Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, September 21, 2012

Rắc rối biển Đông

Rắc rối biển Đông

Bonnie Glaser, Foreign Policy, ngày 17 tháng Chín 2012
Trần Ngọc Cưdịch
Trong khi Trung Quốc và Nhật Bản đang căng thẳng về những đảo tranh chấp ở phía Đông Trung Quốc, tiềm năng xung đột ở phíaNamcó vẻ lắng dịu. Nhưng sự yên ắng này sẽ không kéo dài lâu.

Như cuộc viếng thăm Nhật Bản, Trung Quốc, và New Zealand của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho thấy, chiến lưọc “xoay trục sang châu Á” của Tổng thống Obama đang được xúc tiến nhanh chóng.

 Nhưng nếu muốn thành công đối với khu vực có tầm quan trọng chiến lược này, chính sách Mỹ phải xét đến nghịch lý sau đây: các nước láng giềng của Trung Quốc đang tìm kiếm một sự can thiệp kinh tế, ngoại giao, và quân sự to lớn hơn nữa của Mỹ ở trong khu vực nhằm quân bình sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc – nhưng đồng thời, mọi nước trong khu vực đều mong muốn một quan hệ hữu nghị gần gũi với Bắc Kinh.


Nỗi khó khăn của việc lách qua nghịch lý này hiện rõ trong việc xử lý các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong biển Nam Trung Hoa [từ đây xin đọc biển Đông].

Các quốc gia Đông Nam Á thỉnh thoảng thúc đẩy Washington giúp đỡ họ chống lại sức ép của Trung Quốc, những sức ép đòi họ phải chấp nhận các yêu sách chủ quyền rộng lớn của Bắc Kinh trong biển Đông – nhưng khi Washington có hành động ngăn cản không cho Trung Quốc lấn lướt trong khu vực, thì các quốc gia đối tác của Mỹ lại lo lắng về những mối căng thẳng Mỹ-Trung diễn ra đột xuất và họ lại năn nỉ Mỹ nên lùi bước. Chính cái nghịch lý này đã làm cho việc duy trì một chính sách Mỹ về biển Đông có tính nhất quán và có nguyên tắc trở nên vừa đầy thách thức vừa rất cần thiết.


Nhiều lợi ích của Mỹ có thể bị đe dọa trong biển Đông. Đây là một trong những huyết mạch thương mại quan trọng của thế giới, với hơn một nửa trọng tải của đội thương thuyền thế giới đi qua các tuyến đường biển này mỗi năm. Khu vực này còn chứa đựng một lượng cá phong phú – nguồn thu nhập quan trọng cho kinh tế của các nước tiếp giáp với biển – và có tiềm năng chứa đựng những lượng tài nguyên dầu lửa và khí đốt đáng kể nằm vào vị trí chiến lược gần với các nước tiêu thụ năng lượng lớn.


Nhưng biển Đông cũng là một mớ rối rắm gồm những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ kình chống nhau. Trung Quốc, ĐàiLoan,Indonesia,Philippines, ViệtNam,Malaysia, vàBruneiđều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn trên nhiều địa điểm và vùng biển tiếp giáp với nước mình, làm gia tăng căng thẳng ngoại giao và có tiềm năng đặt nền móng cho một cuộc xung đột quân sự tương lai.

Và mặc dù không có nước nào hoàn toàn vô tội trong cuộc căng thẳng này, Trung Quốc rõ ràng là nước xâm lược thô bạo nhất (the most egregious aggressor). Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách hiếp đáp và hù dọa các láng giềng nhỏ bé của mình, buộc các nước này phải nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những vùng biển rộng lớn – và Mỹ phải nói rõ rằng một hành vi như vậy là không thể chấp nhận.



Biển Đông từ lâu từng là nơi bộc phát xung đột quân sự. Các cuộc đụng độ thỉnh thoảng diễn ra trên biển từ giữa thập niên 1970 đến giữa thập niên 1990. Một thập kỷ tiếp theo là tương đối yên lặng, nhưng căng thẳng lại bắt đầu lóe lên kể từ 2007, với sự gia tăng rõ nét các vụ va chạm và khiêu khích.


Nguyên nhân chính đưa đến các căng thẳng ngày một gay gắt là sự quan tâm đang gia tăng của các nước trong việc thăm dò và khai thác các trữ lượng dầu khí của biển Đông, tăng cường cạnh tranh trong nghề đánh bắt cá khi các lượng thủy sản gần duyên hải đang bị cạn kiệt, và các áp lực dân tộc chủ nghĩa đòi hỏi các chính phủ phải bảo vệ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải.



Cuộc đối đầu nghiêm trọng nhất trong nhiều thập kỷ đã diễn ra vào mùa Xuân năm nay liên quan đến một chuỗi đá ngầm và đá lộ thiên có hình tam giác gọi là Bãi cạn Scarborough, nằm cách Zambales, Philippines, 124 hải lý. Vào đầu tháng Tư, một tàu hải quân Philippines, vốn được triển khai để quan sát một cuộc phóng tên lửa của Bắc Triều Tiên, được lệnh đổi hướng đến Bãi cạn Scarborough để điều tra sự xuất hiện của 8 tàu đánh cá Trung Quốc ở trong đầm.

Tức giận về điều được coi là một hành động khiêu khích và leo thang, Trung Quốc đã phái hai chiếc tàu hải giám cỡ lớn đến bãi cạn nói trên; hai chiếc tàu này liền chen vào giữa, một bên là các tàu đánh cá Trung Quốc và bên kia là chiến hạm củaPhilippines. Trong những tuần lễ tiếp theo, Manila đã cho rút về chiếc tàu hải quân và thay vào đó bằng chiếc tàu tuần duyên [của bộ Giao thông vận tải, DG], trong khi đó, phía Trung Quốc tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình, mà có lúc đã triển khai đến khoảng 80 tàu hải giám, nhiều thuyền đánh cá và một tàu chuyên chở thiết bị.vào trong đầm.

Việc Manila không chịu rút lui khỏi bãi cạn đã bị Trung Quốc trả đũa bằng các đòn hù dọa khác: Bắc Kinh bắt đầu cho kiểm dịch gắt gao các loại trái cây nhiệt đới nhập khẩu từPhilippinesvà áp dụng các biện pháp gây sức ép kinh tế khác.

Một cuộc vận động ngoại giao âm thầm đã đưa đến một thỏa thuận miệng (verbal agreement) vào đầu tháng Sáu rằng cả hai bên sẽ rút thuyền bè của mình ra khỏi vùng tranh chấp và chấm dứt căng thẳng, nhưng trên thực tế chỉ có một mìnhManilatuân thủ. Sau khi Philippines rút lui, Trung Quốc đã dùng dây thừng giăng ngang cửa đầm, để ngăn chặn không cho ngư dân Philippines và các ngư dân khác vào bên trong, và đồng thời tăng cường các cuộc tuần tra quanh bãi cạn.


