Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, November 26, 2012

Philippines kêu gọi quân đội bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông


 

Chủ nhật 25 Tháng Mười Một 2012

Philippines kêu gọi quân đội bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông


Soái hạm hiện nay của hải quân Philippines là một chiếc tàu tuần tra cũ của lực lượng tuần duyên Mỹ được mua lại vào năm 2011.,

Soái hạm hiện nay của hải quân Philippines là một chiếc tàu tuần tra cũ của lực lượng tuần duyên Mỹ được mua lại vào năm 2011.,

REUTERS/Philippine Navy Handout

Thanh Phương


Trong một tuyên bố đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao Philippines hôm qua, 24/11/2012, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã kêu gọi các lãnh đạo quân sự tương lai của nước này phải « kiên định lập trường » trong mọi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trên Biển Đông (Manila gọi là Biển Tây Philipines).

Ông del Rosario đã tuyên bố như trên khi nói chuyện với các học viên Học viện Quân sự Philippines hôm thứ sáu vừa qua. Đây là trường đào tạo những sĩ quan chỉ huy cho các binh chủng quân đội Philippines. Ngoại trưởng Philippines khẳng định: « Cái gì của chúng ta là của chúng ta và chúng ta phải đứng lên để bảo vệ những gì thuộc về chúng ta. ». Trong bài nói chuyện đó, ông del Rosario đã nêu lên những thách thức mà Philippines phải đối mặt trong việc bảo vệ những đòi hỏi chủ quyền của nước này trên Biển Đông.

Philippines là một đồng minh rất thân cận với Hoa Kỳ, nhưng quân đội được trang bị rất kém của nước này khó mà đương đầu với sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Soái hạm hiện nay của hải quân Philippines là một chiếc tàu tuần tra của lực lượng tuần duyên Mỹ, đã có từ 45 năm nay, mà Manila vừa mua lại vào năm ngoái. Theo tin của nhật báo Philippines Daily Inquirer hôm nay, 25/11, trong năm 2014, có thể là lực lượng tuần duyên Philippines sẽ mua thêm 12 tàu tuần tra từ Nhật Bản. Từ năm 1990 cho đến nay Tokyo vẫn giúp Manila hiện đại hóa lực lượng tuần duyên Philippines.

Một phát ngôn viên của lực lượng tuần duyên Phillipines hôm nay vừa tuyên bố là chiếc tàu tuần tra BRP Pampanga đang « được sẵn sàng triển khai » đến vùng đảo Scarborough trên Biển Đông. BRP Pampanga là một trong các tàu của Philippines tháng 4 vừa qua đã đối đầu với tàu Trung Quốc ở khu vực đảo Scarborough, mà Bắc Kinh gọi là Hoàng Nham và khẳng định chủ quyền. Chiếc tàu này hiện chỉ chờ lệnh của Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Philippines là khởi hành ngay trở lại khu vực này.

Giữa tháng sáu vừa qua, tổng thống Bengnino Aquino đã ra lệnh rút các tàu Philippines ra khỏi khu vực Scarborough, với lý do chính thức là do thời tiết xấu và cho tới nay chưa có tàu nào quay trở lại khu vực này. Hôm thứ sáu vừa qua, Ngoại trưởng Albert del Rosario khẳng định là hiện Trung Quốc vẫn duy trì ba chiếc tàu ở khu vực Scarborough.

Chính phủ Manila tỏ thái độ kiên quyết trên vấn đề chủ quyền Biển Đông vào lúc mà Trung Quốc bị các nước Philippines, Việt Nam và Đài Loan phản đối kịch liệt sau khi Bắc Kinh phát hành một hộ chiếu mới trên đó có in bản đồ mang tính áp đặt chủ quyển lãnh hải trên Biển Đông. Philippines cũng là quốc gia đã đề ra sáng kiến mở một cuộc họp riêng với ba nước khác có tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc, đó là Việt Nam, Malaysia và Brunei. Bốn nước này sẽ họp lại vào ngày 12/12 tới.

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Thấy gì qua chuyến công du Đông Nam Á của tổng thống Obama?


 

23/11/12 |
Thấy gì qua chuyến công du Đông Nam Á của tổng thống Obama?

