Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, November 1, 2012

Mỹ, Nhật, Ấn họp bàn về tự do hàng hải : Bắc Kinh ấm ức


 

 
QUỐC TẾ - Bài đăng : Thứ tư 31 Tháng Mười 2012 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 31 Tháng Mười 2012

Mỹ, Nhật, Ấn họp bàn về tự do hàng hải : Bắc Kinh ấm ức

Thứ trưởng Ngoại giao Kenji Hiramatsu dẫn đầu phái đoàn Nhật tham gia cuộc họp ba bên (Reuters)
Thứ trưởng Ngoại giao Kenji Hiramatsu dẫn đầu phái đoàn Nhật tham gia cuộc họp ba bên (Reuters)

Trọng Nghĩa  RFI

Tại thủ đô New Delhi của Ấn Độ, hôm thứ Hai 29/10/2012 vừa qua, phái đoàn ba nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ và đã kín đáo mở cuộc đối thoại về hợp tác giữa ba nước trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là trên vấn đề an ninh hàng hải tại vùng châu Á Thái Bình Dương.
Như thông lệ, Bắc Kinh đã có ngay phản ứng bất đồng tình : Về mặt chính thức, lời lẽ của bộ Ngoại giao Trung Quốc tương đối ôn hòa, nhưng báo chí Trung Quốc đã được dịp tỏ thái độ bực tức, với những lời lẽ đay nghiến đặc biệt nhắm vào Nhật Bản. 
Đây không phải là lần đầu tiên mà Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ, đối thoại với nhau về vấn đề an ninh trên biển. Cơ chế đối thoại ba bên này đã họp phiên đầu tiên tại Washington vào năm 2011, và phiên thứ hai tại Tokyo. Trong cuộc họp lần thứ ba tại New Delhi hôm thứ Hai, các phái đoàn đã tập trung vào các vấn đề an ninh hàng hải, quyết định tăng cường các chiến lược chống nạn hải tặc, và bàn luận thêm về kiến trúc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 
Phía Mỹ đã nhân cơ hội này giải thích rõ hơn về chủ trương “chuyển trọng tâm chiến lược về châu Á” của Mỹ. vấn đề Biển Đông cũng được mang ra thảo luận trên tinh thần cần phải bảo đảm quyền tự do hàng hải ở vùng này. Riêng Nhật Bản thì đã nêu bật vấn đề chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. 
Theo nhật báo Ấn Độ The Hindu số ra hôm nay, dù vấn đề quan hệ giữa ba nước với Trung Quốc không được nêu ra một cách chính thức rõ ràng, nhưng Bắc Kinh đã bày tỏ ngay thái độ quan ngại. 
Theo Tân Hoa Xã, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc –vào hôm qua đã tỏ ý hy vọng rằng « các nước liên can sẽ nỗ lực hơn nữa để phát huy hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực ». Theo ông Hồng Lỗi : « Đó là vì lợi ích của tất cả các nước trong khu vực ». 
Trái với tuyên bố rất ngoại giao kể trên, báo chí Trung Quốc đã trích lời một số chuyên gia Trung Quốc, để cực lực đả kích cuộc họp này, và đặc biệt chĩa mũi dùi vào Nhật Bản. 
Hoàn cầu Thời báo – Global Times – trong bài xã luận hôm qua, đã coi Nhật Bản là kẻ “đầu têu” trong việc thúc đẩy cơ chế đối thoại ba bên Mỹ Ấn Nhật. Theo tờ báo này, Nhật Bản – nước đang vướng vào tranh chấp biển đảo với Trung Quốc trên Biển Hoa Đông – là quốc gia lo lắng nhất về sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Trung thành với sách lược chia để trị, tờ báo theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa nhẹ đòn hơn với Ấn Độ khi so sánh rằng quan hệ Bắc Kinh – New Delhi có vẻ thuận thảo hơn bang giao Trung Nhật : « Nhật Bản đang gây ra vấn đề cho Trung Quốc, nhưng điều đó không đáng lo. Trung Quốc có một số hy vọng là sẽ có hợp tác chiến lược với Ấn Độ ». 
Tờ báo cũng phê phán Hoa Kỳ, cho rằng Mỹ đang « âm mưu gài bẫy Trung Quốc trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương », bất chấp việc cộng đồng doanh nghiệp tại Washington ngày càng « hội nhập » chặt chẽ hơn với Trung Quốc. 
Đối với Hoàn cầu Thời báo thì rõ ràng Hoa Kỳ đang lúng túng trước Trung Quốc : « Mỹ thường xuyên có một chiến lược mập mờ về Trung Quốc. Có vẻ như là Washington không biết rõ là phải làm gì để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc ». 
Nhìn chung, Global Times khẳng định rằng giá trị thực tế của cuộc đối thoại ba bên Mỹ Nhật Ấn « rất thấp ». Lý do là sự trỗi dậy của Trung Quốc là một tiến trình phức tạp mà chính Mỹ không thể đối phó, tự mình hay trong sự liên kết với các nước khác. Để ngăn chặn Trung Quốc, cần phải có tài chánh dồi dào. Thế nhưng, theo tờ báo, Hoa Kỳ hiện không thể đủ khả năng này, Nhật Bản hay Ấn Độ cũng vậy.
 
 

Án tù cho nghệ sĩ, có sợ không?


 

Án tù cho nghệ sĩ, có sợ không?