Rõ ràng là có một chu kỳ leo thang đang diễn ra tại biển Đông, đe dọa làm mất ổn định trong khu vực trọng yếu này.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ta phải nhận ra rằng những đòi hỏi, những chính sách, những tham vọng, hành vi và khả năng của Trung Quốc là khác biệt đáng kể với các tác nhân khác [tức các quốc gia có tranh chấp chủ quyền khác].

Bắc Kinh không chịu tham gia các cuộc thảo luận đa phương nhằm tìm giải pháp cho các cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải trong khu vực; họ chỉ muốn những cơ chế song phương, theo đó họ có thể vận dụng những lợi thế của mình đối với các nước nhược tiểu.


Trung Quốc bác bỏ vai trò của Tòa án Quốc tế (ICJ) hay Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại biển Đông.


Mặc dù Bắc Kinh đã đồng ý cuối cùng sẽ tham gia các cuộc đàm phán nhằm đạt được một bộ qui tắc ứng xử (code of conduct) ở biển Đông, nhưng các quan chức Trung Quốc gần đây đã tuyên bố rằng những cuộc thảo luận này chỉ có thể diễn ra “khi điều kiện đã chín muồi” – điều này hiển nhiên là không phải bây giờ.

Mỹ coi bộ qui tắc ứng xử như một công cụ để ngăn ngừa xung đột và giải quyết xung đột, và thúc đẩy các cuộc đàm phán phải bắt đầu tức khắc. Trong khi đó, các quan chức Trung Quốc chỉ chuộng bản Tuyên bố 2002 về hành vi ứng xử của các bên trên biển Đông, một bản tuyên bố không có cơ chế giải quyết tranh chấp và không có tính ràng buộc pháp lý.


Hành vi của Trung Quốc trong biển Đông là có tính toán và mang tính hệ thống – chứ không phải là kết quả tình cờ do một chế độ chính trị quan liêu hay do khả năng phối hợp tồi dở.

Thật vậy, những hành động xâm lược của Trung quốc trong những tháng vừa qua cho thấy “một sự phối hợp rất chuẩn mực giữa các cơ quan, một sự kiểm soát trên cả hai lãnh vực dân sự lẫn quân sự, một kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự” – theo cách nói của Oriana Skylar Mastro, một nhà nghiên cứu tại Center for a New American Security (Trung tâm nghiên cứu một nền An ninh mới cho Mỹ).


Mô hình rõ rệt này, gồm hành động bắt nạt và hù dọa, là bằng chứng của một quyết định từ cấp lãnh đạo chóp bu nhằm đẩy mạnh chính sách ngoại giao o ép của Trung Quốc. Lối ứng xử này có nhiều ngụ ý không những đối với Philippines và Việt Nam, hai mục tiêu chính của những nỗ lực o ép từ Trung Quốc, mà còn đối với mọi phe có lợi ích trong khu vực, kể cả Mỹ.


Một là, khuynh hướng tự nhiên của Trung Quốc trong việc coi thường luật pháp và các qui phạm quốc tế đã đặt ra một tiêu chuẩn rất đáng lo ngại trong tương lai.   

Bắc Kinh cố tình không chịu tuân theo một giao ước miệng (verbal agreement) với Manila để rút hết tàu bè ra khỏi đầm và vùng chung quanh Bãi cạnScarborough, như vậy đã tạo ra một nguyên trạng (the status quo) phù hợp với lợi ích của Trung Quốc.

Trung Quốc đang duy trì các cuộc tuần tra thường xuyên và ngăn cản không cho ngư dânPhilippinesđánh bắt cá trong các lãnh hải nói trên. Nhưng cho đến nay, không một quốc gia nào – kể cả Mỹ – công khai lên án hành động này của Trung Quốc. Sự kiện này tạo ra một tiền lệ nguy hiểm cho các cuộc đàm phán tương lai.


Hai là, Trung Quốc ngày càng tỏ ra nghênh ngang trong việc dùng sức mạnh kinh tế để buộc các nước phải thay đổi chính sách. Việc Bắc Kinh có biện pháp kiểm dịch gắt gao đối với các loại trái cây nhiệt đới nhập khẩu từPhilippinesđể gây sứ ép buộc nước này phải nhường quyền kiểm soát Bãi cạnScarboroughlà một vi phạm trắng trợn các quy phạm quốc tế.

Để che đậy hành vi o ép kinh tế mới nhất này, các viên chức hải quan Trung Quốc đã đưa ra những lý do thiếu cơ sở cho rằng các loại trái cây này bị nhiễm sâu. Kinh tếPhilippineschịu thiệt hại tức khắc vì nước này xuất khẩu gần 1/3 số chuối sang Trung Quốc, cũng như đu đủ, thơm, xoài và dừa. Ngoài ra, các đại lý du lịch tại Trung Quốc còn hủy bỏ các chuyến bay du lịch thuê bao đến Philippines với lý do sự an toàn của du khách Trung Quốc bị đe dọa bởi “các cuộc biểu tình bài Trung Quốc”.


Sự kiện này chỉ là một ví dụ về xu thế ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong việc dùng sức ép kinh tế. Vào tháng Chín 2010, Bắc Kinh đã chặn đứng việc chở khoáng sản đất hiếm sang Nhật Bản để trả đũa việc Tokyo giam giữ viên thuyền trưởng của một tàu đánh cá Trung Quốc trong một vụ việc xảy ra gần quần đảo Senkaku. Cuối năm đó, tiếp theo sau lời công bố Giải Nobel Hoà bình sẽ được trao cho nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Lưu Hiểu Ba, Trung Quốc đã sử dụng một loạt biện pháp để trừng phạt Na Uy – mặc dù quyết định trao giải thưởng cho ai là do Ủy ban Nobel, một cơ quan hoàn toàn độc lập với Chính phủ Na Uy.

Trung Quốc lập tức cho đóng băng các cuộc đàm phán về thương mại tự do vớiOslovà áp đặt các biện pháp thanh tra thú y mới lên cá hồi nhập khẩu từ Na Uy. Những điều lệ mới này đã đưa đến việc cắt giảm 60% lượng cá hồi nhập khẩu từ Na Uy trong năm 2011, ngay cả trong khi thị trường cá hồi tại Trung Quốc tăng lên 30%. Bắc Kinh cũng tạm ngưng các tương tác ngoại giao bình thường với Na Uy, cho đến nay vẫn chưa tiếp tục lại.


Bắc Kinh coi những trường hợp này là những thành công ngoại giao của mình. Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục dùng biện pháp o ép kinh tế mà không bị chống đối, những chiến thuật này chắc chắn sẽ được dùng đi dùng lại. Như vậy, Trung Quốc có khả năng khống chế một số quốc gia đông đảo có nền kinh tế ngày càng lệ thuộc vào mậu dịch với Trung Quốc.


