Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, October 23, 2012

Hiến Pháp 26.10.1956 và Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam.

Hiến Pháp 26.10.1956 và Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam.
Tiến sĩ Phạm Văn Lưu
Trước đây, hơn 50 năm, vào đầu năm 1954, Việt Nam đã thực sự đứng trên bờ vực thẳm của một sự phá sản toàn diện.
Thật vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không những gây nên một không khí bi quan tột cùng tại Việt Nam, mà còn kéo theo một cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị trường Ba Lê, khiến chính phủ Laniel bị sụp đổ.
Mandes France được quốc hội tín nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn sẽ giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương trong vòng 30 ngày, nghĩa là phải chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá.
Còn Hoa Kỳ, dù trước đó, được Pháp khẩn khoản yêu cầu can thiệp, Tổng Thống Eisenhower do dự, không dám quyết định, sợ mất uy tín vì viễn tượng vô cùng mờ mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt Nam.
           
Trước tình thế hầu như tuyệt vọng đó, Ông Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không một quan sát viên quốc tế nào vào thời đó, dù lạc quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ Diệm có thể tồn tại hơn 6 tháng.
Nhưng như một phép mầu, Ông Diệm đã vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã, cùng những âm mưu thâm độc đang vây hãm, muốn nhận chìm chính phủ của Ông từ trong trứng nước.
Thật vậy, nhờ một ý chí quật cường, một năng lực vô song, tài lãnhđạo sáng suốt, cùng một cuộc sống đạo đức cá nhân trong sáng, thánh thiện và một thành tích chống Pháp và chống Cộng không tì vết … đã giúp Ông Diệm thống hợp được ý chí dũng mãnh phi thường của toàn dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước dành độc lập và tự do cho tổ quốc.
Chỉ trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện được nhưng thành tưu đáng kểnhư sau:
Biến một quân đội lệ thuộc ngoại bang và tình trạng nhiều quận đội trong một quân đội, thành một quân đội quốc gia độc lập và thống nhất, có tổ chức qui củ, có kỷ luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Biến tình trạng nhiều quốc gia trong một quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi nhóm một phương thành một quốc gia thống nhất, với một cơchế chính quyền trung ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động mọi tiềm năng quốc gia vào công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xã hội và kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ trong ổn định và thanh bình.
Thay đổi một cơ chế chính trị mơ hồ bằng một định chế chính trị dân chủ tiến bộ, với một bản hiến pháp, phù hợp với trào lưu chính trị thếgiới, vừa đảm bảo được những quyền tự do cơ bản của mọi công dân, nhưng cũng vừa đủ mạnh để duy trì uy quyền quốc gia, nhằm đối phó với cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng.
Đồng thời, tạo cơhội để huy động mọi năng lực để tái thiết đất nước và xây dựng kinh tế thoát khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu của một quốc gia bị đô hộ mới thu hồi độc lập.
Nhưng trong tất cả thành quả kể trên, Tổng Thống NgôĐình Diệm đã coi trọng và rất tự hào về việc ban hành Hiến Pháp 26.10.1956, vì theo Tổng Thống, các quốc gia láng giềng Á Châu, đã mất ít nhất một vài ba năm mới có thể kiện toàn cơ chế căn bản của nền dân chủ của họ, còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần một năm đã ban hành được một bản Hiến Pháp dân chủ và tiến bộ,đồng thời đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đất nước về mọi phương diện.
Hình Thành Hiến Pháp 26.10.1956.
Nếu cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 23.10.1955 là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do Ủy Ban Cách Mạng Quốc Gai gồm 18 chính đảng và đoàn thểcùng 29 nhân sĩ có uy tin của miền Nam lúc đó thực hiện (xem Nhị Lang, trang 287-297)thì việc hình thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế Cộng Hòa Việt Nam lại là thành quả một cuộc tranh đấu lâu dài của chính vị nguyên thủquốc gia thời đó
. Điều nầy được chính Ông Diệm xác nhận:
“Cách đây 22 năm, khi tôi có trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, tôi đã đòi hỏi thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng người và hoàn cảnh hồi đó chống lại ý muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền.
Ấy vậy, khai nguyên một chế độ dân chủ,chẳng phải vì tình thế, mà cũng là việc tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956, tr17)
Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã quan tâm rất nhiều đến tie^'n trình dự thảo Hiến Pháp 26.10.1956. Trong thực tế, bản văn pha'p lý căn bản nầy không chỉ là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập Hiến thời đó, mà còn có sự tham gia chỉ đạo rất tích cực của Tổng Thống Diệm nữa.
Điều nầy đã thểhiện trong thông điệp của Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến trong ngày khai mạc 17.4.1956:
Việt Nam là một nước Cộng Hòa độc lập, thống nhất và bất khả phân.
Mỗi người công dân được sinh ra, đều được tự do và bìnhđẳng trước pháp luật. quốc gia phải bảo đảm cho họ những điều kiện đồng đều đểhọ hành xử quyền lợi của mình và hoàn thành các nhiệm vụ đã được giao phó.
Chính phủ có bổn phận giúp đở và bảo vệ gia đình họ, để họ có thể phát phát triển một cuộc sống gia đình thuận hòa.
Tất cả các công dân đều có quyền được hưởng một cuộc sống an bình, với mục tiêu duy nhứt là được làm việc với đồng lương xứng đáng để có thể tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống đầy nhân phẩm và tự do, bảo đảm cho mình những quyền tự do dân chủ, và tạo cho mình cơ hội được phát triển đầy đủ bản chất riêng mình.
Vì phúc lợi chung và vì ne^`n Cộng Hòa, chống lại những kẻ phá hoại nền tảng của cuộc sống cộng đồng và của Hiến Pháp.
Chủ quyền quốc gia thuộc vê Quốc Dân.
Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ lập pháp.
Tổng Thống của nên Cộng Hòa được bầu ra bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín, sẽ được ủy thác trách nhiệm hành pháp. 
          
Tòa án phải được hoàn toàn ddộc lập để có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ được chế độ cộng hòa, trật tự, tự do và nền dân chủ. 
          