Tuấn Khanh


Sau khi toà xử nhạc sỹ Việt Khang 4 năm tù và đồng nghiệp của anh, nhạc sỹ Trần Vũ Anh Bình, 6 năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” tôi đã nghe lại hai bài hát của anh: “Việt Nam tôi đâu” và “Anh là ai”. Ở thời điểm khi hai bài hát này ra đời tôi tin đó là “nỗi lòng” của Việt Khang trước việc “Trung Quốc đang hoành hành trên Biển Đông”. Theo toà thì hai anh còn tham gia mộtt tổ chức có tên “Tuổi trẻ yêu nước”. Cho dù “tổ chức này có mục đích tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam” như các anh thừa nhận thì “cá thể hoá trách nhiệm hình sự” là một nguyên tắc bất di bất dịch của tố tụng. Người dân có thể bất tín nhiệm một đảng vì tình trạng tham nhũng nhưng chỉ có thể bỏ tù từng cá nhân bởi những hành vi tham nhũng mà các cơ quan tố tụng có thể chứng minh. Cũng như sinh viên Nguyễn Phương Uyên, cho dù có ai đứng sau thì em cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về những tờ truyền đơn chống Trung Quốc (nếu đó là của em). Các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải nhớ, nay anh có thể nấp sau một tổ chức để bất chấp luật pháp nhưng ngày mai thì lịch sử sẽ buộc các anh phải chịu trách nhiệm cá nhân về những phán quyết của ngày hôm nay.

Osin HuyDuc

Một ngày sau phiên xử án hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ở Saigon, tôi gọi điện cho một anh bạn nhà văn và hỏi đùa “Nghe án tù cho nghệ sĩ chưa? Sợ không?”. Tôi nghe bên kia đầu dây bật lên một tiếng cười sảng khoái, một giọng cười miền Nam an nhiên.

Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình có lẽ cũng đã an nhiên nhận những mức án rất nhiều năm cho các bài hát của họ – những bài hát hoàn toàn phản ánh hiện thực đời Việt Nam hơn là thù địch, chống phá gì đó như lời của những vị quan tòa không rõ mặt đã nêu trong buổi sáng ngày 30-10-2012. Những bài hát đã vụt nổi tiếng bất ngờ ngay sau tiếng búa tòa, vượt quá tầm kiểm soát của những người căm ghét nó, hoặc đang giả vờ căm ghét nó.

Đây không phải là lần đầu tiên giới nghệ sĩ Việt Nam chứng kiến những án tù cho đồng nghiệp của mình. Từ những năm xa xôi của thế kỷ 20, người ta đã chứng kiến án tù cho Hoàng Hưng, Phan Đan, Đặng Đình Hưng… những lưu đầy của Phùng Quán, Văn Cao… Sau năm 1975, đã lần lượt có các án tù cho Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu… nhưng rất lâu rồi, chuyện bắt tội một nghệ sĩ với quyền tự do sáng tác của họ trở thành chuyện xa xưa, tưởng chừng như đã chỉ còn trong những ngày tháng mông muội nào đó.

Nói như vậy, để hiểu rằng trong lịch sử riêng của giới văn nghệ sĩ Việt Nam, án lệ và lao tù không phải là chuyện lạ. Nhưng dường như bất chấp những nguy nan đó, bản năng sáng tạo và phản ánh hiện thực của giới nghệ sĩ qua cách viết, cách hát, vẫn xuất hiện một cách rất an nhiên.

Việc bắt giữ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình đã tạo nên một làn sóng phản ứng khó lường. Thậm chí với cộng đồng người Việt đã xa quê hương và xa những con người Việt thế hệ mới trong nước, họ cũng đã bày tỏ sự sửng sốt của mình, khi nghe có những con người đang đối diện với lao tù chỉ vì ca hát, bằng cách xuống đường và chia sẻ những chữ ký hết sức ấn tượng.

Nhưng đâu chỉ là chuyện người Việt với nhau, tuy xa cách địa lý, nhưng dường như sợi dây vô hình của nền văn minh loài người đều tạo ra những phản ứng nối kết tương đồng, như cái cách thế giới đã phản ứng trước việc cô bé Malala Yousafzai bị Taliban bắn vào đầu hay việc Putin cho giam giữ nhóm nhạc Pussy Riot.

Đôi khi những phán quyết đưa ra, nó không chỉ làm hủy hoại đời của một con người, mà ngược lại còn có thể tạo ra một lực phản hồi, phá hủy mọi danh tiếng và sự bền vững của hệ thống đưa ra bản án đó.  Chưa bao giờ viên đạn của phe Taliban đã bắn vào đầu của cô bé Yousafai, 14 tuổi, trở thành viên đạn bắn thẳng vào lương tâm thế giới như lúc này. Chưa bao giờ người ta nhìn ra sự tồi tệ của chính quyền công an trị Putin ở nước Nga như lúc này, qua song sắt của cả 3 cô gái nhóm Pussy Riot. Và ở Việt Nam, chưa bao giờ những kẻ bị kết án là Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình lại được quan tâm, chia sẻ như bây giờ.

Đôi khi, tôi tự hỏi không biết những người soạn bản án cho Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình có thật sự lắng nghe những bài hát của họ hay không? Vì nếu chỉ dựa trên những con chữ để định đoạt số phận, tôi nghĩ công bằng nhất là nên mở một loạt phiên tòa nghiên cứu tái xét xử tất cả các nghệ sĩ, hay dễ dàng hơn là với các nhạc sĩ Việt Nam, từ Trịnh Công Sơn đến Phạm Duy và nhiều người khác nữa. Dĩ nhiên, trong đó có cả tôi.