Ba là, việc Trung Quốc bác bỏ một khung pháp lý dựa vào luật lệ (rules-based framework), dùng để hạn chế hành động của mọi quốc gia, phải được coi là một lý do để lo ngại. Bắc Kinh tính toán rằng thời cơ đang nằm về phía họ – tại sao họ phải ký kết các hiệp định có tính cách ràng buộc vào lúc này, trong khi lợi thế của họ chỉ ngày càng gia tăng?

Trong tương lai, Trung Quốc không những là một cường quốc kinh tế quan trọng, mà còn là một cường quốc chính trị và quân sự quan trọng. Các quốc gia khác, lớn cũng như nhỏ, sẽ buộc phải thích ứng với sự trỗi dậy của Trung Quốc và phải tôn trọng “các lợi ích cốt lõi và các mối quan tâm chính” của Trung Quốc, nói theo giọng của các nhà ngoại giao Bắc Kinh.


Căn cứ vào việc Trung Quốc không muốn tuân theo một bộ qui tắc ứng xử và việc Trung Quốc hoàn toàn không đếm xỉa đến lợi ích của các quốc gia khác, người ta không thể loại trừ khả năng các quốc gia tranh chấp chủ quyền sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình.



Lề thói ứng xử quyết đoán của Trung Quốc trên các vấn đề liên quan đến chủ quyền rất có thể sẽ tiếp tục sau khi việc chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước diễn ra tại Đại hội Đảng vào mùa Thu này và tại Quốc hội Trung Quốc vào mùa Xuân tới.

Những cuộc chuyển giao quyền lực tại Trung Quốc chỉ xảy ra cứ mười năm một lần và cuộc chuyển giao sắp tới là đặc biệt quan trọng – thế hệ lãnh đạo kế tiếp tại Bắc Kinh sẽ ngự trị một giai đoạn mà quyền lực của Trung Quốc có khả năng bành trướng đáng kể, và tập đoàn lãnh đạo này sẽ quyết định đây có phải là một sự trỗi dậy hòa bình hay không.


Vì Đảng đặt cơ sở cho tính chính đáng của mình phần lớn trên các thành tích yêu nước, không một lãnh đạo Trung Quốc nào có khả năng làm một điều gì khác hơn ngoài việc hung hăng bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. Chính quyền đã nhen nhúm tình cảm của dân chúng trong việc ủng hộ lập trường cứng rắn của Trung Quốc đối với biển Đông.

Giới lãnh đạo kế tiếp chắc chắn sẽ ý thức về những rủi ro của việc nung nấu thêm những tình cảm dân tộc chủ nghĩa này – nhưng họ sẽ không cưỡng nỗi sự cám dỗ, khi những biện pháp này nâng cao tính chính đáng của giới lãnh đạo mới.



Tập Cận Bình, người kế vị của Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, được nhiều người cho là có một mức độ tự tin cao – chắc chắn cao hơn xa so với họ Hồ 10 năm trước đây khi ông này mới nắm quyền.

Trong khi Hồ tập trung vào những nhược điểm của Trung Quốc, thì Tập lại thuộc về một thế hệ mới, lớn lên trong thời cải tổ và mở cửa đối với thế giới bên ngoài.Tập tin tưởng rằng Trung Quốc đang trỗi dậy nhanh chóng.


 Vì tin tưởng rằng khoảng cách giữa quyền lực Mỹ và quyền lực Trung Quốc đang thu hẹp, rất có thể Tập sẽ đứng dậy để bảo vệ lợi ích của Trung Quốc trên đấu trường quốc tế, nhất là những điều được coi là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, trong đó có những vấn đề liên quan đến chủ quyền trên biển Đông.


Ở một mức độ nào đó, các cuộc tranh luận của học giả Trung Quốc đã bị đè nén một cách giả tạo trong thời gian dẫn đến việc chuyển giao quyền lãnh đạo. Những bất đồng công khai, nhất là về các vấn đề nhạy cảm, có thể được coi là dấu hiệu của những rạn nứt trong tình đoàn kết của Đảng và vì thế phải được triệt để ngăn ngừa trong thời gian gần các đại hội đảng.

Tuy nhiên, những cuộc tranh luận này có thể nổ ra công khai vào năm tới: Những câu hỏi như, liệu Mỹ có thực sự suy yếu và cán cân quyền lực toàn cầu đang liên tục nghiêng về phía Trung Quốc hay không, và liệu thời kỳ 20 năm cơ hội chiến lược của Trung Quốc, một thời kỳ bắt đầu từ giao điểm của hai thế kỷ, có đang kết thúc quá sớm chăng. Những cuộc tranh luận này sẽ tạo thêm sức ép, buộc lãnh đạo Trung Quốc phải bảo vệ lợi ích Trung Quốc một cách quyết đoán.


Theo các nhà phân tích am tường thời sự của Trung Quốc, Bắc Kinh đã rút ra kết luận rằng chính sách của cựu lãnh tụ Đảng Cộng sản Đặng Tiểu Bình đối với việc quản lý các tranh chấp trên biển Đông đã thất bại.

Chính sách đó nói rằng mặc dù chủ quyền trên phần lớn biển này thuộc về Trung Quốc, nhưng những cuộc tranh chấp ấy có thể được gác qua một bên và việc hợp tác phát triển có thể được xúc tiến. Phía Trung Quốc cho rằng trong khi Trung Quốc tránh khai thác dầu khí trong vùng biển tranh chấp, thì các nước khác đã không biết tự chế một cách tương tự. Một chính sách mới sẽ xuất hiện và có thể đang được hoãn lại cho đến sau cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo tại Trung Quốc – nhưng gần như chắc chắn rằng chính sách mới sẽ là cứng rắn hơn.


Chính quyền Obama đã đưa ra một số nguyên tắc đúng đắn để hướng dẫn các hành vi trong biển Đông.

Tháng Bảy năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton kêu gọi một tiến trình ngoại giao hợp tác giữa tất cả các nước có đòi hỏi chủ quyền để giải quyết những tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không có sự ép buộc”. Bà Clinton nói rằng Mỹ chống lại việc sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực bởi bất cứ nước có tranh chấp chủ quyền nào và Mỹ đòi hỏi thương mại không bị gián đoạn, tự do thông thương trên biển, và tiếp cận thông thoáng đối với các vùng biển chung của châu Á.

Bà Clinton còn cho rằng các nước tuyên bố chủ quyền phải theo đuổi đòi hỏi chủ quyền của mình sao cho phù hợp với Công ước LHQ về Luật Biển, và thúc đẩy tất cả các bên phải đạt thỏa thuận về một bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông
Nhưng điều quan trọng là, Mỹ phải theo đúng những nguyên tắc này và phải khiển trách bất cứ phe nào có hành vi đi ngược lại chúng.

Một thái độ khách quan và công bằng sẽ mang lại uy tín cho chính sách của Mỹ. Một tuyên bố mẫu mực và vô tư đã được [Bộ trưởng Quốc phòng] Panetta đưa ra vào tháng Sáu năm nay, khi ông ghi nhận rằng Mỹ “đã công bố và làm rõ quan điểm của mình với đồng minh thân cận có hiệp ước, Philippines, và chúng ta đã làm rõ những quan điểm ấy với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực”.



