Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, December 10, 2012

Bachar Al Assad chuẩn bị đất lưu vong ở Trung Mỹ ?


Bachar Al Assad chuẩn bị đất lưu vong ở Trung Mỹ ?

Trong khi cuộc nội chiến tại Syria vẫn diễn ra ác liệt, chế độ của Bachar Al Assad vẫn có gắng bằng mọi giá bấu víu quyền lực đang lung lay từng ngày, thì bên trong hậu trường chế độ này đang chuẩn bị đường thoái lui cho vị tổng thống độc tài.

Libération dẫn nguồn tin từ nhật báo Haaretz của Israel cho hay một quan chức của chính phủ Syria đã thực hiện một chuyến công du sang Cuba và Venezuela để chuẩn bị đất lưu vong cho Tổng thống Bachar Al Assad trong trường hợp chế độ Damas bị sụp đổ. Theo nguồn tin nói trên thì tuần qua Thứ trưởng Ngoại giao Syria Faical Aeqdad trong chuyến công du Mỹ La-tinh có thể đã chuyển thư của ông Assad đến các lãnh đạo Cuba, Venezuela và Ecuador với nội dung ngỏ ý xin tị nạn trong trường hợp chế độ bị sụp đổ. Được hỏi về khả năng tị nạn của Tổng thống Syria, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon khẳng định Liên Hiệp Quốc không muốn Assad được « miễn trừng phạt ».

Cục diện dân chủ hóa ở Miến Điện có một cái đà rất vững chắc, rất toàn diện, không nửa vời, không do dự


Subject: Tr:Fwd: Tr : [exryu-ww] Bút ký viết từ Miến Điện- Nguyễn Đăng Hưng
Reply-To: "khue.nong" <

 

Cục diện dân chủ hóa ở Miến Điện có một cái đà rất vững chắc, rất toàn diện, không nửa vời, không do dự

Friday, August 10th, 2012 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng


Chùa Shwedagon, biểu tượng của đất nước Miến Điện và cựu thủ đô Yangon, ảnh chụp của tác giả

Bút ký viết từ Miến Điện


Nguyễn Đăng Hưng


Đây không phải là lần đầu tiên tôi bước chân đến Rangoon (nay có tên mới là Yangon). Năm 1977, để thực hiện chuyến về Việt Nam giảng dạy về cơ học tính toán, vì không có máy bay trực tiếp từ Tây Âu đến Việt Nam, tôi đã phải từ Bruxelles đáp máy bay qua Bangkok rồi từ đây lấy máy bay Thái lên Rangoon rồi đổi sang máy bay Liên Xô (Aeroflot) về Hà Nội. Dạo ấy tôi chưa quan tâm đến chính trị Miến Điện. Dạo ấy tôi chưa biết hết thế nào là chủ nghĩa xã hội hiện thực…

Lần này thì khác, tôi muốn thăm Miến Điện trong buổi giao thời. Đất nước này đang chuyển mình một cách ngoạn mục, dần dần thoát ly khỏi chế độ độc tài quân phiệt để tiến bước trên con đường dân chủ. Đây là những giờ phút lịch sử cho đất nước Miến Điện và cho cả Đông Nam Á.

Đất nước của những khám phá mới của người đi du lịch

Tôi đi theo diện du lịch trong khuôn khổ định sẳn của một công ty lữ hành nỗi tiếng tại Sài Gòn.

Chuyển bay trực tiếp từ Sài Gòn đến Yagnon mất khoảng thời gian tương đương đến Hà Nội.

Vì là du lịch nhóm nên gia đình chúng tôi theo chương trình bốn ngày ba đêm do hảng du lịch đề đạt sắp xếp. Trục chính của chuyến đi là hành hương, thăm viếng các chùa chiềng danh tiếng của xứ sở có 90% người dân theo đạo Phật này.

Sân bay Yangon khá mới và tiện ghi, hải quan trẻ trung, không thiếu nụ cười.  Phải đứng trước máy chụp hình trước khi trình hộ chiếu, nhưng thủ tục tương đối gọn nhẹ. Việc áp đặt phải đổi 300 US ở sân bay mà tôi nghe thấy trước đây không còn nữa.

Điều ngạc nhiên thứ nhất khi đến đây là Yangon rất khác với Sài Gòn hiện đại. Không có cảnh kẹt xe, không có cảnh xe gắn máy chen lấn, tung hoành uy hiếp người đi bộ, dành dựt lối đi, lấn cả lề đường. Xe gắn máy bị cấm vào trung tâm thành phố.  Xe chạy tay mặt, tuy Miến Điện là thuộc địa cũ của người Anh, tuy chiếc xe buýt ra sân bay đón chúng tôi có tay lái nghịch. Đây là một quyết định của tướng Ne Win trong năm 1970. Nghe nói ông tướng này ra quyết định chỉ vì thầy bói bảo xe chạy lề trái gây nhiều xui xẻo cho đất nước.

