/recorded/11306638
(3) Lạm phát tại Việt Nam 2010

Hành trình sụp đổ của cộng sản Việt Nam


1:18 PM VAOL No comments

Dân nghèo đói sẽ vùng lên với ý chí "không còn gì để mất". Tầng lớp cầm quyền chia rẽ, xâu xé nhau nên không còn toàn tâm toàn ý thống nhất cùng nhau diệt dân nữa. Lại thêm không còn sự hà hơi tiếp sức từ bên ngoài (Tàu lo cho mình chưa xong thì còn hơi sức đâu lo cho người khác), sẽ làm cho chế độ này lung lay đến độ chỉcần lực lượng nào biết chớp thời cơ lãnh đạo dân chúng ẩy nhẹ cái là nó sụp tương tự như ngày 19/8/1945.


1. Cắn xé nhau vì lợi:

1.1 Khởi đầu là bòn rút ngân sách

1.2 Ngân sách cạn rồi thì bán tài nguyên

1.3 Tài nguyên cạn rồi thì cướp của dân

1.4 Dân không còn gì để cướp nữa thì (cộng sản) sẽ xoay sang cướp lẫn của nhau

* * *

2. Chia rẽ nhau vì quyền:

2.1 Hiện nay, tiếng là một nước độc lâp nhưng thực tế, nhìn chung, đảng viên cộng sản Việt Nam nào muốn có quyền lực đều phải luồn cúi cộng sản Tàu. Cho nên, dù trong nội bộ có lục đục thì coi như vẫn có cộng sản Tàu nắm chịch, tạm có thể yên.

2.2 Tàu yếu đi hoặc chủ tâm nện Việt Nam như là bước đầu của sự bành trướng đểhòng bước lên ngôi bá chủ hoàn cầu thì (cộng sản Việt) sẽ thi nhau đi tìm chỗdựa mới. Năm bè bẩy mối không ai phục ai.

2.3 Các nước lớn xung đột nhau thì VN như một thế giới thu nhỏ, các phe phái cũng xung đột nhau. Đấy là lúc có thể gọi là "quần dương tranh hùng".

* * *

3. Nạn đói hoành hành khắp cả nước bởi nạn "chảy máu gạo":

3.1 Dân số ngày càng tăng trong khi đất đai sản xuất lúa ngày càng thu hẹp vì:

- Nước mặn xâm lấn vùng ven biển các vựa lúa

- Tình trạng hoang mạc hóa diễn ra khắp cả nước do biến đổi khí hậu và do phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi.

- Bờ xôi ruộng mật liên tục bị chuyển đổi thành nhà máy, sân gôn, khu đô thị.

3.2 Chính sách quản lý kém, người sản xuất lúa không có lợi hoặc rất ít lợi, dẫn đến chuyển cây trồng khác cây lương thực hoặc bỏ hoang đồng ruộng chuyển làm nghề khác.

3.3 Do biến đổi khí hậu, dẫn đến hạn hán sâu bệnh (ví dụ rầy nâu) hoành hành không những ở Việt Nam mà còn ở khắp các nước xung quanh. Nhu cầu lương thực tăng đột biến. Việc xuất khẩu gạo ở Việt Nam cũng tăng đột biến, giá lương thực tăng cao.

3.4 Phía nam Việt Nam là Indonesia với hơn hai trăm triệu dân, phía đông là Philipin với mấy chục triệu dân. Đặc biệt, phía bắc Việt Nam là Trung Quốc với hơn một tỷ dân. Khi xảy ra mất mùa, những nước này sẽ hút gạo của Việt Nam khiến giá gạo tăng siêu cao.

3.5 Vì lợi nhuận, gạo sẽ được gom lại bằng mọi cách và xuất đi bằng mọi cách, mặc kệ dân nghèo chết đói vì không có tiền mua. Các gia đình công chức nhỏ,người về hưu lương thấp, công an tép riu, bộ đội quèn cũng chịu chung số phận.