Có lẽ trong phiên toà, những người xét xử cũng ngại ngùng và cố gắng tránh đi công việc ấu trĩ đó, nên đã không dành thời gian bàn sâu về các bài hát, mặc dù án vẫn định. Lẽ ra những bài hát đó phải được mở lên ngay tại toà, hoặc photo đầy đủ cho tất cả mọi người xem – nghe, như một chứng cứ cụ thể.

Nói tới lắng nghe, tôi chợt nhớ đến nhiều tình huống khó quên. Trong Schindler’s list  của đạo diễn Steven Spielberg, khi những tên lính phát xít Đức đang rầm rộ tiến vào các ngôi nhà của người Do Thái, đã đứng sững và lặng yên nghe đến lúc dứt khúc nhạc dương cầm của một người đánh đàn tuyệt vọng. Hoặc trong phim the Pianist của đạo diễn Roman Polanski, viên sĩ quan Đức Quốc Xã đã lột bỏ toàn bộ trạng thái thù địch để lắng nghe một nghệ sĩ Do Thái đàn những khúc nhạc được sáng tác [từ] các quốc gia đang đối đầu như Nga hay Ba Lan. Kẻ thù vẫn biết lắng nghe nhau, chẳng lẽ những người chung dòng máu và khát vọng dân tộc lại câm điếc với nhau?

Trong các tuyên bố chính trị ở Việt Nam lúc này, người ta hay đọc thấy cụm từ “nhóm lợi ích”. Rõ ràng là phải có những nhóm lợi ích kinh tế bí mật nào đó đang đục khoét quốc gia và đang bị đánh động. Nhưng liệu có hay không những nhóm lợi ích bí mật về chính trị nào đó, đang cảm thấy bị bối rối và tức giận trước những cảnh báo về hiện thực tổ quốc từ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, nên đã vội vàng khép tội họ? Nếu không, tôi hoang mang tự hỏi, họ đã phạm tội gì khi hát bằng tình yêu tổ quốc mình?

Những con người đó không làm chính trị. Họ chỉ phản ánh hiện thực xã hội theo cảm nhận nghệ sĩ của mình. Quyền phản ánh hiện thực – không phản bội lại nhân cách của mình, là một giá trị tuyệt đối của người nghệ sĩ. Quyền đó được nhìn nhận bằng lương tâm và giá trị văn minh của con người, bất chấp một thể chế chính trị nào phủ nhận nó. Chà đạp và từ chối quyền đó, cũng đồng nghĩa vinh danh giá trị của người nghệ sĩ và khẳng định thêm về sự trì trệ và lạc hậu của chính hệ thống đương trị.

31-10-2012

T.K.

Nguồn: Facebook nhạc sĩ Tuấn Khanh

Kinh tế Xã Hội Chủ Nghiã chỉ là trò ăn cướp


 

Kinh tế Xã Hội Chủ Nghiã chỉ là trò ăn cướp


 

Trọng Đạt


Năm ngoái, một ông bạn cải tạo về thăm quê hương sang có than thở về tinh trạng kỳ thị tại miền nam hiện nay. Ông bạn nói “ Nay tình trạng kỳ thị tại Sài Gòn thật là nặng nề, miền Nam đã bị Bắc Kỳ vào cai trị , họ lấy hầu hết nhà cửa ngoài phố và đẩy người miền Nam đi những vùng xa xôi khác ”, ông bạn này người miền Nam còn tôi người gốc miền Bắc, ông ta không thể nói hết lòng mình vì còn chút nể nang tôi.

Gần đây một bài viết của một người về Việt Nam cho biết tình trạng quê nhà, tác giả nói nay tại Sài Gòn người miền Bắc kéo vào rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, họ làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Đó là những cán bộ cao cấp và bà con thân thụộc của họ được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền….tác giả cho biết vào các cửa hàng lớn, các .. cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, nói tóm lại họ là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Mặc dù chưa được chứng kiến tận mắt nhưng tôi tin ngay lời tác giả trong bài viết..
Tuần vừa qua, một người bạn đã về thăm quê Nha Trang năm ngoái cũng cho tôi biết tại Nha Trang bây giờ toàn là Bắc Kỳ, họ giầu sụ, buôn to bán lớn, chiếm giữ hầu hết các cơ sở thương mại kinh tế của Nha Trang. Họ giữ các chức vụ nhiều lợi lộc, chiếm cứ hầu hết các khu phố xá sầm uất và đẩy những người cũ đi xa như vùng kinh tế mới hoặc những vùng đất quê mùa khô cằn như sỏi đá. Người bạn cũng xác nhận cho tôi thấy Nha Trang nay là một thành phố đã bị Bắc Kỳ cai trị và chiếm đoạt hết tài sản, những nguồn lợi béo bở của thị xã du lịch này. Nếu chúng ta hỏi những người đã về thăm các tỉnh khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, Biên Hoà… người ta cũng sẽ nói tình cảnh tương tự như thế.

Khi đọc bài viết và nghe người ta kể lại những sự thật phũ phàng như trên tôi tin ngay vì tôi cho rằng đó là những nhận xét khách quan vô tư nhất.