Một Viện Bảo Hiến cũng phải được thành lập để có thể giải quyết những tranh chấp có lien quan đến các luật lệ hiến định.
Các lựu lượng kinh tế phải lien kết với nhau để hành xửquyền hành của họ bằng cách thiết lập nên một Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia (Ibid)
Thực tại chính trị Việt Nam .
Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó chỉ là một văn kiện pháp lý, không thể mang lại tự do dân chủ cho người dân, nếu chính quyền không thực tâm thi hành những điều khoản đã được long trọng công bố trongđó.
Điều nầy thể hiện rõ nét trong thực tại chính trị tại các quốc gia cộng sản.
Thực vậy, các quốc gia cộng sản cũng có những bản hiến pháp rất tiến bộ,qui định rất rõ rệt những quyền tự do căn bản của mọi công dân.
Nhưng trong thực tế, đó là những chế độ độc tài toàn trị, chính quyền đã thâu tóm mọi quyền hành và những điều khoản căn bản mà Hiến Pháp đã dành cho người dân đều bịchính quyền chà đạp một cách thô bạo.
Từ ý nghĩ đó, người viết muốn tìm hiểu một cách khách quan vô tư về thực tại chính trị Việt Nam trong việc thực thi văn kiện văn kiện pháp lý căn bản của chế độ.
Đồng thời, cũng xin minh xácở đây, trong bài nầy sẽ không đề cập đến nội dung của Hiến Pháp 26.10.1956, vì luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc Hội Lập Hiến và cũng là thành viên trongỦy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đã trình bày khá đầy đủ trong quyển Kỷ Yếu Ghi Ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xuất bản tại California, 2005, dưới nhan đề Quốc Hội Lập Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa, tr 31-44.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm độc tài?
Phần lớn những chính trị gia đối lập với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, mà người viết được tiếp xúc, đều cho là Tổng Thống Ngộ Đình Diệm là một người độc tài, không chấp nhận đối lập, không biết liên kết với đảng phái quốc gia để tạo thành những liên minh chính trị có qui mộ lớn để động viên sự ủng hộ của toàn dân, nhằm chống cộng sản hữu hiệu, như Bs Nguyễn tôn Hoan, một lãnh tụ Đảng Đại Việt,hệ phái Miến nam đã phê bình Ông Diệm:
Ông Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng thật sự và đạođức, tôi đã cộng tác với Ông trong những thời gian đầu của thập nên 1950.
Nhưngđến khi Ông Diệm về nước cầm quyền 1954, Ông càng ngày càng tỏ ra độc tài không còn muốn nghe lời ai nữa, Ông không muốn chia xẽ quyền hành với các đảng phái quốc gia khác.
Tôi không đồng ý với quan niệm đó và đã rời Việt Nam để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn Hoàn trả lời phỏng vấn của tác giả, tại San Jose, tháng 7,1986)
Trước đó nhiều năm, khi còn giảng sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại Viện Đại Học Đalat, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với ông Võ Văn Hải, bí thư của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và từ năm 1967-1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục nầy.
Khi tôi hỏi về thái độ của Tổng Thống Ngộ đình Diệm đối với các chính khách đối lập, ông Hải tiết lộ:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho rằng phần lớn các chính khách Việt Nam không có một kiến thức chính trị thực tiển và không hiểu thực tại chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia chậm tiến mới thu hồi độc lập nhưViệt Nam,Việt Nam lúc ấy phải đối đầu với hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong đó mọi hạ tầng cơ sở bị tiêu hủy hoàn toàn, cầu cống,đường sá, hệ thống viễn thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ thống ngân hàng sụp đỗ toàn diện vì không ai tin tưởng nữa.
Từ đó kinh tế quốc gia đi vào ngỏcụt đầy tăm tối … Chính trị thì vô cùng hỗn loạn, các giáo phái hùng cứ mỗi người một phương.
Ngay tại đô thành Sàigon, lực lượng công an cảnh sát do Bình Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ chính của họ không phải bảo vệ an ninh trậ tự cho dân chúng, mà để duy trì và củng cố mức thu nhập tài chánh cho các sòng bạc (Casino), các ổ điếm và các trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn.
Quân đội do các sĩ quan Pháp nắm giữ, lúc nào cũng sẳn sàng thách thức quyền lực chính phủ,để bảo vệ quyền lợi của thực dân và tài phiệt Pháp.
Thêm vào đó, đất nước bịchia đôi, chính quyền phải định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào Nam.
Mặc dù, theo hiệp định Genève, cuộc chiến đã kết thúc và cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế họ đã gài người ở lại để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo mới.
Thực dân Pháp, dù tuyên bố trao trảchủ quyền cho Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn còn có nhiều ý đồ đen tối đểduy trì đặc quyền, đặc lợi của giới tài phiệt Pháp tại đây … đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân chúng còn bỡ ngỡ trước quan niệm tự do dân chủ, dân chúng còn ngheo đói, không đủ ăn đủ mặc.
Nếu đem áp dụng những quan niệm dân chủ lý tưởng của Tây Phương chắc chắn sẽ đưa đến hỗn loạn.
Trong hoàn cảnh đó, mà Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Ks Phan Khắc Sữu .. đòi phải áp dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng Hòa Pháp Quốc,để đem hứng khởi lại cho người dân và cổ vũ cho mọi chính đảng tham gia vào mặt trận chính trị quốc gia nhằm đối đầu với cộng sản và thực dân …
Theo Ông Diệm, các cụ không theo dõi những biến chuyển chính trị trên thế giới, đặc biệt các quốc gia Á Phi, sau khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một chính quyền mạnh để có thểthực hiện các cuộc canh tân khẩn cấp về chính trị và kinh tế, để có thể bắt kịpđà tiến hóa của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm trong sự chậm tiến dưới chế độ thực dân đô hộ.
Và ngay quan niệm Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng hòa Pháp Quốc, đã lỗi thời ngay cả ở nước Pháp, một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất thế giới nầy, vì nó gây nên quá nhiều bất ổn chính trị, có khi trong một tháng mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có khi chính phủ tồn tại có 3 ngày là sụp đỗ … thử hỏi, một người có chút công tâm, một chút nhận thức về thực tế chính trị đất nước và chiều hướng phát triển kinh tế chính trị tại các quốc gia Á Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp nhận quan điểm dân chủcủa cụ Hoàn, cụ Sữu… không?
Ông Diệm khẳng định, vì quyền lợi tối thượng của quốc dân và tổ quốc, Ông không thể chấp nhận quan điểm nầy.
Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng Thống Ngô Đình Diệm và có thể cho toàn thể miền Nam không ngừng ở đó. Ngày 27.1.1960, Cộng sản lợi dụng dịp Tết Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào Trãng Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Miên, với quân số cấp trung đoàn.
Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập, phá hoại và khuynhđảo của cộng sản Bắc Việt đã đến độ nguy hiểm cho sự tồn vong của Việt Nam Cộng Hòa.
Trong chính tình hình đó,thật là khó hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm 1960, 18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn Caravelle, đưa ra một kiến nghị đòi Tổng Thống Diệm mở rộng chính phủ, thực thi những quyền tự do căn bản trong Hiến Pháp như quyền tự do báo chí, tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi đát nước đang ở trong tình trạng khẩn trương của chiến tranh, các cụ lại đi đòi hỏi thực thi những điều tự do quá lý tưởng và không thực tế nầy.
Đến nỗi, một nhà bình luận người Anh có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam, Ducanson đã nhận xét mà người viết có thể tóm lược như sau:
"Nếu bản kiến nghị nầy được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một miền Nam không bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu diệt, thì đó là yêu sách đáng được cứu xét nghiêm chỉnh.
Điều đáng tiếc nhất, là khi cộng quân đã tấn công cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên chức chính phủhầu như xảy ra hằng ngày, thì đó là những yêu sách nếu không muốn bảo là ngớngẫn, thì ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan." (Ducanson, Denis J. Government and Revolution in Vietnam, 1968) .
Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi được nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết những bài tường thuật trên báo Le Monde tại Paris đã kết án chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là độc tài, không thực thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không được sự ủng hộ của đa số chính khách đối lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ đạo cuộc chiến tranh chống Cọng tại Việt Nam.
Điều nầy đã làm xấu đi hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại chính trường Hoa Thịnh Đốn.
           
Tiếp đến, một biến cố quân sự khác, đó là cuộc đảo chánh 11-11-1960 do Trung Tá Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là một sĩ quan thân Pháp, bất mãn với chính quyền Ông Diệm, kết hợp với một số sĩ quan gốc Bắc cũng bất mãn như ông, vì cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị địa phương, chỉthích sử dụng người miền Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm luận với tác giả tại California, 7-1986).
 