* * *


Dân nghèo đói sẽ vùng lên với ý chí "không còn gì để mất". Tầng lớp cầm quyền chia rẽ, xâu xé nhau nên không còn toàn tâm toàn ý thống nhất cùng nhau diệt dân nữa. Lại thêm không còn sự hà hơi tiếp sức từ bên ngoài (Tàu lo cho mình chưa xong thì còn hơi sức đâu lo cho người khác), sẽ làm cho chế độnày lung lay đến độ chỉ cần lực lượng nào biết chớp thời cơ lãnh đạo dân chúngẩy nhẹ cái là nó sụp tương tự như ngày 19/8/1945.

* * *


Bây giờ, không phải tầng lớp cộng sản cầm quyền không nhìn ra vấn đề nhưng phần vì lợi ích cá nhân, phần vì lợi ích nhóm đã thao túng khắp trong đảng và nhà nước nên họ bất lực. Chứng cớ rõ nhất của sự bất lực là sau vụ Tiên Lãng lại vẫn xảy cưỡng chế đất trồng lúa ở Văn Giang và mới đây là ở Vụ Bản.

Lẽ ra, trước tương lai đen tối như đã phân tích ở trên, phải ra ngay luật "cấm xâm phạm và chuyển đổi đất nông nghiệp". Nhưng thực tế, họp hành chán rồi mà chỉ đưa ra được cái qui định "muốn chuyển đổi đất lúa sang đất khác thì phải có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền". Hỡi ơi! Chỉ cần tiềnđấm mõm là "cơ quan có thẩm quyền" sẽ đồng ý ngay, khó gì đâu!

Bệnh nan y đã biết nhưng không chữa được vì toàn đảng và toàn quân TA không có (hay không còn) dũng khí, chế độ này chỉ còn tồn tại tính bằng năm bằng tháng chứ không còn đủ phúc tính bằng chục năm nữa.

© Lưu Trần Sinh



 

Thursday, August 23, 2012

Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành


 

Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành

 
Nằm ở trung tâm thành phố , chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi
 người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước.
Theo dòng thời gian, kiến trúc của chợ Bến Thành có nhiều thay đổi.
 
Tuy thế, dáng vẻ và phần đầu của mặt tiền chợ vẫn giữ được như xưa.
Trong lòng nhiều thế hệ, chợ như là một biểu tượng của Sài Gòn -
Thành phố HCM cho dù điều đó chưa được chính thức công nhận. 

Nằm ở trung tâm thành phố chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với
mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước.

Theo Quen thuộc là vậy, có thể nhiều người quan sát thấy những bức phù điêu
 trang trí chợ Bến Thành với hình con bò, con cá đuối, nải chuối... 


Nhưng có lẽ, ít người biết tác giả của những bức phù điêu đó là ai?


 

Tìm lại người xưa 



Trong quá trình tìm về lịch sử trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cũng như dòng gốm


Biên Hòa xưa. Tôi cũng may mắn tìm gặp lại được hai nghệ nhân gốm Biên Hòa, những người đã trực tiếp gắn những bức phù điêu ở chợ Bến Thành năm xưa.

Mùa hè năm 2007, qua lời giới thiệu của một chị làm trong ngành gốm, tôi được gặp ông Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng), một nghệ nhân gốm Biên Hòa xưa, hiện sống tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa. Qua vài lời nói chuyện làm quen.


Tôi liền hỏi ông ngay: 


“Cháu nghe nói trường mình, trường Mỹ nghệ Biên Hòa, ngày xưa có làm phù điêu trang trí cho chợ Bến Thành?”.


Ông Tư Dạng trả lời ngay: 


“Đúng, làm năm 1952, mẫu là sáng tác của ông Mậu; tôi và một người bạn là hai người trực tiếp lên Sài Gòn gắn những bức phù điêu đó”


 



Nguyễn Trí Dạng (trái) và Võ Ngọc Hảo, hai nghệ nhân đã trực tiếp gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành


 


Được gợi về những năm tháng xa xưa, ông hào hứng kể lại vô số chuyện cũ.


Chuyện về những người thầy, những thợ bạn và những sản phẩm gốm Biên Hòa xưa.


Đó là những chuyện không xưa lắm, nhưng lớp trẻ ngày nay khó hình dung về một ngôi trường nổi tiếng một thời với dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa.


Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm mỹ nghệ, nên từ rất nhỏ ông đã có dịp tiếp xúc với những người nghệ nhân của trường Bá nghệ, càng quan sát ông càng đam mê những đất, men. Năm 14 tuổi, ông vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa, sau 4 năm học tập, ông tốt nghiệp năm 1950, và cũng là khóa học trò cuối cùng của trường dưới sự điều hành của ông bà Balick.


