Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, August 26, 2012

BIỂN HỒ LÀNG CHONG (MIÊN)


 

BIỂN HỒ LÀNG CHONG (MIÊN)


DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Chiều hôm đó vợ chồng đứa em trai tôi nướng thịt ở sau vườn nhà. Chúng nó có mời một số bạn bè. Trong những người được mời, có một vài cặp cũng quen biết với chúng tôi. Hôm nay trời nắng đẹp nắng đẹp, ngày tạm rảnh rỗi của những người đang trong thời kỳ làm việc toàn phần (tối thiểu làm 5 ngày mỗi tuần, từ 35 đến 40 giờ).

Những cặp vợ chồng đến vui chơi nhà cô em, có anh chị Tuấn là bạn cùng hoạn nạn trong chuyến bôn đào vượt biển, có nghĩa là chung chuyển hải hành với chúng tôi. Khi đến được trại tỵ nạn, cúng tôi ở cùng trong dãy nhà tiền chế, nối dài có mười mấy hộ gia đình, và trên 50 người kể cả già, trẻ, lớn, bé. Từ khi vào trại tỵ nạn cho đến hai gia đình chúng tôi kẻ trước, người sau rời đảo để đến đệ tam quốc gia.

Trong suốt khoảng thời gian vượt biên ở dưới đáy tàu thừa chết thiếu sống, vì thiếu không khí để thở, thiếu ăn, thiếu uống và nhứt là vệ sinh cá nhân. Cũng như khi đến trại tỵ nạn, chúng tôi luôn giúp đỡ lẫn nhau, khi hai gia đình gặp phải những việc phiền toái về giấy tờ, và ốm đau triền miên... Những tưởng sau ngày rời trại tỵ nạn mỗi người trôi dạt một nơi sẽ không còn gặp nhau nữa. Nhưng không ngờ, trái đất tròn, rộng lớn, mà vẫn còn hẹp lắm. Nơi xứ lạ, quê người anh chị Tuấn và chúng tôi thật có duyên, gặp lại mà còn ở cùng làng, chỉ cách nhau chừng hai mươi phút lái xe thôi.

Đời sống của đám dân ngu khu đen chạy loạn, với đôi bàn tay trắng làm thân chùm gởi ở xứ người, gần như đều na ná giống nhau. Lúc chân ướt chân ráo được định cư ở vùng Chicago lạnh lẽo, khỉ ho cò gáy chó ăn nước đá, gà ăn tuyết nầy, thì chúng tôi đi cày chăm dữ lắm! Cày mệt nghỉ, cày bỏ mạng sa trường, cày không kể ngày, đêm, cuối tuần, hay lễ lộc... miễn ở sở cần là “OK” đi làm ngay.

Vì vất vả trăm chiều chỉ mấy năm ở chế độ Cộng sản, nên mọi người đều ngất ngư nên phải bồng bế trốn đi. Nay đã được đến bờ bến tự do rồi thì ai nấy đều cần mẫn, chịu cực, chịu khó, kiên nhẫn, bươn chải làm việc có tiền… Cốt là để tạo dựng cho đời sống gia đình được vững chắc, và tương lai của con cái, học hành… Dù thời gian rất hiếm hoi, nhưng dần dần đời sống chúng tôi dễ chịu, thoải mái để dung hòa và hội nhập hòa đồng vào nếp sống của người dân bản xứ.

Thời gian qua nhanh như cơn gió, “vạn sự khởi đầu nan” cũng đã qua. Khoảnh khắc ngoảnh lại đa số những người vượt biển bỏ quê hương, trốn chạy Cộng sản ít nhứt cũng mười mấy, hai mươi năm sống ở xứ người rồi. Bây giờ gia đình ai nấy đã đâu vào đó, ổn định. Hầu hết mọi người đều có nhà cửa để trú ẩn an toàn, các con đến trường học hành. Có người đã hai màu tóc, có sui gia, hoặc đã là ngoại, nội của người ta rồi. Nếu mọi người sống an phận, không đua đòi căn nhà lớn, chiếc xe đẹp và nhứt là buồn tình, hận đời, hận người, lúc tâm tư phiền nảo, bối rối, lỡ dại ghé tạt vào sòng bài (Casino) để giải trí, để tiêu sầu… Thì thiệt mệt lắm ai ơi!

Khi nếp sống của gia đình ổn định thì mọi người mới nghĩ đến những chuyện khác như là đi dự hội hè, đám tiệc, xã giao, bè bạn… Bởi có đồng vô đồng ra thư thả, thì sanh lễ nghĩa là việc thường tình mà! Cho nên mới có những ngày cuối tuần đi ăn giỗ, thôi nôi, đầy tháng, con ra trường, cưới, hỏi, hoặc những buổi họp bạn, ăn uống ngoài trời... Những xã giao lành mạnh đó đáng quý lắm chớ! Cho nên vợ chồng tôi vui vẻ tiếp nhận không chút từ chối, hoặc mệt mỏi khi được bạn bè mời mọc, rủ rê.


Năm nay thời tiết dễ chịu hơn mọi năm, mới chớm xuân mà ngoài trời ấm áp có hôm lên đến 75, 80 độ F. Chớ không như những năm trước, đã vào giữa mùa xuân rồi mà tuyết vẫn còn phơi phới lả lướt vũ khúc nghệ thường bay bay trắng xóa bầu trời!

Hể có dịp là chúng tôi bạn bè gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, hỏi chào vui vẻ. Thường ngoài ăn uống hàn huyên tâm sự, kể lễ cho nhau nghe những chuyện vui buồn của gia đình, chuyện trời trăng mây gió, thiên hạ sự… Từ thuở ngày xưa, và những chuyện trên bước đường lưu lạc nơi xứ ngời. Đến khi trời sụp tối, mấy con muỗi bay kêu vo ve, thì bắt đầu hát hò, Karaoke, có đám còn khiêu vũ nữa.

Khi nghe chúng tôi sắp đi du lịch ở Miên, thì anh chị Tuấn và con Út (em gái tôi) với ánh mắt ngờ ngợ nhìn tôi mỉm cười chớ không có ý kiến hay bàn ra tán vào. Nhưng cô em Út nầy của tôi, nổi tiếng là đứa nhanh nhẩu, lét chét, lanh chanh cái miêng nhứt xứ. Có lẽ nó kềm lòng không đặng vì bị ức hiếp bởi những thắc mắc ấm ách trong bụng chịu không nỗi, nên lên tiếng bảo với tôi rằng:

- Hết chỗ để đi du lịch rồi hả, mà anh chị đi Miên? Bộ không sợ bị bọn Khờ Me đỏ “cáp-duồng” (chặt đầu) hay sao mà qua bên đó tìm chúng?

Đã có người khơi chuyện trước. Chờ có thế, chị Tuấn lên tiếng liền:

- Bộ hai ông bà tính đi du lịch Campuchia à? Sao không du lịch Việt Nam một chuyến xem thế nào? Từ ngày vượt biên đến giờ gần 30 năm rồi, chúng tôi thật sự cũng chưa trở lại Việt Nam lần nào, nhưng nghe nhiều người đi về khen bên đó bây giờ giàu, và đẹp lắm. Mọi thứ đều đổi mới, từ nhà cửa, đường sá đến thức ăn, vật dụng rẻ như bèo. Còn trái cây, tôm, cá cho đến áo quần, giầy dép cũng rẻ tàn, rẻ mạt, rẻ thúi... Anh chị mà đem tiền Mỹ về bên Việt Nam xài đã đời…

Tôi chưa kịp trả lời chị Tuấn, thì con Út tài lanh già đầu mà vẫn còn cái tật cười ha hả trước khi nói. Cho nên ngày xưa lúc sanh tiền, má tôi thường hay mắng nó: “Con gái mà không biết giữ gìn ý tứ gì hết! Chưa nói mà cười chưa đi mà chạy là người vô duyên… Con có biết không?” Bây giờ mấy chục năm qua rồi mà con nầy vẫn vậy, nó không thay đổi chút nào hết! Với ánh mắt ngời sáng đầy tinh nghịch, cái miệng thì tía lia như sợ ai giành nói trước:

- “Bòn ơi tâu na? Giơ! Đàn ta tâu lên…” Thôi đi bà ơi, hãy bỏ ý định qua Miên mà về Việt Nam du lịch cho nó sướng! Về đó sẽ để dành được nhiều tiền và cũng là quê cha đất tổ của mình, thăm họ hàng, mồ mả ông bà cùng ba má luôn thể…

Con yêu lồi nầy không biết nghe lóm, bắt chước ai, hay ai dạy… mà nó giả giọng trài trại rồi vừa cười sặc sụa vừa nói câu tiếng Miên! Tôi còn lớ ngớ không hiểu nó nói cái giống gì, và muốn dở trò khỉ chi nữa đây? Thì anh Tuấn đang đứng kế bên vợ, cười hề hề lên tiếng:

- Câu cổ nói đó có nghĩa là: “Anh ơi đi đâu ? Ờ tôi đi trên kia…” Tôi cũng nghe người ta giải nghĩa lại như vậy, chớ thật ra không biết có đúng không?

Thấy điệu bộ hí hửng đắc ý của em gái mình, tôi vừa mắc ghét vừa mắc cười, liếc xéo nó rồi nạt vải:

- Xì, mầy biết cái khỉ khô gì mà nhiều chuyện? Mầy làm như mình thần thông quãng đại đã chu du tứ hải và đã về Việt Nam cả chục lần rồi vậy? Hãy rửa cái lỗ tai mà nghe nè con cà chớn chống xâm lăng kia.

Tôi chợt nhớ, quay qua vợ chồng anh Tuấn, cười hỏi:

- Ông bà còn nhớ chị Bảy Hồng Tươi ở cùng trại tị nạn với bọn mình bên đảo. Gia đình chị ta ở sát vách anh chị đó, có nhớ không?

Anh chị bạn tôi mắt đăm chiêu như cố nhớ lại, chị vợ bảo:

- Nhớ, tôi nhớ ra rồi, có phải bà Tươi chồng chết trong tù cải tạo. Dắt 4 đứa con theo ghe anh mình vượt biên đó không? Chị vẫn còn liên lạc với bả hả? Tôi nhớ bả có mấy đứa con trai thật là thần sầu quỉ khóc, phá làng phá xóm không ai chịu nỗi! Nhưng nghĩ lại cũng tội nghiệp bả. Một người đàn bà đơn độc mà dìu dắt 4 đứa con nhỏ (1 gái, 3 trai) ở lứa tuổi 12, 13… thiệt cũng vất và trăm chiều chớ không phải chơi đâu! Mẹ con bả bây giờ ra sao, ở đâu? Chắc mấy đứa nhỏ của bả nay cũng lớn đại rồi hả chị?

Tôi nhẹ giọng:

- Bả ở đâu bên tiểu bang Connecticut. Nhờ ông bà chở che, mấy đứa con bả khi lớn lên trụ hình không còn phá phách nữa, mà chúng biết lo làm ăn để dành tiền cưới vợ, mua nhà mua cửa và lo cho mẹ nó… Nên bây giờ chị ấy khỏe lắm, cũng đã có cháu ngoại, cháu nội. Tháng trước đây, không biết ông ứng bà hành thế nào mà bả nói với tôi là mấy năm rồi có dắt 4 đứa con về Việt Nam để thăm mồ mả ông bà, cha mẹ. Tiện sẵn dịp mua sắm đồ cưới cho con gái sắp lấy chồng, vì nghe nói bên đó rẻ...