Ngược dòng thời gian 40 năm trước vào những ngày sau vụ Mậu Thân 1968, hồi ấy chúng tôi là sinh viên, được huấn luyện quân sự hai tuần và đưa vào Chợ Lớn canh gác theo chương trình Nhân Dân Tự Vệ. Một buổi tối đứng gác trên sân thượng của nhà thương gia trong khu phố Tầu, anh bạn cùng gác với tôi nhìn những dẫy phố nguy nga, sầm uất của Chợ Lớn , trước cảnh giầu sang tráng lệ của Tầu Chợ Lớn anh ta thốt lên.

“Đứng địa vị thằng Việt Cộng tao cũng đánh đến cùng, đằng nào cũng đã là thằng cùng mạt , chiếm được thì hưởng hết” Ý anh bạn muốn nói thằng nghèo đói sẽ đánh thí mạng cùi để cướp đoạt những tài sản của người giầu có, thế mà 7 năm sau, năm 1975 lời nói của anh ấy đã thành sự thật, thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi và đã cườp đươc tài sản của miền Nam giầu có.

Ngược dòng thời gian ba mươi bốn năm trước đây sau khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản rất cởi mở tươi cười với đồng bào miền Nam khiến người ta tin tưởng rằng hoà bình thống nhất rồi, hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Thế nhưng kẻ chiến thắng không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945. Vừa xua quân chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại… đem về Bắc, sự kiện này khỏi cần phải dẫn chứng vì thực tế đã chứng minh và ai cũng đều biết cả. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết. Họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác.

Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét gần sạch gần hết túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để chiếm nhà dân một cách hợp pháp. Chỉ sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức , sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại chế độ độc tài. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong ïgạo sinh sống.

Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học, đánh tư sản hai lần để chiếm nhà của bọn tư sản bóc lột cho cán bộ ở, ép buộc mọi tầng lớp nhân dân đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Những người đi vượt biên dù đi thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức, cho tới nay năm 2008 một người bạn mới ở Sài Gòn sang Hoa Kỳ đoàn tụ cho biết chính quyền không cho phép anh bán nhà mà phải để lại cho nhà nước , sau chạy chọt mãi với cán bộ địa phơơng mới bán được nhưng phải chia tam chia tứ anh chỉ được hưởng 1/5 trị giá căn nhà… … Thế rồi dần dần kẻ chiến thắng, tầng lớp thống trị vơ vét bóc lột người dân, tích lũy tiền bạc mua nhà cửa, bất động sản của những người cũ nay đã khánh tận phải bán của cải đi để lấy cơm ăn áo mặc, thành phần này thuộc loại“ Tư bản mại sản”. Người ta chê kẻ chiến thắng quá tham lam, họ đã được cả một đất nước to lớn mà vẫn chưa vừa lòng tham vô đáy còn đi chiếm từng căn nhà một.

Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, họ vơ vét bóc lột, tập trung tài sản của đất nước trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ cấp còn đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo . Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột này dẫu căm phẫn cũng đành ngậm đắng nuốt cay vì họ phải chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của bọn độc tài thống trị. Theo như lời kể của những người đã về thăm quê hương đã nói ở trên chúng ta có thể mường tượng ra cái hận thù Nam Bắc hiện nay nó sâu đậm như thế nào rồi..

Năm ngoái nhân ngày Quốc Hận, một viên chức chính quyền cũ nhìn những hình ảnh biểu tình, chống đối rồi thở dài bảo:

-Anh nghĩ xem, cái hận thù Nam Bắc biết bao giờ mới hết… Theo tôi nghĩ cái hận thù Nam Bắc nay không phải là chỉ mối hận của lớp người cũ đã bị tù đầy cải tạo mà nó thể hiện ở một bình diện rộng lớn bao quát hơn của cả một đất nước, của cả một khối quần chúng đông đảo, của những kẻ bị trị … đó là mối hận thù giữa kẻ bị trị và những bọn cầm quyền cai trị, giữa những kẻ bại trận và bọn thắng trận..
Người ta thường nói cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau của hai khối Cộng Sản và Tư bản . Những người khuynh tả cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam 1960-1975 là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lăng cũng như cuộc chiến tranh giành độc lập chống Pháp 1945-1954. Cũng có người cho rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, nghĩa là chính quyền hai Miền đã được các siêu cường uỷ nhiệm thực hiện.. nhưng nay thì sự thể đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có sung túc với một vựa lúa phì nhiêu. Thằng nghèo đói đã ra sức đánh thí mạng cùi để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… thằng nghèo đói chỉ biết dùng lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài. Nhiều người ngoài Bắc vào Nam nói “các anh không thể thắng được chúng tôi những thằng nghèo đói, thằng nghèo đói không sợ chết”. Sau di cư 1954, Hà Nội sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền nam, họ đã thèm thuồng cái vựa lúa này từ lâu..
Nay tại hải ngoại nhiều người chủ trương hoà giải với Cộng Sản Việt Nam, họ lý luận rằng cuộc chiến tranh ba mươi năm đã tàn phá đất nước nhiều rồi, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù. Luận điệu ấy thoáng nghe thật chan chứa tình thương yêu đồng loại, nhưng thực ra họ đã đặt sai đối tượng hoà hợp hoà giải vì có phải rằng khối người lưu vong hải ngoại hận thù Cộng Sản đâu? thực ra như chúng tôi đã trình bầy ở trên hận thù sâu sắc hiện nằm ngay trong lòng quần chúng miền Nam nước Việt, hận thù Nam Bắc hiện nay đang nằm trong lòng dân tộc, nó đã ăn sâu vào tận xương tủy kẻ bị trị nghèo nàn đói khổ..
Nay Cộng Sản Việt Nam vẫn cho thực hiện những phim tuyên truyền kết án chế độ địa chủ ác ôn như trong phim Áo Lụa Hà Đông nhưng trớ trêu và trơ trẽn thay chế độ của họ tự nhận là “Đảng của giai cấp công nhân” lại là một chế độ áp bức, bóc lột gấp trăm gấp ngàn lần thời kỳ địa chủ, cường hào ác bá thập niên 40 trở về trước. Đảng Cộng Sản ViệtNam hiện nay chính là một tập đoàn địa chủ giầu có ác ôn, hà hiếp bóc lột dân nghèo tàn nhẫn nhất chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà từ trước đến nay.
Một người mới về Việt Nam sang Mỹ cho biết chênh lệch giầu nghèo thì không thể tưởng tượng nổi, bọn nhà giầu không ai hơn là cán bộ cao cấp ăn chơi hưởng thụ tại những nhà hàng, khách sạn sang trọng hằng nghìn, hằng mấy nghìn đô la một đêm trong khi có nhiều bà mẹ tay trái thì bồng con, tay phải bán vé số .. chạy ăn từng bữa. Nay nhiều người chủ trương hoà giải với người Cộng Sản Việt Nam bằng một lối lý luận đạo đức giả “ xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước” nhưng họ không biết rằng người Cộng Sản có chịu xoá bỏ hận thù hay đào sâu thêm hận thù? người Cộng Sản xây dựng đất nước hay xây dựng cho chế độ của họ thêm vững mạnh bằng lưỡi lê và họng súng?