Rõ ràng là Trung Quốc có hành vi thô bạo nhất trong tất cả các tác nhân (actors) trên biển Đông, nhưng nếu chỉ khiển trách một mình Trung Quốc mà không nói đến các hành động khiêu khích của các nước tuyên bố chủ quyền khác, việc này sẽ làm mất uy tín của Mỹ.

Tuyên bố ngày 3 tháng Tám của Bộ Ngoại giao Mỹ về tình hình biển Đông, một tuyên bố chỉ nhắm vào một mình Trung Quốc và coi những hành động của nước này là “có nguy cơ gia tăng thêm nữa những căng thẳng trong khu vực”, là một trường hợp điển hình đáng tiếc về sự thiếu vô tư. Bằng cách từ bỏ đường lối công bằng và khách quan truyền thống của mình,Washingtonđã cung cấp vũ khí tranh luận để Bắc Kinh quả quyết rằng Hoa Kỳ đã đứng về phe chống lại Trung Quốc.


Việc Mỹ khiển trách một mình Trung Quốc có thể được một số quốc gia hoan nghênh trong ngắn hạn, nhưng nó sẽ có hại cho thanh thế của Mỹ về lâu về dài. Bản tuyên bố ngày 3 tháng Tám, chẳng hạn, thoạt đầu được một số nước Đông Nam Á âm thầm hưởng ứng, vì nó được đưa ra tiếp theo sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN tại Phnom Penh, nơi tổ chức này đã không đồng thuận lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm về một bản thông cáo chung, do những bất đồng về việc có nên hay không nhắc đến vụ việc ở Bãi cạn Scarborough.



 Tuy vậy, sự gia tăng căng thẳng Mỹ-Trung tiếp sau đó đã gây thêm lo lắng tại các thủ đô Đông Nam Á, khiến các nước này phải kêu gọi Mỹ nên chấm dứt đả kích Trung Quốc trên mặt trận ngoại giao. Sơ hở này của Mỹ tạm thời làm suy giảm chứ không gia tăng sự hữu hiệu của mình trong vai trò đối trọng lực lượng với Trung Quốc.


Từ nay về sau, Mỹ phải đi theo một đường lối có nguyên tắc trong việc quản lý các tranh chấp lãnh thổ trong biển Đông và duy trì lập trường trung lập cố hữu của mình đối với các cuộc tranh chấp ấy. Đồng thời, Mỹ phải nhấn mạnh những lợi ích chung của Mỹ và các quốc gia khác trong các qui phạm quốc tế hiện đang bị đe đọa bởi những chính sách quyết đoán của Trung Quốc.


Mỹ còn phải đòi hỏi một khung pháp lý có tính ràng buộc để quản lý các yêu sách chủ quyền và các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong biển Đông.

Điều này có nghĩa là Mỹ phải thúc đẩy các nước tranh chấp đưa các đòi hỏi chủ quyền lãnh hải của mình vào khuôn khổ được qui định trong Hiệp ước về Luật Biển – một hiệp ước mà chính bản thân Mỹ cũng cần phải phê chuẩn, để gia tăng hiệu năng trong các nỗ lực của mình.

Ngoài ra, Mỹ phải tiếp tục khuyến khích Trung Quốc và khối ASEAN bắt đầu đàm phán về một bộ qui tắc ứng xử có chứa đựng một cơ chế giải quyết tranh chấp. Một khi tiến trình đàm phán được khởi động, nó có thể tạo ra hiệu ứng làm lắng dịu tình hình để xả xìu các căng thẳng.


Những quốc gia nhỏ bé trong khu vực lo sợ rằng một loại quan hệ hữu nghị mới giữa các đại cường, đang được Washington và Bắc Kinh thảo luận, sẽ đưa đến sự gia tăng hợp tác Mỹ-Trung có hại cho nhiều nước khác, trong đó có các nước ASEAN.

Những lo ngại này cần phải được xua tan lập tức, và Mỹ phải tiếp tục cổ vũ tính trung tâm (centrality) của khối ASEAN như một chiếc neo cho sự ổn định trong khu vực.


Sau cùng, Mỹ cần phải tiếp tục tăng cường sự hợp tác kinh tế, ngoại giao và quân sự tại Đông Á. Việc tái quân bình các ưu tiên chiến lược đối với châu Á là rất thiết yếu để đảm bảo rằng nền hoà bình và ổn định đã tồn tại trong khu vực hai thập niên qua – và nhờ đó mà tất cả các quốc gia trong khu vực cùng hưởng lợi – vẫn còn tiếp tục lâu dài.


B.G.
Bonnie Glaser là nhà nghiên cứu thâm niên tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS).

Nguồn bản gốc:http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/09/17/trouble_in_the_south_china_sea
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN


HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VN


 

GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN

VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VN

 

******** FontUNICODE: Xin vào Web: http://VietTUDAN.net *******
******** Bn đính kèm / Attachment *******

 

BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (2):

GIỮ LÃI SUẤT CAO:

MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN

VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VN

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 21.06.2012


 

Từ cuối năm 2011, CSVN bị quốc tế thôi thúc phải cải tổ mô hình Kinh tế từ căn nguyên. Chúng tôi đã viết nhiều bài cho thấy rằng việc cải tổ từ căn nguyên đòi phải dứt bỏ cái Cơ chế chủ trương độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế bởi vì chính cái Cơ chế làm phát sinh và lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ tàn phá mọi sinh hoạt Kinh tế. Nhưng cho tới nay, CSVN vẫn khăng khăng giữ lấy Cơ chế như vậy để thu vét tiền bạc cho riêng đảng. Họ chỉ đưa ra những BIỆN PHÁP  CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (Politiques Financìeres) nhằm vá víu mô hình Kinh tế cũ như vá váy đụp.

Những ngày gần đây, trong khuôn khổ những BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH, Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra biện pháp như Giảm Lãi Suất đã giữ quá cao trong một thời gian dài, rồi biện pháp thu mua nợ xấu. Tuần trước, ngày 14.06.2012, chúng tôi đã viết về biện pháp thứ nhất: GIẢM LÃI SUẤT: TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VN VÀO HUYỆT ? (xin phổ biến lại kèm dưới đây  liền sau bài này).
 
Tuần này, 21.06.2012, chúng tôi viết về biện pháp thứ hai: GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ. Tuần sau, 28.06.2012, chúng tôi sẽ viết về biện pháp thứ ba: THU MUA NỢ XẤU: MOI TỪNG XU CỦA QUẦN CHÚNG ĐỂ CỨU TIỀN TỈ CỦA GIỚI GIẦU !