Sau khi ra trường, ông làm việc liên tục tại Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi được tuyển vào trường Kỹ thuật Biên Hòa, năm 1966, để làm thầy dạy ban gốm của trường. Cả đời ông gắn liền với nghề gốm, hiện nay ở tuổi 76, ông vẫn làm những sản phẩm gốm cho những đơn hàng nhỏ, lẻ. 

Gặp được người nghệ nhân thứ nhất, tôi tiếp tục đi tìm người nghệ nhân thứ hai đã tham gia gắn những bức phù điêu đó. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, cùng với sự   hướng dẫn chỉ đường của ông Tư Dạng, tôi cũng tìm được người nghệ nhân này, gặp được ông tại Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào một ngày trung tuần tháng 10. Ông là Võ Ngọc Hảo, sinh năm 1932 tại Tân Thành, Biên Hòa.


Vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa năm 1945, sau bốn năm học tập, ông tốt nghiệp ban gốm của trường vào ngày 11.07.1949.


Sau khi tốt nghiệp, ông ra làm thợ cho Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa đến năm 1961, sau đó ông làm cho công ty cấp nước thành phố đến khi nghỉ hưu.


Hiện nay, ông sống tại Bình Lục, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Tại Cù Lao Phố, vào một ngày tháng 10.2007, hai người nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa năm nào, sau nhiều năm xa cách, ngày nào lên gắn những phù điêu tóc hãy còn xanh nay mái đầu đã bạc.


Gặp lại, hai ông ôn lại những kỷ niệm năm xưa về mái trường Mỹ nghệ, nay chỉ còn trong ký ức. Và nhớ lại những ngày đi gắn những bức phù điêu, đó là những kỷ niệm không thể nào quên.


Người viết bài này được phép ngồi cạnh hai vị nghệ nhân, dịp này xin thuật lại đôi điều về những ký ức đó! 



Ký ức còn lại 



Phù điêu hình bò và heo (cửa Đông)


 


Tôi đọc được một trang nhật ký của một nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa ghi:“Ngày 1.9 (âm lịch) mưa cả ngày. Qua ngày 2.9 nước lên lẹ cấp kỳ. Nước xuống lần cho tới ngày 17.9. Đâu về đó”. Đó là những dòng chữ ghi lại nhật ký trận lũ lịch sử Nhâm Thìn (1952) tại Biên Hòa. 


 



Phù điêu hình bò và vịt (cửa Đông)


 


Sau trận lũ lụt Nhâm Thìn, ba ông Phạm Văn Ngà (Ba Ngà), Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng) và Võ Ngọc Hảo được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cử lên Sài Gòn để gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành. Những bức phù điêu này được nhà thầu chợ Bến Thành đặt trường Mỹ nghệ Biên Hòa làm. Thầy Lê Văn Mậu được giao sáng tác theo đơn đặt hàng, được sự giúp của những người thầy và những nghệ nhân lành nghề bên Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa như: Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng, chủ Thạch, anh Tóc... Thầy Lê Văn Mậu sáng tác trực tiếp lên đất, sau đó chỉnh sửa với sự góp ý của những người nghệ nhân. Rồi những bức phù điêu đó, nhằm để tránh những sự vênh méo ở những sản phẩm có độ nung cao như gốm Biên Hòa, chúng được cắt ra theo từng miếng nhỏ riêng, để đem mang đi chấm men, đi nung. Lò đốt bằng củi thỉnh thoảng gây “hỏa biến” ở những đồ gốm, đặc biệt có ở những bức phù điêu chợ Bến Thành những màu men trắng ta, trắng ngà ngà vàng mỡ gà rất đẹp,rất hiếm gặp. Do những miếng nhỏ của những bức phù điêu được đặt ở nhiệt độ không đều nhau, tuy trong cùng một lò nung, nên khi ra lò nó có miếng màu nhạt, màu đậm là vậy. 