Nhiều người thuộc lớp trẻ cho rằng lớp người cũ, sĩ quan, viên chức chính phủ, cải tạo HO… đã chịu nhiều ngược đãi của Cộng Sản nên cho tới nay họ vẫn giữ lập trường hận thù Cộng Sản. Ngược lại giới trẻ đã không từng trải qua những cay đắng gian khổ của chiến tranh như tù đầy, loạn lạc vì họ còn nhỏ hoặc thậm chí chưa ra đời nên họ không có cái nhìn hằn học với người Cộng Sản như thế hệ cha ông của họ. Họ chủ trương hoà giải với Cộng Sản để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước vì nay Cộng Sản vẫn lớn tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên dĩ vãng, cùng nhau xoá bỏ hận thù..
Người Cộng Sản có thực sự xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hận thù hay đào sâu thêm cái hố hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Chúng ta hoà hợp hoà giải với Cộng Sản , đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng đất nước hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy Cộng Sản Việt Nam vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một. Địa vị của Đảng vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.

Nay Cộng Sản Quốc tế đã sụp đổ tan tành nhưng Cộng Sản Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn bám víu vào quyền lợi riêng tư của Đảng một cách trơ trẽn và ngoan cố, họ không biết rằng con người không thể nào quay ngược bánh xe lịch sử, không thể nào vặn ngược chiều kim đồng hồ. Để quay ngược bánh xe lịch sử họ vẫn ngoan cố bảo vệ Đảng, bảo vệ tập đoàn thống trị bằng bạo lực.

Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói “ Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân… Bạo tàn chỉ thắng lợi được một thời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành”.

Thật vậy lịch sử loài người tự cổ chí kim đã cho ta thấy rằng tất cả những triều đại, những chế độ tàn bạo, độc ác bất nhân cho dù có vững mạnh tới đâu cuối cùng cũng phải bị bánh xe lịch sử nghiền nát như tương như cám. Nay Cộng Sản Việt nam không chiu nhìn lại cái gương của quá khứ, nếu họ tiếp tục đào sâu hận thù Nam Bắc bằng lưỡi lê và họng súng, cho dù họ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng cuối cùng họ sẽ tự đào hố chôn mình...

Trọng Đạt



 

THÁI ĐỘ CỐ CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG SẼ CÔ LẬP HÓA TRUNG QU ỐC


 

THÁI ĐỘ CỐ CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

SẼ CÔ LẬP HÓA TRUNG QU ỐC

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 16.10.2012


 

Đây là bài tóm tắt những ý tưởng mà chúng tôi trả lời cho Phỏng vấn của Đài RFI (Radio France Internationale) chiều hôm qua 15.10.2012.

         Từ năm nhập vào được Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO/ OMC) Trung quốc làm những Tsumani về hàng hóa sang các Thị trường Tiêu thụ, nhất là Hoa kỳ và Liên Au, để nhặt từng xu như Tầu Chệt bán ve chai kiếm vốn. Trong sản xuất, không thể chỉ có nước lã mà vã lên hồ.  Sản xuất nhiều và càng nhiều bao nhiêu, thì càng cần phải có nguyên liệu và nhiên liệu. Nhưng lãnh thổ đất liền lâu đời của Trung quốc thiếu thốn nguyên liệu và nhiên liệu. Thậm chí những hầm mỏ than đá đã bị khối dân Tầu moi móc lâu đời và cạn gần hết. Phương tiện khai thác than lại cũ kỹ và đã chôn vùi nhiều dân Tầu trong hầm mỏ.

         Bí lối nguyên liệu và nhiên liệu tại đất liền, thì phải đi tìm tòi khai thác ở nhiều nơi dù bằng mưu mô lừa đảo đút lót hối lộ cho những chính quyền độc tài để có quyền khai thác. Bô xít Tây Nguyên VN là một tỉ dụ điển hình.