Trở lại Biện pháp Tài chánh thứ hai GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ mà CSVN đã giữ trong một thời gian dài làm bại hoại Kinh tế, chúng tôi muốn phân tích những khía cạnh sau đây:

=>       Hệ quả tàn phá Kinh tế hiện hành

=>       Biện pháp chống Lạm phát hay mưu toan thu góm Tiết kiệm của Dân

=>       Trách nhiệm phá sản Kinh tế là thuộc Nhà Nước

 

Hệ quả tàn phá Kinh tế hiện hành

 

Trong một thời gian dài, CSVN đã cố tình giữ Lãi suất thiệt cao. Tình trạng phá sản Kinh tế lúc này là hệ quả của chủ trương giữ lãi suất thiệt cao ấy. Tình  trạng phá sản Kinh tế  được những Bản Tin sau đây phổ biến:

Bản Thin thứ nhất:

“CSVN TUỘT HẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 2012

“Tin Hà Nội - Trong cuộc họp với giới đầu tư ngoại quốc trước khi có cuộc họp giữa kỳ về tình hình tài trợ giúp Việt Nam thoát nghèo, bản phúc trình của Ngân Hàng Thế giới nói CSVN tụt 8 hạng, chỉ xếp hạng 98 trên tổng số 183 nước được xếp hạng về Môi trường kinh doanh 2012.
 
Nước Việt Nam là nước duy nhất tại Á Châu bị tụt hạng về môi trường đầu tư 2012. World Bank cảnh cáo cần cải thiện môi trường đầu tư nếu không muốn giới đầu tư ngoại quốc lũ lượt bỏ chạy.

Nam Dương từ vị trí 20 trong năm 2010 đã lên hạng 9 trong bảng xếp hạng năm 2011. Mã Lai từ vị trí 21 leo lên hạng 10. Hai ví dụ này cho thấy tình hình và chính sách đầu tư tương phản giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực. Bản tin chính thức của Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư CSVN nói trong 4 tháng đầu năm 2012, chỉ có khoảng 4 tỉ đô la đăng bộ từ giới đầu tư ngoại quốc, giảm gần 48% so với năm ngoái.(SBTN -- Posted on 14 Jun 2012)

Bản Tin thứ hai:

“NHIỀU NHÀ ĐẦU TƯ NGOẠI QUỐC BỎ CHẠY KHỎI VIỆT NAM

“Tin Hà Nội - Không những các vụ đầu tư mới mỗi ngày mỗi giảm nhanh, các công ty ngoại quốc đã đầu tư sản xuất tại Việt Nam còn tìm đường chạy qua những nước khác. Một bản phúc trình của Cục Đầu Tư Nước Ngoài thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội mô tả tình trạng èo uột trong việc thu hút vốn FDI trong 5 tháng đầu năm 2012 với kết quả chỉ có 82 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 1.2 tỉ đô-la, giảm 48% so với cùng kỳ năm 2011 của các công ty đang hoạt động sản xuất tại Việt Nam.

Trong khi đó, các nước trong khu vực như Singapore, nếu doanh nghiệp mở rộng sản xuất vẫn được hưởng ưu đãi như dự án ban đầu. Vì thế nhiều doanh nghiệp FDI đã chọn địa điểm đầu tư cho dự án mới ở nước khác, ngay cả việc dời nhà máy ở Việt Nam đi cùng với dự án mới. Một báo cáo của Phòng Thương Mại Âu Châu tại Việt Nam tức EuroCham mới đây nói gần 1/3 doanh nghiệp trong cuộc khảo sát này đang cân nhắc giảm đầu tư. 28% doanh nghiệp tìm cách giảm đầu tư tổng thể tại Việt Nam. Khảo sát này được cho là khá quan trọng, vì thông qua đánh giá của hơn 750 doanh nghiệp Châu Âu đang làm ăn tại Việt Nam là thành viên của EuroCham. Theo nhận định của Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam nói việc mất khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước láng giềng có thể dẫn đến mất các dự án FDI hiện hữu cũng như mất hàng triệu việc làm tại Việt Nam. Chính sách hấp dẫn đầu tư ngoại quốc hay thay đổi trong khi lạm phát cao, luật lệ tròng tréo mù mờ tạo cơ hội cho quan chức vòi vĩnh hối lộ.

Trong khi đó điện thì chập chờn hay bị cắt vào mùa hè, đường giao thông vừa thiếu vừa nhỏ. Đã vậy, các kỹ nghệ chính cần rất nhiều kỹ nghệ phụ trợ nhưng Việt Nam lại không khuyến khích những hoạt động cần thiết này, nhất là dịch vụ Internet bị tường lửa của đảng CSVN gây cản trở.(SBTN -- Posted on 14 Jun 2012)

Bản Tin thứ ba:

“NỬA TRIỆU CÔNG NHÂN BỊ ẢNH HƯỞNG VÌ HÀNG DỆT MAY & GIẦY DA CỦA VN XUẤT CẢNG SANG ÂU CHÂU GIẢM NHANH

“HÀ NỘI.-Đài phát thanh quốc tế Pháp trích thuật một nguồn tin từ Việt Nam cho biết đã ba tháng liên tiếp, hàng dệt may của Việt Nam xuất cảng sang châu Âu liên tục giảm, và tình hình này còn có thể kéo dài đến năm 2013. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, đơn hàng từ châu Âu đã giảm khoảng 20%, và hiện có khoảng nửa triệu công nhân ngành này hoặc bị mất việc, giảm lương, hoặc phải làm việc khác.

Bên cạnh đó, tình hình xuất cảng các mặt hàng da giày lại càng ít sáng sủa, vì lệ thuộc nhiều vào thị trường châu Âu. Trong cuộc phỏng vấn với đài quốc tế Pháp, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt May Thêu Đan có văn phòng ở Sài Gòn cho biết hiện nay những quốc gia nhập cảng hàng dệt may và da giầy của Việt Nam đang gặp phải những khó khăn về tài chánh và kinh tế, nên việc họ giảm chi tiêu hay không còn chi tiêu như trước nữa là điều có thể hiểu được.

CS Việt Nam xuất cảng sang Âu châu nhiều nhất là hai mặt hàng này cho nên bị ảnh hưởng nặng. Tuy nhiên ông Diệp Thành Kiệt cho biết ông không có con số chính xác về các doanh nghiêp dệt may và da giầy nào của Việt Nam phải đóng cửa, nhưng theo chiều hướng giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, ông ước lượng có thể có đến 47,000 doanh nghiệp đủ loại mặt hàng phải đóng cửa.(SBTN -- Posted on 19 Jun 2012)

 

Biện pháp chống Lạm phát hay

mưu toan thu góm Tiết kiệm của Dân

 

Đặc biệt trong những năm 2010-2011, vật giá leo thang máy và Lạm phát tăng phi mã tới hai con số (23%). Việt Nam là nước đặc biệt trong khu vực có Lạm phát cao như vậy. Nhưng Nhà Nước, để bịt mắt Dân, đã cố tình cắt nghĩa Lạm phát bằng những lý do có tính cách thời cuộc chung cho mọi nước như: lý do Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới, lý do xăng dầu lên cao, lý do cách mạng hoa nhài làm mất ổn định tại Bắc Phi và Trung đông gồm những nước sản xuất dầu thô… Nhưng tại sao, với những lý do chung chung này, Việt Nam lại có Lạm phát tăng cao đặc biệt hơn các nước khác trong vùng ? Chúng tôi đã viết nhiều bài cắt nghĩa Lạm phát cao đặc biệt của Việt Nam với những nguyên do sau đây:

1)         Đứng về phương diện lưu hành vốn: Vì THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, số vốn Nhà Nước đổ ra quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Vốn đổ ra nhiều như gió thổi vào nhà trống vậy. Số vốn lưu hành nhiều làm Lạm phát tăng vọt.