Ngay sáng hôm sau ngày lấy phòng tại khách sạn, chúng tôi lên đường đi thăm chùa Kyaiktiyo

có hòn đá chồng trứ danh Kim Thạch (Golden Rock) cách Yangon hơn 180 cây số, tọa lạc trên đỉnh ngọn núi cao đến 1.600 mét, trong địa bàn xứ sở người Môn, dân tộc đã định cư rất sớm tại giải đất Miến Điện.

Đây là tiết mục tham quan để lại cho tôi ấn tượng rất đặc biệt nhất trong chuyến đi. Đi xe buýt ngang qua thành phố Bago định ghé thăm thành cổ của dân tộc Myamar nhưng không được. Trời mưa tầm tả, đường đi đến thành cổ đã biến thành sông, xe phải thối lui tìm đường khác đi Kysikkto. Tại đây, phải đổi xe có khả năng leo dốc lên đỉnh núi.


Đường đi đến thành cổ đã biến thành sông, ảnh của tác giả

Cũng may là cô Chan hướng dẫn viên người Miến đã nhanh ý điều đình để chúng tôi được xe chở từ chân lên đỉnh núi mà không phải leo bộ 5 cây số cuối cùng theo thông lệ.  Chúng tôi, phải vượt đường đèo quanh co ngoằng ngèo, dốc đứng cao chót vót có khi đến 40 độ trong một chiếc xe cũ kỷ mui trần chỉ có vài thanh ngang dùng làm chổ ngồi, dưới cơn mưa nặng hột tầm tả. Quả là những giờ phút khá hãi hùng và không bảo nhau, ai trong chúng tôi cũng lẩm bẩm nguyệt cầu: Nam mô A Di Đà Phật… Ai cũng thở phào khi hướng dẫn viên bảo đã đến nơi rồi. Và quả thực ngôi chùa trên đỉnh và kỳ quan Kim Thạch thật xứng đáng với danh truyền và kỳ vọng.


Cảnh hai tảng đá khổng lồ chồng lên nhau và giữ thăng bằng bên vực thẳm sâu chót vót, Ảnh của tác giả


Thử xem xét qua tĩnh học sự cân bằng của Kim Thạch

Cảnh hai tảng đá khổng lồ chồng lên nhau và giữ thăng bằng bên vực thẳm sâu chót vót, cheo leo tại một điểm tựa nhỏ hẹp như đường tơ kẻ tóc cho ta có cảm giác về một sự mầu nhiệm của thiên nhiên, một phép lạ của Đức Phật. Một sự kiện ngẫu nhiên đã tồn tại trên hai ngàn năm rồi nhưng có lẽ không ai có thể dửng dưng trước cảnh tượng hiện thực trước mắt.

Về Yangon hôm sau thời tiết vẫn còn xấu, mưa liên tục. Chúng tôi tranh thủ có chút ánh nắng mặt trời vào lúc gần trưa để đi thăm và chụp hình ngôi chùa Shwedagon, biểu tượng của đất nước Miến Điện và thủ đô Yangon, với 70 tấn vàng dùng làm trang trí và tuổi thọ gần 2500 năm.


Một hình ảnh dân tộc Môn tại Miến Điện, ảnh của tác giả

Hôm sau trên đường ra sân bay, chúng tôi tham quan chùa Sule, chùa Kyauk Taw Gyi với tượng Phật ngồi bằng cẩm thạch duy nhất một khối dài đến 11 m rộng đến 7.5 mét,  mới tạc trong năm 2000. Chúng tôi có ghé thăm các chú bạch tượng điềm may mắn và thịnh vương của cựu thủ đô Yangon.  Chuyến đi kết thúc tại đây.


Chú voi trắng tưởng trưng cho điềm tốt lành, ảnh của tác giả

Những thay đổi gần đây

Yangon ngày nay giống như Sài Gòn những năm 80 thời điểm mà chế độ bao cấp hoành hành làm Sài Gòn hoàn toàn xuống cấp. Chế độ độc tài quân phiệt kéo dài đã chẳng mang lại được gì cho Miến Điện. Yangon nghèo nàn, lạc hậu xác xơ hơn nhiều so với thời thuộc Anh. Yangon không có nhiều nhà cửa công trình cao ốc mới và hậu quả của những năm dài bị phương Tây cấm vận là rất rõ nét. Hàng hóa vẫn còn rất ít ỏi. Xe cộ mới nhất cũng chỉ là xe cỗ lổ của những năm 90. Tuy nhiên, cũng có điểm tích cực: không gian xanh ở đây có vẻ phong phú hơn nhiều so với Sài Gòn ngày nay với những hàng cây sum sê cành lá ngay giữa trung tâm đô thị.