Lơ đãng nhìn bầu trời trong xanh, điểm những vầng mây trắng bảng lảng bay qua. Tôi quay lại cười nhẹ, nói tiếp:

- Tôi biết đó là cái cớ thôi, chớ thật ra bả muốn về để khoe khoang, để bái tổ vinh quy và để thỏa lòng trả thù mấy mụ chị em bạn dâu, và mấy anh chị bên gia đình chồng. Bởi lúc xưa họ tỏ ra khinh khi, nói bả là “con dâu mà không được cha mẹ chồng cưới…” Chị Tuấn có biết không? Thường thì chuyện gì của gia đình, cuối tuần bả cũng hay gọi để tâm sự với tôi lắm. Nhưng chuyến về Việt Nam năm rồi, trước đó thì bả giấu biệt. Chắc chị còn nhớ cái tánh chị Hồng Tươi hả? Bởi bả thường hay tâm sự với người quen là: “Chuyện gì để lâu trong bụng, thà để tôi lên đoạn lầu đài còn sướng hơn!” Cho nên có lẽ chịu không nỗi chuyện giấu giếm về Việt Nam, nên bả đã gọi điện thoại kể lể hết ngọn ngành với tôi, để trút bầu tâm sự đang lên khơi ấm ách không chịu nổi chăng?

Buổi họp bạn đã bắt đầu ẫm thực lai rai. Bạn bè của em tôi kẻ ngồi, người đứng dụm năm, dụm ba ăn uống nói cười, kể chuyện tiếu vui vẻ. Anh chị Tuấn đi lấy thức ăn rồi anh tạt qua ngồi nhập bọn với mấy bạn mày râu khề khà lon bia… Chỉ có chị trở lại, và cô em Út xí xọn của tôi cũng đi lấy đầy dĩa thức ăn rồi đến ngồi sát bên, để chị em ăn chung.

Tôi biết con yêu lồi nầy lập công, vì nó đang muốn nghe chuyện mẹ con bà Hồng Khô (tên nầy tôi đặt) về thăm Việt Nam vừa qua. Tôi cũng không hẹp hòi chi, mà không rộng lượng kể cho nó và chị Tuấn nghe. Và dựa vào đó để tôi có cớ sai vặt con nhỏ:

- Tháng trước, vào ngày cuối tuần chị Hồng Khô gọi điện thoại qua kể rằng: “Hè năm đó, tui dắt cả 4 đứa nhỏ về Việt Nam thăm mồ mả ông bà để quang tông diệu tổ và tiện dịp mua sắm đồ cưới luôn cho con gái tui. Nghe nói ở bển đồ đạt rẻ lắm, dù chất lượng không tốt cũng không sao, miễn rẻ và đẹp là được rồi. Chỉ mặc trong ngày lễ cưới xong thì bỏ, chớ có mặc đi đâu được mà sắm đồ mắc tiền chi cho uổng. Ở Việt Nam, vào buổi trưa nắng tốt, mẹ con tui đi chợ Bến Thành. Mới xuống xe tắc-xi còn đang đứng lớ ngớ thì 2 thằng ngồi cùng chiếc xe hon-đa chạy vụt ngang qua. Chúng giựt mạnh sợi dây chuyền đang đeo trên cổ của con gái tui. Con nhỏ mất thăng bằng té nhủi và cổ bị rướm máu. Hai mẹ con chưa biết phải làm gì thì hai thằng trời đánh đó chạy trờ trở lại. Trên tay còn quơ quơ sợi dây chuyền của con tui, bất thần nó vố vào mặt con nhỏ cái bốp như trời giáng, làm con nhỏ xiểng niểng rồi chạy mất. Tôi còn nghe tiếng cười nhạo của bọn chúng văng vẳng "Việt Kiều gì mà phèn quá! Sao đeo sợi dây chuyền nhẹ hều mỏng te vậy em Hai…” Con gái tui ra phi trường đổi chuyến bay trở về Mỹ liền ngày đó! Nó thề bán mạng, bảo là từ đây Việt Nam với nó là một ác mộng đêm dài…”

Chị Tuấn và cô em gái Út tôi mắt mở to, miệng há hốc. Chị nhăn mặt:

- Trời đất quỉ thần ơi, thiệt là hết nói nỗi!

Tôi cũng lắc đầu cười mỉa mai:

- Thật “Khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt!” Nhưng chưa xong đâu! Ngày kia, chị Hồng Khô cùng 3 thằng con trai (chưa về lại Mỹ) đi xe lửa ra miền Trung thăm họ hàng nhà nội. Chị đi xe lửa, họ bao phòng thượng hạng để được tiện nghi và an toàn cho mấy mẹ con. Khi xe đến nơi 4 người tỉnh ngủ thì mới biết, mỗi người chỉ còn bộ đồ dính da trên mình thôi! Tất cả hành lý, giấy tờ đều không cánh mà bay mất, trong khi các cửa sổ, cửa ra vào vẫn còn khóa kín? Thì ra trộm từ gầm phòng chui lên! Chị đi cớ ở trạm công an tại bến xe. Ngồì đợi làm thủ tục cả buổi mới xong… Chừng hai giờ sau, mấy người công an cho biết là ở hai trạm phía trước có người lượm được giấy tờ của mẹ con chị… Nếu muốn nhận lại giấy tờ của 4 người (mẹ, và 3 đứa con) thì phải trả cho chúng mỗi người là 100 dola! Nghĩa là chị Hồng Khô phải trả tổng cộng là 400 dola!

Chị Tuấn không dằn được, trợn mắt hằn hộc:

- Bộ có chuyện đó thật vậy sao? Thiệt là đồ cướp cạn, lưu manh, xảo trá cả phồn cả lủ giữa ban ngày mà! Thì cũng là cái bọn chúng nó toa rập làm ra hết chớ có ai trồng khoai đất nầy?

Em gái tôi cũng lớn tiếng trù rủa:

- Sao không thiệt chị Tuấn? Đồ cái thứ trời đánh thánh đâm! Đồ cái thứ chết toi, chết dịch, chết yểu, chết tiệt, chết liệt, chết không kịp ngáp, chết không kịp chối, chết bờ, chết bụi, chết không hòm chôn, chết không đất vùi thây… Để cho chó tha, cọp xé, quạ rỉa, kênh kênh mổ…

Tôi buồn giọng:

- Thôi mầy đừng rủa nữa mà sẽ mang khẩu nghiệp. Còn bọn chúng sẽ sống nhăn răng. Với chúng nó ở hiền thì chết yểu, ác thì sẽ: sống dẻo, sống dai, sống dầy, sống dài, sống hoài, sống mãi, sống nhăn… Rủa xả chúng làm chi cho mỏi cái miệng và cũng như nước đổ lá môn, như nuớc đổ đầu vịt thôi chớ có nhầm nhò chi đâu? “Bần cùng sanh đạo tặc” mà, nghèo đói quá không cướp giựt sao được? Cuối cùng sau cuộc điều đình, bà Hồng Khô phải trả 100 dola chuộc giấy tờ lại để bốn mẹ con trở về Mỹ.

Chị Tuấn và con em đang lắng tai nghe kể chuyện bà Hồng Khô đến đây chợt ngạc nhiên lơ láo. Vì bỗng dưng tôi cười thành tiếng:

- Xin lỗi, để tôi kể tiếp. Trong lúc bà Hồng Khô kể, thì bỗng tôi chợt nhớ đến cái điệu bộ phùng mang, trợn trắng, miệng xùi bọt nước miếng khi bả giận… Làm ở đầu dây điện thoại bên nầy không nhịn được, tui cười muốn bể cái bụng! Khi kể lại cho tôi nghe, bả vẫn chưa hả tức giận, ở đầu dây bên kia bả lên giọng, hùng hổ, rang rảng: “Tui nói cho chị biết là tui đã thề bán mạng, từ rày sắp tới đừng hồng ai dụ dỗ khúc ruột ngàn dậm nầy về thăm chùm khế ngọt nữa! Ai mà rủ con Hồng Tươi nầy về nước Cộng sản Việt Nam thì nó sẽ thí mạng đánh lộn với người đó, chửi lộn với người đó tắt bếp mới thôi… Bởi tui nghe lời cái con mụ Hiến ở xóm tui xúi về, mụ ta còn nói: Việt Nam bây giờ đẹp lắm, bà không về thăm một lần cho biết thì bà sẽ hối hận… Tui thiệt là ngu dại quá, sao mà đi nghe lời con mẹ tào lao đó… Về Việt Nam rồi, tôi mới thấy hối hận đó chị à…” Nghe bả kể, theo lẽ tui phải nói vài câu an ủI, để tỏ ra cảm thông mới phải… Nhưng không nói ra lời được, tui ôm bụng cười bò càn bò niểng, cười muốn mất thở luôn!

Chị Tuấn và cô em tôi nghe kể không nhịn được, cũng cười thành tiếng. Tôi bảo với họ:

- Quý vị thấy chưa? Vậy mà còn xúi dại tui đi du lịch bên Việt Nam nữa? Dẫu biết rằng không phải ai về cái xứ đó cũng bị… Nhưng tui làm ra tiền cực khổ lắm, nên khi trả tiền để đi du lịch thì phải xứng đáng với đồng tiền của tui. Nhứt là phải an toàn, vui vẻ, thoải mái mới có tâm trí để tui chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp, di tích lịch sử và mọi điều hay cái lạ trên trần thế… Chớ đến cái xứ ra đường thì sợ bị giựt bóp, sợ móc túi, ăn uống sợ nhiễm trùng, sợ nhiễm độc. Thở thì sợ không khí ô nhiễm… Ở khách sạn thì không dám ngủ vì sợ bị thủ tiêu đầu một nơi, mình một nẽo (Những chuyện đó từ internet và báo chí quốc nội hàng ngày loan ra). Có cả vạn ngàn chuyện họ chỉ dám nói một chuyện thôi. Bộ không thấy sao, mà mấy người còn xúi dại tui về du lịch ở bển? Còn có biết bao nhiêu chuyện rắc rối khác, mà những người về Việt Nam gặp phải, khi trở qua ngậm bồ hòn không dám nói ra, hay than thở lấy nửa lời, vì sợ họ hàng bên đó bị trả thù. Hoặc họ mắc cỡ thiên hạ chê là dại, ngu, khùng, lú… Chưa nói đến hôm nào bọn công an bị vợ xài xể, hay hết tiền bao gái… Buồn buồn mời Việt Kiều đến trụ sở làm việc… Rồi vui vui đẩy vào tù cải tạo thì mệt lắm! Ôi nước Cộng Sản cái gì cũng giả thì luật lệ, và tin được hay sao?


Tiếng bánh xe của máy bay chạm mặt đường nhựa cà giựt, cà giựt và âm thanh lồ cồ, lọc cọc trên phi trường cắt ngang dòng hồi tưởng của tôi.

Trên chiếc phi cơ Thái Lan đưa chúng tôi và hành khách chừng 100 người (đa số là du khách) đến vùng đất có di tích lịch sử ở Siem Riap của nước Campuchia, để thăm viếng những kỳ quan thế giới tiếng tăm lừng lẫy ở xứ Chùa Tháp nầy.

