Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, September 23, 2012

Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài Gòn cũ


 

Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài Gòn cũ

(Trịnh Thanh Thủy)


Posted on 19/09/2012 by Lê Thy

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc.
 
Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ.
 
 
Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước.
 
 Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo.

Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy.

Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v…

Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện.
 
 Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới.
 
Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v…dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau.

Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: “Anh xin quản lý đời em“.

Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ“. Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như “chế độ xem“, “chế độ bao cấp“.

Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơnbảo đảm – đảm bảodãi dầu – dầu dãivùi dập – dập vùi. v.v…

Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân“. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên.
 
Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v…

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài.
 
 
 Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại.
 
 
 Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng.
 
Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng.
 
 Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.

Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của Việt Cộng” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ “cộng sản” nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.

Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt.
 
 
Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ.
 
 
 Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)

Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.”

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:

Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:

Trong nước:
Ngoài nước:
Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy
Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
 
Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga
Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
 

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng…

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng An sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này:


Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ BâyBen dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước.
 
 
Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách.
 
 
Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa.
 
 
Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là “cái chết của một ngôn ngữ”.
 
Đau lòng lắm thay!

 

Quả đấm phản tác dụng thảm hại của Nguyễn Tấn Dũng





21/09/12 |

Quả đấm phản tác dụng thảm hại của Nguyễn Tấn Dũng




Theo tin của báo chí lề đảng, hiện nay có khoảng 400 websites bị cho là phản động, nói xấu chủ trương và chính sách của đảng cộng sản (ĐCS) và nhà nước CS Việt Nam (VN).

Sự nỗ lực ngăn chặn dòng thông tin trái chiều với luồng của ĐCSVN đã từng được tổng kết với thành tích đánh sập 300 trang mạng mà tướng công an Vũ Hải Triều đã khoe khoang trong một hội nghị báo chí năm 2010.

Nhưng, nỗ lực “đánh sập” của an ninh CS đã không thành như mong muốn của nhà cầm quyền: “Tử lệnh!” – biểu tượng của bọn tin tặc mang tên “Sinh Tử Lệnh” trong chiến dịch vào năm 2010, mà chỉ gây khó khăn nhất thời cho báo chí ngoài lề đảng.

Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn! Vào cuối năm 2010, tờ “Dân Làm Báo” phản ứng lại chiến dịch tấn công này, đã công bố cùng một lúc 100 links dẫn với tên miền khác nhau, giúp bạn đọc truy cập vào trang nhà, thách thức không khoan nhượng với nhà cầm quyền. Một số trang khác bị tấn công như “Đàn Chim Việt”, “Dân Luận”, “Bauxite VN”, “X-Cà phê”, v.v… cũng ứng phó tương tự.

Kết quả là, hầu hết các websites được nhiều người đọc trong số 300 trang bị “đánh sập”, không những tiếp tục tồn tại, mà sau chiến dịch đánh phá, số báo mạng ngoài lề đảng còn sinh sôi nảy nở thêm. Các bloggers ít sành kỹ thuật IT cũng chằng vừa, họ đối phó bằng phương pháp “thủ công”, trang này bị sập họ tạo ngay trang khác, nhanh như chớp, hơn cả rắn Hydra trong thần thoại Hy lạp, hình ảnh mà báo Quân đội Nhân dân gán cho báo chí ngoài lề đảng trong bài “Con rắn Hydra mang cái đầu “thông tin bẩn”.

Không thể lấy tay che mặt trời, an ninh mạng CSVN càng không thể chế ngự được không gian điện tử vô tận và vô song.

Từ năm 2011, báo ngoài lề đảng tiếp tục phát triển nhanh chóng, cộng thêm sự tham gia vào các mạng xã hội, phổ biến nhất là Facebook, nối kết với hàng triệu người sử dụng trong nước, thật sự là những quả đại bác nã vào khung thành cấm kỵ của triều đại CSVN, thực hiện sứ mệnh phá vỡ màn bưng bít của bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ.

Trong cuộc đọ sức trên mặt trận thông tin điện tử ác liệt này, ngày càng có nhiều sáng tạo mới. Giữa năm 2012, sự ra đời của trang “Quan Làm Báo”, đã góp thêm vào sứ mệnh một quả tên lửa với sức công phá dữ dội.

