Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, September 16, 2012

Đạo nào cũng là đạo...

Đạo nào cũng là đạo...
Chu Thập

Thập niên 1960, khi người Mỹ bắt đầu đến Việt nam thì người Việt cũng tập làm quen với văn minh và văn hóa Mỹ.
Tôi còn nhớ lúc đó, trước khi vào phim chính, ngoài việc đứng lên chào quốc kỳ, người đi xem “xi nê” cũng được “giáo đầu” bằng một đoạn phim tài liệu giới thiệu về Hiệp chủng quốc Hoa kỳ.
Mở đầu đoạn phim nào, người hướng dẫn chương trình cũng luôn giới thiệu: “Nước Mỹ có nhiều chuyện...sau đây là một số chuyện”....Tôi “mê” nước Mỹ từ lúc đó.
Sao bên Mỹ cái gì cũng vĩ đại và đẹp quá! Thật ra, có ai mà không “mơ” được đến và sống ở Mỹ. Có căm thù đếquốc Mỹ đến đâu người ta cũng tìm cách gởi tiền, mua nhà và nhứt là gởi con sang học bên đó. Có “chống Mỹ cứu nước” cỡ nào, khi “cùng sào” thì cũng “đào tỵ” sang Mỹ mà thôi. “Giấc mơ Mỹ quốc” vẫn cứ đeo đuổi nhiều người trên thế giới này. Nước Mỹ vẫn có nhiều chuyện để đáng được đề cao.
Với tôi, trong những ngày này, một trong những chuyện đáng được nói đến để ca ngợi nước Mỹ là chuyện bầu cử. Ở cái quốc gia “kém dân chủ” gấp cả triệu lần so với “nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam” này, hệ thống bầu cử vẫn minh bạch và công bằng hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.
Cứ 4 năm một lần, lần nào tôi cũng theo dõi chuyện bầu cử tổng thống Mỹ chẳng khác nào các cuộc tranh tài trong Giải Túc Cầu Thế Giới. Hồi hộp và gây cấn quá đi, bởi vì một ông tổng thống mới của Hoa kỳ lúc nào cũng ảnh hưởng đến cục diện cả thếgiới.
Suốt cuộc vận động bầu cử, từ sơ bộ trong mỗi Đảng đến cuộc chạy đua chỉcòn 2 ứng cử viên, các bài diễn văn của các ứng cử viên và một số nhân vật thân cận với họ nghe đã làm sao!
Nhưng có một yếu tố mà tôi tin là luôn góp phần làm nên sức mạnh của đệ nhứt siêu cường này. Yếu tố đó chính là niềm tin tôn giáo. Hãy thử nghe lại các bài diễn văn trong các cuộc vận động bầu cử.
Dù có hung hăng tấn côngđối phương đến đâu, ứng cử viên hay người ủng hộ gà nhà nào cũng đều kết thúc bài nói chuyện của mình bằng công thức: “God bless you. God bless America”(Xin Thượng Đế chúc lành cho quý vị. Xin Thượng Đế chúc lành cho Mỹ quốc).
Có phải vì được Thượng Đế chúc phúc mà Hiệp chủng quốc Hoa kỳ mới cường thịnh như ngày nay không? Tôi không tin như thế. Trong cuốn hồi ký Ngàn giọt lệ rơi, bà Đặng Mỹ Dung thường nhắc lại câu nói của ông ngoại bà: “Ông Trời không có can thiệp vào chuyện của con người” đâu.
Mỗi khi nhìn vào lịch sử nhân loại, tôi cũng thường nghĩ như thế. Kinh Thánh của Do thái giáo có thuật lại câu chuyện lừa đảo để chiếm đoạt phúc lành của tổ phụ Giacob. Giacob có một người anh tên là Esau. Thân phụ của hai ông là ông Isaac, thương ông Esau nhiều hơn và theo truyền thống, chỉ muốn “chúc lành” cho người con trưởng.
Nhưng vì ông Isaac mù lòa và bà mẹ lại thương cậu con út Giacob hơn, cho nên bà mới lập mưu chiếm đoạt phúc lành cho cậu. Bị lừa gạt cho nên cụ ông Isaac đã tuôn đổ mọi phúc lành của Thượng Đế xuống trên cậu em Giacob. Nhờ những phúc lành đó mà về sau Giacob trở thành tổ phụ của 12 chi tộc Israel.
Còn ông anh Esau, có lẽ vì không được chúc lành, cho nên trở thành cha già của dân tộc luôn bị đọa đày là Palestine.
Đọc lại câu chuyện này, tôi cho rằng Thượng Đế có lẽ cũng đành phải chào thua trước mưu mẹo và sự độc ác của con người.
Nhưng Thượng Đế mà Chúa Giêsu bảo là “cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ” (Mt 5, 45), chắc chắn không phải là Đấng chúc lành cho người này mà loại trừ người khác hay thương yêu người này mà ghét bỏ người khác.
Nhìn về vị thế đệ nhứt siêu cường của Hoa kỳ ngày nay, tôi không tin rằng quốc gia này được Thượng Đế chúc lành hơn những nước khác. Sở dĩ quốc gia này được như thế là vì luôn xem trọng niềm tin tôn giáo. Khó chối cãi được rằng những nhà lập quốc Hoa kỳ đã đặt nền tảng quốc gia trên niềm tin tôn giáo.
Người ta có thể thấy rõ điều đó trong những dòng mở đầu của bản tuyên ngôn độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1776: “Tất cả mọi người đều được tạo dựng bình đẳng, họ được Đấng Tạo Hóa phú bẩm cho một số quyền bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền đeo đuổi Hạnh phúc”.
Có lẽ không nhận ra hành động tuyên xưng niềm tin tôn giáo của các nhà lập quốc Hoa kỳ cho nên người cộng sản vô thần Hồ chí Minh đã “đạo” nguyên si đoạn mở đầu trên đây vàđưa vào bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.
Người ta chỉ có thể hiểu được chỗ đứng ấy của niềm tin tôn giáo của người Mỹ khi nhớ lại rằng hầu hết các nhà lập quốc Hoa kỳ đều là những người đã trốn chạy khỏi Âu châu vì bị bách hại tôn giáo. Với họ, tự do tôn giáo vẫn là quyền cao cả nhứt trong cuộc sống con người.
Ngày nay, sống trong những chế độ có sự tách biệt rõ ràng giữa tôn giáo và nhà nước, nghe những khẩu hiệu như “God bless” hoặc nhìn thấy câu “In God we trust” (chúng tôi tin tưởng nơi Thượng Đế) vẫn còn in trên đồng Mỹ kim hoặc chứng kiến cảnh một tân tổng thống Mỹ đặt tay trên Kinh Thánh để tuyên thệ...nhiều người hẳn sẽ cho là chướng tai gai mắt lắm. Nhưng có lẽ Hoa kỳ sẽchẳng còn là Hoa kỳ khi những khẩu hiệu và hình ảnh ấy bị xóa bỏ ra khỏi nơi công cộng và cuộc sống của người dân. Hoa kỳ vẫn là một quốc gia luôn tôn trọng nguyên tắc về sự tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước.
Quốc gia này vẫn còn được xem là văn minh tiến bộ và giàu có nhứt thế giới. Nhưng đại đa số người dân nước này vẫn còn nhìn nhận chỗ đứng quan trọng của niềm tin tôn giáo trong cuộc sống của họ.
Nhưng dĩ nhiên, vốn có tinh thần thực dụng, khi đề cao niềm tin trong tôn giáo, người Mỹ luôn chứng tỏ mối liên kết giữa cuộc sống thực tiễn và niềm tin tôn giáo. Niềm tin đó hẳn phải là động lực thúc đẩy họ nỗ lực để làm cho đất nước phồn vinh và cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Nhứt là niềm tin đó kêu gọi họ quảng đại chia sẻ với người khác nhiều hơn.
Có lẽ chưa có dân tộc nào trên thế giới này có truyền thống làm “từ thiện” cao cho bằng người dân Mỹ.
Nói đến Mỹ quốc là phải nói đến những nhà hoạt động từ thiện nổi tiếng như vợchồng Bill Gates, như Warren Buffet...Khó có thể giải thích được một tấm lòng vị tha như thế mà không nhìn nhận cái truyền thống san sẻ trao ban đã được niềm tin tôn giáo nhào nặn.
Mới đây, khi ông Mitt Romney, nguyên thống đốc tiểu bang Massachusetts ra tranh cử tổng thống, người ta chú ý đến giáo phái Mormon mà ông là thành viên.
Muốn tìm một bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo đối với cuộc sống xã hội như thế nào tại Hoa kỳ, có lẽ người ta chỉ cầnđến tiểu bang Utah.
Từ một tiểu bang nắng cháy khô cằn, các tín đồ của giáo phái này đã biến Utah, đặc biệt là thành phố Salt Lake City thành một nơi trù phú, một địa điểm du lịch nổi tiếng và nhứt là một nơi thanh bình có ít tệ nạn xã hội nhứt tại Hoa kỳ. Lịch sử của Thành phố Salt Lake City là câu chuyện vềmột niềm tin tôn giáo đã thúc đẩy con người hăng say làm việc và hiến thân phục vụ.
Mới đây, tôi có xem trên Đài truyền hình SBS một cuốn phim tài liệu về một giáo phái khác có tên là Amish. Tài liệu này gợi lại cho tôi cuốn phim “The Silent Witness” (người chứng âm thầm) do tài tử gạo cội Harrison Ford thủ diễn mà tôi đã được xem hồi năm 1985.
Cuốn phim kể lại cuộc điều tra của một viên cảnh sát về một vụ giết người mà nhân chứng là một cậu bé thuộc giáo phái Amish. Xem sinh hoạt của người Amish trong cuốn phim (vốn được quay trong một ngôi làng của người Amish thuộc tiểu bang Pennsylvania), tôi cứ tưởng đây là chuyện xa xưa vào thời Trung cổ bên Âu châu.
Phim tài liệu có tựa đề “Meet the Amish” (gặp gỡ người Amish) được chiếu trên đài SBS cho thấy cuộc sống thực tế của các tín đồ thuộc giáo phái này. Là những người đã trốn chạy cuộc bách hại tôn giáo tại Thụy sĩhồi thế kỷ 17, những người này đã tìm đến Hoa kỳ và tiếp tục giữ nguyên phong tục tập quán của cha ông họ. Họ sống quây quần với nhau thành những ngôi làng nhỏ.
Họ khước từ mọi văn minh tiến bộ của kỹ thuật. Giữa một xã hội văn minh tiến bộ nhứt thế giới, họ vẫn còn di chuyển bằng những chiếc xe ngựa, kín nước bằng quạt gió, thắp những ngọn đèn dầu... Nhưng điều gây xúc động nhiều nhứt cho tôi chính là chủ trương sống hiếu hòa, bất bạo động, khiêm tốn, tránh đươngđầu và nhứt là tương trợ nhau.
Với tôi, những ngôi làng Amish hiện hữu ngay giữa một xã hội phồn vinh nhưng đày bất ổn này là mẫu mực của một xã hội hòa bình. Tôi không cần biết giáo lý của tôn giáo này. Tôi cho rằng những người thuộc giáo phái Amish này mới thực sự là những người có đạo và biết sống đạo, bởi vì cốt lõi của đạo là gì nếu không phải là sống tử tế, công bằng, hiếu hòa, nhẫn nhục, phục vụ, hy sinh, tha thứ, cảm thông, quên mình...