Chúng tôi cùng những người chung chuyến không hành xuống máy bay, đi bộ một khoảng chừng vài trăm thước từ nơi máy bay đậu. Chúng tôi đến phòng tiếp đón người phương xa (ngoại quốc) để làm thủ tục nhập cảnh. Và để an ninh khám xét hành lý.

Tôi nhớ không lầm từ Mỹ đến các nước khác, thì đây là lần đầu tiên và cũng là nước đầu tiên đến phi trường rồi, mới làm giấy nhập cảnh như ở xứ Miên nầy!

Những hành khách ngoại quốc như chúng tôi đều giống nhau. Đứng sắp thành hàng chờ vào trước ở từng ô cửa nhỏ, có nhân viên làm việc (đa số là đàn ông). Trên tay mỗi người phải thủ sẵn 20 dola US (tiền mặt) 2 tấm bán ảnh. Hình có khuôn khổ giống như ảnh để dán hồ sơ xin vào quốc tịch Mỹ. Nếu ai không có ảnh đem theo thì sẽ chụp lấy liền tại chỗ (hỏi có trả tiền không? Tôi không biết! Nhưng ông xã tôi thì thầm trên đời có việc gì mà làm không công đâu?)

Đứng chờ làm giấy nhập cảnh cũng không lâu lắm, mất 10 hoặc 15 phút cho mỗi người. Nhân viên làm giấy nhập cảnh mặc đồng phục (như quân phục?) màu cỏ úa, đội nón lưởi trai, có viền vàng. Trên ve áo có phù hiệu, huy hiệu và chức sắc của mỗi người.

Người bản xứ đa số có màu da sậm sòi, mắt to, trồng trắng nhiều hơn trồng đen. Mèn ơi, làm việc ở đây sao mà người nào mặt mày cũng hầm hầm đầy sát khí, và lạnh tanh như tảng nước đá phủ mạt cưa! Họ không có một nụ cười dù là nhếch mép, như của chủ nhà lịch sự ra mở cửa khi khách đến thăm! Tôi cảm thấy ngột ngạt, và tưởng chừng như sẽ bị “thộp đầu” tống giam ngay không cần nguyên nhân và không chút nương tay, nếu ai vô tình lỡ làm gì đụng chạm đến họ.

Ở Mỹ người phụ nữ luôn được ưu tiên. Tôi quen tật nầy rồi, nhưng khi thấy mấy ông làm giấy nhập cảnh ở đây sao mặt mày có “ngầu” quá cũng ớn! Nên vào hàng đứng lùi lại sau lưng phu quân tôi, chớ thường lúc nào tôi cũng giành đứng trước chồng!

Giờ nhớ lại, tôi khoái chí nhứt là đứng sau ông, mà giấy nhập cảnh của mình có trước mới là lạ! Tôi cầm tờ giấy nhập cãnh mân mê rồi đi qua góc bên kia chờ đợi phu quân tôi xong giấy tờ, để cùng ra cửa. Môt người sau ông đã xong đi qua, 2 người đã xong đi qua, 3 người, 4 người…

Tôi sốt ruột không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa đây? Phu quân tôi không phải người Campuchia, nhưng nước da bánh ích ngọt đường hũ (vàng đen) của ổng cũng không thua gì dân bản xứ! Tội nghiệp ông đứng đợi nãy giờ, màu da mặn mòi của chàng hình như từ đen đã tái trở thành màu xám xanh của màu chàm đó.

Bỗng có một nhân viên trong cầu vệ sinh bươn bả đi ra. Ông ta lật đật xem lại giấy tờ trên bàn rồi đưa cho ông xã tui giấy nhập cảnh!

Chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm, rồi cùng ra nhà chờ đợi. Vừa đi ổng vừa nhăn mặt lầm bầm:

- Đồ cái tên ôn dịch, sao không chết luôn trong cầu tiêu cho rồi đi! Có chột bụng ỉa chảy thì đưa cho người khác làm chớ… Làm ăn gì mà kỳ cục quá vậy…

Tôi cười hì hì, chọc quê:

- Tui biết lúc nãy ông hồi hợp lắm phải không xếp Ba? Dù gì cũng xong rồi, đây là nước Miên chớ có phải là vùng quê hương Đồng Khởi (Bến Tre) xứ dừa ở cố quốc ông đâu, mà chúng đẩy ông đi tù cải tạo lần nữa!

Phu quân tôi quay lại lườm vợ, rồi dã lã quay lại bắt tay tour guide đang cầm tấm bảng, có viết tên của chúng tôi ân cần niềm nở chào hỏi.

Người tài xế đứng bên chiếc xe Cadillac màu đen mở cửa cúi đầu thấp chào và chờ chúng tôi bước lên xe. Sau nầy để ý tôi mới biết, hể lúc nào xe dừng lại thì tour guide một bên, tài xế một bên mở cửa chờ chúng tôi lên xe, hay xuống xe một cách lễ phép và trịnh trọng. Không biết đó có phải là cung cách lịch sự của tour guide ở xứ nầy không (?). Nhưng sự trịnh trọng và quá cung kính của họ đã làm cho tôi một người bình dân Nam Kỳ Lục Tỉnh thiệt tình cảm thấy không quen chút nào!

Thành phố Siem Riep khang trang, sạch sẽ, nhà cửa hai bên đường xây cất theo kiểu của Pháp nhiều hơn. Xe cộ rần rộ, nhiều xe hon-đa, xe đạp hơn xe hơi nhà. Ở đây có trạm bán xăng dầu, và những người bán lẻ từng lít (4 lít là 1 galon) rải rác dọc hai bên đường.

Chúng tôi đến Siem Riep vào 11 giờ 30 trưa, nên trên đường rước chúng tôi từ phi trường vào trung tâm thành phố, tour guide cho ghé qua nhà hàng để ăn trưa và sau đó mới đi thăm thắng cảnh.

Đã ăn ngày 3 bữa (sáng, trưa, chiều) cho 10 ngày ở nước Tàu vĩ đại. Hôm nay bữa ăn đầu tiên ở Miên! Nhà hàng đẹp, có không khí thoải mái, gió luồn lách qua cửa sổ mát mẻ. Tiếng lá reo trên các cây ngoài hàng hiên, tiếng chim kêu hòa với tiếng nhạc Tây phương êm dịu của nhà hàng làm tâm hồn chúng tôi dễ chịu sau khi rửa mặt, rửa tay xong và ra bàn uống nước chai mát lạnh để chờ các món ăn.

Thú thật với quý vị, là kẻ sanh ra và lớn lên ở miền Nam nước Việt mà tui lại dị ứng với các thứ mắm nên không ăn được! Đó có phải là một mất mát lớn cho tui không? Tour guide không hỏi trước, gọi thế nào mà nhà hàng đem ra 4 món ăn đều là mắm! Chắc ở Miên nổi tiếng ngon là mắm? Hay hắn tưởng chúng tôi ở Mỹ ưa và thèm mắm lắm sao? Tôi chới với muốn chóng mặt, dõi mắt tìm tour guide và tài xế nhưng tìm hoài không thấy. Tôi không biết tiếng Miên… người hầu bàn không biết tiếng Anh! Không biết làm sao bây giờ, tôi đành phải ăn cơm với muối tiêu (hai chai muối và tiêu có trên bàn) thêm nửa chai nước lọc cho dễ nuốt!

Thấy du khách là những con cừu mập mạp! Chúng tôi mỗi người chỉ uống 1 chai nước lọc, và đòi hỏi mỗi người thêm một chai để đem theo. Nhà hàng tính chúng tôi phải trả 4 chai nước là 8 dola US (Miên dùng tiền Cambodian Riel và US dola). Khi lên xe, tour guide vui vẻ hỏi:

- Thưa, ông bà ăn ngon miệng bữa cơm trưa nầy?

Nếu anh ta không hỏi tôi cũng sẽ đề cập đến việc ăn uống trong mấy ngày sắp tới ở đây. Tôi mau miệng trả lời ngay:

- Mùi mắm nặng quá, tôi không ăn được! Từ rày trước khi gọi món ăn, xin anh cho chúng tôi biết trước là tốt nhứt.

Nhờ vậy mà những ngày du lịch ở Campuchia, ngoài những buổi ăn buffet, khi vào nhà hàng thì chúng tôi tự chọn lấy món ăn. Nhưng đó là những món trong thực đơn dành riêng cho chúng tôi, còn muốn gọi những món khác thì phải tự trả tiền.

Rời nhà hàng 2 giờ trưa, chúng tôi đi xe thẳng khoảng 20 cây số đường có khúc trải đá, có đoạn đường đất lồi lõm mà lục lộ đang tu bổ và làm đường mới…

Nước Miên có đất rộng, nhiều sông ngòi kinh rạch, vườn tược, ruộng nương… Nhà cửa tuy nhỏ nhưng khang trang, sạch sẽ, mái lá, mái tranh và nhiều mái ngói được xây cất trên mảnh vườn có trồng nhiều cây ăn trái, như đường từ Xa Cảng Miền Tây xuôi về miệt Hậu Giang của Việt Nam ngày xưa. Mặc dù hoa màu không được trù phú như miền Nam nước Việt.

Chúng tôi đi thăm “Chong Kheas Village” gọi tắt chỗ sanh sống của dân ở vùng nước nầy là làng Chong. Làng Chong nằm trên mặt nước ngọt mà ngoại kiều Việt Nam sanh sống ở đất Miên lâu đời đã có them cái tên nữa mà người ta thường gọi là Biển Hồ.

Từ đất liền chúng tôi dùng ghe tam bản có gắn máy đuôi tôm để ra thăm vùng dân cư xây đời trên sóng nước. Nhánh sông đào đưa ra Làng Chong dài chừng 3 cây số. Con sông đào nầy hẹp bề ngang, lòng sông cạn nên khi hai chiếc ghe có máy đuôi tôm chạy qua phải cặp sát vào bờ. Cánh quạt của máy đuôi tôm chạm bùng non, sình non theo nước quặn lên cuồn cuộn và đục ngàu màu đất phù sa. Nhưng khi ghe máy ra đến vùng nước giáp mí với làng Chong thì nước trong leo lẻo.

Mắt thường chúng ta có thể nhìn thấy hai bờ là dạng cây của rừng (lake forest) xa xa, mập mờ không rõ rệt. Dòng sông chạy dài mút mắt, và phạm vi của làng Chong là một khúc sông cạn. Từ mặt nước xuống lòng sông chỗ sâu nhứt là 7 thước, và nơi cạn nhứt là 1 thước. Bề rộng bờ nầy qua bờ kia khoảng 40 cây số (40.000 thước), dài khoảng 150 cây số (150.000 thước). Đây cũng coi như là vùng giáp nước(?) vì nó chiếm một phần của sông Mê-Kông và một phần của Biển Hồ.

Theo người hướng đạo cho biết. Cứ mỗi năm vào mùa mưa bắt đầu vào tháng sáu, thì từ thượng nguồn nước mưa tràn xuống. Và nước càng ngày càng dâng cao, dâng cao qua khỏi ngọn cây trên bờ.