Khác hẳn với các tờ báo trước đó thường có nội dung bao gồm các vấn đề đa dạng của VN và quốc tế, cổ vũ cho dân chủ, tự do, nhân quyền, hoặc phản ảnh các hiện tượng tiêu cực của xã hội dưới thời cai trị của ĐCSVN, tờ “Quan Làm Báo” tập trung vào những câu chuyện liên quan đến cung đình của triều đại CS Hà Nội, chĩa mũi tấn công thẳng vào những người có vị trí lãnh đạo cao nhất, đặc biệt là Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, vạch trần những việc làm mờ ám của ông ta và phe nhóm, gây ảnh hưởng xấu nghiêm trọng lên đời sống kinh tế, chính trị của cả nước, đồng thời khai thác những tình tiết bí mật trong cuộc tranh giành quyền lực trên thượng tầng kiến trúc của ĐCSVN.

Nhìn từ khía cạnh chuyên môn, tờ “Quan Làm Báo” không đạt tiêu chuẩn, có thể xem nó như một tờ báo vỉa hè (tabloid), thậm chí tệ hơn, do cách trình bày thiếu chuyên nghiệp, hành văn cẩu thả với nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. Quan trọng hơn nữa, chủ nhân tờ báo là người giấu mặt, đồng nghĩa với sự phủi bỏ trách nhiệm trước dư luận và luật pháp.

Nhưng tại sao “Quan Làm Báo” cuốn hút hàng triệu độc giả trong một thời gian rất ngắn, trong vòng mấy tháng?

Bản thân nhà cầm quyền CSVN cũng nhìn nhận ra cái hay trong thủ pháp tác nghiệp của “Quan Làm Báo”. Tờ “PetroTimes” 19/9 viết rằng, “phương pháp phổ biến nhất của “Quan làm báo” là: Nhào nặn thông tin dựa trên những sự kiện cụ thể“.

Đúng như thế. Mấu chốt nằm ở chỗ khai thác những sự kiện cụ thể và có thật!

Dẫu biết rằng một nửa chiếc bánh mỳ không phải là một chiếc bánh mỳ, một nửa sự thật chưa phải là sự thật, nhưng trong một xã hội bị bịt miệng và đói thông tin về hậu trường của những người cầm cân nảy mực, quản lý đất nước, độc giả sẵn sàng ngốn ngáo ngon lành nửa chiếc bánh mỳ khô. Khi bóng đêm của dối trá, bất lương trùm phủ, một nửa sự thật cũng đủ làm ngọn nến soi sáng.

Người dân bị trị chẳng còn cách nào khác. Trong bối cảnh những vụ hối lộ, móc ngoặc làm ăn bất chính được thực hiện dưới gầm bàn, trong góc tối, tại dinh thự riêng hay qua trung gian các bà vợ, con cái, thân hữu của các quan chức, sẽ vô cùng khó khăn, nếu không nói là vô phương để có thể “bắt tận tay day tận trán”. Để không trở thành những Hoàng Khuơng tiếp theo, các “hiệp sĩ” buộc phải theo phương châm “cùng tất biến, biến tất thông”, ra đòn trên mặt trận thông tin và tạm thời giấu mặt.

Oái oăm thay, chính họ, các hiệp sĩ lại nắm thế thượng phong. Cho dù nhà cầm quyền CSVN có hệ thống tuyên truyền khổng lồ và đầy đủ các phương tiện kỹ thuật đánh phá.

Thực tế sau khi ban hành văn bản số 7169/VPCP ngày 12/9/2012, trong đó Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị xử lý các trang mạng đưa thông tin bôi xấu đảng và nhà nước CSVN, nêu đích danh “Dân Làm Báo”, “Quan Làm Báo”, “Biển Đông”,… được báo chí lề đảng nhất tề tiền hô hậu ủng, đã chứng minh cho thế thượng phong không chối cãi của báo ngoài lề đảng.

Ông Dũng đã sai lầm. Quả đấm của ông ta đã hoàn toàn phản tác dụng.

Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu của ông ta phải rất kém cỏi, yếu cơ, nên mới không ý thực được tác dụng nguợc của việc làm, thậm chí có người còn mỉa mai, châm chọc rằng, ai đó đã lọt vào Văn phòng Thủ tướng tiếp tay cho các thế lực thù địch, nên mới xúi dại Thủ tướng cho ra lò văn bản đã nêu. Sau khi công bố văn bản, ngay lập tức số lượng độc giả truy cập “Dân Làm Báo”, “Quan Làm Báo” tăng cao đột ngột bất thường. Tên của hai tờ báo xuất hiện trên nhiều trang báo của các hãng tin lớn trên thế giới. Còn trang Biển Đông, nhiều người chưa biết đến, đã cố gắng tìm xem tờ báo nói gì mà được cả Thủ tướng quan tâm đến thế!

Nguyễn Tấn Dũng đã thực hiện một màn quảng cáo không công, mang lại hiệu quả tích cực vô tiền khoáng hậu cho thế lực mà họ muốn huỷ diệt. Thật ngớ ngẩn, nếu không nói là quá ngu xuẩn. Từ thế kỷ trước, Federico Fellini, đạo diễn và biên kịch nổi tiếng người Ý đã chắng nói: “Kiểm duyệt chính là cách quảng cáo bằng chi phí của nhà nước”, đó sao!

Người ta đúc kết rằng, trong sâu thẳm của tâm hồn, mỗi con người mặc nhiên là một kẻ phao tin đồn. Tin đồn cộng hưởng, lan toả và vượt mọi thành luỹ. Dân chúng thì thầm rằng, nói xấu đảng và nhà nước là trọng tội, vậy kẻ nào bạo gan như thế? Ai cũng tò mò muốn biết kẻ đó là ai và viết những điều cấm kị gì. Adam và Eva, thuỷ tổ của loài người, cũng đã sẵn sàng ăn trái cấm của “cây nhận thức” dù biết phạm tội và bị trục xuất xuống trần gian, là gì.

Thời chiến tranh chống Mỹ, vào cái thời toàn dân miền Bắc “đoàn kết một lòng bên đảng”, nhất quyết “đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”, nghe đài BBC, đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), hay chương trình phát thanh của chế độ Sài Gòn, có thể bị ghép vào tội phản động, đối diện với trại cải tạo ra đi không biết ngày về, mà còn chẳng cấm nổi. Dân vẫn nghe lén, cán bộ nghe lén càng nhiều hơn, vì mọi người nhận ra rằng, nghe “đài địch” sẽ mở mang đầu óc ra như thế nào. Việt Phương, thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc bấy giờ, đã phải xác nhận trái lạ hấp dẫn ra sao trong bài “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi” (1969):

”Mở đài địch như mở toang cánh cửa

Nghe nó chửi mà tin ở ngày mai”.

Dân gian có câu “cây ngay chẳng sợ bóng đứng”. Nếu chế độ CSVN tốt và ưu việt, trong sáng thật sự như bộ máy tuyên truyền của đảng suốt ngày nhồi nhét vào tai dân chúng, thì việc gì phải che đậy, thế lực nào muốn bôi đen, nói xấu sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Ở các nước dân chủ, báo chí truyền thông phê phán, chỉ trích, thậm chí nhạo báng lãnh đạo hay chính sách nhà nước là chuyện bình thường hàng ngày. Tại Ba Lan, sau khi chế độ CS sụp đổ vào năm 1989, báo chí tự do được hiến pháp bảo hộ, luôn luôn đi đầu và quyết liệt, phanh phui hầu hết các vụ án tham nhũng, lạm quyền lớn nhất. Đất nước Ba Lan vẫn ổn định, phát triển, ai phạm tội thì mất ghế, ngồi tù, thậm chí có chính phủ mất tín nhiệm bị giải tán, người dân bầu chọn chính phủ khác lên thay thế. Có sao đâu! Đời vẫn tươi vui, hoa vẫn nở và các dòng sông vẫn đổ ra biển cả!