Amish
Lúc nhỏ, tôi được dạy dỗ phải phân biệt người “có đạo” với người“không có đạo”. Dĩ nhiên, con nhà “có đạo” là các tín hữu Kitô như tôi. Còn“không có đạo” là tín đồ của những tôn giáo ngoài Kitô giáo. Khái niệm “tôn giáo” do người Tây phương nhồi nhét vào đầu tôi khiến tôi có cái nhìn tách biệtấy. Về phương diện này, nếu bảo tôn giáo gây chia rẽ và ngay cả hận thù thì cũng chẳng có gì quá đáng. Lịch sử thế giới và ngay trong từng dân tộc vốn đầy dẫy những cuộc chiến tranh vì tôn giáo.
Ngày nay, tôi thích khái niệm “Đạo” hơn. Có người có tôn giáo nhưng lại chẳng thể hiện sự “có đạo” chút nào trong cuộc sống. Ngược lại không thiếu những người chẳng thuộc tôn giáo nào hay tự xưng vô thần nhưng lại “có đạo” hơn ai hết. Tôi nghĩ đến trước tiên hai nhà hiền triết vĩ đại nhứt của Á đông làĐức Phật Thích Ca và Đức Khổng Tử. Xét theo phạm trù “tôn giáo” của Tây phương thì hai vị là những nhà “vô thần” chính hiệu.
Cả hai vị đều không màng đến cuộc sống mai hậu hay thế giới thần linh. Về điểm này, Đức Khổng Tử đã tỏ ra rất minh bạch. Một hôm, Tử Cống hỏi ngài: “Trên trời có thật là có thần linh tồn tại không ạ?” Đức Khổng Tử ngước mặt nhìn trời rồi trả lời: “Trên không trung, theo ý ta, ngoài tinh tú và mặt trăng mặt trời, chẳng còn gì nữa.” Giải thích về sự kiện người ta thường tế trời, ngài nói: “Đó chẳng qua là một sựgởi gắm về tinh thần của mọi người.
Thí dụ gặp năm hạn hán, mọi người đều cho rằng đây là trừng phạt của Ông Trời. Cho nên mới tế trời để cầu mưa. Kỳ thực, tế trời cũng chưa nhất định đã mưa. Trong trí nhớ của ta, đã nhiều lần có tình trạng thế này: càng tế trời càng hạn hán, cuối cùng lúa mạ chết hết, mùa màng mất trắng”.
Tử Cống hỏi tiếp: “Vậy thì người chết đi rồi, liệu có linh hồn tồn tại thật không?” Đức Khổng Tử khẳng định: “Người chết như đèn tắt, chỉ còn cái xác, còn lại chẳng có gì tồn tại cả” (x. Khúc Xuân Lễ, Khổng Tửtruyện, bản dịch của Ông văn Tùng, NXB Văn học, trg 319).
Nhìn về cuộc sống mai hậu như thế, Đức Khổng Tử đâu có xa lạ với chủ trương của người vô thần. Nhưng không gì xúc phạm bằng nếu bảo rằng nhà hiền triết đã từng đề ra Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín làm nền tảng cho cuộc sống cá nhân và xã hội là một người “không có đạo”. Còn ai “có đạo” cho bằng ngài! Còn ai đáng được “phong thánh” cho bằng ngài! Đức Khổng Tử vẫn còn được tôn thờchẳng có gì là lạ.
Có nhiều tôn giáo và mỗi tôn giáo đều có tín điều, luật lệ, phẩm trật, quyền bính, có “con chiên”, có “chủ chăn”, có tăng lữ, có tín đồ...Nhưng với tôi chỉ có một “Đạo”. Đó là đạo làm người, đạo sống tử tế, đạo sống yêu thương, đạo cảm thông và tha thứ...Con người có thể chia rẽ vì tôn giáo, nhưng chẳng ai nhân danh “Đạo làm người” ấy để mà đấu đá, loại trừ, tiêu diệt nhau cả.
Tôi có thể bị “dứt phép thông công”, bị “vạ tuyệt thông” hay trục xuất ra khỏi cộng đồng Giáo hội của tôi vì có thể bị cho là “lạc giáo”.
Nhưng tôi tin chắc rằng chẳng ai có thể loại trừ tôi ra khỏi “Đạo làm người” cả.
Chu Thập

Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam

Thưa ông Nguyễn Hưng Quốc , Ông còn lạ gì dưới chế-độ đảng-trị cọng-sản , nhờ có XƯỞNG ĐẺ***nên đã ĐẺ ra nhiều, "hiện-tượng phản ngôn-ngữ ở Việt-nam" từ sau Tháng 04 Năm 1975, đó là thành-quả của Duy-Vật Biện-chứng :
*** Bệnh-viện Bảo-sanh Từ-Dủ = cách-mang cs gọi là XƯỞNG ĐẺ *** ; ...cái NỒI NGỒI TRÊN cái CỐC... !!!

TTKh.

From: Gia Cat
Subject: NGUYEN HUNG QUOC :Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam

Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam
Nguyễn Hưng Quốc

Trên báo chí trong nước, thỉnh thoảng có một số người còn nhiều tâm huyết lên tiếng báo động về tình trạng khủng hoảng của tiếng Việt. Bằng chứng họ nêu lên thường là những cách viết tắt, cố tình sai chính tả hoặc pha nhiều tiếng nước ngoài của giới trẻ trên facebook hay các blog. Nhưng dường như chưa ai thấy điều này: sự khủng hoảng trong tiếng Việt chủ yếu nằm trong lãnh vực chính trị và xuất phát từ giới cầm quyền.
Nó nằm ngay trong các nghị quyết của đảng, các bài diễn văn của giới lãnh đạo và, cụ thể nhất, trên trang báo Nhân Dân hay Tạp chí Cộng sản, rồi từ đó, lan đi khắp nơi, trên các cơ quan truyền thông cũng như ở miệng của các cán bộ và đảng viên các cấp.

