Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, November 4, 2012

Thế kỷ châu Á mở màn tại Úc


 

Thế kỷ châu Á mở màn tại Úc

Việt Luận



Thủ tướng Úc Julia Gillard

 

200 năm trở lại đây, Úc được coi là một phần đất của vương quốc Anh. Từ một nhà tù đày ải bọn "đầu trộm đuôi cướp", Úc vươn lên thành một quốc gia hùng mạnh nằm trong khối liên hiệp Anh. Ở Úc, cái gì từ Anh cũng được coi là từ mẫu quốc. Thế là, Úc nằm giữa hai nền văn minh cổ kính Ấn Độ và Trung Hoa nhưng chưa bao giờ tự coi mình thuộc về châu Á. Hơn nữa, cho đến năm 1973 nước Úc vẫn chủ trương đất phương Nam này là nơi dành riêng cho người da trắng định cư.

Cho đến nay, Úc vẫn là một "phương Tây" lẻ loi giữa hàng chục nước "phương Đông". Rồi một hôm, Úc bỗng chuyển mình và muốn đưa đất nước này tiến đến "một giai đoạn liên lạc sâu rộng hơn với châu Á". Đó là ý chính của bạch thư do thủ tướng Julia Gillard công bố vào đầu tuần qua.

Trong 320 trang giấy của bạch thư mang tên "Thế kỷ châu Á, Asia Century" chữ xuất hiện nhiều nhất là "cơ hội" (opportunity, opportunities). Cơ hội này trước hết là "cơ hội làm ăn". Châu Á với gần 3 tỷ người tại Ấn Độ và Trung Quốc, cộng thêm hơn nửa tỷ người khác tại Đông Nam Á quả là thị trường lớn cho công ty Úc.

Trong 10 năm vừa qua kinh tế tại châu Á đã nhảy vọt. Thu nhập của người dân tại Ấn Độ và Trung Quốc đã tăng lên gấp đôi. Đây là điều mẫu quốc Anh chỉ làm được sau 50 năm. Hơn nữa, cũng trong 10 năm vừa qua, châu Á tăng lượng hàng hóa sản xuất lên gấp ba lần. Xã hội của người châu Á ngày nay đã thành xã hội tiêu thụ. Người Úc đi Việt Nam, Trung Quốc hay Thái Lan đã thấy bên đó xài đồ đạt không thua gì ở Úc hay ở các nước phương Tây. Ở Trung Quốc ngày nay, cứ 100 nhà thì 80 có máy computer, 60 có lò microwave và 100 nhà thì có 200 máy điện thoại di động. Ở Ấn Độ có 5 triệu người làm việc trong kỹ nghệ đóng xe hơi và có hơn 800 đài truyền hình. Công ty Úc nhìn vào con số mà phát thèm.

Như thế, điều Úc gọi là "thế kỷ châu Á" trước tiên là... thị trường châu Á. Xã hội châu Á ngày nay đã chuyển sang xã hội tiêu thụ và Úc muốn bán hàng hoá sang đó. Hiện nay, nếu lấy thu nhập toàn nước Úc chia cho từng đầu người thì mỗi người chúng ta được $62,000 mỗi năm. Nay mai, Úc bắt được cái mối buôn bán với châu Á thì đến năm 2025 thu nhập của từng người sống ở đất nước phương Nam sẽ tăng lên thành $73,000. Làm thế, thu nhập của người dân Úc sẽ lọt vào nhóm 10 nước có thu nhập cao nhất thế giới. Thủ tướng Julia Gillard không giấu giếm: thế kỷ châu Á không gì hơn là thế kỷ làm ăn thịnh vượng cho Úc.

Để dễ dàng làm ăn với châu Á, bạch thư cho rằng Úc phải tự lột xác thành một xã hội gần với người châu Á. Trường học Úc dạy tiếng châu Á cho học sinh (trong đó được kể ra bao gồm bốn thứ tiếng Trung Hoa, Hindi, Nhật Bản và Indonesia); công ty Úc học hỏi tiếng nói, văn hóa và lối làm ăn của người châu Á; hàng quán, sòng bạc, nơi du lịch Úc thu hút thêm khách hàng đến từ châu Á, vân vân.

Thật sự, dựa trên vị trí địa dư Úc không thể sống như một ốc đảo phương Tây giữa gần 3 tỷ người thấm nhuần văn minh phương Đông. Từ thập niên 1960, thủ tướng Harold Holt đã bừng tỉnh khi nhận ra phương Đông đang chuyển mình ra khỏi lạc hậu. 50 năm sau Harold Holt, một lần nữa nữ thủ tướng Julia Gillard khẳng định: không ai có thể ngăn bước tiến của châu Á nữa. Châu Á sẽ tiến lên vai trò như châu Âu sau cuộc cách mạng kỹ nghệ trong thế kỷ 18 và như Bắc Mỹ sau thế chiến thứ nhì. Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ châu Á.

Nghĩ thế, nước Úc cuống cuồng tự chuyển thành một nước... châu Á. Nếu là châu Á của năm 2025 hay châu Á của Tứ Thư và Ngũ Kinh hay của Mahabharata và Ramayana ngàn xưa thì không nói gì. Ngược lại, rủi ro Úc chỉ khoác lên mình chiếc áo xường xám, nói tiếng Hindi, ăn bốc kiểu Indo... để chào hàng mà thôi thì Úc sẽ không còn giữ được bản sắc.

Thật sự, nhờ có bản sắc "một phương Tây lọt thỏm giữa ngàn phương Đông" mà Úc vẫn còn được nhiều nước châu Á ngưỡng phục. Dường như người Việt chúng ta yêu mến nước Úc có lẽ không phải chỉ vì Úc biết ăn phở hay chấm chả giò với nước mắm mà còn vì xã hội này được tổ chức theo lối sống phương Tây.