 



Phù điêu hình cá đuối và nải chuối (cửa Tây)


 


Trước khi đóng thùng mang lên Sài Gòn bằng những chiếc xe công nhông. Những mẫu gốm của phù điêu chợ Bến Thành được mang từ trường trong (ngày nay là địa điểm trường CĐ Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) ra sắp ngoài trường ngoài (ngày nay là địa điểm trụ sở UBND tỉnh Đồng Nai), bởi lò nung gốm được đặt ở trường trong. Những mẫu gốm của phù điêu được đem sắp ngay chỗ cột cờ, chỗ văn phòng thầy Mã Phiếu (trưởng phòng hành chánh trường Mỹ nghệ Biên Hòa) bước ra, sắp ra ở đó. Thầy Lê Văn Mậu, chắp tay sau lưng, đi qua đi lại coi xem tấm nào nó bị vênh mới cho đục sau lưng cho nó mỏng để cho nó bằng. Xong xuôi đâu đó mới xếp vào thùng chuyển lên Sài Gòn. Rồi xuống dưới đó, chợ Bến Thành, nhà thầu khi họ xây dựng họ chừa lại những mảng tường cho mình để gắn những phù điêu. Và họ cũng làm sẵn cho mình những giàn giáo, những cô công nhân trộn cho những hồ vữa sẵn để mình chỉ tập trung gắn những phù điêu. Ông Phạm Văn Ngà, người thợ cả chỉ đạo gắn những bức phù điêu cho hai người thợ trẻ, ông Tư Dạng và Hảo, làm những công việc cần làm để gắn những bức phù điêu lên. Từng tấm, từng tấm, gắn từ những tấm ở dưới trước rồi dùng những cây chỏi để giữ cho nó gắn chặt với hồ vữa, đến khi hoàn thành một bức phù điêu, kiểm tra lại xem chổ nào còn hở thì trét hồ cho kín. Nhìn thấy công việc cũng không khó khăn lắm, cộng với nhiều công việc đang đợi mình ở Biên Hòa, nên ông Ba Ngà về trước, để lại những tấm phù điêu đó cho hai người thợ trẻ tiếp tục công việc. 


 



Phù điêu hình bò và cá (cửa Nam)


 


Những thuận lợi ban đầu, khi ở Sài Gòn họ tạo điều kiện cho mình, nhưng bên cạnh đó gặp cũng không ít khó khăn. Ở cái cửa chính kế ga xe lửa, chổ này về khuya cá biển về họ mần rầm rầm hơi nó bốc lên mà nó hôi tanh, muốn ói vậy, trong khi đó mình phải ngủ trên... những chiếc đồng hồ nơi cửa chính này. Ban ngày thì nắng chang chang, sáng có sương mù tối đến mưa phùn, những giấc ngủ lạnh buốt là thế nhưng những người nghệ nhân Biên Hòa này luôn cố gắng để hoàn thành công việc được giao. Theo trí nhớ của hai nghệ nhân gốm, thì thời gian hoàn thành 12 bức phù điêu cho bốn cửa của chợ Bến Thành khoảng hai tháng trở lại chứ không có hơn, cũng mau lắm! 


 



Phù điêu hình vịt (cửa Bắc)


 


Khi những bức phù điêu đã tương đối hoàn tất thì người thợ cả Ba Ngà xuống xem, chỉnh sửa lại đôi chổ còn thiếu sót. Hai người thợ trẻ hoàn thành công việc được giao, họ phấn khởi, đó là những kỷ niệm một thời nay khó phai mờ trong ký ức! 



Lê Văn Mậu - tác giả những bức phù điêu. 


Lê Văn Mậu (1917 - 2003) là một nhà giáo nhân hậu và một điêu khắc gia tài hoa. Sinh năm 1917 tại Vĩnh Long. Năm 1930, lên Sài Gòn ở nhà người cậu là bác sĩ Quế để học trung học. Sau khi đậu Diplôme vào năm 1934, Lê Văn Mậu lên Biên Hòa xin học điêu khắc trong dịp hè với ông Balick, hiệu trưởng trường Mỹ nghệ. Ông bà Balick là thân chủ bác sĩ Quế nên rất quí thầy và sắp xếp cho thầy ở Cù Lao Phố. Khi ông Balick hứa sẽ xin cho thầy học bổng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì thầy quyết định bỏ học ban tú tài mà theo học trường Mỹ nghệ. Trong thời gian học ở đây, những mẫu sáng tác của thầy được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa chọn để đưa vào sản xuất. Sau những năm tháng học tập, thầy đậu hạng nhất kì thi tốt nghiệp khóa ngày 2.7.1937. 