Thấy gì qua chuyến công du Đông Nam Á của tổng thống Obama?



Thanh Quang: Thưa ông Trần Bình Nam, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vừa hoàn tất chuyến công du Đông Nam Á – chuyến đi nước ngoài đầu tiên của ông kể từ khi ông tái đắc cử tổng thống. Theo ông chuyến thăm Á Châu của Tổng thống Obama lần này có ý nghĩa gì?

Trần Bình Nam (TBN): Vừa rồi, sau khi Tổng Thống Barack Obama tái đắc cử thì ông đi công du Châu Á. Cuộc công du này cho chúng ta thấy một điều là Tổng Thống Obama đặt trọng tâm chính sách ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ trong những năm tới vào Châu Á-Thái Bình Dương. Vừa đắc cử, và trong khi trong nước đang có nhiều vấn đề cần quan tâm như vụ Benghazi được khơi lại, vụ từ chức của ông giám đốc Trung Ương Tình Báo David Petraeus, vụ Hamas và Do Thái pháo kích và oanh kích nhau qua biên giới Gaza thế mà ông vẫn đi chứng tỏ – như tôi đã nói ở trên – là ông đặt sự quan tâm về Đông Á trong những năm tới. Và khi nói tới Đông Á thì chúng ta hiểu tổng thống quan tâm đến sự bành trướng của Trung quốc tại Châu Á-Thái Bình Dương.
Chúng ta cũng thấy cái đặc biệt khác là mặc dầu nghị trình của Đại Hội 18 Đảng cộng sản Trung Quốc đã định sẽ khai mạc ngày 8/11 tức 2 ngày sau ngày bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, nhưng sự xuất hiện của tập thể lãnh đạo mới tại Trung Quốc cũng là điều làm cho Tổng Thống Obama quan tâm. Cho nên tôi nghĩ chuyến đi này, ngoài những công tác đã xác định liên quan tới những nước mà ông sẽ thăm viếng thì còn có hàm ý nhắn gởi những người lãnh đạo mới của Trung Quốc về đường lối của Hoa Kỳ.


Thanh Quang: Như vậy thưa ông, sự nhắn gửi đó của Hoa Kỳ dành cho Bắc Kinh là như thế nào ạ?

TBN: Trước khi đi vào nội dung câu hỏi của ông, tôi xin nói qua những nét đặc biệt của Đại Hội 18 của Đảng cộng sản Trung Quốc sau khi đã bế mạc. Nét đặc biệt không phải là ở hai nhân vật lãnh đạo mới, vì hai nhân vật lãnh đạo là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường thì đã được Đảng cộng sản Trung Quốc chấm định 5 năm rồi, nhưng dàn lãnh đạo lần này của Ban Thường Vụ Chính Trị Bộ thay vì 9 người thì họ chọn 7 người mà thôi, tức là nó gọn gàng nhanh chóng trong việc lấy quyết định hơn. Và trong 7 người đó, ngoài 2 ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường 5 người mới là những nhân vật nói chung còn trẻ dày kinh nghiệm về lãnh đạo và cai trị, trình độ học vấn nghiêm túc, đặc biệt về chuyên môn thì có một vị nắm vững hiểu biết về vấn đề vũ khí và kỹ thuật không gian. Nét đặc biệt thứ hai là bài diễn văn nhậm chức ngắn nhưng rất đầy đủ và nhiều ý tứ của ông Tập Cận Bình cho ta thấy Trung Quốc là một địch thủ đáng ngại của Mỹ.

Trong bối cảnh đó, chuyến đi của Tổng Thống Obama là một nhắn nhủ với Trung Quốc rằng quan hệ giữa hai nước sẽ có những vấn đề mà nên cùng nhau đem lý trí để giải quyết thì mới tốt cho nền hòa bình thế giới.

Thanh Quang: Thưa ông, còn chuyến thăm 3 nước Đông Nam Á của Tổng Thống Obama , tức gồm Thái Lan, Miến Điện và Campuchia, thì ông nghĩ nước nào là quan trọng nhất và lý do tại sao?