Úc không nên bỏ sở trường của mình mà học đòi sở đoản từ thiên hạ.

Việt Luận

 

 

Đất nước đang bước vào thời điểm lịch sử quan trọng


Đất nước đang bước vào thời điểm lịch sử quan trọng

(Phần cuối)

Lê Quế Lâm



Việc kiểm điểm phê và tự phê của cơ quan đầu não Đảng CSVN kể như tạm chấm dứt. Bộ Chính trị đã nhận khuyết điểm và xin Ban Chấp hành Trung ương kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và một thành viên, một Ủy viên của Bộ Chính trị. Tiếp đó, Nguyễn Tấn Dũng -với trọng trách là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, đãnghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của người đứng đầu chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành».

Hiện nay, người dân chưa thể biết được tập thể giới lãnh đạo Đảng CSVN vi phạm những khuyết điểm gì đến nổi phải xin chịu kỷ luật trước toàn Đảng, nhận lỗi trước Quốc hội và toàn dân. Tuy nhiên, đồng bào có thể biết được phần nào mức độ thành khẩn của họ về thực trạng đất nước qua bài viết của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhân ngày Quốc Khánh 2/9 năm 2012. Bài viết xuất hiện đúng 1/2 tháng sau ngày ông Sang tham dự đợt kiểm điểm phê và tự phê kéo dài 16 ngày. Bài viết của chủ tịch nước được báo Tuổi Trẻ đặt tựa đề “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân” được đăng trong số báo ngày 23/8/2012, với lời mở đầu:

Ngày quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt. Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảng khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu không có ngày độc lập ấy?”

Nhà báo Nguyễn Thông nhận xét bài viết: “Nói chung không có gì mới. Phần tình cảm nhiều hơn lý trí, suy nghĩ. Cái phần mở đầu, câu chữ loáng thoáng chập chờn giọng văn kiểu trong bài tập đọc “Tôi đi học” của nhà thơ Thanh Tịnh. Mở đầu một bài viết quan trọng tầm quốc gia, cho hàng triệu người đọc mà lại lả lướt trữ tình như thế thì quả không nên. Không ai cấm chủ tịch nước được quyền bày tỏ nổi lòng, tâm tư của mình nhưng phải trong hoàn cảnh, văn cảnh thích hợp...” Còn nhà báo Trương Duy Nhất “Cứ ngỡ đó là bài làm văn. Một bài quá ư lòng thòng của Chủ tịch nước. Một bản thông điệp nguyên thủ chung chung, khẩu hiệu sáo rổng đến nhàm chán...Một bản thông điệp tập làm văn làm ông mất điểm nhiều sau những ấn tượng tốt đẹp từ “một bầy sâu” đến “ăn hết phần của dân...” (hết trích)

Theo nhận xét của người viết bài này, thì ông TTS đã mượn lời văn tả cảnh để nói lên nổi lòng của mình: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tâm tư này thể hiện rõ trên gương mặt của ông, lúc nào cũng trầm tư, u buồn. Đôi khi cũng có nụ cười, nhưng là cái cười ngượng, chu chát. Cảm xúc về ngày Quốc Khánh đối với một lãnh tụ như ông, từng là Bí thư một thành phố lớn nhất nước, nay là Chủ tịch nước, tức nhiên lúc nào cũng sống động, tràn đầy niềm vui...Ông đi khắp mọi nơi, nông thôn hay thành phố, vào buổi trưa hay lúc nửa đêm, để tìm hiểu cảm tưởng của cán, bộ, đảng viên và nhân dân trong ngày thiêng liêng đó. Ông bắt gặp những gương mặt, được mô tả trong phần sau bài viết của ông “ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó đụng chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện”.

Mang tâm trạng buồn, ông nhìn cảnh vật, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng cũng đìu hiu, ủ rũ...Tiếng chuông chùa vang lên trong canh khuya vắng lặng, càng tăng thêm nổi buồn man mác, làm thức động lương tri con người. Trong khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ vào lúc nửa khuya, còn ông thao thức, trăn trở với câu hỏi da diết: Những gương mặt đó sẽ như thế nào? Những cảnh vật đó sẽ ra sao “nếu không có ngày độc lập ấy?

Có lẽ không riêng gì ông TTS, mà còn rất nhiều người có cùng cảm xúc như ông về ngày Quốc Khánh 2/9 năm 1945. Ngày đó tại quảng trường Ba Đình, nơi tiếng nói sang sảng của ông Hồ Chí Minh khi đọc Tuyên ngôn Độc lập vẫn còn vang vọng trong tâm khảm nhiều người. “Hởi đồng bào cả nước, tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Rồi hơn một năm sau, hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, đồng bào lũ lượt rời bỏ thủ đô, tham gia kháng chiến chống Pháp. Với chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, VN đã đánh bại thực dân Pháp giành được độc lập. Khi đó ông HCM còn sống, nhưng những tinh hoa của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1791 được thay bằng tư tưởng Mao Trạch Đông: đấu tranh giai cấp, hận thù dân tộc. Năm 1975, CSVN chiến thắng đế quốc Mỹ thống nhất đất nước. Thân xác ông HCM vẫn còn quàng tại Hà Nội, lời nói của ông đã được ghi âm, hình ảnh rừng người bao quanh ông ở Ba Đình đã được thu hình, tất cả đã trở thành lịch sử…Nhưng nội dung Tuyên ngôn Độc lập hầu như không còn ai nhắc đến, kể như không có. VN thực hiện đường lối độc tài độc đoán của tên trùm Đỏ khát máu Stalin.

