Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, September 27, 2012

Người Việt thành nghị sĩ: Vị thế cộng đồng tại Canada được công nhận


 

Thứ tư 26 Tháng Chín 2012

Người Việt thành nghị sĩ: Vị thế cộng đồng tại Canada được công nhận





 

Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải

Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải

DR


Đầu tháng 9/2012, chính quyền Canada ra quyết định bổ nhiệm 5 thượng nghị sĩ mới, trong đó, có một người gốc Việt: ông Ngô Thanh Hải, nguyên thẩm phán tòa quốc tịch tại thủ đô Ottawa. Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải sẽ chính thức đại diện cho tỉnh bang Ontario trong các hoạt động lập pháp tại Quốc hội Canada. Đây là lần đầu tiên cộng đồng người gốc Việt tại Canada, với khoảng 200.000 thành viên, có một đại biểu tinh thần tại Thượng viện của quốc gia này.

Ông Ngô Thanh Hải sinh ra và lớn lên tại miền Nam Việt Nam. Ông làm việc trong ngành ngoại giao của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975. Sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, từ Thái Lan, ông đã chọn Canada tỵ nạn và định cư từ đó đến nay.

Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải từng tốt nghiệp cử nhân về văn chương tại Đại học Sorbonne (Paris). Ông cũng có bằng master về giáo dục của đại học Ottawa và làm công việc giảng dạy trong nhiều năm. Ông Ngô Thanh Hải được công chúng đặc biệt biết đến khi ông trở thành chánh án gốc Việt đầu tiên của Canada vào năm 2007, ông làm việc tại Tòa án di trú và quốc tịch Ottawa cho đến khi được bổ nhiệm vào cương vị mới. Mới đây, ông Ngô Thanh Hải vừa được bầu làm chủ tịch Liên minh Dân chủ Việt Nam, một tổ chức của người Việt ở hải ngoại đấu tranh vì dân chủ cho Việt Nam.

Đối với cộng đồng người Việt tại Canada, cũng như cộng đồng người Việt ở hải ngoại nói chung, việc ông Ngô Thanh Hải được bổ nhiệm vào một cương vị quan trọng trong bộ máy lập pháp Canada có ý nghĩa đặc biệt, tiếp theo việc nhiều người gốc Việt được tôn vinh trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, thể thao... Theo đánh giá của nhiều người, qua việc này, sự lớn mạnh và các đóng góp của cộng đồng người gốc Việt tại Canada một lần nữa được chính thức công nhận.

Cộng đồng người Việt ở Canada rất kỳ vọng ở tân nghị sĩ

Để chuyển đến quý thính giả những suy nghĩ của cộng đồng trước sự kiện này, trước hết, chúng tôi xin mời quý vị nghe tiếng nói của Tiến sĩ Lê Duy Cấn, Ủy viên Ngoại vụ của Liên hội Người Việt Canada (từ Ottawa). Sau đây là cảm tưởng của Tiến sĩ Lê Duy Cấn về tin ông Ngô Thanh Hải được bổ nhiệm làm thượng nghị sĩ :

Ông Lê Duy Cấn : Đây là lần đầu tiên có một người Việt được bổ nhiệm vào Thượng nghị viện. Chúng tôi rất là vui mừng, thấy là cộng đồng người Việt rất hân hạnh có một người Việt ở trong Thượng nghị viện. Thứ hai nữa, sự bổ nhiệm này chứng tỏ thủ tướng Harper cũng công nhận vai trò của cộng đồng người Việt trong xã hội Canada. Dù sao chăng nữa, cộng đồng người Việt cũng tương đối còn mới mẻ so với các sắc dân khác.

Khi bổ nhiệm ông Ngô Thanh Hải vào Thượng viện, thủ tướng Harper thừa nhận những đóng góp của cộng đồng người Việt. Vì lý do đó, Liên hội người Việt Canada, cũng như một số hội thành viên của Liên hội và các hội đoàn khác, đã viết thơ, thứ nhất là để chúc mừng ông Ngô Thanh Hải, thứ hai là để bày tỏ lòng tri ơn đối với thủ tướng Harper. Những thư từ đó chúng tôi có thu thập được, do các hội đoàn gửi về cho Liên hội Ottawa. Tối ngày chủ nhật vừa rồi (09/09/2012), chúng tôi có chuyển đến phủ Thủ tướng tất cả những thư từ đó, cũng như chuyển những lá thư hỗ trợ đó cho ông Jason Kenney, bộ trưởng Di trú, Công dân vụ và Văn hóa đại diện. Trong chính phủ Canada, ông Jason Kenney là một trong những vị bộ trưởng rất là gần gũi với cộng đồng người Việt. Ông ấy đã giúp cộng đồng người Việt ở Canada rất nhiều trong chương trình « Tới bờ Tự do ». Và có một đặc điểm nữa là vào hồi tháng 2 năm nay, ông Jason Kenney đã viết một lá thơ cho cộng đồng người Việt công nhận Lá Cờ Vàng là lá cờ biểu tượng cho cộng đồng người Việt tại Canada.