TBN: Trong 3 nước Thái Lan, Miến Điện và Cambodia mà Tổng Thống Obama đã tới tôi nghĩ việc thăm viếng Miến Điện là quan trọng nhất mặc dù ông chỉ dừng lại tại thủ đô cũ của Miến Điện trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Tại sao? Trước hết, Thái Lan là một đồng minh lâu dài của Hoa Kỳ cho nên trong một chuyến thăm viếng nhiều nước Đông Nam Á như vậy ghé lại một chút thăm bà thủ tướng trẻ tuổi Thái Lan để gắn chặt thêm tình thân giữa hai nước, và đồng thời làm Thái Lan yên tâm trước áp lực quân sự của Trung quốc trong vùng cũng là nhất cử lưỡng tiện. Quay qua Cambodia thì Tổng Thống Obama đến Cambodia tuy có gặp thăm nhà lãnh đạo Hun Sen nhưng chuyến đi chính yếu là để tham dự hai hội nghị thượng đỉnh, đó là Hội nghị thượng đỉnh Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á với Hoa Kỳ và hội nghị thứ hai là hội nghị Đông Á.

Thành ra chuyến đi Miến Điện là quan trọng nhất. Miến Điện là một nước đang chịu áp lực mua chuộc của Trung Quốc và những người lãnh đạo tại Miến Điện cũng đang mở cửa để hướng về Tây Phương, dùng Tây Phương làm cái thế chống lại áp lực và ảnh hưởng của Trung Quốc. Một vị tổng thống Hoa Kỳ nhất là vừa tái đắc cử vẻ vang đến thăm Miến Điện lúc này không gì thích hợp bằng.

Dư luận trong giới nhân quyền cho rằng Tổng Thống Obama đến Miến Điện quá sớm vì tại Miến Điện vấn đề nhân quyền chưa được như ý muốn. Nhưng tôi nghĩ sự đòi hỏi đó là quá đáng. Cần đến để khuyến khích các tướng lãnh cầm quyền, cần đến để nâng uy tín của bà Aung San Suu Kyi, cần đến để mang một không khí mới cho nhân dân Miến Điện. Trong diễn văn đọc trước các sinh viên tại một đại học ở thủ đô cũ của Miến Điện tổng thống Obama đã đưa ra rất nhiều tư tưởng mới và rất nhiều gợi ý về vấn đề tự do và dân chủ, và đó là một thông điệp rất tốt cho giới trí thức tại Miến Điện cũng như những người đang lãnh đạo nước Miến Điện.

Tóm lại, trong 3 nước mà Tổng Thống Obama vừa thăm viếng thì tôi nghĩ chuyến viếng thăm Miến Điện là quan trọng nhất đó anh Thanh Quang.

Thanh Quang: Liên quan tới Việt Nam, thưa ông, trong tình hình hiện nay khi mà Hoa Kỳ xem chừng như cương quyết quay trở lại Châu Á, khi mà Miến Điện chứng tỏ ngày càng cởi mở, khi mà nhiều nước Đông Nam Á (ngoại trừ Campuchia) tỏ ra bất hợp tác với tham vọng bành trướng của Bắc Kinh…, thì Việt Nam có thể có lợi như thế nào không trước hiểm họa từ Phương Bắc?

TBN: Vâng. Sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ đối với vùng Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó đặc biệt có vấn đề Biển Đông và vấn đề quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam hẳn là một vấn đề quan trọng. Và vấn đề này đã kéo dài lằng nhằng trong mấy năm qua. Tôi nghĩ Việt Nam cần nắm lấy thông điệp của chuyến đi này của Tổng Thống Obama. Từ năm 2000 đến nay với những chuyến thăm viếng của Ngoại Trưởng Hillary Clinton, của Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta và của một số nhân vật quan trọng khác nữa đến Việt Nam thông điệp Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với Việt Nam đã rõ cho nên lần này mặc dầu tổng thống Obama không ghé tới Hà Nội, chuyến đi Đông Nam Á của tổng thống Obama cũng làm cho thông điệp của Hoa Kỳ trở nên mạnh hơn là Hoa Kỳ sẽ đứng về phía Việt Nam trong việc tranh chấp với Trung quốc về Biển Đông.