Phải chăng những vấn nạn trên khiến ông TTS có cảm xúc buồn “về ý nghĩa vĩ đại của ngày Độc lập”? Vì thế một câu hỏi luôn da diết xuất hiện trong tâm khảm: dân tộc “sẽ ra sao, nếu không có ngày độc lập ấy”. Xin thưa: nếu không có ngày này thì dân tộc đã được hưởng độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự từ hơn nửa thế kỷ trước.

Ông TTS viết tiếp “Đã có nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nuớc trong suốt 67 năm qua đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng CSVN đã đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những vật dụng xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các bảo tàng viện”. (hết trích)

Người đọc đừng ngạc nhiên khi thấy ông Chủ tịch nước lại cường điệu. Mục đích của ông để chuyển ý vào phần chính của bài viết, vẽ ra bức tranh ảm đạm của đất nước ngày nay. Thật ra ông thừa hiểu, kể từ ngày thành lập nước, Đảng CSVN đã đưa dân tộc đi từ “thất bại” này đến “thất bại “ khác. Kháng chiến chống Pháp thành công với chiến thắng ĐBP, nhưng CSVN chỉ giành được một nửa nước. Sau đó, Bộ Chính trị Đảng Lao động VN (tiền thân Đảng CS) khoá III đã ủy nhiệm TT Phạm Văn Đồng ký công hàm năm 1958, nhằm mua lòng TC, để nhờ đàn anh chi viện, giúp CSBV thôn tính MN. Chiến tranh chống Mỹ vừa chấm dứt, đất nước thống nhất, chiến tranh lại xảy ra với Khmer Đỏ, lại bị đàn anh TC tấn công “dạy cho bài học”. Năm 1990, LX sụp đổ, CSVN lại quay về thần phục và ký hiệp ước với TQ, hậu quả là một phần đất và biển ở Vịnh Bắc Việt rơi vào tay đàn anh TC. Ngày nay, VN dù có chứng cớ chủ quyền hai đảo Trường và Hoàng Sa, nhưng lại kẹt vì công hàm 1958 và sự hợp tác toàn diện giữa CSVN và TC.

Trên đây là thực trạng đất nước trong 67 năm qua. Xin bạn đọc theo dõi tiếp bài viết của ông TTS nhân ngày Quốc Khánh 2/9, để thấy được những vấn nạn lớn của đất nước ngày nay.

“Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước chưa bao giờ đẹp như hôm nay. Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng? Hằng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó đụng chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí nhiều khi chúng ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẩn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng.

“Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói,nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đòi sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”...xuất hiện những con người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”.

“Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

“Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế -xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986)

“Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém, đó là giảm phát.

“Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng-Hải Phòng, Văn Giang-Hưng Yên, Vụ Bản-Nam Định... đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc những đỗ vỡ, kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động... Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn bộ xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

“Dù còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa bao giờ đẹp như hôm nay”. (hết trích)

Báo Tuổi Trẻ ghi nhận bài viết trên, đã nói lên “những cảm xúc đặc biệt” của Chủ tịch nước và đặt tựa đề “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”. Phải chăng cái cảm xúc đặc biệt mà Tuổi trẻ đề cập là Chủ tịch nước TTS đã thức tỉnh, biết xấu hổ với tiền nhân, chớ không còn tự phụ “đỉnh cao trí tuệ loài người”? Ông TTS đã viết “Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước chưa bao giờ đẹp như hôm nay...” và kết thúc bài viết cũng bằng câu “đất nước chưa bao giờ đẹp như hôm nay”. Nhưng suốt bài viết, ông vạch hết khuyết điểm này đến tiêu cực khác, thì làm sao đẹp được! Sở dĩ đất nước chưa bao giờ đẹp như hôm nay, là vì VN đã có một sự thay đổi lớn: giới lãnh đạo dám tự phê bình, biết hổ thẹn, nhận kỷ luật trước Đảng, nhận khuyết điểm trước Quốc hội và nhân dân. Bước kế tiếp sẽ là từ chức hoặc thay đổi thể chế đất nước.

Cuối năm 2005, trong loạt bài tựa đề “Đêm Trước Đổi Mới” báo Tuổi Trẻ có nhắc Báo cáo Chính trị của Đại hội VI ngày 15/12/1986, Đảng CSVN thừa nhận “đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cải tạo Xã hội chủ nghĩa (1975-1985). Cải tạo Xã hội chủ nghĩa ồ ạt đã “lỡ” thực hiện một cách triệt để và toàn diện. Xoá tư hữu, biến mọi thứ thành của chung, tưởng rằng công bằng nhưng không ngờ đã triệt tiêu mọi ham muốn làm ăn, buôn bán. Sự phi lý này đã làm bánh xe lịch sử xì lốp. Phải chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Trong giai đoạn 1980-1985, Đảng lại “sai lầm rất nghiêm trọng trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Cái giá phải trả là đất nước mất thêm hằng chục năm thử thách, xã hội mất đi cơ hội phát triển, bánh xe lịch sử lỡ mất cuộc đua...một cách xót xa”.