Dân VN đã chán ngấy trên TV hay trên trang nhất của báo đảng hình ảnh những vị lãnh đạo uy nghi, sang trọng với com-lê, cà vạt, cổ cồn, ăn nói ba hoa, lắm lúc ngây ngô làm trò cười cho thiên hạ. Họ muốn biết trong cung cấm kia, các vị đại diện cho họ đang làm gì với nhau, coi dân không ra gì. Đơn giản, không ai muốn làm người vừa mù vừa điếc.

Nguyễn Tấn Dũng, có thể nói, trong tất cả các thủ tướng CSVN kể từ Phạm Văn Đồng, có quyền lực bao trùm và lộng quyền nhất. Ông ta cũng là đao phủ khủng khiếp nhất, bịt miệng xã hội tàn bạo nhất. Chính ông ta là tác giả của các nghị định vi hiến, đi ngược với các cam kết quốc tế, ngăn chặn phản biện xã hội của giới trí thức, cấm công nhân đình công, cấm biểu tình, cấm khiếu nại tập thể, cấm báo chí tư nhân…

Càng cấm đoán, kiểm duyệt, Nguyễn Tấn Dũng càng chứng tỏ ông ta và chính phủ do ông lãnh đạo có quá nhiều xấu xa, đồi bại, nên phải giấu giếm. Ông ta có nỗi sợ thường trực: bị vạch mặt.

Chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng đã và đang gây ra tổn hại chưa từng thấy cho đất nước về tiền bạc, tài nguyên, môi trường và chủ quyền an ninh quốc gia. Những khuất tất, từ khai thác bauxite Tây Nguyên, in tiền Securency, thất thoát và nợ nần của Vinashin, Vinalines…, đến những nghi vấn mà dư luận đưa ra về vai trò của ông và con gái ông, Nguyễn Thanh Phượng, trong những âm mưu lũng đoạn tài chính và hệ thống ngân hàng, trả lời cho câu hỏi vì sao ông ta đã phải lồng lộn che giấu và điên cuồng bịt miệng xã hội.

Trước nghi vấn và đòi hỏi của dư luận, một người đứng đầu chính phủ mà trong lý lịch của mình, không dám công bố cha mẹ đẻ là ai, cho thấy giấu giếm sự thật là bản chất, nằm trong gene của ông ta. Ngoài cha mẹ ra, trong tất cả các thông tin chính thức, giai đoạn từ khi ông ta ra đời cho đến lúc 12 tuổi, cũng là một vùng trống vắng, mù mịt.

Người ta sẽ còn tiếp tục khám phá Nguyễn Tấn Dũng trong mọi lĩnh vực, còn lôi ông ta ra ánh sáng, cởi áo, lột truồng, nhất là với những gì ông đã và đang làm phương hại cho lợi ích của đất nước Việt Nam. Từ “Dân Làm Báo”, “Quan Làm Báo” đã xuất hiện “Vua Làm Báo”, “Đảng Làm Báo”, “Việt Nam làm Báo”…

Ông Dũng có thể tiếp tục tung ra những quả đấm sắt máu khác vào quyền tự do báo chí và ngôn luận, nhưng e rằng chúng lại tiếp tục phản tác dụng như “quả đấm 7169″ ngày 12/9 mà thôi.

Ngày 21/9/2012

© 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

IAEA kêu gọi Bắc Triều Tiên chấm dứt hạt nhân


 

 Thứ bảy 22 Tháng Chín 2012

IAEA kêu gọi Bắc Triều Tiên chấm dứt hạt nhân


Giám đốc đương thời Yukiya Amano, phát biểu với báo chí trong khuôn khổ hội nghị IAEA  (REUTERS)

Giám đốc đương thời Yukiya Amano, phát biểu với báo chí trong khuôn khổ hội nghị IAEA (REUTERS)

Lê Phước


Hôm qua, 21/9/2012, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (International Atomic Energy Agency - IAEA) đã ra nghị quyết yêu cầu Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân quân sự. Nghị quyết này được thông qua trong khuôn khổ hội nghị toàn thể IAEA bao gồm 155 nước thành viên.