2)         Đứng về phương diện hiệu quả sản xuất Kinh tế thực: Nếu số vốn đổ ra cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh có được tương đương hiệu lực sản xuất Kinh tế, thì lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất đi song song với số vốn lưu hành, Lạm phát sẽ không tăng. Nhưng khi vốn lưu hành tăng vọt, mà sản xuất hàng hóa và dịch vụ lại tụt giốc, thì khoảng cách Vật giá khơi rộng.

3)         Đứng về phương diện Tiền tệ: Nhà Nước lấy quyền độc tài để định giá Tiền tệ và cho lưu hành Tiền tệ. Khi Ngân sách Nhà Nước thiếu hụt và để có vốn cung cấp cho những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, Nhà Nước có thể phát hành và cho lưu hành Tiền mới in ra mà không cần phải qua chu trình sản xuất Kinh tế thực. Đây là Lạm phát tiền tệ. Trong những năm qua, CSVN đã nhiều lần phá giá đồng bạc Việt Nam.

Trước tình trạng thiếu hụt Ngân sách và dự trữ ngoại tệ không đủ để trả nhập siêu trong vòng một tháng, Nhà Nước CSVN phải nghĩ đến moi thu số vốn tiết kiệm từ Dân chúng. Nhà Nước đã tung ra những biện pháp sau đây:

=>       Kiểm soát chặt chẽ lưu hành ngoại tệ trong nước, thậm chí cả những nhập nội ngoại tệ.

=>       Nhà nước cấm cản tư nhân buôn bán vàng lá và dành quyền thương mại này cho Nhà nước.

Cả hai biện pháp trên đây nhằm kiểm soát và thu lấy số vốn tiết kiệm của người Dân. Chính trong mục đích muốn thu lấy vốn tiết kiệm của người Dân, mà Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra BIỆN PHÁP TÀI CHÁNH: TĂNG LÃI SUẤT THIỆT CAO. Việc tăng Lãi suất này được Nhà Nước mỵ dân tráo trở cắt nghĩa là chống Lạm phát, nhưng thực chất là nhằm khuyến dụ người Dân đem vốn tiết kiệm gửi vào Ngân Hàng cho Nhà Nước để có thể Nhà Nước phá giá đồng bạc Việt Nam nhằm ăn cướp vốn tiết kiệm ấy.
 
 Nhưng Dân chúng Việt Nam không còn tin tưởng ở một Nhà Nước chuyên môn mưu mô cướp dựt nữa, nên đã không ồ ạt ham Lãi suất cao mà nộp Tiền tiết kiệm cho Nhà Nước. Nhà Nước giữ LÃI SUẤT CAO trong một thời gian khá dài  nhằm lừa đảo thu tiết kiệm của Dân.

 

Trách nhiệm phá sản Kinh tế là thuộc Nhà Nước

 

Giữ LÃI SUẤT CAO trong một thời gian khá dài nhằm lừa đảm tiết kiệm của Dân, nhưng Dân khôn hơn Nhà Nước CSVN, nên không bị mắc lừa. Ngược lại Biện pháp Tài chánh giữ LÃI SUẤT CAO lại vận trở lại mang hệ quả tàn hại cho Kinh tế mà Nhà nước đứng chủ đạo qua những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, để rồi từ đó hệ quả lan tràn phá sản sinh hoạt Kinh tế cả nước. Đó là tình trạng phá sản Kinh tế mà chúng tôi đã trích dẫn ra ở phần đầu bài này qua những Bản Tin phổ biến.

Trách nhiệm việc phá sản Kinh tế Việt Nam như nói ở phần đầu là do BIỆN PHÁP TÀI CHÁNH cố thủ giữ LÃI SUẤT CAO của Nhà Nước. Không phải là chính chúng tôi dùng lý luận của riêng mình để khẳng định cho Nhà Nước trách nhiệm ấy, mà chính Ngân Hàng Nhà Nước đã phải tự thú tội của mình trước Quốc Hội.

Bản Tin của SBTN viết:

“Tin Hà Nội - Trở lại với những tin từ Việt Nam, hôm qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ. Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau nhiều báo cáo nói hơn chục ngàn công ty lớn nhỏ tại Việt Nam đã nộp đơn thông báo ngừng hoạt động chỉ trong mấy tháng đầu năm nay, không kể nhiều chục ngàn công ty khác ngừng hoạt động nhưng không thông báo.

Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.

Đây là lời tuyên bố TỰ NHẬN TRÁCH NHIỆM của Ngân Hàng Nhà Nước đã tàn phá Kinh tế Việt Nam bằng biện pháp tài chánh GIỮ LÃI SUẤT QUÁ CAO trong một thời gian dài vậy.

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 21.06.2012


 

 

 

BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (1):

GIẢM LÃI SUẤT:

TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VN

VÀO HUYỆT ?

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 14.06.2012


 

Từ cuối năm 2011 và nhất là đầu năm 2012, Ngân Hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Hội những Nhà Đầu tư đều lên tiếng thôi thúc Việt Nam cũng như Trung quốc phải Cải tổ tận căn nguyên mô hình Kinh tế đang tụt giốc trầm trọng đà phát triển của hai nước. Tìm hiểu căn nguyên của tụt giốc Kinh tế, chúng tôi đã viết nhiều bài nói rằng đó chính là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ phát sinh và lan tràn như giòi bọ trong Cơ chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cải tổ tận căn nguyên, tức là dứt bỏ chủ trương Cơ chế như vậy. Nếu Cơ chế vẫn còn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế thì giòi bọ vẫn lan tràn ăn ruỗng Kinh tế. Nếu không dứt bỏ Cơ chế, thì tất cả những biện pháp Chính trị Kinh tế (Politiques Economiques) chỉ là vá váy đụp hời hợt.

Chúng tôi chờ đợi việc cải tổ mô hình Kinh tế Việt Nam xem có đi vào tận căn nguyên hay không. Trong tuần này, chúng tôi đọc được Bản Tin về việc hạ Lãi suất ngân hàng ở Việt Nam như biện pháp Chính trị Kinh tế cứu vãn việc tụt giốc. Theo phân tích tình trạng khủng hoảng Kinh tế không những tại Việt Nam mà còn toàn cầu, chúng tôi thấy rằng việc giảm Lãi suất của Việt Nam không những không phải là biện pháp cứu nguy Kinh tế, mà còn đạp thêm ga để chiếc xe Kinh tế mục nát CSVN đang tụt giốc lao nhanh hơn vào tử huyệt.