Tiến sĩ Lê Duy Cấn là một người gần gũi với thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, ngay từ khi ông Ngô Thanh Hải cùng gia đình mới đặt chân tới Canada cuối thập niên 1970. Sau đây ông cho biết một đôi lời của về những hoạt động và đóng góp nổi bật của ông Ngô Thanh Hải tại Canada.

Ông Lê Duy Cấn : Tôi được biết ông Ngô Thanh Hải từ năm 1975, khi ông và gia đình chạy trốn cộng sản định cư tại Ottawa. Từ khi ông Hải mới sang đây, ông bắt đầu công việc thiện nguyện trong cộng đồng. Năm 1977, khi chúng tôi thành lập hội người Việt ở Ottawa, chúng tôi là chủ tịch, ông Hải là Ủy viên Xã hội. Đến năm 1980, khi chúng tôi rời chức vụ đó để giữ chức vụ Tổng thư ký Liên Hội, thì ông Hải thay thế chúng tôi. Sau đó, ông Hải tiếp tục tham gia các hoạt động cộng đồng, nhất là ông là thành viên nòng cốt của Liên minh Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Đó là các hoạt động đáng kể nhất của ông Hải mà chúng tôi biết trong thời kỳ sau đó, là trong Liên minh Dân chủ.

Sau này, ông Hải có giúp chúng tôi trong chương trình « Tới bờ Tự do ». Đây là chương trình Liên hội Người Việt ở Canada thành lập để định cư 275 người Việt tỵ nạn bị kẹt ở Phi Luật Tân 20 năm. Chương trình này bây giờ kể như đã hoàn tất. Ông Hải đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chương trình đó. Ngoài ra, ông Hải thường xuyên hỗ trợ Liên hội trong công cuộc tranh đấu cho nhân quyền, cho dân chủ tại Việt Nam.

Chúng tôi hy vọng là, khi ông Hải bắt đầu làm việc tại Thượng viện Canada, thì ông Hải tiếp tục hỗ trợ Liên hội Người Việt tại Canada, trong công tác định cư đồng bào tỵ nạn, cũng như trong công tác tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Ngoài ra, hiện giờ chúng tôi có dự án xây dựng bảo tàng thuyền nhân tại Ottawa. Đây là một dự án mà chúng tôi khởi xướng năm 2005, bây giờ cũng sắp sửa tới giai đoạn hoàn thành. Tức là chúng tôi đã mua được một miếng đất ở ngay trung tâm thành phố, và dự định 2013 sẽ khởi công xây cất, và đến 2015, chúng tôi hy vọng ông Hải cũng giúp chúng tôi trong dự án này.

Một người nhiều đóng góp, nhưng trầm lắng

Từ một góc độ khác, nhà báo Việt Tiến từ Toronto cho biết những suy nghĩ của ông trước việc có một người gốc Việt đầu tiên được đảm nhiệm chức thượng nghị sĩ.

Nhà báo Việt Tiến : Theo tôi được biết, thì ông Ngô Thanh Hải đã có một quá trình hoạt động về xã hội, cũng như về chính trị ở Canada rất lâu dài, và ông đã chứng tỏ ông là một người có khả năng có thể làm việc tốt khi trở thành một thượng nghị sĩ. Ông Ngô Thanh Hải là một người có tài và một người có tấm lòng. Ông đã qua nhiều chức vụ trong chính quyền Canada, cũng như trong các cộng động người Việt ở Canada. Ông từng giữ chức thẩm phán tòa di dân. Ngoài ra ông là một người cương quyết, nhưng cũng khá mềm mỏng, ông biết tiến, biết lui. Thêm vào đó, ông có những mối quan hệ rất chặt chẽ với cộng đồng và chính giới Canada. Ông đã chứng minh cho thấy là, ông là người có thể làm được việc tốt cho đất nước Canada nói chung. Thành ra, góp chung lại các khả năng của ông, thì ông xứng đáng được giữ chức thượng nghị sĩ của Canada.