Nghị quyết nêu rõ, IAEA “nhấn mạnh đến ý muốn về một giải pháp ngoại giao cho vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên, nhằm đạt đến việc giải trừ vũ khí toàn diện, thật sự và dứt khoát trên bán đảo Triều Tiên”. Cơ quan IAEA cũng khẳng định quan điểm cho rằng Bắc Triều Tiên tuyệt đối không phải là “một cường quốc hạt nhân quân sự” theo định nghĩa của Hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân (NTP) mà các nước ký vào năm 1968, bởi vậy Bắc Triều Tiên không thể được hưởng quy chế “được phép sở hữu vũ khí hạt nhân”.

Đại diện của Hoa Kỳ tại IAEA cho rằng, nghị quyết là “một thông điệp rõ ràng cho thấy cộng đồng quốc tế vẫn muốn Bắc Triều Tiên phải chịu trách nhiệm về những nghĩa vụ và cam kết giải trừ vũ khí hạt nhân của mình”.

Xin nhắc lại rằng, theo NTP, chỉ có 5 nước được phép sở hữu vũ khí nguyên tử là Pháp, Trung Quốc, Nga, Anh và Mỹ. Đây là 5 nước thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và khi NTP được mang ra bàn thảo và ký kết thì năm nước này đã có vũ khí hạt nhân rồi.

Tuy vậy, Hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân nêu rõ, năm quốc gia này không được chuyển giao kỹ thuật hạt nhân cho các nước khác. Còn các quốc gia không có vũ khí hạt nhân cũng đồng ý không tìm cách có vũ khí hạt nhân.

Về phần mình, Bắc Triều Tiên theo đuổi chương trình hạt nhân vì cho rằng đó là một chương trình hạt nhân dân sự, dùng để sản xuất điện. Tuy nhiên, theo nhận định của hãng tin Reuters, Bình Nhưỡng cũng không che giấu khả năng răn đe hạt nhân của mình. Bình Nhưỡng có mua bán công nghệ hạt nhân với Syria, Libya, và có thể với cả Miến Điện và Pakistan. Bắc Triều Tiên cũng đã vài lần tiến hành thử vũ khí hạt nhân.

Hồi năm 2003, Bắc Triều Tiên đã chính thức rút khỏi Hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân và cấm các chuyên gia quốc tế đến thanh tra các cơ sở hạt nhân trong nước.

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt về vấn đề tự do


 

21/09/12 |

Trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt về vấn đề tự do


Ông Philipp Rösler Bộ trưởng bộ kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, kiêm Phó Thủ tướng Đức, trong buổi gặp gỡ sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội ngày 19-9-2012, đã nhấn mạnh vấn đề then chốt của nền kinh tế Việt Nam nằm trong hai tiếng TỰ DO: “không có tự do thì làm sao người ta có thể suy nghĩ, quyết định và hành động một cách tự chủ đầy trách nhiệm được“. Ông Rosler nhấn mạnh: “Việt Nam cần phải để nhân dân có quyền tự do dân chủ thì mới phát triển được nền kinh tế”. Trích bài :”Bộ trưởng Rösler tại đại học Hà Nội: “Việt Nam cần nhiều cải cách dân chủ

Xem ra, lúc này, TỰ DO thiết yếu với con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam như dưỡng khí. Không có tự do, dân tộc ta, đất nước ta hầu như không có gì cả. Ông Hồ Chí Minh cũng có lúc phải thốt ra: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “ Có độc lập mà không có tự do hạnh phúc, coi như không có gì cả”…

Trong lúc quyền tự do của người dân Việt Nam đang bị nhà nước hạn chế: hiếp pháp cho tự do báo chí nhưng dân không được ra báo tư; hiến pháp cho biểu tình nhưng nếu người dân (ông chủ) biểu tình yêu nước sẽ bị công an nhà nước (nô bộc) đàn áp bắt bỏ tù; hiến pháp cho tự do lập hội, nhưng anh Điếu Cày vừa lập câu lạc bộ báo chí tự do gồm một số thành viên, trong đó ba thành viên chủ chốt (Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải) đều bị bắt giam, sẽ ra tòa ngày 24-9-2012 sắp tới); hiếp pháp cho tự do tôn giáo nhưng một số nhà sư, một số cha cố, mục sư, thầy chùa của đạo Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo và giáo dân vẫn bị đàn áp bắt bớ; hiếp pháp cho dân được tự do cư trú nhưng chính sách hộ khẩu lại ngăn cấm…thì việc nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt viết nhiều bài bàn về vấn đề TỰ DO thật đáng quý biết bao.