Không phải người ta không thấy những sự khủng hoảng ấy. Thấy nên phản ứng. Có ba loại phản ứng chính.

Thứ nhất, không tin những gì chính quyền nói. Một trong những câu nói được nhắc nhở nhiều nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Xin lưu ý: câu nói ấy chỉ thực sự gây tiếng vang và được phổ biến rộng rãi chủ yếu sau năm 1975, lúc ông Thiệu đã trở thành con người của quá khứ.

Thứ hai, chính những người cộng sản, ngay cả cộng sản cao cấp, cũng thấy thẹn thùng khi sử dụng loại ngôn ngữ họ sáng chế và từng ra sức áp đặt lên xã hội. Có thể nêu lên hai ví dụ. Một là với chữ “đồng chí”.
Trước, đó là cách xưng hô chính thức và phổ cập. Sau, nó chỉ hiện hữu trong các cuộc hội nghị. Nói chuyện với nhau, hầu như không ai gọi nhau là “đồng chí” nữa. Nghe chữ “đồng chí” là sợ: nó báo hiệu một màn đấu đá hoặc một tai họa (1). Ngay ở Trung Quốc, chính quyền cũng khuyên dân chúng hạn chế dùng chữ “đồng chí” trên các phương tiện giao thông công cộng (2). Hai là chữ “cộng sản”.

Với nhiều người, kể cả đảng viên, cứ nghe người khác gọi mình là “cộng sản”, họ có cảm giác như nghe một lời chửi mắng.
Chứ không có chút tự hào trong đó cả. Nhớ, đã khá lâu, trong một cuộc gặp gỡ ở Úc, một người là đảng viên khá cao cấp, hiện đang làm việc trong ngành truyền thông ở Việt Nam, nhắc đến cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996) của tôi, rồi hỏi: “Sao anh không đặt nhan đề là ‘Văn học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa’ nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Thế có khác gì nhau không?” Anh ấy đáp: “Khác chứ.
Chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ nghe thanh lịch hơn; còn chữ ‘chế độ cộng sản’ nghe ghê quá, cứ như một lời kết án.” Tôi lại hỏi: “Anh là đảng viên mà cũng có ấn tượng vậy sao?” Anh ấy đáp, thật thà: “Đó là ấn tượng chung của toàn xã hội mà.
Tên đảng thì không ai dám đổi, nhưng trong đời sống hàng ngày, nghe mấy chữ ấy, mình cũng thấy ngài ngại.”

Thứ ba, phản ứng lại sự lũng đoạn ngôn ngữ của chính quyền dưới hình thức phản-ngôn ngữ (anti-language) qua những cách nói hoàn toàn bất chấp nguyên tắc ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp thông thường.

Hiện tượng phản-ngôn ngữ, vốn xuất hiện và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, trong vài thập niên trở lại đây, có nhiều hình thức khác nhau.

Nhớ, lần đầu tiên tôi về Việt Nam là vào cuối năm 1996. Lần ấy, tôi ở Việt Nam đến bốn tuần. Một trong những ấn tượng sâu đậm nhất còn lại trong tôi là những thay đổi trong tiếng Việt.
Có nhiều từ mới và nhiều cách nói mới tôi chỉ mới nghe lần đầu. Ví dụ, trà Lipton được gọi là “trà giật giật”; cái robinet loại mới, có cần nhấc lên nhấc xuống (thay vì vặn theo chiều kim đồng hồ) trong bồn rửa mặt được gọi là “cái gật gù”; ăn cơm vỉa hè được gọi là “cơm bụi”; khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”; hoàn cảnh khó khăn được xem là “rất hoàn cảnh”; thịt beefsteak được gọi là “bò né”.
Sau này, đọc báo trong nước, tôi gặp vô số các từ mới khác, như: “đại gia”, “thiếu gia” (3), “chân dài”, “chảnh” (kênh kiệu) (4), “bèo” (rẻ mạt), “khủng” (lớn); “tám” (tán gẫu); “buôn dưa lê” (lê la, nhiều chuyện), “chém gió” (tán chuyện), “gà tóc nâu” (bạn gái), “xe ôm” (bạn trai), “máu khô” (tiền bạc), “con nghẽo” (xe máy), v.v.

Trong các từ mới ấy, có từ hay có từ dở, tuy nhiên, tất cả đều bình thường. Ngôn ngữ lúc nào cũng gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống thay đổi, ngôn ngữ thay đổi theo. Những sản phẩm mới, hiện tượng mới và tâm thức mới dẫn đến sự ra đời của các từ mới. Ở đâu cũng vậy. Tất cả các từ điển lớn trên thế giới đều có thói quen cập nhật các từ mới hàng năm.
Có năm số từ mới ấy lên đến cả hàng ngàn. Việt Nam không phải và không thể là một ngoại lệ. Đối diện với những từ mới ấy, có hai điều nên tránh: một, xem đó là những từ ngớ ngẩn rồi phủ nhận tuốt luốt; và hai, xem đó là từ…Việt Cộng và tìm cách chối bỏ chúng.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất không phải là sự xuất hiện của các từ mới hay các tiếng lóng mới ấy. Mà là những cách nói mới, rất lạ tai, thậm chí, quái gở, phổ biến khắp nơi, ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tiếng tăm, đặc biệt ở Hà Nội.
Có thể tóm gọn các cách nói mới ấy vào bốn điểm.

Thứ nhất, hiện tượng dùng nguyên cả một cụm từ hoặc một từ ghép hoặc một tên riêng của một người, một địa phương hoặc một nước để chỉ lấy ra một từ tố trong đó.
Ví dụ, thay vì nói “lâu”, người ta nói “Hà Văn Lâu” (hay “Hồng Lâu Mộng”); thay vì nói “đông” (đúc), người ta nói “Hà Đông”; thay vì nói “xa”, người ta nói “Natasha” (chỉ lấy âm cuối, “Sha”, phát âm theo giọng miền Bắc là “xa”); thay vì nói “xinh” (xắn), người ta nói “nhà vệ sinh” (âm /s/ bị biến thành /x/); thay vì nói “tiện”, người ta nói “đê tiện”; thay vì nói “cạn” (ly), người ta nói “Bắc Cạn”; thay vì nói “can” (ngăn), người ta nói “Lương Văn Can”; và thay vì nói “chia” (tiền), người ta nói “Campuchia”. Cuối cùng, người ta có một mẩu đối thoại lạ lùng như sau:

“Đi gì mà Hà Văn Lâu thế?''
''Ừ, tại đường Hà Đông quá!''
''Từ đấy đến đây có Natasa không?''
“Không. À, mà hôm nay em trông hơi nhà vệ sinh đấy nhé!”
“Khéo nịnh! Tí nữa, đi về, có đê tiện, mua giùm em tờ báo nhé!”
“Ừ, mà thôi, bây giờ nhậu đi!”
“Ừ, Bắc Cạn đi, các bạn ơi!''
“Thôi, tôi Lương Văn Can đấy!”
''Này, hết bao nhiêu đấy, để còn Campuchia?''

Thứ hai, hiện tượng dùng chữ “vô tư”. Lúc ở Hà Nội, một trong những từ tôi nghe nhiều nhất là từ “vô tư”. Nó được dùng một cách lạm phát. Cái gì cũng “vô tư”. Bạn bè, gồm toàn các giáo sư và nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội, rủ tôi vào quán thịt cầy. Thấy tôi thoáng chút ngần ngại, họ liền nói: “Cứ vô tư đi mà! Thịt cầy ở đây ngon lắm!” Sau khi uống vài ly rượu, cảm thấy hơi chếnh choáng, tôi xin phép ngưng, họ lại nói: “Không sao đâu, cứ vô tư uống thêm vài ly nữa cho vui. Rượu này ngâm thuốc, bổ lắm!” Cuối tiệc, tôi giành trả tiền, họ lại nói: “Không, bọn tôi đãi, anh cứ vô tư đi!” Cứ thế, trong suốt bữa tiệc hai ba tiếng đồng hồ, tôi nghe không dưới vài chục lần từ “vô tư”. Chữ “vô tư” ấy phổ biến đến độ lọt cả vào trong thơ Nguyễn Duy:

Mình vô tư với ta đi
Vô tư nhau chả cần chi nhiều lời
Vô tư thế chấp đời người
Trắng tay còn chút coi trời bằng vung
Luật chơi cấm kị nửa chừng
Vô tư đặt cọc tận cùng chiếu manh
Liền em vô tư liền anh
Không ngây không dại không đành phải không.