 
Do đó, các sĩ quan nầy chủ động một cuộc đảo chánh quân sựmột cách vội vã và thiếu tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn chính trị nào đáng kể.
Về phương diện chính trị, ông Đông có liên lạc với luật sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng với ông, như là người phụ trách bộ phận chính trị của cuộcđảo chánh, nhưng ông Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc được sự ủng hộ của một chính đảng nào.
(xem Vương Văn Đông, Binh Biến 11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia, số 106 tháng 11/1992, tr 41-42). Chỉ khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn Nguyễn Tường Tam, kỷ sưPhan Khắc Sữu, vì không nắm vững tình thế lúc đó, nên các cụ ủng hộ cuộc đảo chánh vào giờ chót, và sau này, các cụ đã gặp khá nhiều hệ lụy phiền phức với chính quyền.
Trong khi luật sư Thụy, vì được CIA móc nối và khuyến khích thực hiện cuộc binh biến nầy từ trước, nên sau khi sự việc bất thành, CIA đãđưa vị luật sư nầy rời khỏi Việt Nam một cách an toàn.
Rồi ngày 20.12.1960, Cộng sản Bắc Việt chính thức khai sinh Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam để phát động cuộc xâm lăng võ lực thôn tính Miền Nam.
Ba sự kiện trên đây, đối với người viết, xảy ra hoàn toàn riêng rẽ, không có một liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lý nào với nhau.
Nhưng đối với dư luận, nhất là tại Hoa Kỳ, họ cho rằng ba biến cố nầy đã có một liên hệ nhân quả mật thiết, nghĩa là chính quyền Diệm độc tài, đàn áp đối lập, hạn chế những quyền tự do căn bản …, xa rời quần chúng, khiến đa số chán ghét chế dộ Diệm nên đã có những thành phần trí thức bất mãn như nhóm Caravelleđòi hỏi cải cách chính trị, nhóm sĩ quan nhảy dù thực hiệnđảo chánh quân sự và sau khi những nỗ lực nầy thất bại, những thành phần đối lập nầy, không còn phương cách nào khác hơn, đã phải nối kết lại với nhau dựng nên Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn độc lập với Hà Nội, xử dụng võ lựcđể chống lại chính phủ Miền Nam.
Điều thiếu may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho Miền Nam, là quan điểm nầy lại được một chuyên gia rất có uy tín về Việt nam là G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng Cornell và cũng là cố vấn của Tổng Thống Kennedy về Việt Nam sau nầy nhiệt tình ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention, 1986).
Từ những nguyên nhân sau xa đó, uy tín của Tổng Thống NgôĐình Diệm trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đến nổi, cuối năm 1961, những nhà làm chính sách tại tòa Bạch Ốc đã có lúc nghĩ đến việc ám sát Tổng Thống Ngô Đình diệm, nhằm thay đổi cơ chế lãnh đạo của Miền Nam.
Trong thời gian đó, chỉ có chính quyền Úc có một cái nhìn sâu sắc và thực tiển hơn về vấn đề xây dựng dân chủ và đường lối chính trị cứng rắn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chủ trương theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng, Ngoại Trưởng R. G. Casey của Úc đã nhận xét:
"Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích chính quyền Việt Nam . Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh.

Chính phủ quốc gia đó, không thể để một khe hở nào cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào cũng sẽ cựuc kỳ nguy hiểm, không những cho Việt nam mà còn cho cả tự do củaĐông Nam A` Châu nữa.

Thứ hai, sự thực hiện dân chủ trên bình diện quốc gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam và cần phải có thời gian để phát triển các định chế, các truyền thống, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường hướng xây dựng và có trách nhiệm".

 (Richard Lindhelm, Vietnam, the First five years Ann Arbor, Michigan, 1959, tr 344) 
          
Quan Niệm Dân Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ. Sai Lầm của Mỹ

Điều khá khôi hài, khi quan niệm dân chủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và của Tổng Thống Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ T. Đó là Dân Chủ Thành và Tín của Ông Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là dân chủ thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống Ngô

Monday, October 22, 2012

ĐÔI ĐIỀU GỬI ĐẾN CÁC LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM


 




 

  ĐÔI ĐIỀU GỬI ĐẾN CÁC LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM


 

Nguyễn Thu Trâm (Danlambao) - Kính gởi các ông Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo khác của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.

Thưa các ông, 

 

Với tư cách là một công dân của nước Việt Nam có một phần trách nhiệm với vận mệnh của đất nước và sự tồn vong của giống nòi, nhưng không có cơ hội được trực tiếp gặp các ông để đề đạt những nguyện vọng của tôi, nên tôi xin được gởi tâm thư này đến các ông. Kính mong các cơ quan truyền thông giúp chuyển tâm thư  này đến các ông lãnh đạo đảng và nhà nước có tên trên đây, tôi xin chân thành biết ơn.

 

Thưa các ông, 

 

Trước hết, tôi xin được làm rỏ một vấn đề mà chắc là các ông đang có một sự nhầm lẫn nào đó trong tư duy, dẫn đến việc trị nước chăn dân của các ông đi từ sai lầm này đến sai làm khác trong suốt thời gian đảng cộng sản các ông năm quyền cai trị đất nước, khiến cho nhân tâm ly loạn, đồng bào thống khổ, đói rách và luôn sống trong tâm trạng bất an bởi vì họ không biết khi nào thì đến lượt họ bị bắt giam bị đánh đập tra tấn cho đến chết, hoặc bị mất tích sau khi công an bắt đi. Việc đó khiến cho toàn dân luôn sợ hãi mà phải câm lặng ngay cả khi nhìn thấy một đại họa mất nước đang cận kề. Vậy, điều mà tôi muốn làm sáng tỏ hôm nay, ấy là: “ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM LÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, KHÔNG PHẢI CHỈ RIÊNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, HAY CỦA CÁC ÔNG”.

 

Vậy mà một số nhân sỹ, trí thức sinh viên học sinh và các sỹ phu yêu nước chỉ vì thể hiện trách nhiệm của mình, là một công dân, trước hiện tình của đất nước mà đã bị bắt bớ giam cầm một cách hết sức độc đoán, phi lý và bất công:

 

Trước hết chúng tôi xin nhắc lại với các ông về chính những người cộng sản của các ông, nhưng khi họ nhận ra những sai lầm của chế độ cộng sản đã đưa dân tộc Việt Nam cận kề với bờ vực diệt vong, họ đề xuất với đảng cộng sản, với các ông về những cải tổ cần thiết để cứu nguy cho dân tộc thì lập tức họ bị các ông giam cầm bằng rất nhiều hình thức mà không ít những người có tâm huyết với dân tộc đó đã chết một cách oan nghiệt trong các nhà tù nhỏ cũng như nhà tù lớn:

 

1.   Tướng Trần Độ khi nhận thấy những hiểm họa mà chế độ công sản đã và đang mang đến cho dân tộc, Trần Độ đã đề xuất với đảng cộng sản, và với các ông rằng:  "Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ "hiệp thương" mà thực chất là gò ép". Nếu các ông thực sự là những “vua sáng” biết nghe theo lời can gián của “tôi hiền” thì đất nước Việt Nam đâu có loạn lạc đến mức này. Và điều gì đã xãy ra cho tướng Trần Độ, thì các ông đã biết rõ: Bị quản thúc tại gia cho đến chết. Và ngay cả trong đám tang của tướng Trần Độ các ông cũng còn tiếp tục làm nhục người đã khuất bằng vô số những việc làm bất nhân, thất đức của những kẻ mang trong mình dòng máu cộng sản: Thật ô nhục!

 

2.     Một đại công thần của chế độ cộng sản Việt Nam là cụ Hoàng Minh Chính, người đã có công lớn trong việc xây dựng ngai vàng cho các ông, nhưng đến khi nhận thức được những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa cộng sản, của học thuyết Karl Marx và Friedrich Engels mà đề xuất những cải tổ nhằm cứu nguy cho dân tộc, thì cũng đã bị đảng cộng sản các ông quy kết tội xét lại, chống đảng và vào những năm 1967-1973, chính Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã đưa ông đi tập trung cải tạo mà thực chất là tù đày, chỉ vì ông thực sự yêu nước, muốn chấn hưng đất nước và đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi họa cộng sản. Việc cụ Hoàng Minh Chính đã giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của những người bất đồng chính kiến: đã vận động lấy chữ ký đòi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp Việt Nam và nghị định số 31/CP, tìm cách phát triển lực lượng, cùng với Phạm Quế Dương, Trần Khuê và những nhân sỹ, trí thức bất đồng chính kiến khác,  phục hoạt đảng Dân Chủ nhằm tiến tới xây dựng một chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng hầu mọi người dân Việt Nam đều được thụ hưởng trọn vẹn các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền theo như Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết – Đó thực sự là một việc làm vì quyền lợi chính đáng của dân tộc Việt Nam và vì sự tồn vong của Tổ Quốc Việt Nan. Nếu chính phủ cộng sản của các ông hiện nay thực sự là của dân, do dân và vì dân thì các ông đã tiếp thu những đề xuất của cụ Hoàng Minh Chính, đã chấp nhận những cải tổ về chế độ chính trị, đã hủy bỏ điều 4 hiến pháp, hủy bỏ độc quyền lãnh đạo đất nước của đảng cộng sản, chấp nhận tiếng nói đa nguyên nhằm từng bước xây dựng một chính phủ Việt Nam theo chính thể cộng hòa để có thể phát huy tối đa nguồn nhân lực trong và ngoài nước với sự đóng góp trí lực của nhiều sỹ phu từ các đảng phái chính trị trong nước thì là sao dân chẳng thịnh, nước chẳng cường. Nhưng thật bất hạnh cho dân tộc Việt Nam thời cộng sản, bởi đất nước đang bị thống trị bởi những con người cộng sản u tối và mê cuồng quyền lực thống trị, nên chẳng bao giờ biết nghe lời can gián của hiền sỹ, để cho đất nước tiếp tục tụt hậu, nhược tiểu dân chúng tiếp tục sống đời lầm than.