Nguyễn Trần Bạt. Ảnh phaply.net

Ông Nguyễn Trần Bạt, trong thời gian vừa qua, nổi lên như một hiện tượng hiếm có trong các vấn đề lý luận từ văn hóa đến chính trị, từ triết học đến kinh tế…như một nhà nghiên cứu lý luận nổi bật nhất của Việt Nam hôm nay, với gần chục tập sách dày cộm được nhà nước cho phép xuất bản công khai. Chỉ đọc qua một số mệnh đề rút gọn được ông Nguyễn Trần Bạt in trên mép gấp bìa bốn các cuốn sách của mình, cũng thấy ông dám dũng cảm thách thức nhà đương cục cộng sản Việt Nam, đặng công phá những lô cốt tuyên giáo đầy rào gai, đầy gươm giáo búa liềm kinh khiếp, cũng đủ thấy bản lĩnh của ông ghê gớm nhường nào; và cũng thấy nhà cầm quyền đã nhân nhượng khá nhiều để cho sách ông được in và phát hành công khai trên danh nghĩa lề phải…

Khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vốn coi trí thức là cục phân ( Mao Trạch Đông nhắc lại lời Lenin trong thư gửi Goocki), cấm đối lập, tức cấm các ý trái chiều, trái với ý nhà nước, nhất là cấm đối lập chính trị ( mà đối lập là linh hồn biện chứng pháp Marxism), Nguyễn Trần Bạt dám thách thức chính quyền để đưa ra định nghĩa về trí thức như sau: “Tiêu chuẩn thứ nhất là trí thức phải cầm quyền về mặt lẽ phải, thứ hai là trí thức phải luôn luôn đối lập với nhà cầm quyền, đối lập với quá khứ, đối lập với nhau và đối lập với các yếu tố bên ngoài” (mép gấp bìa bốn cuốn: “Nguyễn Trần Bạt – Đối thoại với tương lai- tập 2-NXB Hội nhà văn 3-2011)

Khi nhà cầm quyền coi chính trị là thống soái, Nguyễn Trần Bạt vạch ra nền giáo dục Việt Nam sa đọa là vì nó bị chính trị hóa, như sau: “Cải cách giáo dục về bản chất là phi chính trị hóa giáo dục, trả lại cho học đường tất cả những sự yên tĩnh của nó” (sách đã dẫn)

Trên mép gấp bìa bốn cuốn “Cải cách và sự phát triển” ( NXB Hội Nhà Văn 6-2011), Nguyễn Trần Bạt vạch ra một mệnh đề sống còn của đảng cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là khi nền chính trị tuyệt đối nằm trong tay một đảng cầm quyền thì nhân dân thực chất không có một chút quyền lực nào : “ Nếu xã hội tiếp tục là sở hữu của các tập đoàn chính trị, thậm chí người ta xây dựng các pháp chế để hợp pháp hóa vai trò làm chủ xã hội về mặt chính trị của các tập đoàn chính trị thì tức là không có nhân dân trong đó, tức là không có dân chủ”…

Chúng ta có thể tìm thấy trong ngót chục cuốn sách của Nguyễn Trần Bạt những mệnh đề chính trị xã hội ngược với các giáo điều cộng sản đang tồn tại trên mặt lý thuyết ở nước ta hôm nay. Có thể nói, lần đầu tiên, ở Việt Nam sau năm 1975 đến nay, có một tác giả viết sách thực thi vai trò trí thức phản biện xã hội, dám đụng đến các vấn đề cốt lõi của chế độ độc đảng, độc quyền, lại hi hữu được nhà cầm quyền cho xuất bản rộng rãi- đó là tác giả Nguyễn Trần Bạt. Ông là người học được tinh thần đối lập của Marx để viết ra nhiều cuốn sách như một nhà nghiên cứu, một lý luận gia đối lập, nơi chính quyền tuyệt đối cấm đối lập. Đó chính là thành công lớn của Nguyễn Trần Bạt. Ông đã, đang và sẽ được lịch sử vinh danh vì dám dũng cảm nói lên tiếng nói chân thực của người trí thức trước các vấn đề chưa có lối thoát của xã hội, góp phần khai mở dân trí. Chúng tôi đánh giá rất cao công trạng này của ông.