Thứ ba, hiện tượng dùng các phụ từ “hơi bị”. Bình thường, trong tiếng Việt, “bị”, đối lập với “được”, chỉ những gì có ý nghĩa tiêu cực và ngoài ý muốn. Bất cứ người Việt Nam nào cũng biết sự khác biệt giữa hai cách nói “Tôi được thưởng” và “Tôi bị phạt”.
Vậy mà, ở Việt Nam, ít nhất từ giữa thập niên 1990 đến nay, ở đâu, người ta cũng nghe kiểu nói “Cô ấy hơi bị hấp dẫn”, “Ông ấy hơi bị giỏi”, “chiếc xe ấy hơi bị sang”, “nhà ấy hơi bị giàu”, hay “bức tranh ấy hơi bị đẹp”, v.v.

Cuối cùng là hiện tượng các thành ngữ mới đã được Thành Phong sưu tập và minh họa trong cuốn Sát thủ đầu mưng mủ (sau đó bị tịch thu, năm 2011), bao gồm những câu kiểu:

ăn chơi sợ gì mưa rơi
buồn như con chuồn chuồn
chán như con gián
chảnh như con cá cảnh
chuyện nhỏ như con thỏ
bực như con mực
cực như con chó mực
đau khổ như con hổ
đen như con mèo hen
đói như con chó sói
đơn giản như đan rổ
dốt như con tốt
đuối như trái chuối
ghét như con bọ chét
già như quả cà
hồn nhiên như cô tiên
im như con chim
lạnh lùng con thạch sùng
ngất ngây con gà tây
ngốc như con ốc
phê như con tê tê
sành điệu củ kiệu
tê tái con gà mái
thô bỉ như con khỉ
tự nhiên như cô tiên
tinh vi sờ ti con lợn
xinh như con tinh tinh

Tất cả những hiện tượng trên đều có một số đặc điểm chung.
Thứ nhất, có lẽ chúng xuất phát từ Hà Nội, sau đó, lan truyền ra cả nước, kể cả Sài Gòn.
Thứ hai, chúng phổ biến không phải chỉ trong giới trẻ mà còn cả trong giới trí thức lớn tuổi, kể cả giới học giả, giáo sư đại học và văn nghệ sĩ nổi tiếng.
Thứ ba, tất cả những cách nói ấy đều ngược ngạo, thậm chí, vô nghĩa. Chả có ai có thể giải thích được những kiểu nói như “buồn như con chuồn chuồn” hay “chán như con gián” hay “im như con chim”, “xinh như con tinh tinh”… trừ một điều duy nhất: chúng có vần vè với nhau. Vậy thôi.

Trong lịch sử tiếng Việt, thỉnh thoảng lại xuất hiện những hiện tượng mới, đặc biệt trong khẩu ngữ, nhiều nhất là trong tiếng lóng. Tuy nhiên, có lẽ chưa bao giờ lại có những hiện tượng nói năng ngược ngạo và vô nghĩa như hiện nay.
Ở miền Nam trước năm 1975, người ta làm quen với những kiểu nói như “lính mà em”, “tiền lính tính liền”, “sức mấy mà buồn”, “bỏ đi Tám”, “OK Salem”, “mút mùa Lệ Thủy”, “thơm như múi mít”, “bắt bò lạc”, “một câu xanh rờn”, v.v. Với hầu hết những kiểu nói như thế, người ta có thể hiểu được. Còn bây giờ? Không ai có thể giải thích được. Chúng ngược ngạo đến mức quái đản. Và chúng vô nghĩa đến mức phi lý.

Vậy tại sao chúng lại ra đời, hơn nữa, phổ biến rộng rãi trong xã hội, ngay trong giới có học thuộc loại cao nhất nước?

Dĩ nhiên không phải vì người ta không biết. Biết, chắc chắn là biết; nhưng người ta vẫn chọn những cách nói ấy. Đó là một chọn lựa có ý thức chứ không phải một thói quen vô tình. Sự chọn lựa ấy chỉ có thể được giải thích bằng một cách: người ta muốn nói khác. Khác với cái gì?
Với những quy ước ngôn ngữ đang thống trị trong xã hội và thời đại của họ. Khi những cái khác ấy được thực hiện một cách bất chấp luận lý và quy luật, chúng trở thành một thách thức, một sự chối bỏ, hay đúng hơn, một sự phản kháng. Bình thường, không ai phản kháng ngôn ngữ. Bởi ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ.
Người ta chỉ phản kháng tính chất giả dối, khuôn sáo, cũ kỹ, chật chội trong ngôn ngữ hoặc đằng sau ngôn ngữ: văn hóa, chính trị và xã hội. Bởi vậy, tôi mới xem những cách nói ngược ngạo phổ biến tại Việt Nam hiện nay như một thứ phản-ngôn ngữ: nó là một phần của thứ đối-văn hóa (counter-culture), xuất phát từ động cơ muốn thoát khỏi, thậm chí, chống lại những giá trị, những quy phạm và những chuẩn mực mà người ta không còn tin tưởng và cũng không muốn chấp nhận nữa.

Nói cách khác, nếu việc sử dụng ngôn ngữ trong bộ máy tuyên truyền của đảng và nhà nước Việt Nam mang đầy tính chính trị thì hiện tượng phản-ngôn ngữ đang phổ biến tại Việt Nam hiện nay cũng có tính chính trị.
Thứ chính trị trên dựa trên sự áp chế, độc tài và giả dối; thứ chính trị dưới là một sự phản kháng lại thứ chính trị trên nhưng lại dựa trên một thứ chủ nghĩa hư vô đầy tuyệt vọng.

***
Chú thích:
  1. Có thể thấy điều này qua một ví dụ khá tiêu biểu: Bài thơ “Cho một nhà văn nằm xuống” viết nhân cái chết của nhà văn Nguyên Hồng của Trần Mạnh Hảo (1982) bị phê phán kịch liệt. Võ Văn Kiệt, lúc ấy là Bí thư thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, cho gọi Trần Mạnh Hảo đến gặp. Trần Mạnh Hảo rất sợ. Thế nhưng cảm giác sợ hãi ấy tiêu tan ngay khi ông nghe câu nói đầu tiên của Võ Văn Kiệt: “Hảo à! Đù má… Mày làm cái gì mà dữ vậy?” Trần Mạnh Hảo giải thích: “Anh phải hiểu rằng tính cách người Nam Bộ là thế. Sống với nhau trong cơ quan hay lúc sinh hoạt thường hay dùng câu ĐM kèm theo. Thân tình mới có câu ĐM.
  2. Còn đã gọi nhau bằng đồng chí là ‘có chuyện’. Nghe được lời mắng của anh Sáu (Võ Văn Kiệt) lại có kèm ĐM, tôi biết ngay là ‘thoát’.” Chuyện này được thuật lại trong bài “Much Ado About Nothing” của Phạm Xuân Nguyên trên Talawas.
  1. http://www.reuters.com/article/2010/05/31/us-china-comrade-idUSTRE64U0WP20100531
  1. Cả hai từ “đại gia” và “thiếu gia” đều là những từ cũ, ngày xưa; bây giờ được dùng lại.
  1. Gần đây, chữ “chảnh” còn được nói dưới hình thức tiếng Anh bồi là “lemon question” (chanh + hỏi); cũng như chữ “vô tư” còn được nói là “no four” (không = vô + bốn = tư). Giống như trước 1975, người ta từng nói “no star where” – không sao đâu.