 



Đoàn Trường Kỹ thuật Biên Hòa tham dự khóa hội thảo về giáo dục năm 1965 tại Sài Gòn (Lê văn Mậu đầu tiên, bên trái)


 


Được ông Balick giới thiệu, cuối năm 1937, thầy đã vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không phải qua thi tuyển. Năm 1940, báo Pháp La volonté indochinoise nhận xét phê bình: 

“Tác phẩm Đám rước của ông Mậu, do cách bố cục và sự tìm tòi trong cách thể hiện, đã báo hiệu một nghệ sĩ tài năng”. Sau nhiều trăn trở tính suy, mùa hè năm 1942, thầy quyết định thôi học một năm trước khi thi tốt nghiệp, ông hiệu trưởng E. Jonchère cho thầy một chứng chỉ với nhận xét rất tốt.

Theo thư mời của ông Balick, Lê Văn Mậu trở thành giáo viên dạy môn điêu khắc và môn vẽ cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa kể từ năm 1944, là người thế chân cho thầy Nhứt (Đặng Văn Quới) nghỉ hưu. Từ đó thầy gắn bó với trường Mỹ nghệ, với Biên Hòa tròn nửa thế kỷ. Cuộc đời nhà giáo của thầy phẳng lặng êm đềm. Năm 1963, thầy được cử làm hiệu trưởng trường Mỹ nghệ Biên Hòa, nhưng với tên mới là trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Năm 1973, trường Kỹ thuật Biên Hòa có sự xáo trộn, thầy xin thôi chức hiệu trưởng và thầy thuyên chuyển về trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm giảng viên môn điêu khắc. Sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại trường cũ, nhưng có tên mới là ĐH Mỹ   thuật Tp.HCM, cho đến khi nghỉ hưu.

Ông Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng nhận xét: “Ông là người thầy đã đóng góp nhiều công sức để đào tạo cho đội ngũ điêu khắc ở miền Nam trước và sau giải phóng”.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình thầy Lê Văn Mậu đã sáng tác hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ. Hiện nay được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Chỉ xin kể một số tác   phẩm tiêu biểu của thầy: Đức mẹ Maria (1951, Nhà thờ Biên Hòa), Napoléon xem binh thư (1954, Pháp), Phật Thích Ca(1954, Chùa Xá Lợi), Bóng xế tà (1964, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), Đại thần Phan Thanh Giản (1964, Vĩnh Long), Tượng trưng tài nguyên và kinh tế Biên Hòa (1967), Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1968, đặt trước chợ Rạch Giá), Đài phun nước Cá hóa long (1968 - 1970, Công trường Sông Phố, Biên Hòa), Hùng Vương dựng nước (1989, Khách sạn Continental, Thành phố Hồ Chí Minh)… Thầy ba lần làm tượng VIP đáng nhớ: tượng Cựu hoàng Bảo Đại (1948), tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm (1959) và tượng Bà Sáu Thiệu (1970-1973).  Và thầy đã sáng tác rất nhiều mẫu mã phục vụ cho những sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa.


Bài và ảnh sưu tầm của : Vỏ văn Thu / Bà Chiễu    (Cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang tri


 

Nhật Bản mở hội nghị về việc từ bỏ điện hạt nhân



THỨ NĂM, NGÀY 23 THÁNG TÁM NĂM 2012


Nhật Bản mở hội nghị về việc từ bỏ điện hạt nhân


Phóng viên TTXVN tại Tokyo dẫn mạng tin Mainichi Shimbun ngày 21/8, Hội nghị năng lượng và môi trường của Chính phủ Nhật Bản đã bước vào phiên thảo luận xung quanh mục tiêu “từ bỏ hoàn toàn điện hạt nhân vào nửa đầu thập niên 2030”.


Đoàn thanh sát viên IAEA kiểm tra tại nhà máy điện hạt nhân Onagawa ngày 31/7. 

(Nguồn: Kyodo /TTXVN)


Dự kiến, hội nghị sẽ sớm đề ra chiến lược năng lượng và môi trường mới vào tháng Chín năm nay.