Tất nhiên, trong quá trình viết ra những cuốn sách dày cộm đầy những sự nhạy cảm có phần nguy hiểm như thế, tác giả Nguyễn Trần Bạt có khi phải vòng vo Tam Quốc, có khi vừa viết vừa run nên có chỗ phải thỏa hiệp, cải lương, lại có khi mập mờ đa ngữ nghĩa nên còn một số vấn đề chưa rốt ráo, hoặc chưa chính xác, chưa được khoa học cho lắm, cần phải thảo luận lại. Trước hết, đó là vấn đề TỰ DO.

Vấn đề này Nguyễn Trần Bạt nhắc đến trong hầu hết các tác phẩm lý luận của mình. Trong bài này ( chia làm hai kỳ), chúng tôi chỉ xin bàn với ông Nguyễn Trần Bạt về khái niệm Tự do, về các vấn đề liên quan đến tự do trong xã hội Việt Nam hôm nay nơi cuốn sách “ Nguyễn Trần Bạt – Cải cách và sự phát triển” ( NXB Hội Nhà Văn 6-2011), và cuốn “ Nguyễn Trần Bạt – cội nguồn cảm hứng” ( NXB Hội nhà văn 6-2011)

Trong cuốn “ Cội nguồn cảm hứng”, ở trang 118, Nguyễn Trần Bạt viết : “Con người không được nhân danh bất kỳ điều gì để chuyển toàn quyền tự do cá nhân của mình, vì chuyển nhượng toàn bộ các quyền tự do cá nhân chính là nô lệ. Trong xã hội hiện đại, có một số dân tộc nhượng bán toàn bộ quyền tự do cá nhân cho Chúa, đó chính là nô lệ tinh thần”…

Ở mệnh đề này, Nguyễn Trần Bạt dựa vào quan điểm khá sai lầm của Marx : “ Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để lập luận, để nô lệ hóa những người có niềm tin tôn giáo vào Chúa. Hóa ra, những người tin Chúa không bao giờ có tự do sao ? Đây là vấn đề lớn trong khái niệm TỰ DO nên chúng tôi thấy cần bàn rốt ráo với ông Nguyễn Trần Bạt.

Cần phải nhớ rằng, Chúa Jesus vừa là nhân vật huyền thoại vừa là nhân vật lịch sử có thật. Ngài đến thế giới để giải phóng con người, mang tự do đến cho người bị áp bức, cụ thể là để giải phóng nô lệ trong một đế quốc La Mã chiếm hữu nô lệ. Đạo của Người thuở ban đầu hầu như đa phần dân nô lệ đi theo.

Đây là lời Chúa Giêsu rao giảng sự thật và tự do: “Nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8, 36)
Thánh Phaolô nói về yếu tính tự do của Đức Giêsu: “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người.” (1Cor 9, 19).


Còn có thể trích ra trong Kinh Thánh rất nhiều cân bàn về tự do:

Anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do, vậy chớ dùng tự do mà làm tôi xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu mến mà phục vụ nhau.” (Ga 5, 13)

“Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do.” (Gc 2, 12).
“Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do.” (2Cor, 3, 17).


Khái niệm tự do, vấn đề tự do, mối quan hệ tự do giữa cá nhân và xã hội đã được các nhà khai sáng Pháp và Âu Mỹ thế kỷ Ánh sáng ( thế kỷ 18) đặt ra rối ráo nhất, căn bản nhất bằng những khế ước xã hội quy định quyền tự do là quyền thiêng liêng nhất của con người. Trừ nhà triết học vĩ đại Voltaire bỏ Chúa, còn tất cả các nhà khai sáng dưới đây dù chống giáo hội nhưng họ vẫn là những người tìm thấy tự do trong Chúa : George Berkeley, Thomas Paine, Jean-Jacques Rousseau, David Hume, Montesquieu, Volff, Immanuel Kant, Benjamin Franklin, Denis Diderot, D’Alembert, Adam Smith, Thomas Jefferson ( người viết “bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ)…

Vậy theo ông Nguyễn Trần Bạt, chẳng lẽ các nhà khai sáng ra các giá trị tự do đích thực trên đều là bọn nô lệ tinh thần vì họ đã “nhượng bán quyền tự do cá nhân cho Chúa” ư?