Bản chất và hiện tượng của Cộng Sản


nhan co cau " Thuc lau moi biet dem dai", chung ta  hien song o nuoc ngoai nhu'ng da thay ro ma.t trai cua  bon CS Hanoi, tu truoc 1954 cho toi 1975, va sau nay du chung ta da  vuot bien di khoi VN, VC van con dung nhieu chieu lua bip, gian doi, phinh gat ,khien mot so lai ve Hanoi nhan chi thi lam giau cho CS , de duoc  chung khen...,de rut ruot them ba con da dinh cu o nuoc ngoai.
The nhung cac chieu bai cua CS chi co mot muc dich la Vinh than phi gia, lam giau tren xuong mau dong bao, nhung van hen ha dang ca giang son cho bon Tau Cong, de muon duoc yen than. Su'. thu'c , nuoc da mat thi bon CS Hanoi lam duoc gi`, neu khong noi la lam toi to' trung thanh cho bon Han xam luoc !  Biet vay thi  chi con cach la BAT HOP TAC VOI CS GIAN AC, LOT MAT NA. CHUNG RA  va doan ket chong lai chung to'i cu`ng ma thoii !Xin moi doc ve chinh sach tan bao,gian doi va vo cung doc ac cua CS...de khoi bi lam !  

2012/9/16 Patrick Willay <

 



 

 

Bản chất và hiện tượng của Cộng Sản

MX Lê Công Truyền

 

 

“Chẳng có gì về Cộng Sản là lỗi thời, dù có lập lại bao lần vẫn gợi dậy một cảm giác khủng khiếp, một tâm trạng hãi hùng”


Văn hào Soljenitsyne


Sau một thời gian du hí tại Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 2003, viên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trở về nước huênh hoang tuyên bố: “Trong thời gian tới, cần quán triệt tinh thần chủ động, sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và xây dựng với những bước đi và biện pháp cụ thể, thực hiện chủ trương hòa hợp dân tộc, khép lại quá khứ, tiến tới tương lai...”


Ðọc qua câu tuyên bố ghi trên, người viết chợt liên tưởng đến các thuật ngữ “BẢN CHẤT” và “HIỆN TƯỢNG” mà CSVN thường dùng để biện hộ những hành vi tham nhũng, hối mại quyền thế của đảng viên các cấp: “Bản chất của đảng ta là ưu việt, các hành vi tham nhũng, hối mại quyền thế chỉ là hiện tượng”. Nói như thế, CSVN đã quên định luật “lượng biến đổi chất” của Karl Marx: giả sử “đảng ta” có thật sự “ưu việt” đi chăng nữa thì cái khối lượng tham nhũng, lạm quyền đang tràn ngập đất nước, phủ trùm toàn dân đã biến cái “bản chất ưu việt” thành cái “bản chất Mafia đỏ”. Thực ra, ngay khi mới chào đời, “đảng ta” đã mang “bản chất” tàn độc rồi! Bruno Bauer gốc Ðức, một học giả cùng thời với Marx, đã lên án chủ nghĩa Marxisme khi nhận định rằng chủ nghĩa này sẽ mang đại họa đến cho xã hội loài người. Thực tế đã chứng minh lời tiên tri này là đúng. Trên một thế kỷ sau, Robert Hue, Tổng bí thư đảng Cộng sản (CS) Pháp đã nhận định: “Cách mạng tháng mười ở Liên Xô và phong trào Bolchevisme là thảm kịch của nhân loại và là một tiến trình quái dị”.


Trong bài viết này, trước hết xin nêu vài thí dụ hàm chứa hai yếu tố hiện tượng và bản chất để có một ý niệm về hai yếu tố này hầu có thể xét hiện tượng và bản chất trong chế độ CSVN. Sau hết, thử phân tích một trường hợp điển hình để xem CS Hà Nội trình diễn một trong hàng vạn hiện tượng để che dấu bản chất bán nước, vọng ngoại của bọn họ.


I. VÀI THÍ DỤ LIÊN QUAN TỚI BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG


1.Từ ngàn xưa, dân Nga đã có một ngạn ngữ mà họ thường nhắc cho nhau nghe để tránh bị lừa, có khi thân bại danh liệt hoặc phải vong mạng: “Con rắn độc chỉ đổi màu tùy nơi chốn nó nằm để lừa nạn nhân của nó, chứ nọc độc của nó vẫn là nọc độc.”

Trong truyện Kiều, nói về bản tính của Hoạn Thư, thi hào Nguyễn Du viết:

“Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao”


Trong vở kịch Britanicus, thi hào, kịch tác gia Racine của Pháp vào thế kỷ thứ XVII đã viết (lời của một vai trong vở kịch): “J’embrasse mon ennemi mais c’est pour l’étouffer”. Sau đây là câu chuyện: Narcisse tranh ngôi với anh, xem anh như kẻ tử thù mà đương sự đang tìm độc kế để ám hại; sau một thời gian khá dài bàn mưu tính kế, bỗng nhiên Narcisse thay đổi thái độ đối với anh: cử chỉ thân thiện, lời nói đượm tình huynh đệ. Sự kiện này khiến kẻ tâm phúc thắc mắc:” Khải tấu hoàng tử, vì sao ngài lại có vẻ thân thiết, trìu mến và dường như muốn cầu hòa với thái tử?”. Narcisse đã giải tỏa thắc mắc của thuộc hạ qua câu nói đầy sắt máu và tàn bạo: “Ta ôm hôn kẻ thù của ta, nhưng chính là để siết họng nó”


2. “Bản chất” mà chúng tôi tạm gọi là “thực” chính là nọc độc của con rắn, tâm địa ác độc của Hoạn Thư và lòng thù hận của Narcisse. Việc thay màu đổi sắc của con rắn, “thơn thớt nói cười” của Hoạn Thư và sự thay đổi thái độ của Narcisse chẳng qua chỉ là những “hiện tượng”, chợt hiện, chợt biến mà chúng tôi tạm gọi là “hư” được xử dụng để con rắn dễ ẩn mình, với nọc độc tiềm ẩn bên trong, ngụy trang lòng ghen tức của Hoạn Thư và nỗi căm hận của Narcisse.


Nói tóm lại, “bản chất” có tánh cách bất biến không sao thay đổi hay sửa đổi được. “Hiện tượng” có tánh cách biến đổi, nay thế này, mai thế khác, tùy hoàn cảnh. Ðừng quá ngây thơ để lầm lẫn “hiện tượng” với “bản chất”. Nhưng cũng đừng quá đa nghi và yếm thế để nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn là “hiện tượng”! Chỉ có thời gian và kinh nghiệm mới giúp chúng ta nhận định được đâu là “bản chất”, đâu là “hiện tượng”. Ông bà ta thường nói:

“Thức khuya mới biết đêm dài

Ở lâu mới biết lòng người có nhân”


Lục Du đời nhà Tống có nói: “Thính tri bất như kiến tri, kiến tri bất như cư tri” (Nghe mà biết không bằng thấy mà biết, thấy mà biết không bằng ở mà biết). Ðồng bào miền Bắc sống dưới chế độ CS trên 50 năm, và đồng bào miền Nam trên 30 năm hẳn đã có nhiều kinh nghiệm về “hiện tượng” và “bản chất” của CSVN.


II. BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG TRONG CHẾ ÐỘ CSVN


Ðiểm qua cuộc đời trên dưới ¾ thế kỷ của đảng CSVN, người ta thấy “bản chất” của đảng này thật sự bất biến và cấu tạo bởi nhiều thành tố: bạo lực, hận thù, lừa bịp, vọng ngoại, độc tài đảng trị... Người ta có thể nói bạo lực, lừa bịp, hận thù là thánh kinh của CS, là xương tủy, là huyết mạch, là da thịt, là tim óc của người CS ở bất cứ dưới gầm trời nào.


Văn hào Alexander Soljenitsyne, người có quá nhiều kinh nghiệm với CS, đã viết: “Ði xe đạp từ mặt đất lên cung trăng còn dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. Ðiều này cũng dễ hiểu vì mọi chế độ CS đều dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lénine và trong thế giới CS, càng tích cực chừng nào càng tàn bạo chừng nấy (1).


Raymond Aron, một học giả nổi tiếng người Pháp, đã nhận định: “ Tại Nga Sô, sự lừa bịp được định chế hóa. Nhà cầm quyền CS phải luôn luôn bóp méo sự thật để quần chúng không nhìn thấy chân tướng của CS là một con quái vật khát máu mang tên Xã hội chủ nghĩa.”


Bạo lực và hận thù của VC đối với người Việt không CS đã được ghi chép trong sử sách:


- Tàn sát người quốc gia -yêu nước- chống Pháp để giữ độc quyền thống trị đất nước hầu dâng nước cho CS đàn anh: Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng VC Phạm văn Ðồng, vâng lệnh Hồ chí Minh, đã gởi công hàm cho Tổng Lý Quốc Vụ Viện Chu Ân Lai, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Cộng; cuối năm 1999 và năm 2000, CSVN đã âm thầm ký kết và lén lút phê chuẩn hai hiệp ước dâng đất và dâng biển cho Trung Cộng.