 

3.     Nhiều nhân sỹ trí thức, các nhà yêu nước các lãnh tụ tinh thần tôn giáo hiện đang bị quản thúc hay vẫn đang bị chế độ công sản các ông giam cầm như Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Văn Lý, Trung tá Trần Anh Kim, Tiến Sỹ Cù Huy Hà Vũ, Luật Sư Lê Công Định, Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, Kỹ Sư Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Hồ Thị Bích Khương, mục sư Đỗ Trung Tôn… Rồi đến bản án dành cho các nhà báo tự do Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải hôm 24 tháng 9 năm 2012… và cả những vụ bắt giữ gần đây đối với các nhạc sỹ trẻ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, và mới nhất là vụ bắt cóc nữ sinh Nguyễn Phương Uyên hôm Chúa Nhật 14 tháng 10 năm vừa qua là một sai lầm nghiêm trọng của đảng cộng sản các ông, là một vết ô nhục không thể nào tẩy xóa được trong lịch sử cai trị của đảng cộng sản đối với đất nước và dân tộc Việt Nam bởi những người bị bắt bớ, bị xét xử rồi bị kết án và bị tù đày là những người yêu nước, còn những kẻ xét xử rồi kết án và giam cầm, quản thúc họ là những kẻ đang mang họa hại đến cho dân tộc và đang làm đất nước điêu tàn.

 

Xin được nhắc các ông rằng: “Quân giả châu giã; thứ nhân giả, thủy giã; thủy tắc tải châu, thủy lắc phúc châu, thử chi vị giã. Cố quân nhân giả, dục an, tắc mạc nhược bình chính ái dân dĩ”.  Tức là Vua ví như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được thuyền. Cho nên, các ông là những  kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và phải biết kính trọng người dân”. 

 

Xin các ông hãy thử nhìn lại xuyên suốt lịch sử cai trị của đảng cộng sản, đã có bao giờ các ông biết yêu nước biết kính trọng nhân dân chưa hay cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác?

 

Việc du nhập chủ nghĩa cộng sản về để đấu tranh giành độc lập là một sai lầm và ngu xuẩn nhất của Hồ Chí Minh, bởi cái giá mà đảng cộng sản buộc dân tộc Việt Nam phải trả cho cái nền độc lập mà không có tự do đó là quá đắc, bởi xu thế của thời đại mới, bắt đầu từ thế kỷ 20 là xu thế chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ hoàn toàn chế độ thuộc địa, tất cả các xứ thuộc địa đều được trao trả độc lập mà không phải đổ một giọt máu. Còn Việt Nam ngoài 2 triệu người phải chết đói vào tháng 3 năm Ất Dậu 1945, thì trong các cuộc chiến đấu với quân đội Viễn Chinh Pháp, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và Việt Minh từ ngày 22 tháng 12 năm 1944 cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07  tháng 5 năm 1954, với chiến lược biển người, đảng cộng sản các ông cũng đã nướng không dưới 1 triệu vệ quốc quân trong các lực lượng quân sự của Việt Minh. Xin một lần các ông hãy so sánh, một nền độc lập đánh đổi bằng khoảng 3 triệu sinh mạng và vô số tài sản với một nền độc lập mà không phải đánh đổi bằng một giọt máu nào. Phải chăng đây là cái xuẩn động và sai lầm nhất của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản hay không?

 

Việc Hồ Chí Minh ký kết Hiệp định Geneva để chia cắt đắt nước làm hai miền là một ngu xuẩn thứ hai của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản. Nhưng vẫn chưa dừng lại ở sự ngu xuẩn đó, mà Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã áp đặt nền cai trị vô cùng “chuyên chính” lên Miền Bắc, bằng những vụ thanh trừng đẩm máu, khiến cho hơn một triệu đồng bào Miền bắc phải rời bỏ quê hương ở Miền Bắc, di cư vào Nam để tránh họa cộng sản là một nguy xuẩn thứ ba của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản. Thực ra nếu không có những sự đe dọa, ngăn chặn và khủng bố của chính quyền cộng sản ở các địa phương, thì trong 300 ngày được phép di tản khỏi vùng cộng sản cai trị sang miền tự do đó, chí ít cũng phải đến 10 triệu đồng bào di cư vào Nam chứ không chỉ dừng lại ở con số hơn một triệu đó. Việc thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, phú nông ở các tỉnh miền Bắc là cái ngu xuẩn thứ tư của ông Hồ và của đảng cộng sản, tất nhiên đây là nhiệm vụ trọng đại mà ông Hồ nhận lãnh từ Quốc Tế Cộng Sản mà trực tiếp là từ Stalin và Mao Trạch Đông, khiến cho 15,000 nông dân bị hành quyết và xấp xỉ 300.000 nông dân khác phải chịu tù đày ở các trại cải tạo mà không ít đã chết vì đói khát và bệnh tật. Chắc ông Hồ và đảng cộng sản nghĩ rằng con số này chẳng đáng gì so với 30 triệu nông dân Nga và 70 triệu nông dân Trung Quốc cũng đã bị giết cùng với chính sách “Thổ Địa Cải Cách” ở hai nước xã hội chủ nghĩa đàn anh? Không chỉ dừng lại ở con số địa chủ bị hành quyết, số gia đình nông dân bị ly loạn bị phân biệt đối xử, mà cái di hại khó lường của chính sách cách ruộng đất ấy là hình thành một loại văn hóa nghi kỵ, đấu tố ngay cả trong gia đình con cháu đấu tố ông bà cha mẹ, vợ chồng đấu tố lẫn nhau… khiến cho những giá trị văn hóa, những thuần phong mỹ tục trong đời sống gia đình, xã hội đàn bị thay thế bằng cái văn hóa đấu tố này.

 

Việc tống giam các nhân sỹ trí trong vụ án nhân văn giai phẩm và hạ phóng nhiều văn sỹ, thi sỹ trí thức khác về nông thôn để cải tạo tư tưởng là cái ngu xuẩn thứ năm của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản bởi “Nhân hiền nhi bất kính, tắc thị cầm thú giã” nghĩa là “Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy”. Với việc thực hiện chính sách này, Hồ Chí Minh, Tố Hữu và bộ chính trị trung ương đảng cộng sản đã tự biến mình thành loài cầm thú chứ không còn là người nữa. Đã thế với chính sách “Trí Phú Địa Hào Đào Tận Gốc Trốc Tận Ngọn” được áp dụng rộng khắp ở miền Bắc trong thời kỳ tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN ở miền Bắc đã khiến cho nhân dân cả miền Bắc thuở đó ngây ngô như con người sống vào thời đồ đá để ai ai cũng tin rằng “bác Hồ luôn ỉa ra cứt vuông như chiếc bánh chưng và thơm như hoa lài hoa lý” sic. Và rằng “Các đồng chí anh hùng lái máy bay Mig của ta đã sáng tạo ra một cách để diệt các máy bay B52 của Mỹ. Khi ra trận họ tìm một cụm mây to rồi nấp vào trong đấy tắt máy nằm chờ... chiếc máy bay B52 vừa trờ đến là đồng chí ấy mở máy rồi bay ra chẹt ngay”. Tất nhiên đảng cộng sản vẫn còn thống trị được đất nước cũng là nhờ một phần rất lớn của chính sách ngu dân mà đảng công sản đã áp dụng hết sức thành công trên cả hai miền của đất nước.