         Nhưng khi các nơi bắt đầu phản ứng chống lại, thì Kinh tế sản xuất tràn lan của Trung quốc bị đe dọa ngưng trệ. Vì vậy, trong hoàn cảnh bí lối về nguyên liệu và nhiên liệu, Trung quốc quay về Biển Đông, trở thành cố chấp và nghĩ rằng mình có thể “lấy thịt đè người“ đối với những quốc gia nhỏ chung quanh Biển Đông. Chính thái độ cố chấp này sẽ làm cho Trung quốc bị cô lập hóa.

         Chúng tôi xin đề cập đến những điểm sau đây:

=>     Tình trạng suy thoái sản xuất hiện nay của những Công ty Trung quốc

=>     Phân tích về những lệ thuộc của guồng máy Sản xuất

=>     Đi tìm khai thác Nguyên liệu và Nhiên liệu

=>     Thái độ hung hăng và cố chấp của Trung quốc tại Biển Đông, Trường Sa, Trường Sa và quần đảo Senkaku / Điếu Ngư

=>     Tương lai của Trung quốc bị cô lập hóa

 

Tình trạng suy thoái sản xuất hiện nay

của những Công ty Trung quốc

 

         Cuối năm 2011 và đầu năm 2012, Thống kê của Trung quốc đã đưa ra những con số la hoảng về giảm sút xuất cảng và cắt nghĩa rằng đó là hậu quả của rình trạng Khủng hoảng Kinh tế tại Hoa kỳ và Liên Au, nghĩa là việc giảm sút xuất cảng này mang tính cách giai đoạn do Thị trường Tiêu thụ nước ngoài.

         Trong tháng 9 này, Thống kê của Trung quốc lại đưa ra những con số cho thấy việc suy thoái chính tình trạng sản xuất của các Công ty Trung quốc mà lý do không thuộc vào những yếu tố thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhưng thuộc chính tình trạng yếu kém những phương tiện sản xuất của các Công ty gốc Trung quốc, như thiếu nguyên liệu và nhiên liệu. Bản Tin của Kelly Olsen (AFP, Thông Tấn Xã Pháp) đánh đi từ Bắc Kinh ngày 01.10.2012, viết như sau:

“Hoạt động sản xuất của Trung quốc bị co cụm lại trong tháng 9 này theo con số của nhà nước đưa ra thứ Hai vừa rồi. Con số này cho thấy ước lượng tăng trưởng bị giảm xuống hẳn. ».

Cũng theo Bản Tin này, chỉ tiêu tăng trưởng của Trung quốc rơi xuống 7.5% sánh với 9.3% của 2011 và 10.4% của 2012.

         Hoạt động sản xuất giảm xuống là có những lý do nội tại sản xuất của các Công ty Trung quốc chứ không hoàn toàn do Thị trường tiêu thụ nước ngoài. Chính vì những lý do nội tại sản xuất mà chúng tôi muốn tìm hiểu thái độ hung hăng cố chất của Trung quốc tại khu vực Biển Đông hiện nay. Thái độ này liên quan đến việc Trung quốc buộc phải tìm kiếm nguyên liệu và nhiên liệu cho nền sản xuất nói chung của nước mình

 

Phân tích về những lệ thuộc

của guồng máy Sản xuất

 

1.      Tổng quát các Lãnh vực Kinh tế quốc gia

 

         Những hoạt động Kinh tế quốc gia được các Nhà Kinh tế phân biệt ra ba Lãnh vực Kinh tế rõ rệt và tuần tự nối tiếp nhau. Yếu kém một trong ba Lãnh vực Kinh tế ấy, nền Kinh tế quốc gia bị ngưng trệ, què quặt. Ba Lãnh vực đó là : Lãnh vực Kinh tế thứ nhất là Tìm kiếm Nguyên Liệu và Nhiên liệu để cung cấp cho Lãnh vực Kinh tế thứ hai. Lãnh vực Kinh tế thứ hai này là Biến chế nguyên liệu thành hàng hóa sẵn sàng cho Tiêu thụ. Lãnh vực Biến chế được gọi là Lãnh vực Công Kỹ nghệ. Lãnh vực Kinh tế thứ ba gồm những Dịch vụ trong đó Dịch vụ Thương mại là quan trọng nhất. Dịch vụ này cần có khối người Tiêu thụ có khả năng tài chánh dồi dào để mua hàng hóa, nghĩa là có Mãi lực tiêu thụ.

         Kinh tế Trung quốc chú trọng về Lãnh vực Kinh tế thứ hai: Biến chế hàng hóa. Lãnh vực này phát triển quá độ nhưng lại lệ thuộc vào Lãnh vực Kinh tế đi trước là Nguyên liệu và Nhiên liệu. Lãnh vực Biến chế này lại lệ thuộc vào Lãnh vực Kinh tế thứ ba là Tiêu thụ mà Mãi lực nội địa lại yếu kém.

 

2.      Riêng đối với những Xí nghiệp Biến chế hàng hóa     

        

         Q       =       f ( K, L, T)

 

Lượng sản xuất Q tùy thuộc vào

(1)     K (Capital) : việc sử dụng vốn ;

(2)     L (Labour) : việc sử dụng Nhân lực và

(3)     T (Technology) : việc sử dụng Kỹ thuật.