Thêm vào đó, ông Ngô Thanh Hải là một nhân vật khá trầm lắng. Ông không xuất hiện ồn áo, ông không muốn tạo xì căng đan để nổi tiếng. Ông là người khá trầm lắng, nhưng ông làm việc rất là tốt, nhưng ông có quyết tâm của ông. Khi ông làm việc gì, thì ông làm chuyện đó. Và phải thấy là lúc nào ông cũng đặt mục tiêu là phục vụ cho Canada và phục vụ cho cộng đồng lên trên hết. Ông Ngô Thanh Hải có một cái hay là ông không đứng ra ông làm, mà ông hỗ trợ bên cạnh hoặc đằng sau. Thành ra, khi công việc thành hình người ta ít biết đến ổng. Nhưng chỉ những người nào trong giới làm việc với ổng, thì mới biết là ông ấy bỏ công sức rất là nhiều. Thành ra, khi nói những công việc nổi bật của ổng, thì mình không thấy rõ ràng, nhưng mà rõ ràng là công việc mà cộng đồng đạt được là có sự góp sức của ông Ngô Thanh Hải. (…)

Rõ ràng là ông Hải sẽ là một tiếng nói mạnh trong các cơ quan công quyền của Canada, lên tiếng thay cho những người có gốc gác Á Châu, trong đó có người Việt Nam. Dĩ nhiên là cộng đồng Việt Nam rất mong đợi sự thành công của ông Hải sẽ đem đến những tiếng nói lớn hơn cho cộng đồng.

RFI : Thưa anh, cụ thể là những tiếng nói gì cho cộng đồng ?

Nhà báo Việt Tiến : Cộng đồng người gốc Việt trước đây chưa từng có tiếng nói nào trong các cơ quan lập pháp lớn nhất của Canada. Cho nên cộng đồng rất kỳ vọng. Có nhiều nhu cầu mà trước đây có nhiều vấn đề mà cộng đồng không thể lên tiếng, như về kinh doanh, về chính trị, xã hội… mà các cộng đồng khác, khi mà họ lớn mạnh, họ có những người làm việc trong công quyền, thì họ giải quyết các vấn đề của cộng đồng dễ hơn. (…)

Yểm trợ cho dân chủ, nhân quyền là bổn phận của 1 thượng nghị sĩ

RFI : Xin chào thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải. Thưa ông, trước hết, xin ông cho biết những cảm tưởng của ông trước việc ông được bổ nhiệm vào cương vị thượng nghị sĩ.

TNS Ngô Thanh Hải : Vâng, đây là một vinh dự cho tôi, cho gia đình tôi, và không những như vậy cho cả cộng đồng người Việt tại Canada. Tôi đã trở thành một người Việt đầu tiên vào Thượng viện Canada, do thủ tướng Stephens Harper bổ nhiệm ngày 6-7/09/2012.

RFI : Thưa ông, việc bổ nhiệm này có phải bất ngờ hay đã được chuẩn bị từ lâu ?

TNS Ngô Thanh Hải : Việc này thực sự rất là bất ngờ, vì việc này phải được Hội đồng Nội các của chính phủ chấp nhận. Tôi cũng làm việc rất nhiều trong các vấn đề cho cộng đồng người Việt tại Canada, nhưng tôi không hề ngờ tới sẽ được thủ tướng bổ nhiệm.

Như vậy, cộng đồng người Việt tại Canada cũng nên hãnh diện là sự lưu tâm của chính phủ Canada tới cộng đồng người Việt đã được thể hiện qua việc bổ nhiệm này, cho thấy là sinh hoạt của cộng đồng tại Canada rất mạnh, và phát triển rất lẹ. Do đó, mà chính phủ Canada có thể thấy là, đã đến lúc người Việt ở Canada phải có một tiếng nói trong Quốc hội chăng. Tôi cũng thấy phải cảm ơn thủ tướng Harper về quyết định này.

Tôi nhận thấy, đây là một cơ hội cho tôi tiếp tục phục vụ Canada và tỉnh bang Ontario là tôi đại diện, và cũng để đền đáp lại những gì mà Canada đã dành cho tôi từ năm 1975, kể như một người tỵ nạn. Thì đây là lúc mà tôi cảm thấy phải trả lại, đền đáp những gì mà dân Canada và chính phủ Canada đã dành cho chúng tôi và gia đình chúng tôi, kể từ khi tôi đặt chân đến Canada cho tới ngày hôm nay.