Tuy nhiên, Việt Nam ở vào một vị trí rất tế nhị. Việt Nam không thể ngả theo Hoa Kỳ một cách dễ dàng dù Hoa Kỳ có đưa bàn tay ra. Việt Nam cũng không thể để rơi mình vào đôi cánh tay rộng mở của Trung Quốc được. Việt Nam phải chọn một thế ngoại giao khôn khéo, mà người ta thường gọi là thế đu dây. Việt Nam khéo léo trong chính sách ngoại giao đó được chừng nào thì càng có lợi cho sự bảo đảm an toàn của Việt Nam chừng đó.

Nhưng vấn đề là Việt Nam ngả về Hoa Kỳ hay ngã về Trung Quốc cũng chỉ là thứ yếu. Việt Nam muốn bảo vệ nền độc lập của mình cũng như bảo vệ Biển Đông thì thượng sách là Đảng Cộng Sản Việt Nam phải nghĩ tới vấn đề cải tổ chính trị và cố gắng huy động sự ủng hộ của quần chúng, huy động nội lực của nhân dân.

Hiện tại đảng Cộng sản Việt Nam đang tính tu chính hiến pháp. Tôi hy vọng rằng nhân dịp này Đảng cộng sản Việt Nam không còn cứ phải nói những lời tuyên truyền nữa, mà làm một sự thay đổi tích cực, tạo một cơ hội để dân chủ hóa Việt Nam và huy động nội lực của nhân dân. Đó là phương cách tốt nhất để Việt Nam có thể duy trì nền độc lập của mình và bảo vệ Biển Đông trước sức lấn ép của Trung Quốc.

Thanh Quang: Cảm ơn ông Trần Bình Nam.



 

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU



CHỦ NHẬT, NGÀY 25 THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 2012


VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU


 Lê thị Công Nhân

Hà Nội, 20.11.2012

 

VÀNG

 


 

  Cái gì quý người ta thường ví như vàng. 
Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ?

 

Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp-là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đên nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.

 

Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!

 

Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.

 

Ngoài ra đảng cộng sản có lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008-như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra-chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra ra đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.

 

Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.

 

Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.

 

Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.

 

Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam:

-         Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán;

-         Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có:

-         Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*);

-         Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*);

-         Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai;

-         Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất;

-         SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ  ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua.

-         Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này;

-         Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC;

-         Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội.

..v..v..

 

Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng-Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô-Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)

 

Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”

 

Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết-Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.

 

Đúng vậy! Có thể dân-trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”

 

Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu:

-         Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.”

-         Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.

 

Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!

 

ĐÔ LA


Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.

 

Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.

 

Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.

 

Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra

 

Thiết nghĩ, xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.

 

Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc-người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan-tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng. Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công anh thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”

 

Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.

 

Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân  bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !

 

ĐÀO TẨU


Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ:

1-    Đào tẩu sang nước nào?

2-    Đào tẩu khi nào?

3-    Đem theo gì khi đào tẩu?

Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là:

1-    Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy.

2-    Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản-cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”.

3-    Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền.

Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?

 

Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).

 

Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.

 

Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.

 

Ấy là vàng và đô la.

 Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá! ”


 

 

 

Một đại họa cho đất nước và cho dân tộc, cần phải tiêu diệt!





24/11/12 |

Việt Nam của thế kỷ 21 vẫn còn có nạn kiêu binh


Một đại họa cho đất nước và cho dân tộc, cần phải tiêu diệt!

Suốt chiều dài lịch sử 4000 năm của Việt Nam cho đến 30 tháng 04 năm 1975, đất nước Việt Nam chỉ có một lần rơi vào thảm cảnh nạn kiêu binh của thời hậu Lê (1533-1789). Theo Wikipedia: “do những quân lính gốc ở Thanh – Nghệ, cậy mình có công, đã sinh thói kiêu căng, coi thường luật lệ, gây ra và làm trong và ngoài triều chính thời đó hết sức điêu đứng, khổ sở. Theo sách Việt sử tân biên, thì nạn kiêu binh này là một trong những nguyên nhân khiến cơ nghiệp Lê – Trịnh ở Việt Nam mau đổ nát”.