- Tàn sát cả một làng Láng Linh, mà cư dân là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để trả thù việc PGHH chống Pháp và chống luôn cả Việt Minh CS (1947)

- Tàn sát hàng vạn nông dân vô tội trong cuộc “cải cách ruộng đất” để làm đẹp lòng quan thầy Trung Cộng và nhất là để thỏa mãn lòng “hận thù giai cấp” của bọn đồ tể trong Bắc bộ phủ (1956)


- Tàn sát hàng vạn đồng bào tại cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân để trả thù việc đồng bào không “tổng nổi dậy” theo kế hoạch của CS Hà Nội (1968)

- Sau hiệp định đình chiến ký kết tại Paris, VC tiếp tục pháo kích vào các trường tiểu học để tàn sát các trẻ thơ vô tội, điển hình là trường tiểu học Cai Lậy và Song Phú (1974)


- Tàn sát cả một làng Tân Lập ở Xuân Lộc để trả thù việc Sư Ðoàn 18BB và quân dân cán chính Long Khánh đã anh dũng chận đứng sức tiến quân của CSBV, khiến cả mấy Trung đoàn của họ bị tiêu diệt (1975)


- Sau ngày 30.4.75, VC đã tập trung quân cán chính VNCH vào các trại tù khổ sai để sỉ nhục, đầy đọa. Hàng trăm ngàn người đã bị sát hại: xử tử, bó đói, không chữa trị. Có những chiến sĩ VNCH mù cả đôi mắt hoặc bị cưa chân vẫn bị VC tập trung “cải tạo”. Quả thật đúng là một cuộc trả thù tàn bạo và đốn mạt


- Chiến dịch đánh tư sản mại bản, một hình thức cướp ngày của lũ Mafia đỏ, đã giết hại không biết bao nhiêu là “kẻ thù của giai cấp vô sản”!


- Chính sách cai trị tàn độc của VC đã đẩy hàng triệu người ra biển Ðông, trong số này phân nửa đã tới bến bờ tự do và phân nửa lấy biển cả làm huyệt mộ! (theo thống kê của LHQ)


Bảng liệt kê tội ác của CSVN vừa được trình bày, tuy có quá nhiều thiếu sót nhưng cũng tạm đủ để cho thấy CSVN, suốt 75 năm qua, đã không ngớt dùng bạo lực để thỏa mãn hận thù.


Bản chất CSVN là như thế ấy. Nhưng khi gặp cơn nguy biến hoặc cảm thấy bị đe dọa bởi “diễn biến hòa bình”, họ liền thi triển những “hư chiêu” trình diễn những “hiện tượng”, đưa ra những chiêu bài để lừa bịp những người nhẹ dạ, dễ tin và làm cho những người này quên đi cái “bản chất” cố hữu của họ hầu tiếp tay với họ để cứu đảng, cứu chế độ! Vài năm gần đây, các “hiện tượng” ấy được trình diễn khá nhiều với các khẩu hiệu nào là “bộ phận máu thịt của dân tộc VN” (2), nào là “khúc ruột ngoài ngàn dặ”, nào là “xóa bỏ hận thù”, nào là “khép lại quá khứ”, nào là “tiến tới tương lai”, nào là “hòa hợp hòa giả”, nào là “đại đoàn kết dân tộc”, nào là “độc đảng đem lại phúc lợi cho dân tộc”....Thật ra, những khẩu hiệu ấy chỉ là tiếng cú rúc, tiếng kêu của con thần đanh đỏ mỏ, báo hiệu ngày tàn của một chế độ phi nhân. Tuy nhiên, nếu chúng ta cả tin và hưởng ứng tiếng kêu của con thần đanh đỏ mỏ, thì chế độ phi nhân ấy sẽ còn kéo dài để làm khổ dân tộc. Nhứt định chúng ta không tin và phải thấy rằng đó chỉ là những “hiện tượng” chứ không phải thực chất của CSVN. Sau đây xin điểm qua các “hiện tượng” nêu trên.


* Các nhóm chữ “khúc ruột ngoài ngàn dặm”, “bộ phận máu thịt của dân tộc VN”, làm cho người viết chạnh nhớ tới lời chửi bới thô bỉ khi xưa của VC dành cho khối người Việt lánh nạn CS: “ Bọn ma cô, đĩ điếm, liếm gót giày đế quốc Mỹ”. Ai thực sự là ma cô đĩ điếm? Tình trạng xã hội băng hoại của cái Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nạn xuất cảng trẻ thơ để làm nô lệ tình dục cho ngoại bang hầu vơ vét ngoại tệ về cho đảng đã cho ta thấy bọn ma cô đích thực là tà quyền Việt cộng. Trong phần III của bài này chúng ta sẽ thấy ai là bọn “liếm gót giày đế quốc CS”

* CSVN kêu gọi người Việt hải ngoại “xóa bỏ hận thù” để họ độc quyền hận thù. Chắc chúng ta ai cũng còn nhớ câu kinh nhật tụng của VC trong các trại tù khổ sai, mang mỹ từ “Trại cải tạo”: Tội ác của các anh trời không dung đất không tha, cách mạng thù các anh đến muôn đời. Thế nào là tội ác? Hy sinh xương máu, hy sinh hạnh phúc để bảo vệ đất nước chống bọn tay sai cộng sản đệ tam không phải là “tội ác”. Ðảng viên cao cấp hiếp dâm trẻ thơ, đáng tuổi cháu nội cháu ngoại của mình mới là “tội ác”(3). Dùng quyền lực để cưỡng dâm một “thiếu nữ miền cao” đến khi sinh nở rồi cho thuộc hạ thủ tiêu bằng một tai nạn xe hơi mới là tội ác (4). Dâng đất,dâng biển cho ngoại bang để tiếp tục nắm giữ quyền lực mới là tội ác đáng bị nguyền rủa muôn đời!


* CSVN kêu gọi chúng ta “khép lại quá khứ” hoặc “hãy quên quá khứ”. Họ có “khép lại quá khứ” hay không? Không! Họ vẫn ăn mừng ngày “chiến thắng 30.4.75” trên nỗi thống khổ của toàn dân hai miền đất nước. Họ vẫn dùng tên của lũ sát nhân để đặt tên đường trong thủ đô Saigon và các tỉnh thị miền Nam thay vì dùng tên những vị anh hùng dân tộc. Họ muốn chúng ta quên quá khứ, quên những nỗi đau thương mà họ đã giáng lên đầu lên cổ người dân VNCH để họ dễ bề tái diễn những gì họ đã làm trong quá khứ và để độc quyền ôm chặt quá khứ!. Cố Thủ tướng Anh quốc, Winston Churchill, lúc sinh thời đã nói: “Những ai không thuộc lịch sử hay quên lịch sử sẽ mang cái tội là làm cho nó tái diễn”. Vả lại quá khứ không phải là gió thoảng, mây bay, nó vẫn giữ nguyên vị trong lòng ta, ta không quên được. Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, ta sẽ rơi vào bẫy sập của tà quyền VC. André Malraux rất có lý khi ông viết “ cần nuôi dưỡng chút lửa bất mãn để tiếp tục chiến đấu”. Trường hợp của chúng ta, nếu chúng ta quên quá khứ, quên hận thù, chúng ta sẽ không còn động lực để tiếp tục chiến đấu. Quá khứ và hận thù nói đây không phải là quá khứ và hận thù của riêng mỗi người chúng ta mà là quá khứ và hận thù của đất nước và của dân tộc bị chà đạp dưới gót giày xâm lăng của đệ tam quốc tế.


Mặt khác, quá khứ, hiện tại và tương lai là ba giai đoạn của đời người, của một chế độ. Với CSVN, như chúng ta đã chứng kiến, quá khứ và hiện tại không có gì khác nhau, vẫn bạo lực và bạo lực! Vẫn hận thù và hận thù! Vẫn lừa bịp và lừa bịp! Vẫn đàn áp và đàn áp! Như vậy, đúng là hiện tại đã nối dài quá khứ. Rồi đây, hiện tại sẽ trở thành quá khứ và tương lai sẽ lại là hiện tại và cứ thế “bánh xe” quá khứ-hiện tại-tương lai cứ quay đều cho đến khi có một đại động đập nát cái “bánh xe” ấy. Chừng đó mới có thể nói đến tương lai.