RFI : Xin ông cho biết các sứ mạng, chức phận đặc biệt của cương vị mới ?

TNS Ngô Thanh Hải : Thượng viện Canada là nơi xem xét các đạo luật từ Hạ viện đưa lên. Thượng viện hoặc chấp thuận, hoặc đưa lại Hạ viện để tu chính. Đấy là cái công việc nhiều nhất trong Quốc hội. Ngoài ra có những ủy ban. Ủy ban Nhân quyền, Ủy ban Xã hội, Ủy ban Ngoại giao… và các ủy ban khác. (…) Một thượng nghị sĩ có thể nằm trong một, hai hay ba ủy ban, tùy theo thời giờ mình có. Để, thứ nhất là phục vụ cho đất nước Canada trước, cho công dân Canada, rồi thời gian còn lại, sẽ dành một số thời giờ để giúp cộng đồng người Việt.

RFI : Hiện tại ông có tham gia vào một ủy ban nào không ?

TNS Ngô Thanh Hải : Bởi vì tôi mới được bổ nhiệm nên tôi chưa biết sẽ tham gia ủy ban nào. Tuy nhiên, tôi sẽ chú trọng một số ủy ban, trong đó có Ủy ban Nhân quyền, Ủy ban Luật pháp và Ủy ban Ngoại giao và Bang giao Quốc tế. Tôi hy vọng là tôi sẽ được làm thành viên của một trong các ủy ban mà tôi rất quan tâm.

RFI : Theo ông, có những thách thức đặc biệt gì đối với cương vị một thượng nghị sĩ ?

TNS Ngô Thanh Hải : Bởi vì mình chưa nhậm chức nên cũng khó mà nói các khó khăn như thế nào. Phải một vài tháng sau mới rõ được. Tuy nhiên, với vai trò của một thượng nghị sĩ, đầu tiên tôi phải phục vụ cho đất nước Canada trước, vì mình là người dân Canada. Thứ hai, thời giờ còn lại tôi sẽ dành hết cho các công việc của cộng đồng Việt Nam Canada và hải ngoại. Tất cả những quan tâm gì của cộng đồng, nhờ tôi tiếp sức, hoặc nhờ tôi giúp. Tôi nói là tất cả mọi nhu cầu mà cộng đồng người Việt tại Canada và kể cả thế giới, mà cần tôi giúp đỡ, hoặc cần tôi phụ tay, thì tôi sẵn sàng làm.

RFI : Theo ông, cộng đồng người Việt có những vấn đề gì lớn hiện nay cần giải quyết ?

TNS Ngô Thanh Hải : Riêng tại Canada, nhu cầu rất nhiều. Chẳng hạn, như về vấn đề xã hội, về vấn đề văn hóa, xong rồi về vấn đề chính trị. Các đoàn thể đấu tranh, như chúng ta biết, hoặc tại Canada, hoặc tại Bắc Mỹ, hoặc tại Âu Châu… họ có một số nhu cầu, một số công việc mà nếu cần chúng tôi phải yểm trở, thì cái công việc đó cũng nằm trong phận vụ của một thượng nghị sĩ Canada. Về vấn đề đấu tranh của các đoàn thể Việt Nam ở hải ngoại, tôi thấy là một bổn phận của một người Canadien gốc Việt của tôi.

Xin chân thành cảm ơn Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải

Câu chuyện Di cư vào Miền Nam của tôi


 

 Câu chuyện Di cư vào Miền Nam của tôi
Hồi tưởng của : Đoàn Thanh Liêm


 Nhân đọc cuốn “ 20 Năm Miền Nam 1955 – 1975 “ của tác giả Nguyễn Văn Lục, mà đã được giời thiệu với công chúng từ năm 2010 - tôi nhớ lại chuyện Di cư vào Miền Nam của bản thân mình, và xin được ghi lại một số chi tiết như sau đây.
Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng tú tài 2 qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hanoi, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Bùi chu Xuân trường Nam định để ra Hải phòng bằng đường thủy. Và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách đi theo đoàn quân để tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng yên sát với mỏ than Hòn gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hanoi đến Hải phòng để tìm bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể.



Trước khi rời Hanoi, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận Đã Thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, mà đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới cấp cho tôi một “Giấy Chúng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi. Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn.



Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích phiêu lưu mạo hiểm của tuổi trẻ - nhưng phần lớn là do động cơ thúc đảy bởi cái chuyện “ phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “, mà đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc. Tôi phải ở lại thành phố Hải phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Saigon hồi giữa tháng 8.


Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi?



 Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 - 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa mà sớm ra được tới Hải phòng để đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi ít lâu sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với tiện nghi thoải mái hơn.



Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Saigon. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Gallieni), gần với Chợ Bến Thành. Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ từ giàn “cốt pha” (coffrage) - để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Saigon, mà làm cho tôi cứ nhớ hoài.



Chúng tôi được mấy bà con đến được Saigon vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hanoi hay từ Nam Định mà đến đây trước ít lâu, như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng …, các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ.
Sau mấy bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đày đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nhỏ để chi tiêu lặt vặt. Có lần chúng tôi lại được tiếp đón Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa.



 Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong đợi của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi.


Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Saigon cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nhiều và vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, mà có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú gần Chợ Bến Thành. Thật là một kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi nơi miền đất mới lạ Saigon này.


 Cuối cùng, thì vào khoảng tháng 3 năm 1955, sau Tết Âm lịch bọn chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng ở khu Ngã Sáu Chợ Lớn mà vừa mới được xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đày đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước… Và cứ như vậy cuộc sống của lớp người trẻ chúng tôi lần hồi được tổ chức ổn định để có thể tiếp tục việc học tập và hòa nhập được với nền nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình.


Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Và rất nhiều các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình anh chị em chúng tôi đều đã thành đạt tại đây. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời.
* * *
Năm 2012 này, nhân dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2012), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên vốn là một phần tử trong khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản thời đó - mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam.



Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư lớn lao của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác – tất cả đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó. Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy./

Costa Mesa California, Mùa Vu Lan Nhâm Thìn 2012
Đoàn Thanh Liêm



Freedom House: Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia hạn chế tự do Internet

Freedom House: Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia hạn chế tự do Internet
 

 

VIỆT NAM - Bài đăng : Thứ tư 26 Tháng Chín 2012 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 26 Tháng Chín 2012

Freedom House: Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia hạn chế tự do Internet

Thanh Phương  RFI

Tổ chức Freedom House, trụ sở tại Washington, hôm qua 25/09/2012, vừa ra báo cáo thường niên về tình hình tự do Internet trên thế giới trong thời gian từ đầu năm 2011 đến tháng 05/2012. Trong số 47 quốc gia được nghiên cứu, bản báo cáo của Freedom House cho biết khoảng 20 quốc gia, trong đó có Việt Nam, vẫn hạn chế tự do Internet, với việc các chính phủ sử dụng những phương tiện kiểm soát ngày càng tinh vi để đàn áp những nhà đối lập sử dụng mạng.
 