Những lính gốc gác vùng Thanh Nghệ vì cậy công phò chúa (chúa Trịnh), phò thái tử, vua (Lê) nên kiêu căng, sách nhiễu dân chúng. Dân chúng vô cùng khổ sở vì sực hà khắc côn đồ xem thường pháp luật của bọn binh lính kiêu binh. Bọn lính kiêu binh cậy có công phò chúa, phò vua đã ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của dân chúng, dành các mối lợi về kinh doanh, đất đai, đầm hồ, chợ búa, bến đò, sông bải. Nói chung những gì có lợi là bọn họ và nhóm bè đảng tay chân thâu tóm, mặc cho sư ta thán của người dân.

Theo Wikipedia: “Trong sách Hoàng Lê nhất thống chí ở hồi hai và ba, có nhiều đoạn kể khá tỉ mỉ nạn kiêu binh. Nhờ tác giả là người đã sống trong thời đại hỗn loạn ấy, nên chúng có giá trị lịch sử & hiện thực cao. Trong bài giới thiệu tác phẩm này, Kiều Thu Hoạch có đoạn nói đến nạn kiêu binh như sau:

Trịnh Sâm thì hoang dâm, xa xỉ. Vua Lê Cảnh Hưng thì bù nhìn, bạc nhược. Trịnh Tông chỉ là con rối của đám kiêu binh. Còn quan lại đa phần là một phường dung tục, bất tài, chỉ rình rập cơ hội để tranh giành quyền lực, danh lợi… Dưới những vua quan như vậy, thì binh lính đương nhiên cũng không thể có kỷ cương, phép tắc gì. Những “ưu binh” đã biến thành “kiêu binh” ngang ngược, quay lại uy hiếp triều đình, quấy nhiễu dân chúng, tùy ý phá nhà, giết người, khiến mọi người đã phải gọi chúng là “quân bất trị”. Và ba chữ ấy đã trở thành nỗi khủng khiếp của một thời.”

Nạn kiêu binh của thời hậu Lê và chúa Trịnh đã suýt đẩy Việt Nam vào vòng lệ thuộc Tàu do hành động rước voi dày mả tổ của vua Lê Chiêu Thống nếu không có Vua Nguyễn Huệ với tài dùng binh kiệt xuất đánh bại lực lượng hùng hậu khoảng ba trăm ngàn quân Tàu của vua Mãn Thanh vào năm 1789.

VIỆT NAM HIỆN NAY, THẾ KỶ 21, CÓ NẠN KIÊU BINH HAY KHÔNG?

Tuyệt đại đai số người dân Việt quả quyết nạn kiêu binh đang lộng hành trên toàn cỏi đất nước, từ tổ dân phố đến tận trung ương! Quả thật là như vậy. Kiêu binh thời nay nó khủng khiếp hơn vào thế kỷ 18. Thử xét nghiệm lời than oán của người dân về đại nạn kiêu binh thời đại “a còng – @” của thề kỷ 21.

Tổ dân phố, phường, quận, huyện:

Người dân luôn bị kiểm soát, hạch sách bởi công an khu vực, dân phòng, công an an ninh phường quận huyện. Họ khinh thường chính luật lệ do đảng cộng sản của họ đặt ra. Dân chúng bị ép buộc “giáo dục” bởi các nhóm, tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản có trình độ văn hóa sơ cấp, may ra chỉ có trình độ đảng viên. Hành động quản chế giáo dục các nhà trí thức, khoa học, luật sư bất đồng chính kiến tại xóm, tổ dân phố bởi các thành phần ngoại vi của đảng cộng sản với sự hiểu biết nông cạn sơ đẳng là một thí dụ. Đây là nạn kiêu binh tại cấp hạ tầng cơ sở, dựa vào quyền lực cai trị chuyên quyền của đảng cộng sản.