 

Việc thực hiện cuộc tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968 bằng sự bội ước hiệp ước hưu chiến cho toàn dân hai miền vui xuân đón tết, rồi bất ngờ tấn công vào các đô thị của miền Nam, tàn sát nhiều dân lành vô tội và thảm sát hơn 7.000 đồng bào Huế bằng cách chôn sống là cái ngu xuẩn thứ sáu của ông Hồ và của đảng cộng sản Việt Nam. Mang lại đau thương tang tóc cho đồng bào miền Nam giữa những ngày đón tết cổ truyền của dân tộc, đó là một tội ác đến man rợ của ông Hồ và đảng cộng sản, tất nhiên cái quả báo nhãn tiền đó là hàng chục sư đoàn của cộng quân Bắc Việt đã hoàn toàn bị xóa sổ sau những đợt phản công của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa và Quân Đội Đồng Minh khiến cho hàng trăm ngàn thanh niên phải sinh Bắc tử Nam ngay trong dịp tết, và khiến cho Hồ Chí Minh cũng phải uất ức mà chết không lâu sau đó.

 

Hành động vi phạm công pháp quốc tế về vùng phi quân sự, xua quân vượt sông Bến Hải đánh chiếm tỉnh dịa đầu Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa 1972 là hành động ngu xuẩn thứ bảy của đảng cộng sản Việt Nam: sự tráo trở phản trắc kiểu cộng sản đã phải trả giá bằng sinh mạng của hơn100 ngàn cán binh cộng sản phải đền tội tại chiến trường này bởi sự trừng phạt của  không quân và Hải quân Hoa Kỳ với Operation Linebacker bombing và chiến dịch oanh tạc Linebacker I, oanh kích miền Bắc để trả đũa  sự vi phạm công pháp quốc tế về vùng phi quân sự của cộng quân Bắc Việt, từ 10-5 đến 23-10-1972 và trận mưa bom mùa Giáng Sinh tại Hà Nội năm 1972, chỉ tiếc rằng chiến dịch oanh kích Hà Nội chỉ kéo dài 12 ngày thôi, cho nên Lê Duẩn và bộ chính trị còn ngấp ngoái dưới các hầm tránh bom, đã phải tồn tại nhiều ngày không có lương thực, phải uống cả nước đái của nhau để sống. Nếu chiến dịch Operation Linebacker II kéo dài thêm một ngày nữa thôi thì cộng sản Bắc Việt đã phải chính thức đầu hàng vô điều kiện, nhân dân Miền bắc được giải phóng khỏi chế độ cộng sản từ đó và dân tộc Việt Nam đã không chịu cái thảm họa 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng âu cũng là cái vận hạn của quốc gia hay cái nghiệp chướng của dân tộc.

 

Việc phát động chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa Xuân năm 1975 dốc toàn bộ lực lượng quân đội Bắc Việt vào đánh chiếm miền Nam để thực hiện tham vọng thống nhất nước nhà bằng máu xương của đồng bào là cái ngu xuẩn thứ tám của đảng cộng sản Việt Nam. Nếu Hồ Chí Minh đã trót làm tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản du nhập chủ nghĩa cộng sản về để tàn hại đất nước và đã trót ký Hiệp định Geneva để chia đôi đất nước, thì Việt Nam vẫn có thể tồn tại hai quốc gia: Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam và Việt Nam Cộng Sản ở miền Bắc, như Đông Đức và Tây Đức một thời, họ không hề đánh nhau, họ không hề đổ máu mà cuối cùng họ cũng được thống nhất. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã ngu xuẩn đến mức nào mà không thể làm được như cách làm của người Đức, khiến cho cái giá của sự thống nhất quá lớn, hàng chục triệu người của cả hai miền Nam Bác đã bỏ mình trong cuộc chiến và đến nay đã 37 năm sau khi kết thúc chiến tranh, hàng vạn gia đình ở miền bắc vẫn đang tiếp tục hành trình đi tìm mộ liệt sỹ, đi tìm hài cốt của thân nhân họ, bị vùi lấp một cách vội vã ở một nơi nào đó trên đường đi xâm lược miền Nam, mà theo thông tin từ chương trình nhắn tìm đồng đội thì công việc tìm một liệt sỹ thì dù một hai trăm năm sau nữa vẫn chưa thể nào kết thúc. Đó là cái giá của sự thống nhất nước nhà do sự xuẩn động của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.

 

Việc trả thù các sỹ quan, hạ sỹ quan của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa và các quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa bằng cách đưa họ vào các trại tù cải tạo rồi trấn cướp nhà cửa của họ và xua đuổi vợ con họ đến các vùng kinh tế mới là cái ngu xuẩn thứ chín của đảng cộng sản Việt Nam. Trên thực tế cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ. Quân dân miền Nam chiến đấu nhằm bảo vệ nền tự do cho miền Nam, bảo vệ cho đồng bào miền Nam khỏi họa cộng sản. Tuy cuộc chiến tranh kết thúc một cách quá bạo tàn, không như người miền Nam mong muốn, nhưng chắc chắn các quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa đều có đủ thiện chí để hàn gắn những đau thương mất mác do chiến tranh, họ sẳn sàng tha thứ cho những kẻ xâm lược, sẳn sàng chung tay xây dựng quê hương thời hậu chiến. Phần lớn, họ là những người có kiến thức uyên bác, có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao, đây là một nguồn tài lực quan trọng và vô giá của quốc gia, tiếc thay đảng cộng sản đã muốn hủy diệt nguồn tài lực quý giá đó bằng cách đọa đày để họ chết dần chết mòn trong các trại cải tạo. Nếu đảng cộng sản biết “chiêu hiền đãi sỹ” ngay sau ngày tàn cuộc chiến vào tháng tư năm 1975 thì chắc chắn cả dân tộc Việt Nam đã không quá điêu linh, quá cơ lại đến độ Phạm Văn Đồng phải mang gạo của Việt Nam sang Ấn Độ để đổi lấy hạt bo bo và các phụ phẩm nông nghiệp mà Ấn Độ dùng để chăn nuôi gia súc, rồi mang về cho nhân dân cả nước cùng ăn để sống qua ngày trong suốt những năm 1978, 1979 cho đến cuối những năm đầu thập niên1980s. Một sự ô nhục tột cùng cho dân tộc Việt! Một đại nhục quốc thể cho Việt Nam!

 

Chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam sau năm 1975 là cái ngu xuẩn thứ mười của đảng cộng sản. Chính việc đánh đổ tư sản và công hữu hóa các phương tiện sản xuất chính là hành động khiến cho đất nước Việt Nam “xuống hàng chó ngựa” khiến cho lòng người ly loạn, dẫn đến việc hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do, mà đến “cái cột điện nếu đi được, nó cũng đã đi rồi!”. Hàng triệu người dân lành vô tội nữa lại phải bỏ mình trên đường đi tìm tự do đó. Một tội ác tày trời nữa của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Điều này chắc các ông biết rỏ! Thật là mỉa mai, khi một nhà báo phương tây chất vấn Phạm Văn Đồng rằng: “Các ông nói Xã Hội Chủ Nghĩa là thiên đường ở hạ giới, tại sao hàng triệu người Việt của ông phải bỏ nước ra đi tìm tự do suốt nhiều năm như vậy?” Phạm Văn Đồng đã trả lời một cách vô cùng trơ tráo và vô liêm sỷ rằng: “Đó là loài dơi, nên chúng không thể sống nơi trong sáng, mà phải đi tìm bóng tối”. Thật là vô liêm sỷ hết chổ nói! Đâu là bóng tối? Các nước theo chế độ công sản hay các nước tự do ở phương Tây? Ai là loài dơi chỉ thích bóng tối? Chúng tôi là loài dơi hay chính những người cộng sản các ông cứ theo đuổi cái thiên đường mù ấy đích thị là loài dơi chỉ muốn tồn tại trong bóng tối?

 

Các nước công sản Đông Âu một thời lầm lạc đi theo chủ nghĩa cộng sản phi nhân, khiến cho đất nước họ tụt hậu, dân tộc họ đói nghèo, nhưng cuối cùng họ đã nhận ra cái sai lầm chết người đó, và họ đã quay lại với thế giới tự do để họ được tiếp tục làm người. Tại sao các ông chưa chịu vứt bỏ cái chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác để giải thể ngay cái chế độ cộng sản, từ bỏ cộng sản, quay lại là thấy bờ tại sao các ông không theo gót các nước cộng sản Đông Âu, làm ngay việc hệ trọng đó, để chính các ông cũng được đứng thẳng lên làm người, mà dân tộc Việt Nam cũng chấm dứt được những chuổi đêm trường tăm tối bước đi trong đói khổ, lầm than và u tối? Để đất nước Việt Nam sẽ không còn nghèo nàn tụt hậu và nhược tiểu nữa, không còn phải đối diện với đại họa mất nước nữa?