Trong bản “tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ” năm 1776 và bản “tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” 1789 của Cách mạng Pháp, là hai bản tuyên ngôn đặt vấn đề căn bản của con người là tự do đều tuyên xưng Chúa ( Tạo hóa, Đấng tối cao) chẳng lẽ lại là những văn bản của người nô lệ “ bán nhượng quyền tự do cá nhân cho Chúa” theo quan niệm khá sai lầm của Nguyễn Trần Bạt trên hay sao?:

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.( trích bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ 1776)

“Và như thế, Quốc Hội công nhận và tuyên bố, trong sự hiện diện và dưới sự che chở của Đấng Tối Cao, những quyền sau đây của con người và của công dân:

Các điều khoản

1. Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Sự phân biệt xã hội chỉ được phép thành lập trên cơ sở nó đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng.”(trích tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền cách mạng Pháp 1789)…
Ngày nay, các vị nguyên thủ quốc gia Âu Mỹ ( kể cả Nga) khi nhậm chức đều để tay lên cuốn Kinh Thánh thề trung thành với Chúa và hiến pháp tự do dân chủ của mỗi nước.


Nguyễn Trần Bạt tự mâu thuẫn với mệnh đề trang 118 của ông, rằng người tin Chúa hiến trọn tâm hồn và thể xác cho Ngài không có tự do, chỉ là những nô lệ tinh thần; trang 123, ông viết ngược lại rằng người tin Chúa, biết đối thoại với Chúa ( thần thánh) cũng là người tự do : “Bất kể sự thỏa thuận nào cũng thể hiện quyền tự do của con người. Khi con người đối thoại với nhau, với nhà cầm quyền, thậm chí với thần thánh chính là lúc con người thể hiện tự do của mình”…

Với những nước văn minh theo chế độ đa nguyên tự do dân chủ, tôn giáo là vấn đề tâm linh thiêng liêng nhất của con người. Với họ, tôn giáo và tự do không hề đối lập; ngược lại từ trong khái niệm thần học Thượng Đế, tự do đã được khai mở và phát huy những giá trị đẹp nhất nơi con người.

Những triết gia tiền Ki-tô giáo thời cổ Hi Lạp đã coi tự do tinh thần giúp con người đạt tới cõi thần linh. Platon và Aristote cho rằng: “Đời sống cao nhất của con người là suy tưởng vì ở đó con người được sống cuộc đời thần thánh, nơi đó tự do và nhận thức hợp thành một …đời sống tự do thực sự của con người đã tạo nên hình ảnh của trí năng cũng như tư duy về cái tốt lành”

Immanuel Kant, một tín đồ sòng đạo từng coi Thượng Đế chính là cái tuyệt đối của triết học, là khởi nguồn tư duy tự do đầy mặc khải, cũng xác định: “Một con người sinh hoạt theo lý trí sẽ nhất thiết sống tự do, không còn bị chi phối bởi cảm giác và nhục dục”

Thánh Saint Augustine , nhà triết học, thần học Kinh viện lớn nhất từng nói rằng: “Ý chí Thượng đế là căn bản tự do”

Hegel, người mang cái tuyệt đối Thượng Đế từ trời cao xuống trần gian đã nói về tự do như chìa khóa mở vào cái tất yếu, cái mà hình như chỉ có Chúa mới nhìn ra được, rằng: “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”, rằng : “Bản tính của tinh thần là tự do”. Khái niệm tinh thần Hegel dùng ở đây chính là tinh thần Thiên Chúa giáo vậy…

(Còn tiếp)

Sài Gòn ngày 21-9-2012

© Trần Mạnh Hảo

© Đàn Chim Việt

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link