Chính quyền trung và cao cấp ngành cảnh sát công an:

Đây là nơi tập trung đại nạn kiêu binh. Họ ngang nhiên chà đạp đến các quyền tự do căn bản do chính đảng cộng sản của họ đặt ra và được ghi hẳn hoi vào chính bản hiến pháp của đảng cộng sản ban hành. Muốn đánh đập, hành hạ, giết bỏ dân chúng họ “tự do” làm. Muốn bỏ tù thì cứ việc đóng dấu cho cái tội tuyền truyền chống đảng, nhà nước. Thời Lê-Trịnh chỉ có một nhóm kiêu binh “Thanh Nghệ” lộng hành, nhưng thời kỳ Việt Nam định hướng tiến tới xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản có cả một hệ thống gần 3 triệu đảng viên ăn theo với đầy dẫy kiêu binh từ địa phương đến trung ương tác oai tác quái dân chúng.

Chính quyền địa phương, trung và cao cấp ngành hành chánh:

Tuy trên mặt ngôn từ là hai tổ chức hành chánh và an ninh phải khác nhau, nhưng tựu trung họ cũng chỉ là cùng một tổ chức của đảng cộng sản. Họ cấu kết, hợp đồng cộng tác với nhau để áp bức cướp đoạt tài sản của dân, cùng chia nhau và với các bọn lợi ích. Tại nông thôn, họ cướp đất của dân, cướp nhà cửa, cơ sở kinh doanh trao tay trục lợi. Họ đương nhiên không chừa tài nguyên quốc gia, đào xới bán xổi cho bọn Tàu anh em đồng chí. Bọn họ ngày nay giàu nhiều lần hơn những người mà cha anh của họ đã từng gán tội là tiểu tư sản, tư sản. Bọn họ nay được gọi một cách mỉa mai là bọn “tư bản đỏ”.

Thời kỳ 1975-1985 họ gán cho người dân tội hợp tác với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, tội tư sản để ngang nhiên cướp đoạt và chia chác cho nhau nhà cửa, ruộng vườn, tài sản cơ sở kinh doanh của dân chúng miền Nam, như các chiến lợi phẩm.

Thời kỳ 1990 – nay họ quay lại họ cướp đất, cướp mồ hôi nước mắt của người dân đã từng bao che ủng hộ họ tại miền Nam, và đau đớn hơn là họ lại đối xử cạn tàu ráo máng với dân chúng tại miền Bắc, những người theo đảng từ năm 1954, cái nôi của cộng sản Việt Nam. Họ ăn cắp tài nguyên rừng biển, khoáng sản, quặng mỏ. Họ tham nhũng trong tất cả các dự án đầu tư. Họ không phải ăn cắp theo kiều ăn cắp vặt mà ăn cắp có hệ thống qui mô từ trung ương đến địa phương, hằng ngàn tỷ đồng, hằng trăm triệu USD, từ các công trình ngàn tỷ, từ các dự án viện trợ của nước ngoài, từ các dự án vay. Họ tạo ra các tập đoàn kinh tế nhà nước để thao túng nguồn vốn của quốc gia. Tất cả các tập đoàn đều thua lỗ hằng ngàn, hằng chục ngàn tỷ đồng (Vinashin, Vinalines, Điện lực Việt Nam, Than Khoáng Sản, Dầu Khí, Sông Đà, Xây Dựng, Hàng Hải, Ngân hàng…) Số tiền thua lỗ thực chất do bọn cán bộ quan chức kiêu binh ăn chận khi thực hiện các công trình ma quỷ hay mua sắm thiết bị dỏm, phế thải. Nhưng họ chỉ bị kiểm điểm, học tập trong tình đồng chí (kiêu binh), rồi được điều động sang nhiệm sở khác béo bở hơn, hay được hạ cánh an toàn!