Riêng về Việt Nam, Freedom House nhận định là việc sử dụng Internet ở Việt Nam tiếp tục gia tăng đều đặn, nhờ giá cước giảm, cũng như nhờ hệ thống điện và viễn thông được cải thiện. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam lại lo ngại rằng Internet có thể đe dọa đến độc quyền lãnh đạo của họ, cho nên đã có nhiều chính sách trái ngược nhau, khi thì thúc đẩy, khi thì trấn áp các hoạt động trên mạng.
Theo báo cáo của Freedom House, không gian tự do ngôn luận ở Việt Nam đã bị siết chặt hơn trong những tháng trước Đại hội Đảng tháng 01/2011 và thay vì được nới lỏng sau Đại hội Đảng như người ta chờ đợi, chính sách kiểm soát Internet trong năm qua vẫn rất gắt gao. Trong năm 2001, ít nhất có 9 nhà báo mạng bị cầm tù, tăng vọt so con số 5 phóng viên bị giam trong năm 2010, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước giam cầm nhà báo nhiều nhất thế giới. Các vụ tấn công vào những trang mạng chỉ trích chính quyền, bắt đầu từ cuối năm 2009 đã tiếp diễn trong suốt năm 2011.
Báo cáo của Freedom House cho biết, tuy chính phủ Việt Nam có ít phương tiện kiểm soát hơn là Trung Quốc, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội đã thiết lập được một hệ thống sàng lọc thông tin hữu hiệu và ngày càng tinh vi. Mặc dù chế độ kiểm duyệt được mô tả là nhằm hạn chế việc truy cập các trang web khiêu dâm, đồi trụy, nhưng trên thực tế, việc kiểm soát thông tin chủ yếu nhắm vào các trang web bị xem là đe dọa đến độc quyền lãnh đạo của Đảng, như các trang của những nhà bất đồng chính kiến, các trang liên quan đến dân chủ và nhân quyền, đến các cuộc biểu tình phản đối chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông.
Theo Freedom House, trong năm 2011, mạng xã hội Facebook tiếp tục bị cấm ( tuy rằng việc thi hành không được chặt chẽ ) và các trang web có liên quan đến vấn để chủ quyển biển đảo giữa Việt Nam với Trung Quốc tiếp tục bị tường lửa chặn và bị tấn công. Với việc hạn chế tự do ngôn luận trên Internet ngày càng tệ hại hơn, mức độ tự kiểm duyệt cũng gia tăng đáng kể. Chẳng hạn như tờ Tuổi Trẻ đã không dám đăng bất cứ lời bình luận nào về vụ bắt giữ nhà báo Hoàng Khương, vốn nổi tiếng về những bài tố cáo nạn ăn hối lộ trong lực lượng công an Việt Nam.
Ban tuyên giáo Trung ương Đảng và Bộ Công an thường xuyên yêu cầu các báo điện tử và trang thông tin gỡ bỏ các bài báo có nội dung chỉ trích chính phủ. Những nhà báo nào đăng những bài viết như vậy có thể bị kỷ luật cảnh cáo, bị mất việc hoặc bị cầm tù.
Cũng theo báo cáo của Freedom House, mặc dù đa số các trang blog ở Việt Nam chỉ viết về chuyện cá nhân hoặc các chủ đề phi chính trị, nền báo chí công dân naỳ đã nổ lên thành một hiện tượng quan trọng và là một nguồn thông tin đối với nhiều độc giả Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát quá chặt chẽ các phương tiện truyền thông chính thức. Những trang web như anhbasam.wolrpress.com hay quechoa.vn đã trở thành những trang có ảnh hưởng lớn đến công luận, nhất là trong việc huy động người dân xuống đường phản đối Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội.
Cũng theo Freedom House, mặc dù Hiến pháp Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, nhưng trên thực tế Đảng Cộng sản vẫn sử dụng các nghị định về Internet, Luật Hình sự, Luật Xuất bản và Pháp lệnh Bảo vệ Bí mật Nhà nước để cầm tù các nhà báo và blogger.
Do ngành tư pháp không được độc lập, nhiều phiên xử liên quan đến tự do ngôn luận chỉ diễn ra có vài tiếng. Ngoài ra, khi bắt giữ các blogger và các nhà đấu tranh sử dụng mạng, công an thường không tuân thủ luật pháp Việt Nam, bắt giữ mà không có lệnh của tòa hoặc tạm giam quá thời hạn luật định.
 
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120926-theo-to-chuc-freedom-house-viet-nam-van-nam-trong-danh-sach-cac-quoc-gia-han-che-t

Phải chăng 'đầu voi đuôi chuột'?


 

Phải chăng 'đầu voi đuôi chuột'?


Bùi Văn Bồng

Viết từ Cần Thơ

Cập nhật: 13:51 GMT - thứ tư, 26 tháng 9, 2012


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi đảng viên tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình

Từ cuối tháng Hai đến nay, có hai cuộc Hội nghị cán bộ toàn quốc xoay quanh việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương (NQTW) 4. Thông tin về hai cuộc hội nghị quan trọng này đã tạo được sự đồng thuận của dư luận, nhân dân có sự kỳ vọng vào sự đổi mới về chất trong công tác lãnh đạo của Đảng.

Hội nghị quán triệt NQTW 4 bế mạc ngày 29-2, với gần 700 lượt ý kiến phát biểu thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm cao tại 40 tổ thảo luận. Các đại biểu thống nhất cao với Trung ương về sự cần thiết, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); khẳng định Nghị quyết đã chọn đúng và trúng các vấn đề cấp bách, quan trọng, đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp có tính khả thi để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



Qua Hội nghị quán triệt, triển khai này, nhiều cán bộ, đảng viên và người dân, qua báo chí và dư luận xã hội, biểu thị sự đồng tình, tin tưởng, kỳ vọng vào quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp; khắc phục những bất cập của công tác cán bộ; khắc phục cơ bản tính hình thức trong thực hiện nguyên tắc “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, thực hiện tự phê bình và phê bình.