 

Thưa các ông,

"Thiên chi sinh dân, phi vi quân giã; thiên chi lập quân, dĩ vi dân giã", Vâng, “Trời sinh ra dân, chẳng phải vì vua; mà Trời lập ra vua, ấy là vì dân”. Sao các ông đang là những “ông vua” của đất nước này mà các ông không vì dân? Sao các ông lãnh đạo đất nước mà chẳng biết quý dân và không biết nghe lời dân và không đặt quyền lợi của dân lên trên quyền lợi của giai cấp thống trị, của đảng cộng sản các ông?

Nếu các ông là con người, sao không biết kính người hiền trọng người tài, mà lại bắt bớ, tra tấn và giam cầm họ?

 

Cho nên tôi viết tâm thư này gởi đến các ông, với mong muốn các ông sớm quay trở lại kiếp người bởi "Nhân hiền nhi bất kính, tắc thị cầm thú giã" vâng “Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy”. Xin các ông hãy đứng thẳng lên để làm người bằng cách trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các nhà bất đồng chính kiến, các sỹ phu, các trí thức các sinh viên học sinh đang bị các ông giam cầm bởi họ chính là hiền sỹ đó. Họ là những người thực sự yêu nước và thực sự ưu tư trước sự hưng phế của quốc gia sự tồn vong của nòi giống.

 

Hãy trả tự do ngay cho nữ sinh Nguyễn Phương Uyên mà thuộc hạ của các ông vừa bắt giam vào ngày 14 tháng 10 vừa qua chỉ vì lòng yêu nước của Phương Uyên đã thôi thúc cô viết nên những vẫn thờ chống giặc Tàu xâm lược. Phải chăng nếu các ông đã nắm quyền cai trị đất nước này tự ngàn xưa, thì làm sao có đất sống cho các bậc vương tướng như bà Trưng, bà Triệu, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung… bởi các đấng ấy đã bao lần đánh cho tan tác hàng vạn quân Tàu xâm lược chứ không chỉ dừng lại ở việc xuống đường điểu tình đả đảo hay làm thơ chống Tàu như con cháu của họ thời nay.

 

Và nếu các ông thực sự vì nước vì dân, hãy tự mình xóa bỏ điều 4 hiến pháp, tự mình giải thể chế độ cộng sản và trao quyền lực cho nhân dân, tôi tin rằng các sỹ phu trong nước hiện nay cùng với những hiền sỹ đang định cư ở nước ngoài sẽ chung tay góp sức xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh phú cường đủ sức đương cự với mọi đội quân xâm lược của Tàu man để giữ vẹn toàn bờ cõi.

 

Mười cái ngu xuẩn nhất của một chế độ tưởng cũng đã quá nhiều và cũng đã mang những họa hại khôn lường cho đất nước cho dân tộc rồi. Hày nghe lời can gián của tôi hiền, đừng tiếp tục ngu xuẩn nữa mà đưa đất nước đến bờ vực diệt vong.

 

Trân trọng chào các ông

Nguyễn Thu Trâm, 8406 

 


 

 




 

 

 

 

 

Truy tố tội ác cộng sản theo luật pháp Đức


 

Truy tố tội ác cộng sản theo luật pháp Đức

BS.Trần Văn Tích

 

Phần tóm tắt và nhấn mạnh

Chỉ có biện pháp truy tố tội ác diệt chủng của Việt cộng trong vụ thảm sát Mậu thân Huế năm 1968 là có cơ may được công pháp quốc tế chấp nhận tố quyền. Như vậy, Thiếu tá Liên Thành đã dùng đúng biện pháp. Vậy mong những ai tán thành ý nguyện truy tố tội ác của giặc thì nếu không ủng hộ cũng đừng đánh phá; nhất là đừng nhìn lệch sang lĩnh vực chống tôn giáo.

*

Phần thân bài

Tôi rất ngưỡng mộ những người như ông Đỗ Ngọc Uyển đã bỏ bao nhiêu công sức và thời giờ nhằm liệt kê các tội ác mà cộng sản từng phạm theo công pháp quốc tế. Tôi cũng hết sức khâm phục các nhân vật đầy tâm huyết thường xuyên kêu gọi trên internet là quốc ngoại cần dồn mọi nổ lực nhằm tiếp tay đồng bào quốc nội vùng lên lật đổ bạo quyền Việt cộng.

Tuy nhiên nếu chỉ liệt kê một cách chi tiết các loại tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh, tội ác diệt chủng v.v..(mà Việt cộng từng phạm) thì công trình liên hệ chỉ có giá trị hàn lâm hoàn toàn lý thuyết. Ai cũng rõ Việt cộng phạm không biết cơ man nào là tội, kể cả những tội không được công pháp liệt kê và bên cạnh war crimes, chúng còn phạm vô số peace crimes.

Về phía những lời kêu gọi cần dồn tất cả nỗ lực yểm trợ quốc nội thì cung cách hành động này lại mang tính chất gần như trang sức, xa hoa : người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới có bao giờ ngưng hướng về quê hương để tiếp tay các phong trào, tổ chức, cá nhân chống đối độc tài đảng trị?

Tóm lại, theo tôi, không nên nói suông mà phải cố làm thiệt. Nói suông dầu sao cũng dễ, làm thiệt mới khó quá chừng.

Cho nên ngay từ những ngày đầu tiên khi Thiếu tá Liên Thành tung ra chiến dịch truy tố tội ác cộng sản Việt Nam trong vụ thảm sát Mậu thân Huế, tôi đã lên tiếng ủng hộ; mặc cho lời ong tiếng ve, thây kệ những lời chỉ trích. Lý do rất đơn giản : Thiếu tá Liên Thành đã hành động, đã làm chứ không phải chỉ hô hào, chỉ nói. Nhưng song song với việc làm của Thiếu tá Liên Thành, tự thân tôi cũng tự mình hết sức thử tìm hiểu xem tôi có thể làm được gì cụ thể nhằm tham gia vào phong trào tố cáo tội ác cộng sản trong khuôn khổ công lý nhân loại. Và bởi đang ở Đức nên tôi tìm hiểu luật pháp Đức, tôi hỏi han chuyên viên Đức; nhất là vì nước Đức cũng từng qua phân quốc-cộng như Việt Nam.