Nước sông lai láng, mênh mông không thấy bến bờ như cái biển. Mực nước lên cao nhưng thấp hơn ngọn núi và cao hơn ngọn cây chung quanh. Đến lưng chừng thì mực nước sẽ dừng lại ở đó, không dâng cao nữa. Mực nước ở độ cao nầy kéo dài chừng 40 đến 45 ngày thì rút. Nước rút mất khoảng thời gian từ 3 đến 4 tháng, mới trở lại mực nước bình thường.

Dân cư sanh sống trên vùng Biển Hồ có khoảng 2 ngàn (2,000) gia đình, khoảng 7 ngàn nhân số (không chính xác lắm), nhưng mỗi ngày dân số một tăng. Mỗi gia đình ở trên một chiếc ghe bởi ghe là nhà. Ghe lớn, ghe nhỏ, rộng, hẹp, đẹp, đầy đủ tiện nghi hay không là do mỗi gia đình có nếp sống sung túc hay nghèo.

Đa số dân sống ở làng Chong sinh nhai bằng nghề bắt cá (chài, lưới), hoặc nuôi các thủy sản là: nuôi tôm, nuôi cá nước ngọt như cá trê, cá lóc, cá rô… Họ còn nuôi cá sấu, ba ba, cua đinh, càng đước, rùa, lươn…

Ở đất liền ngày xưa chúng ta nuôi cá trong mương, trong hầm. Ở Biển Hồ họ đóng những cái bè lớn, bao lưới chung quanh. Be có chiều sâu lớn hay nhỏ là tùy theo khả năng của chủ muốn chứa bao nhiêu thủy sản cá, tôm muốn nuôi. Họ nuôi thủy sản cho ăn thức ăn nhân tạo. Đó là tấm, cám, đất sét nhão, cùng các chất khác… họ biến chế vò từng viên thảy xuống nước cho bầy cá nuôi ăn. Nghe hơi mồi, cá nhảy soi sói tranh giành ăn, con nào con nấy nặng cả ký lô mập ú vàng nghín…

Những gia đình giàu ở làng Chong đánh cá sông, chài, lưới lớn. Có hộ làm chủ cả chục miệng lưới. Họ bắt cá, rồi mối lái bán trong nước và bán cho thương buôn chở về miệt dưới (các tỉnh giáp ranh như Châu Đốc, Hồng Ngự… của Việt Nam). Phần dân còn lại sống nhờ vào du khách. Họ có đò đưa du khách ra thăm làng Chong. Họ bơi xuồng theo ghe bán thức ăn, trái cây, nước uống… cho du khách.

Ở đâu quen đó, “Ngộ biến phải tùng quyền”. Vì sự sinh tồn, những trẻ con nơi đây chừng 7, 8 tuổi đã biết bơi xuồng bán hàng theo sông cho du khách. Chúng lanh lẹ, bặt thiệp rao mời khách mua hàng lời lẽ ngọt ngào, trèo trẹo, dẽo đeo… Và chúng chèo xuồng giỏi, lặn hụp, bơi lội lanh lẹ dưới nước như con rái (một trong những con vật có hình dáng như con chuột lớn sống dưới nước)

Những chiếc ghe làm nhà ở lớn, ghe nhỏ sơn màu xanh, màu vàng, màu xám… đậu cận kề san sát bên nhau. Màu nước có chỗ đục màu phù sa (ở nơi nào cạn và nhiều xuồng ghe tới lui). Nước trong xanh cho những khúc sông sâu và nhà (ghe) chỉ lác đác xa xa. Họ cất nhà trên ghe, mái ghe là mái nhà. Tất cả các mái thường được lợp bằng tôn, bằng lá… Các nhà lớn có nền (lườn ghe) nặng, vững chắc, khi đi trên ghe chúng ta không thấy lao chao, lắc lư… nên đã quên là mình đi trên ghe đang neo trên sông nước (Xin đừng nghĩ là nó lớn như những chiếc du thuyền chở du khách từ nước nầy sang nước nọ)

Trên 2,000 chiếc ghe, có dân số trên dưới 7,000 người. Họ sống nổi trôi theo mực thủy triều bằng những ghe chen chúc đậu san sát bên nhau. Chúng tôi ghé qua thăm trường Tiểu học (Elemantery School) của làng. Đứng trên ghe (trường học) nhìn qua hướng trái, tôi thấy cây Thánh giá vươn cao sừng sửng dưới trời. Chúng tôi biết rằng đó là nhà thờ của đạo Thiên Chúa… Đối diện với nhà thờ là thánh đường của đạo Tin Lành… Thờ một con mắt là đạo Cao Đài, và bên kia cây cờ màu và đó là trụ sở của đạo Hòa Hảo …

Nắng chiều mênh mông trải những tia vàng, xanh, tím, đỏ… phản chiếu lấp lánh trên mặt nước sông lăn tăn gợn sóng một màu xanh biêng biếc. Nền trời trong như ngọc, in từng cụm mây trắng phau phau, lững lờ bay bay. Tôi bồi hồi xúc động nghe tiếng chuông mõ, câu kinh ngân nga rền vọng trên sông nước theo làn gió thổi vi vu… Tôi dõi mắt kiếm tìm ngôi chùa Phật khiêm nhường mái lá, vách tre trên chiếc ghe nhỏ nằm lẻ loi xa những chiếc ghe lớn đồ sộ đầy đủ tiện nghi bên kia.

Rồi ghe chở chúng tôi chạy loanh quanh làng Chong. Ghé trụ sở làng có bản đồ phân phối từng khu một trên sông cho du khách biết. Khu chợ có tiệm hàng xén, có quán nhạc, có hát Karaoke, có truyền hình, phim bộ, có sân đánh bóng rổ… Quán phở, quán hủ tíu, cà-phê, tiệm hớt tóc, tiệm làm móng tay (nail), tiệm uốn tóc, may áo quần, tiệm thợ bạc, tiệm nhổ răng.

Làng Chong nhóm chợ trên sông, thôn dân sống trên sông… Nhưng họ mua bán mọi thứ một ít đầy đủ gần giống như một làng nhỏ trên đất liền.

Có 60% dân Miên sanh sống ở làng Chong, trong đó có người Tàu lai Miên, Chàm lai Miên… Còn lại ở đây là 40% người Việt Nam(?).

Chúng tôi được biết, đa số những người Việt sống rải rác khắp nơi trên lãnh thổ Miên là do Việt Cộng gày người. Giống nhừ Tàu gày người trên đất Việt để đồng hóa người Việt thành người Tàu (?)

Những người Việt đang sống ở làng Chong đại đa số là những người có nghề chài lưới, đánh cá sông. Và những người làm thợ mộc, thợ rèn, hoặc buôn bán… Đây thường là những bộ đội mấy năm trước đi đánh Miên có vợ con … Vì thương gia đình mà ở lại đất khách không trở về cố quốc. Một số người Việt trốn qua đây lập nghiệp thay vì bị đi kinh tế mới…

Sư di chuyển của dân trên làng Chong thường thì bằng xuồng nhỏ, bằng xuồng thúng (giống xuồng ở miền Bắc VN năm 1954), bằng những cái thau mủ lớn, thau nhôm lớn (cho trẻ con bơi đi bán hàng)

Trên dưới 7,000 dân làng Chong tay làm hàm nhai, thiếu thốn tiện nghi đủ mọi thứ, mọi bề… Nhưng cuộc sống của họ thảnh thơi, không tranh giành quyền lợi. Tâm tình họ vui vẻ theo con nước lớn nước ròng, nổi trôi trên sông mà mỗi năm đến mùa nước lên cả mấy ngàn gia đình phải tự dời đi hết lên vùng núi cao để lánh nạn mưa gió bão bùng. Và chờ khi nước rút, đất trời quang đãng, họ cùng đùm túm trở về bến xưa tiếp nối kiếp đời với Biển Hồ, vùng trời, mây, nước tự do của họ.

Trong số dân cư sống ở làng Chong, chúng tôi biết có gần nửa dân Việt Nam sống ở vùng thủy lưu luân chuyển. Cũng có những Việt kiều sống rải khắp nơi trên xứ Chùa Tháp với kiếp tha hương cầu thực! Vì đây cũng là tụ điểm trong chương trình của chánh quyền Việt Cộng rập khuôn theo giáo điều của đàn anh Tàu. Họ trồng người trên xứ bạn để đồng hóa, để bành trướng lãnh thổ, mà Tàu đã áp dụng trên nước Việt Nam sau khi toàn lãnh thổ bị nhuộm đỏ.

Hai bên đường đi trên đất liền đến bờ sông để dùng ghe ra làng Chong có nhiều xe đang ủi đất, cào đất, đổ đất đá… động cơ xe cộ, máy móc rầm rầm, bụi bay mịt mù và thợ thầy lăng xăng làm việc. Đó là những hãng thầu của Nam Hàn đang xây cất nhà cửa, mở mang đường sá cho vùng đất Campuchia nầy. Chánh phủ Miên trù tính xây dựng làng Chong trở thành nơi du lịch nổi tiếng của vùng Đông Nam Á. Mong được như vậy, để dân làng Chong sẽ có đời sống khá hơn! Trong tương lai không biết dân làng Chong đến khi nào mới có đời sống khá?

Nhưng theo cá nhân tôi nhận thấy, những người dân làng Chong hiện tại đang sống rất thiếu thốn, nghèo nàn, và vô vọng ở tương lai tươi! Trong ánh mắt của họ, trong lớp trẻ ở tuổi đôi mưoi, tôi tìm thấy sự thỏa mãn, an nhiên tự tại không chút ưu phiền… Có phải chăng dù đời sống vật chất không tươm tất, không tiện nghi… nhưng họ đã sinh ra và lớn ở hoàn cảnh hiện tại quanh quẩn trong làng Chong? Đó là đời sống của mọi người sanh ra lúc còn 6, 7 tuổi đến trường học cho biết đọc biết viết. Đến 12, 13 tuổi theo cha mẹ ông bà đi bắt cá bắt tôm. Và 16, 17 tuổi thì cưới vợ, gả chồng ở riêng làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít. Sang 18, 19 tuổi đã làm cha, làm mẹ… Thì họ có biết gì thế giới bên ngoài?

Đa số những người dân bản xứ từ sanh ra cho đến chết, có người chưa lần đặt chân đến thủ đô của họ, thì làm sao mà so sánh, mà suy tư về đời sống đang có của mình? Họ hài lòng với nếp sống hiện tại, thoải mái, an vui giữa trời nước bao la… Họ tuy nghèo khó, nhưng không bị quấy nhiểu, âu lo, giựt giành, chèn ép, hà hiếp, bóc lột, là quá tốt đẹp và đủ lắm rồi chăng?

Tàu chở chúng tôi tách rời dần dần xa bến. Làng Chong nằm lung linh bồng bềnh trên sóng nước, Biển Hồ mênh mông bát ngát xanh biếc một màu. Hướng trời tây, vầng thái dương như quả trứng gà màu vàng cam chói lọi treo lưng chừng trên nền trời trong như ngọc. Nắng hoàng hôn dần dà chỉ còn le lói, dìu dịu… Từng đoàn chim bắt cá mỏ sắc bén, màu lông trắng, đen, xanh két, vàng nâu… xoãi đôi cánh bay lượn thỏa thích trên không gian rạng rỡ trong lành. Chúng bay từng bầy dập dìu, rồi cất tiếng kêu oang oác giữa bầu trời cao rộng. Mờ xa rồi rõ dạng từng đoàn ghe lưới, sau ngày làm việc lác đác trở về bến. Tiếng hò khoan “vô ta, vô ta…” rền vọng, vui tươi, lanh lảnh, dập dồn xa đưa theo gió và cơn thủy triều…

Nếu tàu quay đầu chạy ngược lại chừng khoảng 3 giờ, thì sẽ đưa chúng tôi trở về Việt Nam! “Quê hương yêu dấu ơi, bao giờ màu cờ vàng ba sọc đỏ phấp phới lồng lộng trời xanh, thì chúng tôi sẽ trở về thăm lại cố quốc để thỏa lòng thương nhớ!”