Từ trên xuống dưới


Nhiều ý kiến tập trung bàn về công tác chỉ đạo triển khai thực hiện thật tốt Nghị quyết, rằng: Bảo đảm đưa Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết luận 6 điểm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Trong đó, nổi lên vấn đề thứ 2 là kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là khâu mở đầu, mấu chốt, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Do vậy, trong triển khai, cần chuẩn bị thật tốt, hướng dẫn cụ thể về mục tiêu, quy trình, nội dung, bước đi, trong đó, tập trung giải quyết cơ bản ba nội dung trọng tâm nêu trong Nghị quyết. Tổng Bí thư nhấn mạnh tính gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tự phê bình và phê bình và khẳng định: Quy trình thực hiện tự phê bình và phê bình tiến hành từ trên xuống dưới, không cắt khúc, cần phải làm thường xuyên.

Để triển khai có hiệu quả việc thực hiện nghị quyết, tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo và gương mẫu thực hiện Nghị quyết. Phân công từng người, từng cơ quan trong bộ máy chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết. Các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, căn cứ sự chỉ đạo của Trung ương, bám sát tình hình, nhiệm vụ của đơn vị mình để triển khai thực hiện Nghị quyết.

Đến cuối tháng 7, đầu tháng 8, sau 16 ngày kiểm điểm tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ngày 13-8 Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở cấp tỉnh và tương đương theo Nghị quyết Trung ương 4.

Qua việc chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm Bộ Chính trị, Ban Bí thư, một số kinh nghiệm rút ra là: Chuẩn bị kiểm điểm tự phê bình, phê bình tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư được thực hiện rất nghiêm túc, cẩn trọng, chu đáo, chặt chẽ và khoa học với nhiều điểm nổi bật khác với kiểm điểm hàng năm, giữa nhiệm kỳ và các đợt kiểm điểm của các khóa gần đây.


Kiểm điểm qua quýt là có lỗi với nhân dân?

Trong kiểm điểm, nhìn chung, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều phát biểu; không khí thảo luận thẳng thắn, góp ý dân chủ, đoàn kết, chân thành. Hầu hết các vấn đề nổi cộm, bức xúc được các tập thể và cá nhân góp ý với tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều được đặt ra, phân tích, mổ xẻ. Qua kiểm điểm đã làm rõ hơn, sâu hơn ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế của tập thể, các cá nhân trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư trên một số vấn đề quan trọng, cấp bách về xây dựng Đảng (về trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước, nhất là về các vụ việc Vinashin, Vinalines; về thiếu sót, khuyết điểm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XI và công tác cán bộ; về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...). Ngay trong quá trình chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thực sự cầu thị, nghiêm túc tiếp thu các ý kiến góp ý, đã chỉ đạo khẩn trương khắc phục ngay một số khuyết điểm.

Yêu cầu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đòi hỏi phải phân tích, mổ xẻ ưu điểm, khuyết điểm của chính bản thân mình, tổ chức của mình. Đây thực sự là một cuộc đấu tranh, không phải giữa người này với người kia mà là đấu tranh trong mỗi con người, giữa cái chính và cái tà, cái tốt và cái xấu, vì lợi ích tập thể và cá nhân. Như Bác Hồ đã dạy, chủ nghĩa cá nhân là thứ gian giảo, xảo quyệt, nó kéo người ta xuống dốc không phanh; nó bưng tai, bịt mắt người ta không thấy khuyết điểm.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh rằng: Chúng ta đang bước vào thời kỳ rất thiêng liêng và hệ trọng; đang làm những công việc rất thiêng liêng và hệ trọng. Thiêng liêng và hệ trọng không phải đối với bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng mà đối với toàn Đảng, toàn dân. Chúng ta có trách nhiệm rất lớn đối với đất nước, dân tộc, đối với Đảng. Chính vì thế, chúng ta phải phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm để làm tốt việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân các cấp ủy cấp tỉnh và tương đương. Đã nói là phải làm và quyết tâm làm bằng được; nếu không làm được thì có lỗi với Đảng, với dân.

Hai hội nghị quan trọng như vậy, cũng chỉ nhằm mục đích trên làm trước, nêu gương, dưới làm sau cần chu đáo, kỹ càng, nghiêm túc, thật sự cầu thị, không nể nang xuê xoa, không đại khái “làm cho có”, cho xong việc để lãnh đạo còn lo phòng ngự, tự che chắn và nhờ bao che, lo chạy tội nếu bị “rờ đến”, còn lo đẩy mạnh, tăng cường tham nhũng, đàn áp dân chủ.