Thoạt tiên, tôi trình bày trường hợp chính cá nhân tôi bị giam giữ, hành hạ, đày ải, khủng bố khoảng ba năm trong các trại tù cộng sản sau ngày mất Miền Nam mà không hề được xét xử. Tôi hỏi chuyên gia luật học Đức-Thụy sĩ xem như vậy tôi có thể là nguyên đơn có tố quyền đối với bị cáo là Việt cộng hay không. Tôi chỉ đặt vấn đề về nguyên tắc và tôi chỉ nhắm vào các toà án cấp quốc gia ở Cộng hoà Liên bang Đức. Cơ quan cung cấp cho tôi những dữ kiện giá trị và cụ thể là European Center for Constitutional and Human Rights có trụ sở tại Berlin. Tôi không nghĩ rằng đơn khởi tố của cá nhân tôi thuộc thẩm quyền tố tụng của các toà án quốc tế hay liên quốc như International Court of Justice (ICJ), các International Crime Tribunals dành cho xứ Nam Tư cũ, xứ Ruanda, xứ Sierra Leone, xứ Liban và cả Cao Miên. Ngay Toà án Quốc tế xử Pon Pot và đồng bọn cũng chỉ thiết lập được với sự chấp thuận và cộng tác của chính phủ Cao Miên đương nhiệm. Tôi muốn biết bộ luật ứng dụng universal principle, loi de compétence universelle, Weltrechtsprinzip có cơ may nào được áp dụng cho bản thân tôi không. Bộ luật vận dụng Weltrechtsprinzip có tên là Völkerstrafgesetzbuch (VStGB) trong thư tịch tư pháp Đức. Nó được Quốc hội CHLB Đức biểu quyết ngày 26.06.2002 và có hiệu lực kể từ ngày 30.06.2002. Nó nhằm vào các tội trạng diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh (genocide, crimes against humanity, war crimes). Công dân bất cứ nước nào cũng có tố quyền, không bắt buộc phải là công dân Đức. Tội ác xảy ra tại bất cứ quốc gia nào cũng có thể bị truy tố. Trong thực tế, pháp đình Đức quốc đang vận dụng Weltrechtsprinzip để truy tố ba công dân xứ Ruanda tại hai toà án Stuttgart và Frankfurt vì tội tàn sát một lúc khoảng một ngàn thường dân trong một ngôi thánh đường ở Murambi ngày 11.04.1994. Viện dẫn hai trường hợp này, tôi yêu cầu giới chuyên gia luật học Đức giải thích tôi có thể vận dụng tố quyền để truy tố tội ác Việt cộng trước nền công lý Nhật Nhĩ Man hay không, khi mà cộng sản đã giam giữ, đày đoạ, khủng bố tôi trong ba năm mà không hề xét xử. Câu trả lời là không vì hình thức tội ác mà tôi là nạn nhân thuộc loại crimes against humanity (tội ác chống nhân loại) chứ không phải là genocide. Chỉ có tội ác genocide (diệt chủng) thì mới bị chi phối bởi luật pháp Đức và loại tội ác này không mất thời hiệu dù đã xảy ra cách năm 2012 này bao nhiêu lâu đi nữa. Cho nên những sát thủ người Ruanda mới phải ra toà tại Đức ở hai thành phố Stuttgart và Frankfurt. Hơn nữa tội ác do các đương sự phạm đã được cộng đồng quốc tế đồng loạt xếp loại genocide. Tuy nhiên luật pháp Đức cũng qui định rằng tố quyền chỉ chi phối các tội phạm hiện có mặt trên lãnh thổ Đức quốc. Như vậy, giả dụ như tôi có ý định nộp đơn cho Công tố viện Liên bang (Federal Prosecuting Attorney) tại Karlsruhe để xin được hưởng thẩm quyền tài phán của nền công lý Đức thì cũng sẽ không được cứu xét, bởi tôi không phải là nạn nhân của genocide, mà chỉ là nạn nhân của crimes against humanity.

Trong khi đó thì nếu tổ hợp luật sư N.Kate Kempton ở Toronto, Ontario, Canada được Thiếu tá Liên Thành ủy nhiệm nghiên cứu tiến trình truy tố tội ác Việt cộng nộp đơn khởi tố tại Công tố viện Liên bang Đức thì sẽ có cơ may được chấp đơn vì tội ác thảm sát đồng bào Huế dịp Tết Mậu Thân 1968 thuộc loại tội ác diệt chủng genocide. Đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng Thiếu tá Liên Thành đã đi đúng đường. Tất nhiên cá nhân tôi không rõ là tổ hợp luật sư Canada dự định sẽ nộp tố trạng tại pháp đình cấp quốc gia nào nhưng tôi biết là Canada cũng thừa nhận universal principle. Ngoài ra, theo tìm hiểu của tôi thì Thiếu tá Liên Thành cũng có thể nộp tố trạng cho Công tố viện Vương quốc Bỉ. Tổ hợp luật sư N.Kate Kempton đã thành công khi thay mặt nhóm Pháp luân công người Tàu truy tố các tay chóp bu Tàu cộng. Án lệnh đã được ban bố. Chính vì vậy nên Thiếu tá Liên Thành mới lựa chọn họ để thuê mướn lập hồ sơ truy tố tội ác Mậu thân. Đương nhiên luật lệ vốn do con người soạn thảo, ban hành, áp dụng và giải thích. Trong trường hợp có một Viện Công tố – không phải toà án – cấp quốc gia thừa nhận tố quyền tư pháp do tố tụng đại lý nhân là tổ hợp luật sư Canada đệ nạp thì một trong những thủ tục tố cầu quan trọng là bên nguyên phải chứng minh rằng thảm sát Mậu thân Huế 1968 là tội ác diệt chủng genocide theo công pháp quốc tế.

Mới đây bỗng có một cá nhân đưa tin trên mạng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng nộp đơn truy tố tội ác cộng sản. Tin này như tự trên trời rơi xuống, nó xuất hiện đột ngột và chẳng kèm theo bằng chứng, tài liệu gì hết. Cá nhân tôi không thể tin loại tin này.

Lại mới có một nhóm đứng ra hô hào đông đảo đồng bào tham gia ký tên – có thể ẩn danh – vào một hồ sơ nhằm cùng mục đích. Cá nhân tôi chỉ biết chọn thái độ chờ xem.

*

Phần kết luận và thỉnh cầu

Tôi vốn không hề được học về luật. Những điều tôi trình bày trong bài viết này chỉ là kết quả tự mình tìm tòi, hỏi han, góp nhặt. Tôi biết đến đâu xin giải bày đến đó.

Và căn cứ vào những hiểu biết hiện có trong tay, tôi kết luận là Thiếu tá Liên Thành đã hành động đứng đắn về phương diện pháp lý. Với những ai chưa ủng hộ vị cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Thừa Thiên-Huế, tôi xin có một lời kính xin. Kính xin chư vị chỉ chú trọng vào khía cạnh tìm cách truy tố tội ác của kẻ thù, kính xin chư vị gạt qua một bên những khía cạnh khác, nhất là khia cạnh đụng chạm tới tôn giáo. Kính xin quí vị hãy vì những nạn nhân của Huế Mậu thân và chỉ vì những nạn nhân của Huế Mậu thân mà thôi.

22.10.2012

 

VN- Một ứng viên bất xứng của Hội đồng Nhân quyền


   

 


© Nguyễn Thu Trâm


Trụ sở LHQ tại New York

Thế giới loài người đang hết sức sửng sốt khi nhận được tin Việt Nam đã tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội Đồng Nhân Quyền để tiến tới việc ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền nhiệm kỳ 2014-2016.

Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tiếng Anh là United Nations Human Rights Council – UNHRC là một cơ cấu liên chính phủ – inter-governmental body, trực thuộc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, ra đời ngày 15 tháng 3 năm 2006 theo nghị quyết A/RES/60/251 sau khi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết thành lập một tổ chức nhân quyền mới, thay thế một Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã chấm dứt hoạt động năm 2006. Nghị quyết này được sự ủng hộ của hầu hết các thành viên Liên Hiệp Quốc, trừ Mỹ, Israel, Palau và quần đảo Marshall bỏ phiếu chống và Belarus, Iran và Venezuela bỏ phiếu trắng.

Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hiệp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền – CHR – bị nhiều nhỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng.

Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đã họp phiên đầu tiên tại Genève, Thụy Sĩ với sự tham gia của trên 100 quốc gia. Tại đây, ông Luis Alfonso de Alba người Mexico đã được bầu là Chủ tịch Hội Đồng Nhân quyền. Với nhiệm vụ chính là xem xét các vụ vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới. Tùy mức độ vi phạm, Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc sẽ đưa ra cách giải quyết mà cao nhất là yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Trên danh nghĩa, UNHRC là một trong ba hội đồng của LHQ ngang hàng với Hội đồng Bảo An và Hội Đồng Kinh Tế, Xã Hội Và Văn Hóa (ECOSOC). Ba Hội Đồng này đảm trách ba nhiệm vụ quan yếu của LHQ là gìn giữ hòa bình, phát triển hợp tác kinh tế và bảo vệ nhân quyền.

Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc có một đặc điểm mà nhiều người ít chú ý đến đó là Hội Đồng này có quyền cứu xét đến tất cả các loại vi phạm nhân quyền xảy ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Cho nên, dù có một quốc gia cố tình tránh né không ký kết tham gia vào một công ước nhân quyền quốc tế nào đó, thì nước đó vẫn có thể bị đưa ra phê phán trước Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc được xem như là một loại tòa án công luận cho nên đã gây khó chịu rất nhiều cho quốc gia liên hệ. Nhiều quốc gia xem việc làm này đã bêu xấu họ về mặt chính trị trên trường quốc tế.