Ông Đặng Phong, Trưởng ban lịch sử kinh tế của Viện Kinh tế VN đã chua chát nhận xét “Chúng ta đã lựa chọn một con đường vòng khá dài và tốn kém, mà ban đầu chúng ta vững tin rằng đó là con đường thẳng, ngắn nhất, dễ đi nhất và đi nhanh nhất. Còn cái xa lộ thông thường của qui luật lịch sử thì bị ngộ nhận là con đường vòng nguy hiểm, đầy tai họa và khổ đau. Đổi mới là một cuộc đại uốn nắn lộ trình, tìm lại được xa lộ của qui luật, từ đó cổ xe của chúng ta đi thênh thang, nhanh hơn, đỡ vất vã hơn...Phải nhớ rằng từ sau năm 1975, chúng ta đã có một nửa nước là xứ sở của nền kinh tế thị trường. Gần như toàn bộ miền Nam không chỉ kế thừa nền kinh tế thị trường trước đó mà còn được tiếp sức từ nguồn lực nước ngoài và Việt kiều với khoảng vài trăm triệu USD mỗi năm”. Việt kiều gởi hang về cho than nhân trong nước. Tiền tạo thêm vốn cho kinh doanh hoặc làm tăng sức mua của xã hội. Hàng hóa từ ngoài vào như một nguồn tiếp xúc cho thị trường tự do. Tuy đóng góp một phần nhỏ, nhưng đã vực dậy nền kinh tế trì trệ do các cơ sở quốc doanh tạo ra.

Đến Đại hội XI (2011) Đảng CSVN vẫn kiên trì đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa…Nhưng cho biết “đã có một sửa đổi quan trọng về đặc trưng cơ bản của Chủ nghĩa xã hội. Dự thảo cương lĩnh Đại hội đề ra: CNXH “dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất”, được sửa đổi “dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” được Đại hội thông qua với sự đồng ý của 2/3 đại biểu. Phải chăng các tập đoàn và tổng công ty như Vinashin, Vinalines, Vinacomin, PVN, EVN...tiêu biểu cho “lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ” làm chủ đạo để xây dựng XHCN? Các cơ sở quốc doanh này đều làm ăn lỗ lã nặng nề, và chỉ hơn một năm sau, toàn thể Bộ Chính trị nhận khuyết điểm và xin Ban Chấp hành Trung ương Đảng kỷ luật tập thể Bộ Chính trị. Thủ tướng đã nhận lỗi về tất cả những yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành. Cho thấy việc xây dựng những cơ sở vật chất làm nền móng để tiến lên XHCN, dù đã có những thay đổi lớn trong cương lĩnh song vẫn thất bại.

Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng CS, cũng không thể kỷ luật tập thể Bộ Chính trị, vì đó là những tinh hoa, ưu tú nhất của Đảng. Vì thế việc điều hành đất nước vẫn nằm trong tay Bộ Chính trị, nhưng họ phải từng bước tháo gỡ dần những bế tắc. Trước tiên, yêu cầu Trung ương Đảng biểu quyết thông qua quyết nghị của BCT: từ bỏ việc đưa đất nước tiến lên XHCN. Vì kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh, mô hình XHCN hoàn toàn không phù hợp với VN.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn duy trì Đảng CSVN hoặc đổi tên Đảng, cần phải thuyết phục BCT nhìn nhận những sai lầm trầm trọng mà các lãnh tụ Đảng đã theo đuổi trong quá khứ. Đảng sẽ chết nếu Đảng không trao quyền cho nhân dân. Tập thể Bộ Chính trị đồng nghĩa với Đảng đã có khuyết điểm và yếu kém lớn, thì Đảng CSVN không thể giành độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, đề nghị quốc hội xóa bỏ gấp điều 4 trong Hiến pháp.

Phần Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đây là thời cơ thuận lợi giúp ông thành lập một đảng mới để đổi mới đất nước. Đó là điều mà cựu lãnh tụ LX Gorbachev hối tiếc, đã không thành lập đảng Dân chủ hồi tháng 4-1991, khi trả lời phỏng vấn của báo The Guardian mới đây. Ông TTS sẽ giúp xây dựng một nước VN tương lai tốt đẹp hơn nước Nga thời hậu CS dưới sự lãnh đạo của Putin hiện nay. Trong giai đoạn chuyển tiếp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục điều hành đất nước. Đảng quyết định không thi hành kỷ luật đối với ông, thì chính phủ cũng phải miễn tố và phóng thích tất cả những ai bị ghép tội vì vạch trần những khuyết điểm của những người lãnh đạo nhà nước.

Lỗi lầm của một cá nhân hoặc tập thể không quan trọng bằng sự cường thịnh của đất nước và hạnh phúc của đồng bào. Chúng tôi cầu mong Bộ Chính trị Đảng CSVN sẽ có những quyết định lịch sử, dù phải hy sinh quyền lợi cá nhân. Ngày về nước lãnh đạo Cách mạng, ông HCM đã hứa với nhân dân là “sẽ đặt lợi ích của giai cấp dưới quyền lợi của dân tộc”.

Lê Quế Lâm (31-10-2012)

 

 

 

Tàu: một Tân Đế quốc thực dân hay thời Xuân Thu Chiến quốc


Tàu: một Tân Đế quốc thực dân hay thời Xuân Thu Chiến quốc

Nguyễn văn Trần



Từ nhiều năm nay, tuy tự thừa nhận là quốc gia đang phát triển, Tàu không dấu thái độ hóng hách, kiêu căng do mức phát triển với 2 số liên tục suốt trong thời gian dài . Nhiều nhà phân tách đã không bỏ qua trường hợp nước Tàu để tìm hiểu và dự đoán tương lai .