Mùa xuân, năm 2008

Tệ Xá Diễm Diễm Khánh An


DƯ THỊ DIỄM BUỒN


Trong tuyển tập văn


“Hương Cau Quê Mẹ”

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Yêu Cầu Minh Bạch Trong Giao Dịch Tài Chính Quốc Tế


 

 Yêu Cầu Minh Bạch Trong Giao Dịch Tài Chính Quốc Tế

(08/22/2012)


Thuần về kinh tế, đầu cơ chỉ là đầu tư và không hàm ý xấu xa về đạo đức mà thật ra cũng khác với nạn tích trữ...

Trong một chương trình trước, khi trình bày bối cảnh của vụ tai tiếng về lãi suất Libor, chúng ta có thấy ra một yêu cầu khách quan của các thị trường tài chính. Đấy là sự minh bạch và bình đẳng của mọi người ở trong cuộc, như các ngân hàng và giới đầu tư. Vụ khủng hoảng về lãi suất Libor bùng nổ vì một số ngân hàng lại ở vào vị trí ưu đãi là đưa ra những con số thiếu xác thực về lãi suất nên có thể trục lợi bất chính. Vì vậy, họ đang bị điều tra và truy tố. Xuyên qua vụ tai tiếng ấy, người ta còn thấy ra một thực tế là các ngân hàng có thể là thiểu số chiếm ưu thế và gây thiệt hại cho đại đa số những người còn lại.

Chính là cảm nghĩ chung của mọi người về tình trạng bất công ấy mới khiến dư luận nói đến "thiểu số 1%" các đại gia cự phú đã cùng nhau chia chác quyền lợi trên đầu trên cổ của đa số còn lại. Nhưng thuần về kinh tế thì sự thể diễn tiến thế nào, nhất là với loại hình đầu tư cực kỳ phức tạp như các "biến phiếu" hay "dérivatifs" mà chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa đã đề cập trong một chương trình trước.

Kỳ này, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về chuyện đó qua cuộc phỏng vấn sau đây....

RFI: Xin kính chào anh Nghĩa. Thưa anh, như đã hẹn kỳ trước khi chúng ta phân tích vụ tai tiếng Libor, tuần này ta sẽ cùng trao đổi về loại hình đầu tư "dérivatifs" rất phức tạp mà anh gọi là "biến phiếu". Thí dụ như loại "swap de devises" hay hợp đồng hoán đổi ngoại tệ mà người ta gọi theo Anh ngữ là "currency swap" hay nhiều loại đầu tư khác. Vấn đề đặt ra ở đây là trong môi trường đầu tư cực kỳ rắc rối ấy, có thể nào mà người đầu tư bị một thiểu số là các ngân hàng bóc lột một cách bất chính hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thấy rằng đề tài này rất hấp dẫn và cần thiết ở hai khía cạnh.

- Thứ nhất là về đạo tắc, hay quy tắc đạo đức, khi mà một thiểu số lại có ưu thế về thông tin hơn đa số còn lại thì nhà nước có cách nào giải trừ hay ngăn ngừa được không? Thứ hai là về thực tế vì vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ năm 2008 chính là từ các ngân hàng phá sản do mất vốn trong các nghiệp vụ đầu tư biến phiếu như những kén nợ chằng chịt mà bên trong bị ung thối cỡ nào thì chẳng ai biết. Trước hết, ta sẽ phải đi lại từ đầu để nói về khái niệm đầu tư và đầu cơ.

- Đầu tư là khi mình nhịn tiêu thụ và dùng tài sản đó cho một việc khác với kỳ vọng có lời cao hơn sau này, nhưng cũng với rủi ro là có thể bị lỗ. Trong hoạt động đầu tư ấy, có loại khí cụ có thể đem lại mức lời rất cao nhưng cũng với rủi ro rất nặng, khi ấy, người ta gọi là đầu cơ hay "spéculation". Thuần về kinh tế, đầu cơ chỉ là đầu tư và không hàm ý xấu xa về đạo đức mà thật ra cũng khác với nạn tích trữ mà người Việt chúng ta thường nghĩ.

- Chuyện thứ hai là trong nghiệp vụ đầu cơ, người ta có hai phe hai vế là người mua và kẻ bán, và mối lời của người này là khoản lỗ của người kia theo quy luật tôi xin tạm gọi là "hơn bù kém" hay "jeu à somme nulle", nói theo tiếng Pháp. Điều ấy có khác với đầu tư sản xuất là khi người mua kẻ bán đều có lợi. Vì vậy, những người nhập cuộc đầu cơ đều phải ý thức được sự rủi ro nằm trong bản chất của nghiệp vụ, chính quyền chỉ có thể giám sát để bảo đảm tính chất bình đẳng và trong sáng minh bạch của luật chơi. Nhưng ngay từ đó mình cũng thấy nổi cộm một quy luật là "có ăn có chịu", khi lỗ thì đừng đòi chính quyền hay ai đó nhảy ra chuộc nợ cho mình.

RFI: Anh quả là rất kỹ khi phân tích quy luật căn bản của luật chơi này trên các thị trường đầu cơ tài chính. Bây giờ mình bước vào cuộc thì sự thể diễn tiến thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin phép là vẫn nói về căn bản của luật chơi trong thị trường đầu tư hay đầu cơ tài chính.

- Thí dụ như trên thị trường cổ phiếu, ngần ấy tác nhân hay nhà đầu tư đều nhập cuộc và mua hay bán cổ phần của các công ty được công khai niêm yết trên thị trường. Trong loại đầu cơ về "biến phiếu" thì ta có hoàn cảnh khác là đôi bên thỏa thuận riêng với nhau về những giao kết, người ta gọi đó là giao dịch qua quầy, "over the counter" hay "gré à gré".

- Tôi xin lấy một thí dụ cho dễ hiểu là khi mình... bước vào sòng bạc vì thật ra đầu cơ như vậy cũng chỉ là một cách đánh bạc hay cá độ! Hai người có thể đánh bạc đánh cá với nhau và ở giữa là một kẻ vô can chỉ có nhiệm vụ chia bài và ăn tiền sầu, ăn hoa hồng. Nhưng người ta cũng có thể đánh bạc hay đánh cá với chủ sòng, là nhà cái, khi ấy thì tương quan đã bất lợi cho con bạc.

- Hai ngân hàng có thể giao dịch với nhau trên thị trường song phương theo lối lời thì ăn, lỗ thì chịu chứ không thể bắt nhà nước tức là dân thọ thuế chi tiền cấp cứu khi họ phá sản. Nhưng nếu ngân hàng lại thủ vai nhà cái với những lá bài do họ xào nấu trong tay áo, là vấn đề đang bị điều tra trong vụ lãi suất Libor, thì các con bạc là giới đầu cơ sẽ bị thiệt hại.

- Đấy là chuyện thiếu minh bạch và bình đẳng trong luật chơi. Khi lãi suất này lại ảnh hưởng đến mấy trăm ngàn tỷ đô la của các thị trường tài chính quốc tế thì vấn đề thành nghiêm trọng vì có thể đánh sụp cả nền kinh tế. Bây giờ ta mới bước qua các loại hình giao dịch biến phiếu hay "dérivatifs" được trao đổi theo kiểu song phương, qua quầy, giữa người mua với kẻ bán.

RFI: Thưa anh, họ mua những gì hay bán những gì và tính toán thế nào về triển vọng sinh lời?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói riêng về một loại trong nhiều loại đầu tư như vậy, đó là hợp đồng giao dịch ngoại tệ hay "swap de devise" mà cô hỏi hồi nãy. Xin lại đi từ căn bản.

- Trong luồng giao dịch ngoại thương giữa các nước, người ta cần tới ngoại tệ, là đơn vị tiền tệ của một xứ khác. Mà giá trị của ngoại tệ này có thể lên hay xuống khi so với một đồng tiền khác. Như vậy, làm sao giảm thiểu rủi ro trong tương lai là khi ta cần một ngoại tệ nào đó để thanh toán nghiệp vụ xuất nhập cảng hay vay mượn của mình? Nhu cầu khách quan ấy mới dẫn đến sự xuất hiện của những người môi giới, trung gian. Họ ký sẵn hợp đồng bảo đảm sẽ cung cấp loại ngoại tệ này theo một hối suất hay tỷ giá nào đó với hy vọng kiếm lời hoặc rủi ro bị lỗ.

- Vì thế, những người môi giới này mới có trong tay một nắm hợp đồng mua hay bán của nhiều loại ngoại tệ và cũng có nhu cầu giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Họ gặp nhau trên thị trường giao dịch ngoại tệ và thủ thân bằng loại hợp đồng hoán đổi ký kết với nhau. Hợp đồng ấy quy định việc trao đổi hai khoản nợ của hai loại ngoại tệ. Trong khoản nợ này ta có phần vốn và phần lời, tức là lãi suất. Đến kỳ hạn thì người ta có thể thanh thỏa một khoản nợ bằng một khoản nợ khác, của một ngoại tệ khác. Nghĩa là người ta thỏa thuận mua bán với nhau hai tờ giấy nợ và trị giá tương lai của giấy nợ đó chính là tiền lời, là lãi suất.

RFI: Quả là một chuyện quá sức phức tạp thưa anh. Nhưng sự hữi ích của lối đầu tư này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta hãy mới lùi lại mà nhìn trên toàn cảnh. Các doanh nghiệp xuất nhập cảng cần ngoại tệ để giải quyết nhu cầu buôn bán của họ và có thể bị rủi ro hối đoái. Môt công ty Anh cần đồng Yen Nhật để thanh toán việc mua bán với doanh nghiệp Nhật, trong khi một công ty Nhật lại cần đồng Bảng của Anh và cả hai đều có thể bị rủi ro nếu hai ngoại tệ này lên hay xuống giá bất ngờ. Họ bèn san sẻ và giảm thiểu rủi ro ấy nhờ các tay trung gian đang làm nghiệp vụ đầu cơ ngoại tệ với nhau.

- Các tay đầu cơ này bước vào canh bạc với hy vọng tìm ra hợp đồng vay mượn ngoại tệ rẻ nhất và với nhu cầu phòng ngừa biến động thái quá trên thị trường ngoại hối. Trong tính toán đó mới có nghiệp vụ đầu tư "đối xung", là đóng chốt ở hai đầu đối nghịch, khi ký một hợp đồng dự báo là ngoại tệ này hay lãi suất này sẽ lên giá cùng với một hợp đồng trái ngược.