Các Công ty Trung quốc chỉ có ưu điểm là có thể sử dụng Nhân lực (L) với giá rẻ bóc lột. Còn việc sử dụng vốn (K) chính yếu là cho nguyên liệu thì khi nguyên liệu thiếu thốn, có vốn cũng khó lòng mua được. Về phương diện sử dụng Kỹ thuật (T), đó là vấn đề nhiên liệu. Kỹ thuật dựa trên máy nổ không thể không có nhiên liệu dầu nhớt.

 

Đi tìm khai thác Nguyên liệu và Nhiên liệu

 

1.      Sự thiếu thốn Nhiên liệu tại Lãnh thổ Trung quốc

 

Các nước đã Kỹ nghệ hóa có sẵn Nguyên liệu và Nhiên liệu đã được khai thác từ lâu từ những cựu thuộc địa. Âu châu có Phi châu và Hoa kỳ có Nam Mỹ châu. Chính nội địa Hoa kỳ cũng có nguồn dự trữ nhiên liệu dầu lửa chưa khai thác: Texas và Alaska.

Các nước bắt đầu phát triển như Nam Dương, Nam Phi, Ba Tây, Úc châu đều có nguồn nguyên liệu và nhiên liệu dồi dào.

Chỉ có Lục địa Trung quốc thiếu thốn nguyên liệu nhất là nhiên liệu dầu lửa. Nguồn nhiên liệu than đá đã bị khai thác lâu đời và hiện nay trang bị khai thác đã quá cổ và nhiều nguy hiểm.

Chính vì vậy mà việc Trung quốc phải đi tìm nguyên liệu và nhiên liệu từ nơi khác, nếu không nền Kinh tế bị ngưng trệ.

 

2.      Tỉ dụ về việc tìm kiếm nhiên liệu và nguyên liệu tại Phi châu với thài độ không chính đáng của Trung quốc

 

         Kỳ họp thứ tư vừa rồi giữa Trung quốc và một số nước Phi châu là tại Bắc Kinh ngày 19.07.2012. Bị quốc tế công kích và mang mặc cảm đi lừa những nước nghèo để thu góm nhiên liệu và nguyên liệu, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải giả hình tuyên bố như sau:

«Trung quốc la nước lớn nhất trong những nước đang phát triển, và Phi châu, một lục địa gồm nhiều nước nhất. Nhân dân Trung quốc và nhân dân Phi châu nối kết với nhau bằng những tương quan đồng đều, bằng sự chân thực và tình hữu nghị, và đang hỗ trợ cho nhau trong việc phát triển chung. «

Cũng chính trong cuộc họp này tại Bắc Kinh, Tổng thống Nam Phi đã không ngần ngại tuyên bố lên sự thật của việc nối kết này. Ông tuyên bố :

«Việc Trung quốc cam kết giúp phát triển Phi châu chính yếu là để cung cấp cho mình những nguyên liệu«

         Mộ số những tài liệu chứng minh rằng mục đích của Trung quốc là đi thâu gom nhiên liệu và nguyên liệu, bất chấp sự tôn trọng những gía trị nhân bản và dân tộc địa phương :

=>     Điển hình là vụ Soudan mà Trung quốc đã vì nhiên liệu mà cung cấp võ khí và ủng hộ tại Liên Hiệp Quốc cho chế độ bạo tàn Al-Bachir.

=>     Thống kê các nước Phi châu cho thấy rằng năm 2005, chỉ có 14 nước Phi châu có Bảng Cân Đối Thương mại dương. Những nước này là những nước sản xuất nguyên liệu và dầu lửa xuất cảng qua Trung quốc. Trong khi ấy, 30 nước có Bảng Cân Đối Thương mại âm. Đó là những nước không có dầu lửa và nguyên liệu nhưng bị tràn đầy những hàng may dệt, những đồ mỹ phẩm giả, những thuốc giả và những hàng rẻ tiền của Trung quốc.

=>     Cách thế thâu tóm nguyên liệu và nhiên liệu là ủng hộ các chế độc độc tài, cho hối lộ những lãnh đạo nước này. Dân chúng địa phương không bao giờ được hưởng những món tiền vốn cung cấp bởi Trung quốc.

         Không cần phải tìm hiểu cách thế thâu gom nguyên liệu và nhiên liệu tại Phi châu. Chúng ta cứ nhìn trường hợp Việt Nam thì thấy rõ mục đích của tình hữu nghị giữa Việt Nam và Trung quốc với những chữ vàng khè ! Hãy nghĩ đến vụ Bauxite Tây nguyên !

 

3.      Những khó khăn lớn dần tại Phi châu và những nơi khác

 

Khi dân chúng mỗi quốc gia bị khai thác bắt đầu ý thức về việc Trung quốc cho hối lộ để lấy nhượng quyền khai thác hầm mỏ, thì những khó khăn bắt đầu cho mưu mô của Trung quốc.

=>     Dân chúng các nước Phi châu nhìn việc thâu gom nguyên liệu và nhiên liệu của nước mình như sự bán đứng những tài nguyên của quốc gia cho Trung quốc bởi những nhà lãnh đạo độc tài.

=>     Các nhà độc tài Phi châu bán tài nguyên quốc gia cho Trung quốc cũng phải lo sợ vì chính Tổng thống Nam Phi đã thẳng thừng tuyên bố ra cái thâm ý của Trung quốc.

=>     Những cuộc Cách Mạng tại Bắc Phi và Trung Đông làm mất một số nước lớn cung cấp nhiên liệu cho Trung quốc.