Người ta đang theo dỏi thế giới thay đổi sâu xa và khủng hoảng tài chánh sẽ góp phần làm gia tăng ảnh hưởng của tốc độ sự vận hành của thế giới . Sức mạnh kinh tế của những quốc gia kỷ nghệ phát triển xưa đang suy thoái để nhường chổ cho những nước đang phát triển, trong đó có Tàu đứng đầu . Tình hình này, theo nhiều nhà kinh tế học, sẽ còn kéo dài trong nhiều năm nữa . Tuy nhiên cũng có không ít những nhà kinh tế học khác lại quả quyết sự cầm cự của những quốc gia đang phát triển chống lại tình trạng khủng hoảng chung sẽ không kéo dài được lâu . Trong số những nhà kinh tế này, Ông Nouriel Roubini, nhà chuyên môn dự báo những thảm họa quốc gia, hồi tháng 4 vừa qua, đã lên tiếng nhận xét về mô hình phát triển trung quốc. Theo ông,«Trung quốc không thể đứng vững được lâu hơn và sẽ sụp đổ, rất có thể sau năm tới 2013». Vì không có một nước nào trên thế giới có thể sản xuất để đem 50 % sản lượng nội địa đưa vào đầu tư mà không tạo ra những quá tải đối với khả năng sản xuất và không đẻ ra những tín dụng xấu .

Ông Francis Fukuyama, nhà chánh trị học, xã hội học và triết học của mỹ, tiên đoán một cách quả quyết hơn « Tôi nghĩ cái hệ thống ở Tàu sẽ nổ tung một lúc nào đó » vì theo ông, « tương lai nước Tàu không có gì chắc chắn . Sự cứng rắn của hệ thống chánh trị càng ngày sẽ đụng chạm mạnh với sự nhanh chóng của tin tức qua những mạng xã hội » . Mà đụng chạm thì phải bùng vở thôi .

Như trong năm rồi, tai nạn xe lửa cao tốc xảy ra, nhà cầm quyền Bắc kinh theo thói quen dấu dân chúng, cho chôn dấu tất cả vết tích của vụ việc . Nhưng dân chúng dồn dập đưa tin với cả đầy đủ hình ảnh . Nhà cầm quyền Bắc kinh sau cùng phải thừa nhận sự thật tệ hại đó .

Nhà cầm quyền ở Bắc kinh cũng biết rỏ những khó khăn và nguy hiểm sanh tử cho chế độ độc tài của họ nên họ nổ lực tìm giải pháp khắc phục để tồn tại .

Chúng ta sẽ xem qua những khó khăn và khả năng đối phó để duy trì chế độ độc tài của Bắc kinh . Trong bài này, chúng ta thử thấy Tàu có phải là một thứ Đế quốc thực dân kiểu mới hay không ?

Chánh sách đối ngoại của Bắc kinh

Chưa bao giờ chỉ trong hai năm mà những trao đổi ngoại thương giửa Tàu và Phi châu gia tăng lên tới 89 %, một kỷ lục mới . Bắc kinh, đồng thời, cũng tuôn hàng hóa, có chất độc nhiều ít không biết, tràn ngập qua Phi châu đen . Mục đính là để thu về nhiên vật liệu cung ứng cho nhu cầu sản xuất của Tàu . Để bảo đảm nguồn năng lượng, Bắc kinh còn đầu tư mạnh vào các nước Phi châu có dự trử nhiên liệu để khai thác . Khi đẩy mạnh chánh sách này, Bắc kinh không quên trấn an các quốc gia Phi châu, vốn cựu thuộc địa của Tây phương, là Bắc kinh không bao giờ muốn thiết lập chế độ thực dân như trước kia .

Tại Diển đàn Hợp tác kỳ 4 giửa Tàu và Phi châu tổ chức ngày 19 tháng 7 tại Bắc kinh, Hu Jintao tuyên bố để xác định chánh sách đối ngoại của Tàu « Tàu là một trong những nước lớn nhứt của thế giới đang phát triển, và Phi châu là một lục địa lớn gồm nhiều quốc gia . Nhơn dân Trung hoa và phi châu thắc chặc những mối quan hệ bình đẳng, thật lòng, hữu nghị và cùng yểm trợ nhau trong sự phát triển chung » .

Năm 1979, Đặng Tiểu Bình thay đổi đường lồi cộng sản hướng về phát triển kinh tế . Ngày nay, nhà cầm quyền ở Bắc kinh giử ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế . Để bảo đảm nguồn nhiên liệu không bị gián đọan, Bắc kinh không ngần ngại quan hệ ngoại giao với những chánh quyền độc tài và tham những . Họ còn yểm trợ những chánh quyền này như trước đây các chánh quyền thực dân đã dựng lên và nuôi dưởng . Vì những chánh quyền này còn thì nguồn cung cấp nhiên liệu còn . Vã lại, xưa nay, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, có gì lạ !.

Hơn nữa, cộng sản vốn là con đẻ của Đế quốc tư bản . Vào đầu thế kỷ trước, các công ty lớn các nước tư bản thắc chặc mối quan hệ với giới lãnh đạo các nước có tài nguyên thiên nhiên như dầu hỏa, khoán sản, cao su, …