- Chuyện này chưa đủ phức tạp đâu vì không chỉ có những kẻ đầu cơ bị lỗ khi tính sai mà còn có nạn lạm dụng như trường hợp Chính quyền Hy Lạp đã nhờ tập đoàn đầu tư tài chính Mỹ là Goldman Sachs huy động cho một khoản nợ trị giá một tỷ đô la trên thị trường giao dịch ngoại hối loại này vào năm 2002, với gian ý là không bút ghi nghiệp vụ vay mượn trong bảng tổng kết tài sản của quốc gia. Tức là có khách nợ đã gian lận nhờ sự đồng lõa của một ngân hàng đầu tư thuộc loại đại gia quốc tế. Đến khi Hy Lạp vỡ nợ thì bắt đền ai? Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 và tại Âu Châu ngày nay có liên hệ đến hình thái đầu tư tinh vi và phức tạp ấy.

RFI: Anh cứ lần lượt mở ra từng mối của mớ bòng bong rắc rối này, như vậy, câu hỏi mà thính giả thắc mắc là nhiều ngân hàng đã trục lợi phi pháp và nhiều chính quyền đã nhờ ngân hàng giúp mình gian lận. Thế thì ai được và ai thua ở trong canh bạc phải nói là rất quái đản này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là chưa đủ quái đản đâu vì trong cuộc còn có một nhà cái khác là các chính quyền.

- Xin hãy nói về trường hợp Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp Mỹ như Lehman Brothers hay AIG đã lấy rủi ro rất lớn mà chính họ cũng không ước đoán được khi bước vào thị trường đầu cơ này. Mỗi khi mua hay bán họ đều ăn hoa hồng và cứ thế mà đẩy kén nợ thối như một cục than hồng vào tay người khác. Trong khi ấy, về cơ bản thì vốn pháp định của họ không đủ trang trải rủi ro. Khi thị trường hốt hoảng bán tháo các kén nợ thối ấy, các doanh nghiệp tài chính này mới vỡ nợ.

- Nếu mà để các đại gia đó vỡ nợ thì tai họa sẽ lan rộng ra các ngành nghề và cả nền kinh tế nên chính quyền mới phải cân nhắc và quyết định nhảy vào tung tiền chuộc nợ. Tiền ấy từ ngân sách quốc gia tức là tiền thuế của dân. Như vậy, các đại gia cứ làm bậy với nhau và ăn hoa hồng hoặc ăn lương rất cao, khi có chuyện thì nhà nước nhảy vào và dân đen bị thiệt. Bây giờ ta mới nói chuyện về nhà cái kia, tức là nhà nước.

RFI: Nghĩa là anh cho rằng nhà nước thật ra cũng chẳng là vô can?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy. Thí dụ như 70 năm trước, Hoa Kỳ có đạo luật tài chính gọi là Glass-Steagall với nội dung phân biệt các ngân hàng đầu tư kinh doanh bằng vốn riêng với các ngân hàng thương mại có chức năng huy động ký thác trong dân chúng.

- Lý do phân biệt là để có hai hệ thống thanh tra khác nhau và nhất là để ngăn ngừa việc ngân hàng thương mại lấy tiền ký thác của thiên hạ mà đi đầu cơ khiến các trương chủ ký thác có thể mất vốn nếu ngân hàng vỡ nợ. Năm 1999, Chính quyền Tổng thống Bill Clinton và Quốc hội bên đảng Dân Chủ thu hồi đạo luật này và đấy là một trong nhiều nguyên nhân khiến ngân hàng thương mại cũng đi làm nghiệp vụ đầu tư bằng tiền của người khác và gây rủi ro cho công chúng. Vụ khủng hoảng năm 2008 phần nào xuất phát từ chính sách giải toả này.

- Chuyện thứ hai là Hoa Kỳ có hai đại gia trong thị trường thế chấp tín dụng gia cư là Fannie May và Freddie Mac. Hai doanh nghiệp này thuộc loại bán công, do nhà nước bảo trợ để nói là giúp dân nghèo dễ có cơ hội mua nhà. Nhưng cả hai đều bành trướng rất mạnh và chiếm phân nửa thị phần tín dụng gia cư mà lại tích lũy những rủi ro rất lớn.

- Năm 2005, Chính quyền George W. Bush mới đề nghị tăng cường kiểm soát hai định chế này, nhưng lại bị Quốc hội trong tay đảng Dân Chủ cản trở. Lý do là hai cơ quan này chi tiền rất nhiều cho đảng Dân Chủ, và giới lãnh đạo của họ cũng là viên chức cao cấp trong Chính quyền Clinton. Kết cuộc là hai cơ sở này vỡ nợ, gây họa cho cả nước và phải được châm tiền cấp cứu.

- Sau đó, là chuyện thứ ba, người ta quên hoặc cố tình quên như đã cố tình quên về những rủi ro của lãi suất Libor mà tri hô rằng phải tăng cường kiểm soát các ngân hàng để tránh lạm dụng. Một Nghị sĩ Dân Chủ đã được tiền yểm trợ của Fannie Mae và Freddie Mac và bảo vệ hai cơ sở ấy đến tận cùng sau khi dính líu rất sâu với các tổ hợp tài chính bị khủng hoảng cũng là người đồng soạn thảo đạo luật kiểm soát này. Với kết quả là các đại gia ngân hàng còn tập trung tài sản nhiều hơn trước, có thế lực hơn trước, trong khi các ngân hàng nhỏ thì chết ngộp dưới hệ thống kiểm soát. Đạo luật kiểm soát có tên là Dodd-Frank bị chỉ trích từ cả hai phía là bên Dân Chủ thì đòi kiểm soát nhiều hơn, bên Cộng Hoà thì cho là kiểm soát quá đáng!

RFI: Câu hỏi cuối thưa anh, là người ta nên kết luận thế nào và giải quyết ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng câu kết luận cho vấn đề rắc rối này gồm có hai phần.

- Thứ nhất, trên thị trường đầu tư chứng khoán, thí dụ như mua bán cổ phiếu, mọi sự đều công khai với luật lệ minh bạch và quần chúng đầu tư biết rõ về rủi ro của mình. Thứ hai là trong thị trường "biến phiếu" như "swap de devises" hay trao đổi ngoại tệ thì chỉ có hai phe đánh bạc với nhau nên thiên hạ cứ tưởng rằng người ngoài là vô can nên được vô sự. Thật ra, thị trường đó thiếu minh bạch và có rủi ro rất lớn mà ít ai tính ra. Một tổ hợp tài chính lớn như JPMorgan của Mỹ vừa mất sáu tỷ đô la cho loại đầu tư ấy mà giờ này vẫn chưa biết tại sao.

- Cho nên, nếu người ta không có nỗ lực công khai hóa phương pháp ước tính và thủ tục đầu tư thì cũng lại tích lũy những yếu tố khủng hoảng trong tương lai. Vì thế mà có lẽ người ta không nên lập thêm một vòng kiểm soát đồng hạng như đạo luật Dodd-Frank mà phải cải cách riêng hệ thống đầu tư biến phiếu để chấm dứt tình trạng giao dịch qua quầy rất mờ ảo. Nghĩa là phải có quy chế minh bạch như trên thị trường cố phiếu và chứng khoán. Chính là sự minh bạch mới giảm thiểu rủi ro và lạm dụng.

RFI: Đài Phát thanh Quốc tế Pháp xin cảm ta chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa trả lời từ Hoa Kỳ.

  • 3
  •  



 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Đã đến lúc phải vứt bỏ "bốn tốt" và "mười sáu chữ vàng" của Trung Cộng ban cho đảng CSVN


  

Đừng để Giống Nòi mắc họa xiềng gông Trung Cộng!

Đừng để Núi Sông mang vòng tủi hổ, nô lệ ngoại bang!

 

Đã đến lúc phải vứt bỏ "bốn tốt" và "mười sáu chữ vàng" của Trung Cộng ban cho đảng CSVN

Chu Chi Nam


 

- Từ ngày có Hội Nghị Thành Đô vào tháng 9/1990, trước khi Lê Đức Thọ chết vào tháng 10/1990, Cộng sản Việt Nam đã quay trở lại thần phục Trung Cộng. Và nước này luôn luôn dùng lời ngon ngọt để phỉnh gạt Cộng sản Việt Nam, như “Bốn Tốt” và “Mười sáu chữ vàng”; nhưng trên thực tế Trung cộng lúc nào cũng tìm cách xâm chiếm đất liền và lãnh lãi VN, cùng đi theo một chính sách ngoại giao bành trướng của “Đại Hán”, coi các nước khác, nhất là những nước chung quanh như những nước nô lệ, phải thần phục “Thiên Triều”.

 

Gần đây hành động hãng dầu quốc doanh của Trung cộng gọi đấu thầu công khai 9 địa điểm thuộc chủ quyền Việt Nam. Phải chăng đây là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy ly, giúp Cộng Sản Việt Nam (CSVN) thức tỉnh, vứt bỏ “Mười sáu chữ vàng ” và “Bốn Tốt”, để có lại một bang giao bình đẳng với Trung cộng?

 

Mười sáu chữ vàng và bốn tốt là gì?

 

Mười sáu chữ vàng, đó là: “Láng giềng hữu nghị; Hợp tác toàn diện; Ổn định lâu dài; Hướng tới tương lai.”

 

Bốn tốt là: “Láng giềng tốt; Bạn bè tốt; Đồng chí tốt; Đối tác tốt.”

 

Mười sáu chữ vàng và bốn tốt này xuất hiện sau Hội nghị Thành đô. Trước đó, thì CSVN và Trung cộng cắn quái nhau. Trung cộng dạy cho CSVN một bài học, bằng cách gửi quân sang đánh Việt Nam vào đầu năm 1979. Hai bên dùng đủ mọi ngôn từ để tố cáo, chửi bới lẫn nhau.

 

Người ta tự hỏi: Tại sao vậy mà lại có Hội Nghị Thành đô và xuất hiện bốn tốt và mười sáu chữ vàng?

 

I) Tình hình Việt Nam và thế giới trước Hội nghị Thành đô 3/1990

 

Tình hình thế giới lúc này là vào cuối Chiến tranh Lạnh, khối cộng sản dẫn đầu bởi Liên sô đang trên đà sụp đổ, vì dựa trên nền tảng lý thuyết không tưởng của Marx, chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, lâm vào cảnh “Cha chung không ai khóc, ruộng chung không ai cày, nhà chung không người chăm sóc”; vì tranh chấp nội bộ, tranh chấp biên giới Nga – Hoa, Việt - Hoa, Việt – Căm Bốt; vì sa lầy tại A Phú Hãn và chạy đua vũ trang, trong khi kinh tế đình trệ, làm xuất huyết chế độ.

 

Đấy lại chưa nói từ ngày Brejnev chết vào năm 1982, hai người Tổng bí thư kế tiếp, Andropov (1914 – 1984), Tchernenkho (1911 – 1985), vì quá già nên cầm quyền không lâu, chết vào lúc đương quyền.

 

Gorbachev (1911 -), người trẻ nhất trong Bộ Chính trị lên nắm chính quyền vào năm 1985 trong lúc đất nước tang thương, chỉ có cái vỏ bọc bề ngoài là đệ nhị cường quốc; nhưng bên trong tất cả đều mục nát: kinh tế thảm bại, nhiều nơi đã thiếu ăn, chết đói; chính Gorbachev nói: “Tiếng khua của xong chảo nhiều khi ghê rợn hơn tiếng súng đại bác và xe tăng”; nội tình đảng thì phân tán, bang giao hữu nghị xã hội chủ nghĩa rất xấu như bang giao Nga-Hoa, Việt-Hoa, Việt-Cam Bốt; bang giao quốc tế nhất là với Hoa Kỳ, bề ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong Hoa Kỳ ép Liên sô chạy đua vũ trang, như ép một kẻ nghèo thi đua tiêu tiền với một kẻ giàu, ép một anh lực sĩ yếu sức cố gắng chạy đua với một anh dài sức, kết quả cuối cùng là anh yếu sức, kiệt lực mà chết.