=>     Ai cũng hiểu cái thái độ cố chấp ủng hộ của Trung quốc cho Tổng thống Syrie giết dân là do sự cố thủ của Trung quốc giữ lấy nguyên liệu và nhiên liệu của nước này.

=>     Thái độ ủng hộ của Trung quốc cho chế độ hiện hành tại Iran cũng là do mục đích thâu gom nguyên liệu, nhất là nhiên liệu từ Iran.

=>     Phi châu cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu và nhiên liệu cho Hoa kỳ và nhất là cho Âu châu. Âu châu có mối liên hệ truyền thống với Phi châu, nên sự đối kháng của Âu châu có sức mạnh đánh bật Trung quốc ra khỏi Phi châu.

=>     Kinh nghiệm của Nhật bản trước đây: Chính khi chúng tôi đã làm cố vấn Tài chánh cho nhóm Bongo tại Congo Brazyville cách đây 25 năm. Thời ấy,Nhật bản có phong trào đi mua nợ cho những nước nghèo, với mục đích nước này nhượng quyền khai thác nguyên liệu. Khi tôi làm cố vấn cho nhóm Bongo, thì một Công ty Nhật mua nợ và có nhượng quyền khai thác gỗ quý tại khu vực miền bắc Brazaville. Một cuộc Đảo chánh xẩy ra và tân Tổng thống thu lại nhượng quyền khai thác. Công ty Nhật phải cuốn gói ra đi.

 

Thái độ hung hăng và cố chấp của Trung quốc

tại Biển Đông, Trường Sa, Trường Sa

và quần đảo Senkaku / Điếu Ngư                          

 

Thấy bị đe dọa như vậy, Trung quốc chỉ còn cách :

*        Nối kết với Nga, một nước dồi dào về nhiên liệu như dầu hỏa, nhất là khí đốt. Nối kết với một số nước vùng Trung Á có nhiều nhiên liệu và nguyên liệu. Nhưng sự nối kết với Nga không dễ dàng vì Nga, một nước lớn, vốn dĩ cạnh tranh với hàng xóm Trung quốc và không muốn Trung quốc lớn mạnh hơn mình để nắm vùng Trung Á vốn chịu ảnh hưởng như «chư hầu«  của Nga trước đây.

*       Trung quốc chỉ còn một con đường mà họ cảm thấy như mình có thể “lấy thịt đè người«, đó là bành trướng thế lực trấn át tại Vùng Biển Đông. Thực vậy, vùng Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa và quần đảo Senkaku / Điếu Ngư chứa đựng ở dưới mặt nước những nguồn nhiên liệu và nguyên liệu. Thái độ cố chấp, hung hăng của của Trung quốc tại Biển Đông, nhất là cái Lưỡi Bò đỏ chót, có liên hệ đến nguyên liệu và nhiên liệu là như vậy. Ngoài vấn đề nhiên liệu, nguyên liệu, tương lai cung cấp đồ ăn cho khối người khổng lồ Trung quốc là từ Biển. Nếu đồng bằng ở đất liền bị thu hẹp do nhân số tăng, mở kỹ nghệ chiếm mặt bằng và do đó nông nghiệp giảm xuống, thì Biển là lãnh vực khai thác đồ ăn với chiều sâu của Biển và nguồn Hải sản tự sinh dồi dào.

 

Tương lai của Trung quốc bị cô lập hóa

 

         Việc cố thủ đi khai thác nguyên liêu và nhiên liệu một cách bất chính như trường hợp Phi châu và thái độ hung hăng cố chấp của Trung quốc tại Biển Đông đang đưa Trung quốc đến chỗ bị cô lập hóa:

=>              Đối với Liên Âu và Hoa kỳ vì các khối này ngại sợ Trung quốc chiếm đoạt Thị trường các nơi, ngay cả trên lãnh thổ của mình như Trung quốc đã làm trong thập niên qua khi vào được WTO/ OMC

=>     Đối với Phi châu vì Phi châu ý thức chủ đích đào xới nguyên liệu và nhiên liệu của mình một cách bất chính.

=>     Đối với các nước thuộc Đông Nam Á (ASEAN) vì những nước này phải bảo vệ Kinh tế của mình mới bắt đầu phát triển (Mesures de Protection des Industries naissantes)

=>     Nhật và Nam Hàn cũng không để cho Trung quốc khống chế đường Biển, con đường Thương Mại trong vùng Kinh tế Thái Bình Dương gồm những quốc gia quy tụ chung quanh Biển Đông. Hoa kỳ quan tâm đặc biệt đến việc ngăn chặn Trung quốc chủ tâm chiếm Biển Đông và gây khó dễ trong tương lai con đường Thương Mại xuyên Âu-Á và giữa các quốc gia trung Vùng Kinh tế Thái Bình Dương (Zone Economique Pacifique) .

         Khi sử dụng những con đường gian giảo bất chính như hối lộ chẳng hạn để thủ lợi cho mình, thì cách thế ấy trước sau gì cũng lòi ra và bị người khác ghét. Câu hát  bằng tiếng La-tinh để tiễn đưa những người chết: “Quidquid latet, apparebit“  (Điều gì giấu đút tiệm tiến, sẽ hiện ra nguyên hình). Chính Trung quốc chọn con đường để mình bị cô lập hóa.

         Khi mà nguyên liệu và nhiên liệu bị thiếu thốn, thì hệ thống sản xuất Kinh tế bị ngưng trệ !

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 16.10.2012

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link