 

Tình trạng mục nát, tụt giốc Kinh tế hiện nay.

 

Bản Tin của VietBao tuần này tóm tắt tình trạng mục nát, tụt giốc Kinh tế trầm trọng của Việt Nam. Bản Tin viết:

“HANOI — Kinh tế khủng hoảng, dân cạn tiền tới mức nước mắm cũng không mua nổi.

Trang báo chuyên về kinh doanh VEF loan bản tin nêu rõ trên tựa đề: “Kinh doanh sụt giảm: Từ ôtô đến nước mắm.”Bản tin VEF cho biết, hàng tồn kho đang là mối đe dọa lớn nhất đến các DN. Vấn nạn lan tràn từ các ngành công nghiệp lớn như ô tô, xe máy đến những mặt hàng thiết yếu như… nước mắm. Sản xuất kinh doanh đang bế tắc và kinh tế chưa thể sớm thoát khó khăn.

“Trao đổi mới đây, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa nhấn mạnh, vấn đề khó khăn nhất của các DN hiện nay là bí đầu ra. Bây giờ với nhiều mặt hàng thiết yếu người dân cũng không có tiền mua.”

Thê thảm là  nước mắm cũng ứ đọng.

Bản tin VEF ghi nhận từ Hiệp hội nước mắm Nha Trang cho biết, các DN sản xuất nước mắm tại Nha Trang cũng đang phải giảm sản xuất. Cho dù phải thắt chặt chi tiêu, người tiêu dùng cũng phải mua nước mắm cho bữa ăn hàng ngày. Vậy mà trên thực tế, mặt hàng này cũng không tránh khỏi tình trạng tiêu thụ giảm sút. Tại Nha Trang, có nhiều DN nước mắm phải sản xuất cầm chừng từ đầu năm đến nay, nguyên nhân không gì khác là sức tiêu thụ chậm, sản phẩm ứ đọng.

Bản tin cho biết, theo bản khảo cứu của Ngân hàng HSBC, kinh tế VN đang cọ cụm, vì chỉ số PMI đã thấp hơn 50 điểm. Con số trên 50 điểm là tăng.

Bản tin viết, Chỉ số PMI (nhà quản trị mua hàng – Purchasing Managers Index) tháng 5/2012 do Ngân hàng HSBC công bố cho thấy điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất tại Việt Nam vẫn đang xấu đi. Theo báo cáo này, chỉ số PMI ngành sản xuất đã giảm từ mức 50 điểm vào tháng 3 xuống còn 49,5 điểm vào tháng 4 và tiếp tục giảm xuống còn 48,3 điểm trong tháng 5/2012.

HSBC cho biết, những DN tham gia khảo sát cho rằng, nhu cầu trên thị trường đã giảm khá mạnh do người dân thực hiện tiết kiệm, thắt chặt chi tiêu. Bắt đầu từ các siêu thị, doanh số giảm đi vì người dân giảm sức mua, siêu thị hạn chế nhập hàng, khiến cho các nhà sản xuất hàng tiêu dùng cũng phải giảm năng lực sản xuất, nguồn cung phải giảm nếu không muốn lượng hàng tồn kho tăng lên.

            “Hiện nay, tình trạng sản xuất đang giảm được ghi nhận ở hầu hết các ngành hàng từ dệt – may, giấy, da giày, nhựa, ô tô, xe máy, thép điện tử… Ngành dệt may, dù bước vào mùa cao điểm trong năm nhưng phần lớn các DN vẫn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng. Hiệp hội Dệt may Việt Nam được biết, trước đây khi vào mùa vụ, các DN có thể thoải mái lựa chọn đối tác để làm nhưng nay thì ngược lại. Nhiều DN dệt may lớn, lượng đơn hàng giảm khoảng 5-10% so với cùng kỳ, còn DN nhỏ có thể thiếu hụt trên 10% đơn hàng.

Các ngành sản xuất khác như: xi măng, thép, ô tô, xe máy, thiết bị điện, thiết bị xây dựng… thì sản xuất đã giảm quá mạnh từ đầu năm tới nay. Nhiều ngành hàng giờ chỉ còn sản xuất chừng 50-60% công suất. Những ngành có lượng hàng tồn kho cao là đường ăn, sắt thép, xi măng, ô tô và xe máy… Đến xăng dầu cũng tồn kho là 106.000 tấn, cho dù Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã tạm ngừng hoạt động để kiểm tra.

Thực tế đang cực kỳ bi thảm, theo lời một nhà quan sát, rằng đây là lần đầu tiên kể từ thời kỳ đổi mới, dân  nghèo tới mức không có tiền mua nước mắm. Nghĩa là thất nghiệp đã trở thành hiện tựơng quan ngại. (VietBao)

 

Trong lúc tụt giốc như vậy, CSVN hạ Lãi suất

như biện pháp cứu nguy Kinh tế

 

Bản Tin của SBTN viết:

“Tin Hà Nội - Trở lại với những tin từ Việt Nam, hôm qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ. Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau nhiều báo cáo nói hơn chục ngàn công ty lớn nhỏ tại Việt Nam đã nộp đơn thông báo ngừng hoạt động chỉ trong mấy tháng đầu năm nay, không kể nhiều chục ngàn công ty khác ngừng hoạt động nhưng không thông báo.

Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.

Chế độ Hà Nội bị buộc phải tăng lãi suất để đối phó với lạm phát nặng nhất Á Châu theo các khuyến cáo của các nhà tài trợ quốc tế. Tổng sản lượng quốc gia GDP của Việt Nam chỉ tăng được 4% trong quý đầu năm nay, mức thấp nhất từ 3 năm qua. Dự trù nền kinh tế chỉ tăng trưởng khoảng 5.2% cho năm nay, theo lời Thứ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư nói với báo chí trong tuần này. Hành động hạ lãi suất của nhà cầm quyền Hà Nội tương tự như hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh mới đây. Bắc Kinh đã không thay đổi lãi suất suốt 4 năm qua.(SBTN) (Posted on 13 Jun 2012)

 

Từ nhận định sai lầm về tình trạng tụt giốc Kinh tế

đến quyết định vá víu của biện pháp Tài chánh

 

CSVN ngoài lý do căn bản tụt giốc Kinh tếcủa Cơ chế CSVN hiện hành mà chúng tôi luôn luôn nhấn mạnh trong nhiều bài viết, đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, chúng tôi muốn phân tích những lý do đang làm độ phát triển Kinh tế chỉ còn 5.2% và tình trạng tồn đọng hàng hóa sản xuất khiến các xí nghiệp, cả quốc doanh lẫn tư doanh, phải từ từ đóng cửa. Khi phân tích kỹ những lý do này, người ta sẽ thấy ngay rằng biện pháp hạ Lãi suất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc của Kinh tế VN.