Phải chăng thật lòng không muốn dẩm lên những bước chân thực dân củ mà Hu Jintao đã cho các nước Phi châu quan hệ với Tàu vay 20 tỷ đô-la trong 3 năm để mở mang nông nghiệp, hệ thống hạ tần cơ sở và xí nghiệp nhỏ . Lúc nào giới chức Bắc kinh cũng tuyên bố là không hề can thiệp vào nội bộ các quôc gia bạn . Theo dự tính, tới năm 2035, Tàu phải cần 11, 6 triêu thùng dầu / ngày và qua 5 năm sau, mức tiêu thụ sẽ tăng lên bằng Huê kỳ trong lúc đó, Tàu chỉ có khả năng tự túc nhiên liệu cho ¼ nhu cầu . Nhu cầu nhiên liệu ngày trở thành sanh tử cho giới lãnh đạo Bắc kinh . Ông Le Yucheng, Thứ trưởng Ngoại giao, không dấu diếm mối lo ngại lớn của nhà cầm quyền « Bổn phận của nước Tàu là đảm bảo một đời sống đàng hoàng cho 1, 3 tỷ người dân của mình . Quí vị có thấy đó là cái thách thức vô cùng lớn không và là cái áp lực vô cùng nặng nề đè lên chánh phủ không . Tôi không thấy có gì khác là đáng kể hơn . Tất cả phần còn lại chỉ phụ thuộc vào cái ưu tiên quốc gia này » . Tức vì nhu cầu nhiên vật liệu để phát triển, Tàu phải tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước Phi châu, Nam Mỹ, khối cựu Liên-xô và Trung đông . Đó là mục tiêu hàng đầu của chánh sách đối ngoại hiện nay .Mục tiêu ngoại giao này, để bảo đảm nguồn cung cấp không bị gián đoạn vì nội chiến, sự thay đổi chế độ ở đó, được đảng và Chánh phủ, Ngân hàng Nhà nươc và cả Quân đội yểm trợ . Riêng về nguồn dầu hỏa, Chánh phủ chỉ thị các Công ty Quốc doanh gấp rút đầu tư khai thác các mỏ dầu ở ngoại quốc .

Việc đầu tư luôn luôn đi kèm với những khoản cho vay rẻ, giúp xây dựng cơ sở thể thao, giải trí, những bửa chiêu đải huy hoàng tại Bắc kinh và cả quân sự nửa . Các nước như Angola, Venezuela, Soudan, Zimbabwe đều được hưởng những lợi lạc này khi bắt tay « làm ăn » với Tàu . Họ nhận từ 2 tỷ tới 20 tỷ đô-la vay rẻ hoặc sự yểm trợ quân sự .

Như vậy làm sao hiểu được lời tuyên bố của Hu Jintao là Tàu ngày nay không thiết lập chế độ thực dân như Tây phương trước đây khi họ ngày càng can thiệp sâu vào nội tình các nước cung cấp nhiên vật liệu cho họ để bảo vệ quyền lợi của họ nơi đây ? Trong mục đích này, Tàu không ngần ngại yểm trợ những chế độ độc tài, tham những vừa quân sự vừa ngoại giao cấp Liên Hiệp quốc . Iran là một trường hợp cụ thể . Với những nước khác, Bắc kinh chủ trương bắt lấy vài người trong Chánh quyền hoặc cả Chánh quyền bằng mua chuộc . Những người trong Chánh quyền thì giàu nhờ tiền của Tàu nhưng dân chúng thì không hưởng được gì qua cách ngoại giao này . Như ở Angola, người dân chỉ sống không quá 2 đô-la / ngày . Ở Zimbabwe, khi ủng hộ chế độ độc tài đàn áp dân của Robert Mugabe, giúp huấn luyện và tổ chức an ninh để bảo vệ chế độ, Tàu nhằm tậu đất đai trồng trọt và khai thác khoán sản, đá quí . Cách Tàu có mặt ở Phi châu không khác gì họ đang tung hoành ở Việt nam qua đảng cộng sản hà nội . Đảng viên cộng sản giàu có nhờ bán đất đai, khoán sản cho Tàu trong lúc đó dân chúng Việt nam ngày càng nghèo thêm . Đất nước sẽ không còn của Việt nam nữa .

Tàu có phải Đế quốc thực dân kiểu mới ?

Tổng thống Nam Phi nhận định rỏ « cách ngoại giao của Tàu như vậy không thể tồn tại được về lâu về dài ».

Theo báo cáo của Ủy Ban Phát triển Âu châu, Tàu đổ xô đầu tư vào Phi châu, khai thác đất đai nông nghiệp, khoán sản, xây dựng hạ tầng cơ sở, …cho mọi người cảm tưởng Phi châu đang hưởng phúc lợi . Bắc kinh đang giúp giựt dậy nền kinh tế Phi châu và Phi châu bắt đầu phát triển . Năm 2005, một nghiên cứu khác đưa ra một hình ảnh Phi châu tương phản . Mười bốn nước sản xuất dầu hỏa và khoán sản bán cho Tàu có được thặng dư về ngoại thương . Ba mươi nước khác, trái lại, buôn bán bị thua lô vì thị trường của họ tràn ngập hàng hóa tiêu dùng rẻ tiền của Tàu, giết chết những nhà sản xuất nội địa . Đây cũng là hình ảnh của Việt nam ngày nay .

Trong trao đổi giửa Tàu và Phi châu, cái hố ngăn cách giửa nước được và nước thua thiệt ngày càng thêm khoét sâu và rộng ra không tránh khỏi gây ra ở đây đó sự bất mản trong dân chúng . Bản báo cáo kết luận « Với đa số các quốc gia Phi châu, lời tuyên bố của nhà lãnh đạo Bắc kinh đem lại hi vọng rất lớn, nhưng thực tế chẳng có gì hết vì không tạo ra được những điều kiện phát triển thật sự » nhằm phúc lợi cho dân chúng vốn nghèo đói triền miên của vùng kém mở mang .

Khi Tàu tới Phi châu hay những nơi khác chỉ nhằm tìm nguyên vật liệu, ủng hộ những chế độ độc tài tham nhũng địa phương để sai khiến chúng bảo vệ quyền lợi của mình, không nghĩ tới quyền lợi thật sự của dân chúng ở những nơi đó thì cách ứng xử này không thể bênh vực cho Tàu không phải là Đế quốc thực dân giống như các thế lực thực dân Tây phương trước kia .