* CSVN còn kêu gọi hòa hợp dân tộc hoặc đoàn kết dân tộc. Ðó là những khẩu hiệu mà người CS hô cho sướng miệng để lừa bịp những người không CS nhưng lại dễ tin CS. Thật thế, trọng tâm của chủ nghĩa CS là đấu tranh giai cấp, là vô sản chuyên chính ; đã là vô sản chuyên chính và đấu tranh giai cấp thì không thể nào dung nhận đối lập. Lenine đã khẳng định:” Ai không theo tôi là chống tôi và ai chống tôi sẽ phải chết”(5). Như vậy, không thể có đối lập trong chế độ CS. Không dung nhận đối lập thì làm thế nào chấp nhận đa nguyên, đa đảng? Không chấp nhận đa nguyên đa đảng thì không thể nào có hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc. Như vậy, theo VC, đại đoàn kết dân tộc phải được hiểu như sau: “Khúc ruột ngoài ngàn dặm” có bổn phận mang chất xám và ngoại tệ về để cùng với “bọn phản động” trong nước phủ phục dưới chân “đảng ta”,hô to năm tiếng “Ðảng Cộng sản muôn năm” rồi sau đó phải tuyệt đối im hơi lặng tiếng ; “đảng ta” ban phát cái gì thì hưởng cái nấy, không được đòi hỏi, không được chống đối, nếu không sẽ phải bị “treo cổ, chặt đầu”(6).


* Sau hết, xin có đôi dòng về “quyết tâm độc đảng” của VC.


Ngày 19/11/1993, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu sang thăm Việt Nam lần thứ hai. Báo chí VC nhân cơ hội này đã không tiếc lời tôn vinh nhà lãnh đạo Tân Gia Ba (TGB) và ca ngợi tài kinh bang tế thế của ông ta, đồng thời đưa ra một luận cứ đầy ngụy biện tính: “Sở dĩ TGB trở nên giàu mạnh là nhờ ở chế độ độc đảng ; thế tại sao Cộng hòa XHCNVN lại phải từ bỏ chế độ độc đảng mới có thể trở nên phồn vinh?”

Dĩ nhiên luận cứ nêu trên chẳng thuyết phục được ai. Nó chỉ chứng minh sự ngoan cố của những con người lúc nào cũng đặt đảng, chủ nghĩa và quyền lợi của bè nhóm lên trên quyền lợi tối thượng của đất nước và dân tộc.


Thực ra, tại TGB, dù hiện nay chỉ có một đảng duy nhất đang cầm quyền, ta không thể cho rằng đảo quốc này theo chế độ độc đảng. Ta có thể nói TGB đang ở trong tình trạng độc đảng và tình trạng này bắt nguồn từ sự đồng thuận của người dân: dân chưa thấy cần phải có đảng đối lập, chứ không phải chính quyền dùng bạo lực để tước đoạt quyền đối lập của dân. Thật vậy, hiến pháp TGB không có cái điều 4 quái gở của hiến pháp VC năm 1992. Hiến pháp TGB đã xây dựng chính quyền trên nền tảng mà các nước văn minh trên thế giới đều chấp nhận. Ðó là nền dân chủ pháp trị, trong đó quyền làm dân, quyền làm người được bảo vệ đúng mức, các tự do căn bản của người dân được hiến pháp quy định một cách minh bạch và nhà cầm quyền triệt để chấp hành, không một thế lực nào có thể chà đạp được. Ðể kết luận về điểm này, ta có thể nói:


1. Chế độ độc đảng theo kiểu CHXHCN Việt Nam, đồng nghĩa với độc tài toàn trị, đang dìm đất nước và dân tộc xuống đáy vực thẳm;


2. Sự thịnh vượng của TGB không bắt nguồn từ tình trạng độc đảng mà nhờ ở chỗ đảng cầm quyền biết tự đặt mình dưới một nền dân chủ pháp trị, biết tôn trọng nhân quyền và dân quyền, biết lắng nghe để thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của mọi tầng lớp dân chúng, và nhất là nắm vững thuật trị quốc: yêu nước phải thương dân và đối xử với dân như con người chứ không phải như con vật.

III. MỘT TRƯỜNG HỢP ÐIỂN HÌNH VỀ HIỆN TƯỢNG VÀ BẢN CHẤT CỦA VIỆT CỘNG


Trước cuộc qua phân đất nước ngày 20.7.1954, hàng năm cứ đến ngày 10.3 âm lịch, chính phủ Quốc gia Việt Nam lại cử một đại diện về tận Ðền Hùng tại Phú Thọ, Bắc việt để chủ tọa lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (LGTHV).


Sau khi Việt Minh CS cấu kết với thực dân Pháp để chia đôi đất nước, Ðền Hùng đã lâm vào cảnh hương tàn khói lạnh trong gần nửa thế kỷ.


Trong khi đó, tại miền Nam, LGTHV đã được cử hành mỗi năm một cách trọng thể dưới sự chủ tọa của vị nguyên thủ quốc gia.


Sau ngày 30.4.75, LGTHV chỉ còn được tổ chức tại hải ngoại bởi các cộng đồng người Việt lánh nạn CS mà thôi!


Một câu hỏi được đặt ra tại đây: Tại sao VC không tổ chức LGTHV? Lý do rất đơn giản: Họ đã phủ nhận tổ quốc VN và, do đó, đã phủ nhận công đức của Quốc Tổ Hùng Vương. Ðối với họ, chỉ có “Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” và do đó, họ chỉ tôn thờ “Tổ Cộng Sản” mà thôi!Họ đã công khai bày tỏ niềm hãnh diện về điều đó: “Yêu nước là yêu XHCN”. Trong di chúc để lại cho đám kế thừa, người con yêu quý của “Tổ quốc XHCN” là Hồ Chí Minh đã viết: “...tôi để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác...” Thế là HCM đã không thèm gặp Tổ Hùng Vương và Liệt Thánh đã nhiều phen quét sạch bọn xâm lăng Bắc phương ra khỏi đất nước!


Ðể trả lời câu hỏi nêu trên một cách rõ ràng hơn, chúng tôi xin trích dẫn vài câu thơ sau đây mà Phó Thủ Tướng VC là Tố Hữu (TH) đã để hết tâm trí nặn ra khi y chưa đi chầu “Cụ Các Mác, cụ Lê Nin”:


“Ông Stalin ơi, ông Stalin ơi!

Hỡi ơi! Ông chết đất trời có không?

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười

Ở đoạn chót TH viết:

Một vai ơn Bác, một vai ơn Người

Con còn bé dại con ơi!

Mai sau con nhé, trọn đời nhớ Ông


“Ông” và “Người” trong các câu thơ dẫn trên, không ai khác hơn là Staline, một tên đồ tể có trách nhiệm về cái chết của trên 20 triệu dân trong Liên Bang Sô Viết (7) và cũng chính Staline đã hạ lịnh giết 4300 sĩ quan Balan vào năm 1939 tại cánh rừng Katyn.


Trong một bài thơ khác, TH hô hào:


“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng, luá tốt, thuế mau xong

Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt”


Qua các câu thơ vừa trích dẫn,chúng ta hẳn đã thấy VC hoàn toàn phủ nhận công đức của Quốc Tổ Hùng Vương và mang nặng bản chất vọng ngoại cao độ vì chỉ biết tôn thờ các lãnh tụ Nga Hoa mà thôi. Trong khi đó văn thơ miền Nam tràn đầy những lời ca tụng và nhớ ơn Ðức Quốc Tổ Hùng Vương và không hề có một văn thi sĩ nào của miền Nam bất cố liêm sỉ đến độ ca tụng các lãnh tụ trong khối Thế Giới Tự Do.


Sau đây chúng tôi xin trích dẫn vài vần thơ và câu đối của vài thi sĩ miền Nam để đồng hương và chiến hữu thưởng lãm:


Thi sĩ Cao Tiêu đã có hai câu đối như sau:


“Vua Mười Tám Ðời Hùng

Gấm Vóc Giang Sơn,

Chung Sức Tô Bồi Ơn Quốc Tổ.

Dân Bốn Mươi Triệu Việt

Anh Hoa Ðất Nước

Góp Công Gìn Giữ Nhớ Tiền Nhân”

Trong bài thơ tựa đề “Gốc”, thi sĩ Nguyễn Ðức Vinh đã viết:


“Hùng Vương mở nước Văn Lang

Thái bình liên tiếp hai ngàn năm xưa

Uy nghi riêng một cõi bờ

Thùy dương thơ mộng bóng dừa ươm xanh

Núi cao truyền thống tinh anh

Sông dài, biển rộng chia tình khắp nơi

Ðấu tranh là luật muôn đời

Cha Thần Thánh, mẹ là Tiên

Trai tài gái sắc, căn nguyên rõ ràng.