 

Gorbachev, khi lên nắm quyền, ý thức rất rõ điều này, nên tìm cách chấn chỉnh nội bộ, ngừng chạy đua vũ trang, tài giảm binh bị với Hoa Kỳ, thiết lập bang giao với Trung cộng, ép cộng sản Việt Nam rút khỏi Căm Bốt, nối lại bang giao với Trung cộng, với chính sách Tái Cấu trúc (Pérestroika), Cởi mở (Glasnost), bỏ chế độc tài, trở về dân chủ.

 

Tuy nhiên đã quá trễ!

 

Căn nhà Liên sô đã quá mục nát, đụng vào chỗ nào cũng hư, chẳng khác nào như một chiếc xe cũ, Gorbachev, tưởng rằng bộ phận này hư, tháo ra, nhưng không làm cho xe chạy mau, lại tháo chỗ khác, đi đến hiện tượng “Tháo tất cả các bộ phận của xe, trở thành một đống sắt vụn”, làm cho chế độ sụp đổ.

 

Đấy là chưa nói trước đó có biến cố Thiên An môn năm 1989, cả triệu sinh viên, học sinh, thợ thuyền biểu tình ngay tại công trường Thiên An môn, thủ đô Trung Quốc, đi đến kết quả là chính quyền Trung cộng dùng xe tăng, súng đàn áp biểu tình gây ra cả ngàn người chết.

 

Về tình hình Việt Nam, sau khi xua quân cưỡng chiếm miền Nam, CSVN chưa kịp “vui mừng với chiến thắng, thì đã xảy ra chiến tranh với Cam Bốt năm 1978; rồi chiến tranh với Trung cộng năm 1979; rồi Lê Duẫn chết vào năm 1986.

 

Sau khi Lê Duẫn chết, CSVN vẫn còn thần phục Liên sô, người được đưa lên làm quyền Tổng Bí Thư là Trường Chinh, đã 2 lần sang Liên sô “cầu phong”, nhưng Gorbachev không chấp nhận. Chính vì lẽ đó mà Nguyễn Văn Linh lên. Những người già như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, phải về hưu.

 

Trong ba ông già này, kẻ có nhiều thủ đoạn, âm mưu thâm độc, giết người không gớm tay, có thực quyền lúc bấy giờ, là Lê Đức Thọ.

 

Trong tình hình quốc tế và quốc nội đó hội nghị Thành đô đã diễn ra.

 

II) Hội nghị Thành Đô:

 

 

Họp trong 2 ngày 3 và 4 tháng 9/1990. Chủ chốt phía Việt Nam có Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư Đảng, Đỗ Mười - Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Phía Trung Cộng có Giang Trạch Dân - Tổng Bí thư, Lý Bằng - Chủ tịch Chính phủ.

 

Có lẽ trong lịch sử Việt Nam, chưa có một hội nghị quốc tế nào mà làm mất quốc thể và sĩ diện dân tộc như hội nghị này.

 

Theo nguyên tắc, những hội nghị quốc tế, có tính cách quốc gia - quốc gia, thì phải họp ở thủ đô. Nay Trung cộng viện cớ, bắt họp ở một thủ phủ vùng tỉnh. Hơn thế nữa, để bỉ mặt cộng sản Việt Nam, Trung cộng ép phái đoàn Việt Nam đi bằng đường bộ, chứ không được đi máy bay. Người ngoại trưởng VN lúc bấy giờ có khuynh hướng chống Trung cộng đã không được tham dự, được thay thế bằng Trần Quang Cơ, thứ trưởng bộ ngoại giao, mà sau này chính ông viết sách tố cáo sự hèn mạt của phái đoàn Việt nam (Xin xem Hồi ức và Suy nghĩ của Trần quang Cơ, trên internet).

 

Chính Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng ngoại giao vào lúc đó có nói về hội nghị này: “Một thời kỳ bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.”

 

Đặng Tiểu Bình, nói là sẽ tới gặp Phái đoàn Việt Nam, nhưng sau đó không gặp, mà còn nói câu sỉ nhục: “Đảng CSVN là phường ăn cháo, đái bát. Tôi không thèm gặp những con người đó.”

Nên nhớ, chính họ Đặng, sau khi viếng thăm Mỹ, theo như nguồn tin báo chí đáng tin cậy, thì hỏi sự bằng lòng của Mỹ, để “dạy cho Việt nam một bài học.”

 

Nhiều người cho rằng quyết định quan trọng đi Thành Đô, thần phục Trung cộng, là chỉ có Lê Đức Thọ, con người gian hung, sẵn sàng làm bất cứ giá nào để đạt mục đích, dù là giết người hay bán nước.

 

Điều này không phải là hoàn toàn sai, vì lúc đó Lê Đức Thọ kiểm soát toàn đảng và chính phủ: những người trong Bộ chính trị từ Nguyễn Văn Linh - Tổng bí thư, cho tới Đỗ Mười - Thủ tướng, Mai Chí Thọ - Bộ trưởng Công an, qua Lê Đức Anh - Bộ trưởng Quốc phòng, đều là tay em hay anh em họ hàng của Thọ.

 

Tuy nhiên chúng ta cũng nên suy nghĩ lại về Đảng Cộng sản nói chung và Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng, đều là những đảng vọng ngoại, do ngoại quốc dựng lên.

 

Lénine về nước cướp được chính quyền là do Bộ Tham Mưu Đức, vào lúc đó là cuối Thế Chiến thứ Nhất (1914-1918) đưa về, qua lời hứa: “Nếu có được chính quyền thì sẽ ngưng chiến và cắt đất cho Đức.

 

Quả thực như vậy, khi cướp được chính quyền, tại hội nghị Brest – Litovsk, tháng 3/1918, Nga đã nhượng bộ 1/3 đất đai về canh nông và kỹ nghệ cho Đức. Trotski, lúc đó là Bộ Trưởng Ngoại giao, Trưởng Phái đoàn, đã được lệnh của Lénine: “Làm bất cứ việc gì, ngay cả nhượng đất, để giữ quyền.”

 

Truyền thống này, được các đảng đàn em, đặc biệt là Đảng CSVN bắt đầu bằng Hồ Chí Minh, rồi sau con cháu, bắt chước theo.

 

Đảng CSVN vào thời kỳ Hội nghị Thành đô đã đi theo con đường:

 

“Thà giữ được quyền, được đảng, dù đi ngược lại quyền lợi dân tộc, trái với chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, còn hơn là mất đảng.”

 

Đây là một quyết định chung của Đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, tất nhiên Lê Đức Thọ giữ vai trò chính, nhưng không phải chỉ có mình Lê Đức Thọ, mà phải kể cả Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh, những người chính trong Đảng và nhà nước.

 

Quyết định này đã có những hậu quả vô cùng tai hại cho dân và cho nước cho tới ngày hôm nay.

 

III) Bang giao Việt Trung từ Hội nghị Thành Đô cho tới ngày hôm nay.

 

Đảng CSVN không ngừng dâng đất nhượng biển cho Trung cộng và đã đi theo một chính sách ngoại giao thần phục Trung cộng.

 

Đã đến lúc CSVN phải bỏ “4 Tốt” và “16 Chữ vàng”!

 

Thực vậy, ngày xưa Mạc Đăng Dung, tự trói mình, đứng quì gối ở biên giới để qui hàng giặc Minh, nhằm giữ quyền; rồi Lê chiêu Thống, dẫn cả gia đình, vợ con sang Tàu để cõng rắn cắn gà nhà. Ngày hôm nay hành động qụy lụy qui hàng, cõng rắn cắn gà nhà của đảng CSVN còn hèn hạ, buôn dân bán nước gấp cả trăm lần Mặc Đăng Dung và Lê Chiêu Thống, vì Mặc Đăng Dung chỉ dâng cho Tàu mấy động ở biên giới, trong khi đảng CSVN dâng cho Trung cộng cả ngàn cây số vuông, trong đó có ải Nam Quan và thác Bản Giốc, mà người Việt, ai cũng biết, từ khi xưa đã học: “Nước Việt Nam chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà mâu”. Đó là Hiệp ước năm 1999.

 

Không những dâng đất, mà còn dâng cả biển, qua Hiệp ước năm 2000, dâng cho Trung cộng cả chục ngàn cây số vuông vùng biển.

 

Không những thế, CSVN còn tìm đủ mọi cách để qụy lụy Trung cộng qua những hiệp ước thương mại, những hiệp ước xây cất, khai thác rừng, khai thác mỏ, như việc khai thác bô xít ở cao nguyên trung phần, nóc nhà và xương sống về địa lý quân sự chiến lược của Việt Nam.

 

“Bốn Tốt”“Mười sáu chữ vàng” mà Trung cộng cho Cộng sản Việt Nam chỉ là cái bình phong bề ngoài để che giấu dã tâm, chính sách bành trướng, xâm lấn của Trung Cộng, mà không những người Việt mà cả thế giới đều thấy rõ.

 

Đã đến lúc phải bỏ “Bốn Tốt”“Mười Sáu Chữ vàng” đó!

 

Dân Việt, và những người cộng sản yêu nước, hãy ý thức điều này, hãy vùng lên, để cứu nước và tồn chủng. (1)

 

Ngày xưa Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê lợi, Nguyễn Huệ, đã thay mặt cho uy quyền quốc gia dân tộc, không những giáng những bài học đích đáng cho kẻ nội thù, mà còn trừng trị nghiêm ngặt kẻ ngoại xâm.

 

Đừng để Giống Nòi mắc họa xiềng gông Trung Cộng!

Đừng để Núi Sông mang vòng tủi hổ, nô lệ ngoại bang!

 

Paris ngày 25/08/2012


 

Chu Chi Nam

 

The New York Times - Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam



The New York Times - Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam



Thomas Fuller/The New York Times (Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ) - Cách thức xử lý vụ việc u ám không rõ ràng về ông ta càng nhấn mạnh một yếu tố quan trọng và trầm trọng hơn cho những tai họa của đất nước: Cuộc hôn nhân giữa giới lãnh đạo Đảng Cộng sản bí mật và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang che phủ triển vọng phục hồi đất nước 91 triệu dân này... Đất nước đang bị những người bên trong nhà nước thao túng để kiếm tiền... Những gì cần phải làm là đưa Đảng Cộng sản ra khỏi việc quản lý của các công ty này"...

 

*

 

HỒ CHÍ MINH - Các đội xây dựng lên thật cao trên tầng thượng của một cao ốc thượng hạng ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh để nhìn xuống khu Dân cư thành phố bên dưới. Ngày nay, tất cả những gì còn lại từ các dự án bị bỏ rơi là những đống gạch mốc meo, thanh thép rỉ sét và một nhóm nhỏ các nhân viên bảo vệ, những người đã chuyển đổi sân xi măng thành một bãi đậu cho xe máy. 