Riêng ở Việt nam, Tàu kết hợp với đảng cộng sản Hà nội thành một thế lực thực dân kiểu mới đàn áp, bốc lột nhơn dân Việt nam cực kỳ dã man, cướp của dân tới từng cộng rau muống cuới cùng . Thế lực mới này, không có tên nào khác chính xác hơn để gọi, đó là bọn hán ngụy .

Nguyễn văn Trần

_______________________________________________________

*** Những số liệu và trích dẩn mượn ở tác giả Micheal T. Klare, Le Monde Diplmatique, số 9/2012, Paris

 

 

Phổ biến Bạch Thư về Nước Úc trong Thế Kỷ Châu Á


 

 

 

Phổ biến Bạch Thư về Nước Úc trong Thế Kỷ Châu Á

 

Ngọc Hân


Thủ tướng Úc Julia Gillard

Sydney, - Ngày chủ nhật vừa qua tại Viện Nghiên Cứu Chính Sách ‘The Lowy Institute’ ở Sydney, Thủ tướng Julia Gillard đã phổ biến Bạch Thư về Nước Úc Trong Thế Kỷ Châu Á - Australia in the Asian Century Whiter Paper - nhằm trình bày lộ trình cho Australia khai thác sự phát triển của Châu Á để biến Australia trở nên giàu mạnh hơn trong vòng 15 năm sắp tới.

Tài liệu này dài 300 trang và do một nhóm chuyên viên soạn thảo từ đầu năm nay 2012. Tiến sĩ Ken Henry, Cựu Tổng Thư Ký Bộ Ngân Khố Australia và là một kinh tế gia có tiếng, đã làm trưởng ban soạn thảo. Điều này giải thích trọng tâm về mặt kinh tế tại Châu Á của Bạch Thư.

Tuy rằng chính phủ Lao Động Gillard dự trù sẽ phổ biến trong năm 2013 một Bạch Thư khác về an ninh quốc phòng trong Vùng Châu Á Thái Bình Dương, văn phòng Thủ tướng Julia Gillard lo ngại Bạch Thư 2012 thiếu vắng vai trò của Hoa Kỳ, nên bản thảo Bạch Thư đã phải được điều chỉnh và bổ túc khi ông Allan Gyngell, Tổng giám đốc Cơ quan Thẩm định Tình báo Quốc gia - Office of the National Assessment - và là một chuyên viên về an ninh, được bổ sung vào Ban soạn thảo. Sự kiện vai trò của Mỹ phút chót mới được ghép vào văn bản Bạch Thư có lẽ không làm hài lòng Washington.

Trong “Lời Tựa” của Bạch Thư, Thủ tướng Julia Gillard nói rằng Thế Kỷ 21 mang lại sự trỗi dậy của Châu Á, bất kể là những gì khác mà Thế Kỷ này có thể đem lại.

Theo bà Julia Gillard, sự chuyển biến của khu vực Châu Á thành một nguồn lực kinh tế của thế giới là một sự chuyển biến chẳng những không thể chặn lại được, mà còn diễn ra ở một tốc độ nhanh chóng. Trong thế kỷ này, khu vực mà nhân dân Australia sinh sống sẽ là nơi mà phần đông tầng lớp trung lưu của thế giới cư ngụ. Khu vực Châu Á sẽ là nơi sản xuất hàng hóa và dịch vụ lớn nhất trên thế giới và là nơi tiêu thụ lớn nhất những hàng hóa và dịch vụ này. Lịch sử cho thấy rằng khi sức nặng kinh tế dịch chuyển, thì sức nặng chiến lược cũng dịch chuyển.

Bà Julia Gillard nói:
 

Châu Á sẽ là nơi cư ngụ của tầng lớp trung lưu lớn nhất thế giới...

Thủ tướng Australia Julia Gillard

"Châu Á sẽ là nơi cư ngụ của tầng lớp trung lưu lớn nhất thế giới. Australia sẽ phải cạnh tranh với Hoa Kỳ, với các nước Châu Âu về mặt sản xuất hàng hóa và dịch vụ có phẩm chất cao để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của Châu Á. Australia phải tận dụng vị trí địa dư gần gũi với vùng này."

Hình ảnh quen thuộc của Châu Á nghèo khổ trước kia sẽ không còn đúng với thực tế trong vòng thập niên sắp tới. Sự phồn thịnh của Châu Á đòi hỏi Australia phải có một kế hoạch rõ ràng để khai thác cơ hội kinh tế mới và đối phó hữu hiệu với các thử thách. Thủ tướng Julia Gillard nói tiếp:

"Bạch Thư này phác họa kế hoạch dài hạn, thảo luận những chính sách để đưa đẩy Nước Úc vào vị thế nắm bắt những cơ hội của Thế Kỷ. Những chính sách mới nầy sẽ thay đổi nước Úc và sẽ giúp nước Úc có khả năng và kiến thức về Châu Á."

Bạch Thư vạch ra mục tiêu cho Australia trong 13 năm tới đến năm 2025 để bảo đảm nuoc Úc sẽ thực hiện được ước vọng và cạnh tranh hiệu quả trong khu vực châu Á, bao gồm các kỳ vọng chính sau đây:

Vào năm 2025, tổng sản lượng nội địa GDP sẽ nằm trong nhóm 10 quốc gia đứng đầu thế giới, từ vị trí thứ 13 hiện nay. Australia hiện có dân số 23 triệu và hi vọng lợi tức bình quân theo đầu người sẽ gia tăng từ 62 ngàn đô la Úc trong năm nay 2012 lên 70 ngàn đô la Úc, tương đương với 72 ngàn đô la Mỹ, vào năm 2025.