Cốt cho xong việc?


Thế nhưng, qua kiểm điểm tự phê bình – phê bình ở cấp Bộ, ban, ngành, ở cấp tỉnh, thành phố đã thấy làm “ào ào” cốt cho xong việc. Ba mặt yếu nhất và cũng là nguyên nhân chính làm cho “một bộ phận lớn cán bộ đảng viên có chức có quyền suy thoái, tham nhũng, mất đi “chất cộng sản” đều nằm ở khâu quản lý vĩ mô, nhất là về quản lý, chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; quản lý tài cính, ngân hàng, quản lý các quy hoạch, dự án kèm đất đai. Tham nhũng lớn nhất, phổ biến nhất vẫn ở cấp chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Bộ, ban ngành của Trung ương và nơi phát triển nhiều quy hoạch, dự án ở các thành phố lớn.

"Với cái kiểu này, việc thực hiện một nghị quyết cả Đảng thể hiện sự mạnh bạo đổi mới, có tính chiến đấu, là nơi mà toàn dân đang đặt nhiều kỳ vọng rồi sẽ đi đến đâu? Sẽ mang lại gì? Hay chỉ là ném đá ao bèo mà thôi?"

Thế nhưng, việc kiểm điểm vừa qua cho thấy từ Ban cán sự Đảng Chính phủ, các bộ, các tỉnh thành đều thấy tốt đẹp, thành tích, trong sạch, vững mạnh cả. Bộ Chính trị kiểm điểm 16 ngày, đến nấc dưới là Bộ, ngành, tỉnh, thành phố thuộc Trung ương chỉ kiểm điểm 3- 6 ngày. Kiểu này đến cấp quận, huyện chỉ vài ngày là "a lê hấp, tấp đống cho xong", rồi đến xã, phường chắc chỉ một ngày, đến chi bộ vài tiếng đồng hồ là xong, còn dư thời gian đi nhậu (?!).

Cách tổ chức thiếu chuẩn bị, vội vàng, bỏ qua cả thục tiễn và khoa học, thái độ thiếu nghiêm túc, không cầu thị, né tránh sự thật, tư tưởng “hòa cả làng” trong kiểm điểm vừa qua ở cấp “dưới, cận kề Bộ chính trị” khiến người ta phải lắc đầu, bĩu môi mà nói rằng: “Vậy thì NQTW 4 đánh giá sai, từ chính phủ đến các bộ, ngành, địa phương tốt đẹp, lành mạnh, nhiều thành tích như thế, tại sao lại có “một bộ phận không nhỏ…suy thoái”. Vậy, bộ phận ấy nằm ở đâu? Nghị quyết đánh giá, phân thích sai à? Nghị quyết không chọn đúng, không trúng vấn đề như Tổng Bí thư đã kết luận.

Nơi đâu cũng ngon lành cả, việc gì phải mất công triển khai thực hiện NQTW 4. Hội chứng hòa cả làng, “dĩ hòa vi quý”, đầu voi đuôi chuột đã quá rõ. Với cái kiểu này, việc thực hiện một nghị quyết cả Đảng thể hiện sự mạnh bạo đổi mới, có tính chiến đấu, là nơi mà toàn dân đang đặt nhiều kỳ vọng rồi sẽ đi đến đâu? Sẽ mang lại gì? Hay chỉ là ném đá ao bèo mà thôi?

Trên VTV1 ngày nào cũng đưa một chùm 4 đến 6 nơi cấp bộ, tỉnh thành hoàn thành đợt kiểm điểm mà thấy gai cả người. Vậy là dưới không noi trên. Trên nghiêm thì dưới thả. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, kiểm điểm ở cấp Bộ Chính trị, Ban bí thư làm nghiêm túc, không né tránh, thực sự thẳng thắn, có bản kiểm điểm phải sửa đi sửa lại, bổ sung tới 4-5 lần. Vậy, việc kiểm điểm ở Chính phủ, Bộ, tỉnh, thành mà đã thấy rõ ràng lớt phớt như vậy, liệu có bắt làm lại cho thật chính xác, kỹ càng, nghiêm túc, đúng thực chất hay không?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bài đã đăng trên Bấm blog của tác giả.

 

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/09/120926_selfcriticism_buivanbong.shtml

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link