 

Tại các thành phố lớn của Việt Nam, thị trường bất động sản từng một thời bùng nổ đang sụp đổ. Hàng trăm khu vực xây dựng bị bỏ rơi là những dấu hiệu rõ ràng nhất của một nền kinh tế ốm yếu. 

 

Tuyên bố trong phòng khách tiết trang hoàng lộng lẫy của một tòa nhà thuộc địa Pháp, một viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với sự sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm từng san bằng nhiều nền kinh tế ở châu Á. 

 

"Tôi có thể nói rằng đây là tình trạng tương tự như cuộc khủng hoảng ở Thái Lan vào năm 1997", Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan điều hành hàng đầu của thành phố nói như thế. "Các nhà đầu tư bất động sản đã đẩy giá lên quá cao. Họ mua để đầu cơ chứ không phải để sử dụng." 

 

Các khó khăn kinh tế của Việt Nam trông có vẻ ít nghiêm trọng hơn so với những năm tháng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 - mặc dù tương đối xanh xao tiều tụy, nền kinh tế vẫn đang phát triển, với tốc độ khoảng 4% - nhưng danh sách các khó khăn của đất nước vẫn tiếp tục tăng lên. 

 

Việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu có của Việt Nam trong tuần này, đưa đến mức sụt giảm 4,8% trong chỉ số thị trường chứng khoán của nước này, mức suy giảm nặng nề nhất trong vòng bốn năm qua. Những cáo buộc chống lại ông Kiên còn mơ hồ. Các phương tiện truyền thông nhà nước cho biết ông bị buộc tội hoạt động kinh doanh bất hợp pháp. 

 

Cách thức xử lý vụ việc u ám không rõ ràng về ông ta càng nhấn mạnh một yếu tố quan trọng và trầm trọng hơn cho những tai họa của đất nước: Cuộc hôn nhân giữa giới lãnh đạo Đảng Cộng sản bí mật và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang che phủ triển vọng phục hồi đất nước 91 triệu dân này. 

 

Các nhà đầu tư hoài nghi về việc quản lý kinh tế của chính phủ và đặt nghi vấn về độ tin cậy của các số liệu thống kê. Ngân hàng trung ương của quốc gia này cho biết các khách hàng vay đã ngừng không trả được 1/10 các khoản nợ trong hệ thống ngân hàng, nhưng tổ chức Fitch Ratings cho biết tỷ lệ của các khoản nợ xấu này có thể cao hơn nhiều. 

 

Nếu cuộc khủng hoảng năm 1997 thường được đổ lỗi cho loại "chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt", các vấn nạn của Việt Nam có thể được mô tả như một loại chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt kết hợp với một chủ nghĩa cộng sản méo mó. Các công ty quốc doanh những bạn bè và đồng hội đồng thuyền trong hệ thống Đảng Cộng sản. 

 

"Đất nước đang bị những người bên trong nhà nước thao túng để kiếm tiền", ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho biết. 

 

"Những gì cần phải làm là đưa Đảng Cộng sản ra khỏi việc quản lý của các công ty này", ông nói. "Tôi không hề thấy điều ấy được bàn đến". 

 

Giống như các bong bóng bất động sản ở những nơi khác trên thế giới, các nhà đầu tư ở Việt Nam đã lợi dụng dòng tín dụng chảy tự do để xây dựng các tòa nhà với hy vọng bật ra lợi nhuận. Một sự khác biệt quan trọng là một số các nhà đầu cơ bất động sản lớn nhất Việt Nam chính là các doanh nghiệp quốc doanh có quan hệ kết nối với giới thượng tầng trong Đảng Cộng sản và khả năng truy cập đến tiền bạc dễ dãi. Những công ty này hiện đang phải vật lộn với mức nợ không bền vững, hoặc như trong trường hợp của Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn lớn của chính phủ, đang phải ve vãn tán tỉnh với khả năng không trả được nợ nữa. 

 

Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn ồn ào với năng lực của mình, vây quanh bởi khách du lịch và bị phiền nhiễu bởi nạn ùn tắc giao thông - tất cả là các dấu hiệu của sức sống kinh tế thành phố. Nhưng đó chỉ là mặt nạ che đậy những triệu chứng của các tai họa kinh tế trên cả nước: Những người trẻ ngày càng khó tìm được việc làm, gần 20% các công ty nhỏ và vừa đã biến mất khỏi thi trường trong năm qua, và các dự án cơ sở hạ tầng, thành phố trực thuộc Trung ương đang bị trì hoãn hoặc hủy bỏ. 

 

Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế nổi tiếng và là cựu viên chức hàng đầu tại một tổ chức nghiên cứu của chính phủ cho biết, ông đã từng lo lắng về thời gian tính của các khó khăn, đang đến ngay khi nền kinh tế toàn cầu bị sa lầy vì nợ nần và châu Âu phải vật lộn với các tình thế tiến thoái lưỡng nan tồn tại của đồng euro. 

 

"Vấn nạn ở Việt Nam là một loại dung dịch pha trộn cực kỳ độc hại từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, tình trạng trì trệ trong nền kinh tế Mỹ cộng với một tình huống rất nghiêm trọng của nền kinh tế trong nước", ông Doanh nói. "Đó là một hỗn hợp rất nguy hiểm." 

 

Khu vực tư nhân đang giúp cho nền kinh tế chuyển động - Việt Nam là một nước xuất khẩu quan trọng về quần áo và giày dép sang Hoa Kỳ - nhưng dòng tiền nước ngoài đã chậm lại. Các cam kết của giới đầu tư nước ngoài là 8 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, chỉ bằng một phần tư trong cùng thời kỳ ba năm trước đây. 

 

Hậu quả các khó khăn kinh tế của Việt Nam lan xa. Các khoản thu thuế của các chính phủ thành phố trực thuộc Trung ương bị thu hẹp lại trên khắp đất nước bởi vì các khoản phí chuyển nhượng tài sảnvốn là phần lớn thu nhập của họ. Tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh, hiện dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2016, một năm sau so với kế hoạch, theo ông Thuận viên chức cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh cho biết. 

 

Tại trung tâm thành phố Đà Nẵng, nơi từng phát triển mạnh trong thập kỷ qua, các quan chức đã buộc phải hủy bỏ dự án phát triển ở vùng ngoại ô của thành phố. Trần Văn Sơn, phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, cho biết ông "rất lo lắng" rằng thành phố sẽ phải thu hẹp hơn nữa bởi vì thuế doanh thu tụt giảm nhiều hơn so với dự kiến. 

 

Những người trẻ tuổi đang tìm việc những làm tốt ở xa hơn. Ở ngoại thành Hà Nội, Nguyễn Duy Hưởng, người con trai 21 tuổi của một nông dân, suốt những tháng đầu năm, đã phải tìm kiếm trong vô vọng cho một công việc trong các cửa hàng sửa chữa máy tính. 

 

"Mỗi nơi tôi đến, họ đều nói rằng họ đang tìm những người kỹ thuật thật giỏi", Hưởng nói. "Họ không lấy người học việc". 

 

Như nhiều thanh niên Việt Nam khác, Hưởng sống trên biên giới giữa công nghệ thông tin và nền kinh tế nhà nông. anh đã làm việc bán thời gian tại một cửa hàng in ảnh, dùng các phần mềm để sửa chữa hình và loại bỏ những nhược điểm, nhưng thu nhập chính của gia đình anh vẫn phải nhờ vào việc trồng trọt và thu hoạch lúa bằng tay. Qua quá trình tìm việc toàn thời gian, gần đây anh bắt đầu tham dự các khóa học lập trình phần mềm tại Reach, một tổ chức phi lợi nhuận do Plan International, một tổ chức từ thiện Anh Quốc sáng lập. 

 

Những khó khăn mà giới trẻ phải đối mặt không giống với quy mô của cuộc khủng hoảng thất nghiệp ở Tây Ban Nha và Hy Lạp, nhưng tìm được một công ăn việc làm không còn dễ dàng như một vài năm trước đây nữa. 

 

"Hiện nay, các công ty có nhiều sự lựa chọn", Nguyễn Thị Vân Trang, người giúp điều hành các chương trình đào tạo nói "Họ không phải nhận những đứa trẻ trên hè phố nữa". 

 

Chính phủ đã chiến đấu với các khó khăn của đất nước bằng các công cụ kinh tế vĩ mô cổ điển: thắt chặt nguồn cung tiền để chặn nạn lạm phát hai con số và sau đó cắt giảm lãi suất trong năm nay để tiếp sinh lực cho nền kinh tế. 

 

Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn còn rất thận trọng, một phần vì số lượng ngày càng gia tăng của các khách hàng không có khả năng trả nợ. Việc cung cấp tín dụng trong nền kinh tế đang thu hẹp lại và mức tiêu dùng xẹp xuống, thí dụ như các siêu thị đã báo cáo doanh số bán hàng của họ giảm 20 đến 30%. 

 

Ông Doanh, nhà kinh tế gia cho biết, Việt Nam cần phải làm nhiều hơn là việc chỉ tiêm thêm tiền vào với lãi suất thấp hơn. 

 

Những công ty Quốc Doanh vĩ đại kém hiệu quả như Vinashin, vốn từng bành trước hung bạo vào các loại doanh nghiệp mà họ không đủ điều kiện để hoạt động, cần phải được tháo dỡ, tư nhân hóa hoặc thu nhỏ lại, ông Doanh nói. 

 

"Bây giờ là thời điểm tốt cho sự hủy hoại có tính sáng tạo", đề cập đến khái niệm các công ty bền vững đang bị thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh sáng tạo hơn. 

 

Tương tự như ở Hoa Kỳ, cuộc phục hồi sức khỏe kinh tế của Việt Nam bập bềnh một phần trên sự hồi sinh của thị trường bất động sản. 

 

Quá nhiều thặng dư trong mức cung của các văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà mức thuê trong các khu phố từng được ưa thích nhất vốn chỉ còn được bằng một nửa của ba năm trước đây, ông Nguyễn Duy Lâm, Giám đốc Pacific Real, một công xây dựng và bất động sản cho biết. 

 

Với hy vọng thu hút được nhiều khách mua nước ngoài, các quan chức ở thành phố Hồ Chí Minh đã đệ trình một đề nghị chính thức với chính phủ trung ương để mở ra các thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo ông Thuận, quan chức Đảng Cộng sản cho biết. 

 

Tuy nhiên, các nhà đại lý bất động sản như ông Lâm cho biết rằng hiện nay hoạt động mua bán đã bị đóng băng. 

 

"Hiện giờ, ai cũng muốn bán ra, nhưng ngay cả hạ giá cũng không thể bán được", ông Lâm cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên sân thượng của một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. "Chẳng có khách hàng gì cả." 

 

Ông Lâm đang trông cậy vào triển vọng lâu dài của thành phố. Nhưng khi ông tuyên bố như thế, một hình ảnh tương phản của Việt Nam đang xuất hiện. Trong khi những đường nét đen tối của tòa nhà chọc trời chưa xây xong vẫn hiện ra lờ mờ trên cao, một công trình xây dựng khác đã làm phấn chấn chiều hướng: Vào một buổi tối chủ nhật, thắp sáng bởi các bóng đèn pha, một cần cẩu lại vung vẩy xuôi ngược khi các công nhân dựng lên một tòa nhà khác để ohủ thêm vào đường chân trời của thành phố Hồ Chí Minh. 

 


 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link