Trước thềm bầu cử Hạ viện nhiệm kỳ tới và bầu cử nội bộ đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) vào tháng Chín tới, Chính phủ Nhật Bản cũng đang cân nhắc mục tiêu cải tiến công nghệ hướng tới sử dụng năng lượng tái sinh như sản xuất phong điện trên biển.

Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu cũng nảy sinh nhiều vấn đề trong khi giới kinh doanh phản đối kịch liệt chủ trương này.

Sau khi xảy ra sự cố Nhà máy điện Fukushima số 1 của Công ty điện lực Tokyo (TEPCO), Tokyo đưa ra ba lựa chọn giảm tỷ lệ phụ thuộc điện hạt nhân trong cơ cấu năng lượng từ nay đến năm 2030, bao gồm 0%, 15% và 20-25%.

Tuy nhiên, trong một chương trình truyền hình trực tuyến hôm 9/8, Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Yukio Edano cho rằng “không có nghĩa thời hạn cho mục tiêu phải đúng là năm 2030”. Điều này cho thấy quan điểm ứng phó mềm dẻo của chính phủ trong vấn đề này.

Ban đầu chính phủ đặt mục tiêu là năm 2040 sẽ từ bỏ hoàn toàn điện hạt nhân. Nhưng mới đây, một quan chức cấp cao trong chính phủ đã điều chỉnh mục tiêu trên và cho rằng dự thảo đề án từ bỏ hoàn toàn điện hạt nhân vào nửa đầu thập niên 2030 sẽ có hiệu lực.

(Vietnam+)
––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Ngành điện hạt nhân Nhật trước bờ vực phá sản

Công nghiệp điện hạt nhân của Nhật đã lỗ kỷ lục 46 tỷ USD kể từ khi sự cố nhà máy Fukushima nổ ra hồi năm ngoái, xóa sạch công sức cùng lợi nhuận đạt được sau 7 năm.

Chính phủ Nhật đang đứng trước sức ép phải đóng cửa toàn bộ hệ thống điện hạt nhân của nước này, không chỉ từ phía người dân và dư luận, mà bây giờ còn là từ giới đầu tư bởi hoạt động thiếu hiệu quả khi các lò phản ứng hạt nhân không được tái khởi động. Giá trị thị trường toàn ngành đã mất khoảng 1,3 nghìn tỷ yên (tương đương 17 tỷ USD) trải trên diện rộng 9 mã cổ phiếu chỉ trong vòng 3 tuần qua.

Với kết quả vừa công bố, công ty Điện lực Chugoku hiện là nhà máy điện hạt nhân duy nhất thông báo trả cổ tức trong năm tài khóa kết thúc vào tháng 3, công ty Tokyo Electric do mất một số lò phản ứng và tác động từ chương trình quốc hữu hóa vào ngày 31/7 vừa qua dự kiến sẽ không trả cổ tức, các công ty khác vẫn chưa có quyết định cuối cùng.

Tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân năm ngoái của 9 công ty khai thác điện hạt nhân của Nhật là 2,62%, so với mức trung bình 1,5% của chỉ số Nikkei 225. Tuy nhiên, tỷ lệ này quả thực là điều không tưởng trong năm nay, khi mà báo cáo số lỗ tổng cộng của 9 công ty trong năm tài khóa vừa kết thúc lên tới 3,6 nghìn tỷ yên, tương đương tổng lợi nhuận ròng của 7 năm hoạt động, từ tháng 4/2004 đến hết tháng 3/2010.

Chính phủ Nhật Bản đang xem xét ba khả năng dành cho chính sách phát triển điện hạt nhân của nước này, cụ thể hóa bằng tỷ trọng điện hạt nhân trong hệ thống năng lượng toàn quốc là 0%, 15% hoặc 20-25%. Trước đó, tại phiên điều trần do chính phủ tổ chức để lấy ý kiến về chính sách năng lượng dài hạn của Nhật Bản, khoảng 70% số phiếu phủ quyết kế hoạch phát triển điện hạt nhân.
(TTVN)

Nguồn: http://taichinh.vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/2012/08/nganh-dien-hat-nhan-nhat-truoc-bo-vuc-pha-san-18967/
Theo: http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/08/nhat-ban-mo-hoi-nghi-ve-viec-tu-bo-ien.html

 

 

 


__._,_.___

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link