           

Phân tích những lý do tụt giốc

           

            Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng. Tình trạng co cụm sản xuất và và hàng hóa ứ đọng tồn kho là do luật CUNG và CẦU. Chính phía CẦU là động lực cho sản xuất (CUNG). Phía CẦU lệ thuộc chính yếu vào Mãi lực tiêu thụ. Nhìn như vậy, chúng ta thấy những lý do trực tiếp sau đây làm tụt giốc Kinh tế VN và TQ:

=>        Tình trạng khủng hoảng Kinh tế của hai Thị trường lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu làm cho Thất nghiệp tăng vọt. Mãi lực của dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu giảm hẳn xuống. Do đó việc đặt mua hàng Trung quốc và Việt Nam tất nhiên giảm xuống và làm cho hàng hóa TQ và VN  không xuất cảng nổi để phải tồn đọng. Thêm vào đó, Nợ công của Hoa kỳ và Liên Aâu khiến hai khối Thị trường này phải đưa ra những biện pháp tiết kiệm, nghĩa là giảm tiêu thụ. Thất nghiệp làm Mãi lực dân chúng giảm và Nợ công khiến các quốc gia phải tiết kiệm. Tất cả trong chiều hướng cắt đi phía CẦU những hàng hóa sản xuất từ Trung quốc và Việt Nam.

=>        Mãi lực dân chúng nội địa của Trung quốc và Việt Nam rất ít ỏi để có thể trợ lực cho phía CẦU nội địa. Trong khi ấy, vì muốn bảo vệ danh dự của Cơ chế, Trung quốc và Việt Nam gồng mình giữ độ phát triển và mức CUNG dồi dào. Mãi lực quốc tế giảm và Mãi lực nội địa không có, thì khó lòng giữ thăng bằng được giữa CUNG và CẦU. Do đó hàng tồn kho là hậu quả.

=>        Các Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Aâu nay đã ý thức rằng tình trạng Thất nghiệp tại nước họ là do hậu quả của việc lan tràn hàng hóa Trung quốc. Chính vì vậy, để bảo vệ cho sản xuất của chính mình, Hoa kỳ, nhất là Liên Aâu đưa ra những Biện pháp Bảo Hộ Mậu dịch. Đây là việc càng làm giảm thiểu đi phía CẦU nhập cảng hàng từ Trung quốc và Việt Nam.

=>        Đặc biệt Việt Nam, ngoài việc giảm CẦU do Mãi lực tiêu thụ quốc tế và quốc nội, Việt Nam còn bị hàng tồn đọng từ Trung quốc tràn xuống để giết chết sản xuất tại sân nhà. Để cứu sản xuất nội địa, các quốc gia phải ngăn cản nhập cảng hàng nước ngoài, trong khi ấy, Việt Nam bị tràn ngập hàng Trung quốc để cạnh tranh với chính hàng sản xuất nội địa.

            Phân tích những lý do gắn liền với Mãi lực và phía CẦU như vậy, chúng ta mới thấy rằng Biện pháp Giảm Lãi xuất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc Kinh tế nữa.

 

Vá víu của việc giảm Lãi suất

 

Theo Bản Tin của SBTN về quyết định giảm Lãi suất, Ngân Hàng Nhà Nước VN đã nhìn sai lầm về những lý do làm tụt giốc Kinh tế:

“Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.”

Ngân Hàng Nhà Nước cố tình cắt nghĩa việc tụt giốc là thiếu vốn vì lãi suất quá cao, mà không nhìn những lý do thuộc Kinh tế, đó là việc giảm CẦU từ quốc tế đến quốc nội. Vì cố tình nhìn sai lầm về những lý do tụt giốc Kinh tế, nên Ngân Hàng Nhà nước đưa ra biện pháp Tài chánh là giảm Lãi suất, nghĩa là Giá Tín dụng rẻ để các xí nghiệp có thể vay vốn tăng sản xuất (CUNG). Những lý do làm tụt giốc Kinh tế là từ phía CẦU chứ không từ phía CUNG. Ngân Hàng đã tuyên bố một cách dõng dạc trong nhận định sai lầm của mình:

“Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ.”

Như vậy, theo Ngân Hàng Nhà Nước, việc giảm Lãi xuất tín dụng là “nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ”.  Bài học giảm Lãi suất để giá vốn rẻ mà kích thích đầu tư sản xuất là bài học áp dụng cho những nước đã có sẵn Thị trường Tiêu thụ quốc tế cũng như quốc nội. Bài học này áp dụng cho Kinh tế Việt Nam không những không có hiệu quả mà có thể còn sai trật vì Thị trường Tiêu thụ nước ngoài mình không làm chủ được và Thị trường Tiêu thụ trong nước bị cạn kiệt Mãi lực.

 

Cái nguy hiểm của tăng vốn sản xuất (CUNG)

 

Cuộc đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 là hậu quả của việc sản xuất quá nhiều sau khi các xí nghiệp thi nhau đầu tư cơ giới hóa sản xuất. Chính là khủng hỏa của SURPRODUCTION. Hàng hóa được sản xuất quá nhiều, nghĩa là CUNG tăng vọt, mà tiêu thụ yếu kém đi, nghĩa là CẦU giảm xuống.Tình trạng chênh lệch CUNG—CẦU này đã dẫn đến cơn xoáy Giảm giá (Spirale déflationniste) khiến các xí nghiệp thay vì tăng sản xuất, phải thiêu hủy đi những hàng đã sản xuất và tồn kho. Biện pháp Kinh tế mà KEYNES đề nghị cho thời này là phải làm hết cách để tăng Mãi lực Tiêu thụ (CẦU), chứ không phải là tăng sản xuất (CUNG).

Việc Trung quốc sản xuất quá nhiều đang làm Thế giới lo ngại một tình trạng giảm giá dẫn đến cơn xoáy giảm giá làm sạt nghiệp phía sản xuất.

Những lý do tụt giốc Kinh tế Việt Nam là từ phía CẦU, trong khi ấy Ngân Hàng Nhà Nước muốn cứu tụt giốc, lại hành động tăng phía CUNG, nghĩa là tăng vốn cho các xí nghiệp sản xuất nhiều thêm nữa để cuối cùng dẫn đến tình trạng hàng tồn kho chất chồng không bán được để các xí nghiệp phải hốt đổ đi trước khi đóng cửa xí nghiệp. Chúng tôi cũng xin thêm rằng phần lớn những xí nghiệp là quốc doanh. Khi mà tăng vốn sản xuất cho các xí nghiệp quốc doanh bằng hạ Lãi xuất, thì những vốn tăng thêm, thay vì sản xuất, lại thất thoát do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ như Vinashin, Vinalines… mà Nhà nước không thu lại vốn được.

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 14.06.2012


 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link