Thiết tha ý thức tự cường

Bền gan tiến bước trên đường vinh quang”


Trong một đoạn trên chúng tôi có viết: “ Sau khi Việt minh CS cấu kết với thực dân Pháp để chia đôi đất nước, đền Hùng đã lâm vào cảnh hương tàn khói lạnh trong gần nửa thế kỷ” Tại sao “gần nửa thế kỷ” mà không phải là vĩnh viễn? Lý do là năm 2001, có một “hiện tượng” đã được ghi nhận tại cái nước Cộng hòa XHCNVN mà người viết gọi là “hiện tượng về nguồn”: Sau hơn 40 năm bỏ mặc Ðền Hùng cho gió mưa tàn phá, cho cỏ dại ngập lối đi, cho muông thú làm hang ổ, bỗng nhiên năm 2001, VC bỏ ra hàng tỉ bạc để tái chỉnh trang Ðền Hùng và tưng bừng tổ chức Lễ Giỗ Tổ ; mới đây Bộ Chính Trị VC lại ban hành nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 9.2.04 về việc tổ chức các ngày lễ lớn trong hai năm 2004-2005 trong đó có ghi Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch) ; đây là một sự việc mới lạ chưa từng thấy trên 70 năm qua.


Tại sao lại có “hiện tượng về nguồn” ghi trên? Phải chăng VC đã thay đổi tư duy? Người viết không nghĩ như vậy. Xin nhắc lại lời nói của văn hào Alexander Soljenitsyne: “Ði xe đạp từ mặt đầt lên cung trăng còn dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. Thật vậy, trong suốt chiều dài của quá trình xây dựng và củng cố đảng, VC đã bất di bất dịch hô to các khẩu hiệu và áp dụng các giáo điều: nào là đấu tranh giai cấp, nào là vô sản chuyên chính, nào là nghĩa vụ quốc tế, nào là chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.... Chính những khẩu hiệu và giáo điều dẫn trên đã tạo một xã hội băng hoại nghèo đói và dìm đất nước xuống vũng lầy lạc hậu, có cơ trở thành một vùng đất chết!


VC không thay đổi tư duy, vậy tại sao gần nửa thế kỷ bỏ mặc Ðền Hùng hoang phế, giờ đây họ lại rầm rộ tổ chức LGTHV? Phải chăng họ muốn sử dụng đại lễ này như một phương tiện nhằm xoa dịu cơn phẫn nộ của quần chúng và làm cho quần chúng lãng quên tội ác tày đình của họ trong việc âm thầm phê chuẩn hai hiệp ước mà họ đã lén lút ký kết với Trung cộng vào cuối năm 1999 và năm 2000, dâng hiến cho quan thầy của họ trên 15 ngàn cây số vuông cắt từ đất mẹ, trên đó có rất nhiều cao điểm chiến lược quan trọng và phần lãnh hải đầy tài nguyên thiên nhiên?


Nếu thế thì họ đã lầm to! Cố Thủ Tướng Anh quốc, Winston Churchill đã để lại cho hậu thế một câu nói bất hủ đáng để người đời suy ngẫm: “Hai mươi tuổi có họa là không tim mới không bị Cộng sản quyến rũ. Nhưng đến ba mươi tuổi mà vẫn tiếp tục nghe Cộng sản thì có họa là không óc”.


Mọi mánh mung, tiểu xảo của họ chỉ có thể lừa bịp được những trẻ vị thành niên với trí tuệ chưa được khai thông. Ðối vơí những người trưởng thành thì mọi “hiện tượng” mà họ đang phô diễn hoặc đạo diễn chỉ là những trò hề nhằm lừa dân dối chúng mà thôi!


Ðể kết luận, người viết xin nhắc lại lời nói và viết thuộc loại “Biết rồi, khổ lắm nói mãi.” Nhắc lại bởi lẽ “biết rồi” mà vẫn còn bị CSVN lừa; “nói mãi” mà vẫn không nhớ bản chất lừa bịp của họ:


Khi còn tại thế, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu vẫn thường lưu ý người dân:

Ðừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”.

Vào năm 1932, trong tác phẩm “Hai nguồn cội của Luân lý và Tôn giáo: “Les deux sources de la Morale et de la Religion, triết gia Henri Bergson đã viết:

“Ðừng tin những gì họ nói; hãy nhìn những gì họ làm” (Ne croyez pas ce qu’ils disent; regardez ce qu’ils font).

Ðối phó với những chiêu bài lừa bịp của CS, Alexandre Soljenytsine đã từng có ý kiến: “Khi nghe Cộng Sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm đứng lên nói nó nói láo, ta phải có can đảm đi ra khỏi chỗ nó đang nói láo. Nếu ta không có can đảm phản đối bằng cách bỏ đi để không nghe nó nói láo thì ít ra ta phải có cái lương thiện không nhắc lại với người khác những lời nói láo của nó


MX Lê Công Truyền

---------------------------------------


CƯỚC CHÚ:


1. Stéphane Courtois, Le Livre Noir Du Communist (Pourquois?) Editions Robert laffont, S.A., Paris, 1947. Trang 801, Maxine Gorki: “Au reste, à cette question de degré dans la cruauté, l’histoire répond très nettement: Le plus actif est le plus cruel.”

2.Trong dịp tiếp xúc với kiều bào vào ngày 15.1.2004, Trần Ðức Lương “ chủ tịch nước của tà quyền VC” đã ra “hư chiêu”: Ðồng bào Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận máu thịt của dân tộc Việt Nam.


3. Lương Quốc Dũng (LQD) Phó chủ tịch Ủy Ban Thể Dục Thể Thao của VC (ngang hàng Thứ trưởng), 58 tuổi, đã hiếp dâm một bé gái 13 tuổi. Theo báo chí, thì đây là một vụ mua bán gái trinh mà can phạm là một đảng viên cao cấp của tà quyền VC có tên là LQD. Tội ác xẩy ra ngày 30.12.03 mà mãi đến 11 giờ ngày 19.2.04 công an thành phố Hà Nội mới tiến hành bắt giam LQD. Tại sao? Phải chăng vì sự việc quá lộ liễu, tà quyền VC không ém nhẹm được nên đành phải để công an bắt giam can phạm? Vụ LQD còn đang làm dư luận xôn xao thì một hành động đầy “đạo đức cách mạng” khác xẩy ra. Một đảng viên cao cấp trong ngành Thể dục thể thao VC bị một vận động viên tên NTTV tố cáo với lời lẽ “tả chân” mà chúng tôi không dám viết ra (xin xem mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam Lên Ðường).

4. Câu chuyện cô Nông Thị Xuân “phục vụ” Hồ Chí minh có con rồi bị thủ tiêu bằng một tai nạn xe hơi. (Xin đọc Lửa Việt, bộ mới, năm thứ năm, số 50 ngày 15.7.97 và Thế Kỷ 21 số 46 tháng 4/97 trang 33-40: Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh, tác giả là ông Nguyễn Minh Cần, cựu Phó chủ tịch ûy ban Hành Chánh thành phố Hà nội.


5. Stéphane Courtois, Sđd,trang 816: “Qui n’est pas avec moi est contre moi - Qui est contre moi doit mourir”


6. Vào ngày 9.10.93, bọn tay sai của Hà nội ở Hòa Lan tổ chức một cuộc hội thảo để tạo diễn đàn cho Nguyễn Trọng Nhân, Bộ trưởng y tế của tà quyền VC. chiêu dụ sự hợp tác của giới cung cấp dịch vụ y tế. Ðến phần đặt câu hỏi, hầu hết cữ tọa người Việt và ngoại quốc chỉ đặt các câu hỏi về tình trạng đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền tại VN. Các câu hỏi dồn dập này dồn viên cán bộ cao cấp của Hà Nội vào thế bí, mất bình tĩnh không thể trình diễn một “hiện tượng” nào để che dấu sự đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền; trái lại y phơi bày cái “bản chất” tàn độc của y và đảng của y: “Người Việt nước ngoài là những bọn có nợ máu với nhân dân, đáng treo cổ chặt đầu. Chúng thoát ra ngoài là may mắn lắm rồi, không được quyền chống đối nhà nước”


7. Stéphane Courtois, Sđd. Les Crimes Du Communisme, trang 14.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link