Vào năm 2025, hệ thống giáo dục tại Australia sẽ đứng vào nhóm 5 quốc gia dẫn đầu, và 10 Viện Đại học Úc sẽ vào nhóm 100 đại học đứng đầu thế giới. Hiện nay, Australia có 19 viện đại học trong nhóm 400 viện đại học đứng đầu thế giới, trong số này có 8 viện đại học trong số 200 viện đại học đứng đầu thế giới, và 6 trong số 100 viện đại học đứng đầu thế giới, theo bảng xếp hạng toàn cầu của The Times University Rankings.

Sáu viện đại học Úc nổi danh này là: Viện Đại Học Melbourne, Viện Đại Học Quốc Gia Uc ANU tại Canberra, Viện Đại Học Sydney, Viện Đại Học Queensland ở Brisbane, Viện Đại Học New South Wales ở Sydney và Viện Đại Học Monash ở Melbourne.

Trên toàn cầu, Australia sẽ được xếp vào nhóm 5 quốc gia dễ giao dịch kinh doanh nhất và hệ thống sáng tạo của Úc sẽ được xếp vào 10 quốc gia dẫn đầu thế giới.

Chương trình giảng dạy ngôn ngữ nước ngoài ưu tiên sẽ gồm: tiếng Mandarin Quan thoại, tiếng Hindi Ấn độ, tiếng Bahasha Indonesia và tiếng Nhật.

Giới lãnh đạo thương nghiệp Australia sẽ có nhiều kiến thức và khả năng châu Á hơn, với một phần ba thành viên quản trị của 200 công ty và các cơ quan Liên bang hàng đầu chính thức của Úc sẽ có kinh nghiệm và kiến thức sâu sắc về châu Á.

Mạng lưới ngoại giao của Australia sẽ đặt nền móng rộng khắp châu Á, hỗ trợ mạnh mẽ và sâu rộng hơn, sự liên minh với các quốc gia châu Á. Úc sẽ đạt quan hệ ngoại giao toàn diện hơn với các quốc gia trọng yếu trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật và Hàn Quốc - và sẽ mở rộng ngoại giao với các nước khác, từ Mông Cổ đến Việt Nam và các nước khác nữa.

Ở thế đối lập, Liên Đảng Tự Do Quốc Gia ủng hộ một cách tổng quát các hoài bão và kỳ vọng của chính phủ Lao Động như đã thể hiện qua Bạch Thư mà Thủ tướng Julia Gillard vừa phổ biến.

Lãnh tụ Tony Abbott cũng nêu lên những nét chính trong chính sách của Liên Đảng Tự Do Quốc Gia, trong thế chính quyền cũng như khi ở thế đối lập.

Cá biệt, ông Tony Abbott đã nhắc lại chính sách ngoại thương mà Phó thủ tướng kiêm Lãnh tụ Đảng Quốc gia John McEwen đã mở đầu khi phát động giao thương với Nhật Bản hồi đầu thập niên 1950. Cũng vào đầu thập niên 1950, ngoại trưởng Percy Spender trong chính phủ bảo thủ Robert Memzies của Australia đã có sáng kiến thiết lập chương trình học bổng Colombo để huấn luyện ở cấp đại học tại Australia hàng chục ngàn sinh viên ưu tú từ Đông Nam Á, kể cả từ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày nay, ảnh hưởng của chương trình học bổng Colombo vẫn còn được nhìn thấy tại các thủ đô Đông Nam Á. Tại Jakarta chẳng hạn, ngoại trưởng Indonesia Tiến sĩ Marty Netalagewa đã theo học bậc hậu-cử-nhân tại Viện Đại Học Quốc Gia Úc ANU.

Ông Tony Abbott nói:

Tôi nghĩ chúng tôi coi trọng Châu Á hơn là chính phủ Lao Động...

Ông Tony Abbott

"Chúng tôi Liên Đảng Tự Do Quốc Gia coi trọng Châu Á. Tôi nghĩ rằng chúng tôi coi trọng Châu Á hơn là chính phủ Lao Động. Vì vậy mà tôi thường phát biểu rằng Australia cần nhiều Jakarta và ít Geneva trong chính sách đối ngoại của chúng ta."

Theo ông Abbott, trong thập niên 1960, khoảng 40% học sinh Úc Châu học một ngoại ngữ trong khi ngày nay chỉ có 10% học sinh tại Austrlaia học một ngoại ngữ. Vì vậy ông Tony Abbott đã phổ biến chính sách của Liên Đảng hồi năm 2011 nhằm tái lập sĩ số học ngoại ngữ trở lại mức 40% tại Australia.

Tuy nhiên, lãnh tụ đối lập Tony Abbott chỉ trích chính phủ Julia Gillard là đã nói nhiều về lý thuyết và kỳ vọng nhưng lại không có chính sách cụ thể và nhất là không có ngân sách quốc gia để thực thi những chính sách này:

"Chính phủ đáp ứng với chính sách của Liên đảng về Châu Á là điều tốt, nên Liên Đảng ủng hộ Bạch Thư một cách tổng quát. Bạch Thư có nhiều kỳ vọng và đáng được khen ngợi, nhưng lại không có chính sách cụ thể và chắc chắn là không có cam kết gì về ngân sách để thực hiện.”

Thủ tướng Julia Gillard nói rằng mọi công dân Úc, các giới chức thương nghiệp, giáo dục, kỹ thuật, truyền thông…tức là mọi giai tầng xã hội Úc Châu – cho không phải chỉ có chính phủ – đều nên đóng góp vào việc thực hiện những kỳ vọng mà Bạch Thư “Nước Úc Trong Thế Kỷ Châu Á” đã ghi nhận và nêu lên. Nói chung, các giới bên ngoài chính trường cũng đã lên tiếng ủng hộ Bạch Thư này.

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link