Lính kiêu binh thời vua chúa hậu Lê-Trịnh so với tập thể kiêu binh dưới thời đảng cộng sản Việt Nam chỉ là cá chốt với cá mập. Kiêu binh thời hậu Lê-Trịnh là một nhóm binh lính. Nhưng Việt Nam của thế kỷ 21, kiêu binh không phải là binh lính (bộ đội) mà là công an, là quan chức thế hệ con cháu Bác Hồ từ địa phương đến trung ương, nói chung là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Họ lấy danh nghĩa đảng cộng sản cấu kết nhau thành “tập đoàn kiêu binh”. Tập đoàn kiêu binh tại Việt Nam của thế kỷ 21 gồm tuyệt đại đa số sinh sau năm 1975 hoặc ở tuổi thiếu niên hay tuổi đôi mươi mới vào du kích địa phương (miền Nam), bộ đội (miền Bắc) vào thời điểm 1975 nay được thăng quan tiến chức trong guồng máy đảng cộng sản, nhưng hành động chống lại người dân của họ thì sắc máu và tàn độc hơn bọn quan chức thời kỳ Pháp thuộc, để lập công với nhóm kiêu binh lãnh đạo đàn anh. Tập đoàn kiêu binh “kinh tế” cấu kết với kiêu binh công an thâu gom của cải của dân, tài sản quốc gia và cùng chia chác với nhau, đẩy dân vào con đường bần hàn. Không những thế, tập đoàn kiêu binh kinh tế còn cấu kết với các nhóm lợi ích ngang nhiên bán đất, giao biển đảo cho bọn xâm lược. Vì tư lợi bằng mọi cách họ quyết thực hiện các dự án độc hại hủy hoại đất nước và ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc như dự án Bauxit, dự án điện hạt nhân, v.v… Họ sống vô tư trong nhung lụa còn hơn dân giàu có của các nước tư bản phương tây. Họ và con cái ăn xài hoang phí với sự giàu có phi nhân bất chính trong khi đó ngoài miệng thì hô hào toàn dân sống tự trọng, đạo đức, liêm chính theo chủ nghĩa “vô sản” Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay trong hàng ngũ lãnh đạo trung ương của đảng cộng sản, nhóm kiêu binh trung ương đảng cũng chẳng xem luật đảng, tôn ti trật tự đảng ra gì. Bằng chứng cụ thể là với kết quả cuộc họp trung ương đảng kỳ 6 vào đầu tháng mười vừa qua, lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phải bó tay trước sự lộng quyền của nhóm kiêu binh trung ương đảng kết bè kết phái. Ông ta đã uất ức đến ứa nước mắt khi đọc bài diễn văn bế mạc phiên họp đặc biệt này, trong khi bọn kiêu binh trung ương đảng bên dưới lại cười khẩy đắc thắng!

Nhóm kiêu bình thời hậu Lê-Trịnh bị vua Nguyễn Huệ tiêu diệt và giúp đất nước thoát khỏi ách lệ đô hộ của bọn Tàu phương Bắc.

Loạn kiêu binh thời đại toàn cầu hóa tại Việt Nam tuy tinh vi, ác độc và đôi khi không còn nhân tính nhưng vẫn có thể bị khuất phục và loại bỏ. Đó là cơ chế và chế độ mà nó đang bám vào như cây chùm gởi. Bọn kiêu binh công an và kinh tế sở dĩ lộng hành vì có sự bao che của cơ chế độc quyền độc đảng lỗi thời, của chế độc độc tài. Một khi chế độ chuyên chính độc đảng được thay thế bởi một cơ chế đa đảng, tam quyền phân lập, nhân quyền và quyền tư do của toàn dân được bảo vệ thì bọn kiêu binh tự nó sẽ bị tiêu trừ. Một bằng chứng cụ thể là với chế độ độc tài quân phiệt Miến Điện, khi được thay thế trong ôn hòa bởi một thể chế tự do dân chủ thì bọn kiêu binh công an và quan chức tại Miến Điện đã nhanh chóng bị hóa giải.

Nhóm lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam hiện nay nếu thật sự yêu nước, lo cho tiền đồ và tương lai của dân tộc của đất nước, hãy nhanh chóng từ bỏ cơ chế kiêu binh, độc tài chuyên chính lạc hậu và thực hiện một thể chế đa nguyên đa đảng bình đẳng, tam quyền phân lập.

Chỉ có con đường thay đổi chế độ sang một thể chế đa nguyên đa đảng mà tuyệt đại đa số các nước trên thế giới áp dụng, trong số đó Miến Điện là quốc gia mới nhất vừa dứt khoát đoạn tuyệt với chế độ độc tài quân phiệt, thì đại họa kiêu binh đang hủy hoại tổ quốc và dân tộc mới được giải trừ. Khi đó Việt Nam mới thật sự là quốc gia tự do dân chủ, và kỷ cương quốc pháp mới được tái lập.

© Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam

Nguồn: danlambao

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link