Về mặt lịch sử, Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc là hậu thân của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc – United Nations Commission on Human Rights – là cơ chế đã có công soạn thảo ra bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền lịch sử hồi năm 1948 – The Universal Declaration of Human Rights 1948-. Những năm về sau, vì nạn bè phái, nên ủy hội này không còn hoạt động hữu hiệu được nữa.

Trong phiên họp Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đầu năm nay vào chiều ngày 28 tháng 2 tại Geneva, Thụy Sỹ, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao của cộng sản Việt Nam Phạm Bình Minh đã thông báo, “Việt Nam quyết định ứng cử vào cơ quan này trong nhiệm kỳ 2013-2016. Ông khẳng định, Việt Nam sẽ đảm nhiệm tốt vai trò này và sẽ có những đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền, vì một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng.”

Cũng trong dịp đó, thứ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh cũng rêu rao rằng: “Chính sách, luật pháp và thành tựu đảm bảo quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt là về xóa đói giảm nghèo, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tốt hơn các quyền cơ bản của người dân. Phạm Bình Minh cũng lên gân phô trương trước Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc rằng bằng việc kiên trì theo đuổi 3 trụ cột trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và nhà nước pháp quyền, các quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tăng cường. Thật mỉa mai! Bởi tình trạng đói nghèo của dân chúng Việt Nam hiện nay thì không nói ra những thế giới ai ai cũng nắm rõ, nhất là tình trạng vi phạm nhân quyền của đảng và nhà nước Việt Nam đã trở thành hệ thống, và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.”

Gần đây, tại khóa họp thứ 21 của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc cũng tại Geneva, Thụy Sĩ, từ ngày 10 tháng 9 đến ngày 28 tháng 9 vừa qua, để thảo luận báo cáo của 10 báo cáo viên đặc biệt, nhóm làm việc và chuyên gia độc lập phụ trách các chủ đề về trẻ em trong xung đột vũ trang, người bản địa, lính đánh thuê, tác hại chất thải độc hại, nước sạch, đói nghèo cùng cực, chống phân biệt chủng tộc, các hình thức nô lệ hiện đại, nhân quyền và đoàn kết quốc tế, dân chủ và trật tự quốc tế công bằng.

Tại phiên họp này Việt Nam đã tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội đồng Nhân quyền để tiến tới việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Tất nhiên theo quy định của Liên Hiệp Quốc, để được đắc cử thì mỗi ứng cử viên phải đạt được số phiếu tuyệt đối trên tổng số 192 thành viên của Liên Hiệp Quốc, nghĩa là phải có 97 phiếu thuận. Với những thành tích nhân quyền của Việt Nam trong những năm sau khi đã được trở thành thành viên của WTO cho đến nay, mà nỗi cộm như việc bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa, rồi tống giam Ngài trở lại vào ngục trong khi Ngài vẫn đang bị tai biến mạch máu não, dẫn tới bán thân bất toại. Tiếp đến là việc trấn cướp các cơ sở tôn giáo bất hợp pháp, như cướp đất của Giáo Xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Giáo Hoàng Học Viện, Cồn Dầu hay vụ cướp đất Thủ Thiêm để xây dựng khu đô thị mới bằng hình thức giải tỏa Chùa Liên Trì, Vườn Cầu Nguyện và Trung Tâm Mục Vụ của Giáo Hội Mennonite, giải tỏa Trại Phong Thanh Bình, xua đuổi hàng trăm bệnh nhân phong ra sống ở vĩa hè, và tạo ra một tầng lớp mới trong xã hội là tầng lớp dân oan khiếu kiện rồi tống giam họ vào tù vì tội khiếu kiện vượt cấp là “gây rối trật tự nơi công cộng” hay “chống người thi hành công vụ” như vụ việc cướp đất ao đầm của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, Tiên Lãng, Hải Phòng với hệ lụy là cả gia đình phải chịu cảnh lao lý ngục tù mà số nợ hơn chục tỷ đồng vay mượn để quai đê lấn biển hiện vẫn đang là chiếc thòng lọng xiết cổ những nông dân thấp cổ bé họng này. Rồi đến vụ bắt giam, truy tố và kết án tù những người yêu nước, chống giặc Tàu xâm lược, bằng những hình thức phản kháng ôn hòa như biểu tình, như tọa kháng tại nhà đối với Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, hay đối với vụ việc bắt bớ, xét xử và kết án tù những nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi của người lao động như Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, chỉ vì họ dám bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, chống lại mọi sự đàn áp, bóc lột sức lao động của các chủ cả, tức là, những nhà hoạt động trẻ tuổi này đang hoạt động để bảo vệ quyền của con người mà họ bị bắt giam bị phạt tù, thì thử hỏi rằng Việt Nam có đủ tư cách để trở thành một thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc để bảo vệ quyền làm người hay không, khi họ liên tục vi pham nhân quyền và liên tục chống lại những người bảo vệ quyền làm người?

Trước mùa Giáng Sinh năm 2011, một nhạc sỹ trẻ yêu nước là Việt Khang, chỉ vì đã sáng tác một số ca khúc bày tỏ nỗi xót đau trước hiểm họa mất nước, và kêu gọi mọi người hãy có trách nhiệm trước sự tồn vong của đất nước của quê hương mà cũng đã bị bắt giam cho đến nay vẫn chưa rõ tung tích sống chết ra sao. Đây là thiên chức bảo vệ nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đó chăng?

Tệ hại hơn nữa gần đây 17 thanh niên Tin Lành và Công Giáo chỉ hoạt động vì sự sống, chỉ khuyến khích con người chung sống hòa bình, chỉ kêu gọi con người chấm dứt hành động giết người bằng hình thức phá thai, nạo thai thế mà họ đã bị bắt giam, bị đưa ra xét xử và bị kết án tù. Nhà nước Việt Nam có tự hào về thành tích nhân quyền này chăng?

Gần đây nhất, nhà nước Việt Nam đã tuyên phạt mức án 26 năm tù và 11 năm quản thúc cho 3 nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài gòn Phan Thanh Hải chỉ vì họ bày tỏ lòng yêu nước thương nòi qua những trang nhật ký cá nhân, chỉ vì họ phản kháng một cách ôn hòa trước hành động xâm lăng, cướp đất, lấn biển của Giặc Tàu. Đảng và chính phủ Việt Nam chắc phải Hãnh diện lắm với Thiên Triều Trung Cộng với thành tích đàn áp và khủng bố này, nhưng trong phiên họp Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, khi đệ nạp hồ sơ ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, thứ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh có báo cáo những thành tích nhân quyền trên đây cho cộng đồng quốc tế được tường lãm hay không?

Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức nước bạn CUBA cộng sản, tại Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez, ông Nguyễn Phú Trọng đã bày tỏ với Bí thư Thứ nhất, Chủ tịch Raul Castro Ruz rằng Việt Nam khẳng định ủng hộ Cuba ứng cử vào Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Về phần mình, Bí thư Thứ nhất, Chủ tịch Raul Castro Ruz thay mặt đảng và nhà nước cộng sản Cuba cũng khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào các vị trí thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Đây thực sự là “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” vậy!

Với những vi phạm nhân quyền có hệ thống của đảng và nhà nước Việt Nam trong suốt thời gian qua, việc Việt Nam ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cũng chẳng khác gì một cô gái điếm muốn lên giảng đường để dạy dỗ các nữ sinh viên về cái đức hạnh của người phụ nữ và cũng chẳng khác gì một tên đạo chích, chuyên trộm cắp, chuyên cướp của giết người lại muốn lên diễn đàn để dạy dỗ con người ta về đạo nghĩa hay muốn làm quan tòa để xét xử những vụ án trộm cắp hay giết người cướp của vậy.

Một nhà nước độc tài đảng trị hiện đang tước đoạt hết mọi quyền tự do dân chủ, nhân quyền của chính nhân dân mình mà lại tham vọng ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, thật vô cùng bất xứng.

© Nguyễn Thu Trâm

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link