Trang phục truyền thống langui và sarong vẫn rất là phổ biến. Người Miến phần đông rất hiền hòa, trầm tỉnh. Trộm cắp đường phố là điều rất hiếm hoi.


Một nhạc cụ tiêu biểu của Miến Điện. Ảnh của tác giả

Chính sách mới nới lỏng sự kiểm duyệt truyền thông của Tổng thống Thein Sein chưa có tác dụng thấy được. Tại khách sạn chúng tôi chỉ có được một tờ báo tiếng Anh để đọc tờ “New Light of Myanmar” của chính phủ. Có thể truy cập Internet trong phòng qua hệ thống WIFI, nhưng đường dẫn còn rất chậm so với Việt Nam.

Tôi thử gởi một điện thư cho người cháu tại Việt Nam. “Thunderbird” báo cho tôi hay là điện thư có vấn đề, nhưng một ngày sau là tôi được phản hồi từ Việt Nam. Tôi nghiệm ra là chế độ kiểm soát điện thư vẫn còn hiện hành.


Một hình ảnh thường thấy trên đường phố Yangon, Miến Điện, ảnh của tác giả

Chúng ta ai cũng biết là các thay đổi chính trị mạnh mẽ đã diễn ra ở Miến Điện kể từ năm ngoái. Sau hơn cả thập kỷ độc tài gần như tuyệt đối, chính quyền quân đội được dân sự hoá. Sau hơn 14 năm bị giam cầm quản thúc tại gia, bà Aung San Suu Kyi đã được trả tự do hồi cuối năm 2010.

Tôi thẳng thắng công khai đặt ra những câu hỏi liên quan đến chính trị và tôi rất ngạc nhiên là cô Chan, hướng dẫn viên không hề tranh né mà trả lời tôi một cách rất tự tin, khúc chiết và mạch lạc. Cô bảo:

“Đất nước này đang thay đổi từng ngày, từng giờ, nhất là về kinh tế. Hiện Mỹ, EU, Nhật Bản… đã tiến hành nới lỏng cấm vận và Myanmar đang thực hiện đợt cải cách lần thứ hai theo hướng tập trung chính là về kinh tế. Mục đích chính là cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp”.

Cô còn thêm:

“Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn tại Miến Điện, nhưng người dân đa số không ưa Trung Quốc. Người dân đã biểu tình đối việc  xây dựng đập thủy điện Myitsone và chính quyền đã phải lấy quyết định hợp lòng dân: ngừng xây công trình thủy điện”.

Hỏi về vai trò của bà Aung San Suu Kyi cô Chan không do dự trả lời:

“Nếu có bầu cử tổng thống hôm nay tại Miến Điện thì không chút nghi ngờ bà này sẽ đắc cử với trên 60% số phiếu”.

Thủ lĩnh đối lập cũng đã kêu gọi giới đầu tư quốc một cách rất ư là hợp lý:

“Chúng tôi cần cải thiện về giáo dục, giáo dục phải gắn liền với khả năng tạo việc làm. Chúng tôi mong muốn các nhà đầu tư quốc tế hãy nghĩ đến chúng tôi cũng như là nghĩ đến chính họ. Chúng tôi hiểu là không một nhà đầu tư nào đến Miến Điện chỉ vì lòng tốt. Nhưng chúng tôi mong muốn là những lợi lộc kinh tế sẽ được chia sẻ giữa các chủ đầu tư với người dân Miến Điện”.

“Chúng tôi đã nhìn thấy một mô thức là những nước đầu tư nhiều vào tài nguyên thiên nhiên có xu hướng đầu tư không đủ vào tài nguyên con người. Kinh nghiệm cho chúng tôi biết rằng đầu tư vào tài nguyên con người sẽ mang lại nhiều lợi ích trong dài hạn”.

“Mục tiêu tối hậu của chúng ta phải là tạo ra một thế giới thoát khỏi tình trạng có những người phải di tản, những người không nhà và tuyệt vọng, một thế giới mà từng góc nhỏ và tất cả mọi nơi đều là nơi trú ẩn thực sự mà những người sống ở đó đều có tự do và có năng lực sống trong hòa bình.”

Chỉ có bốn ngày ngắn ngủi, cởi ngựa xem hoa thì rất khó có được những nhận định sát với hiện thực. Tuy nhiên tôi có cảm giác công cuộc dân chủ hóa đang xảy ra tại Miến Điện có một nền tảng khá vững chắc, đang đi rất đúng hướng, kinh tế cũng như chính trị.

Thật vậy, quyết tâm dân chủ hóa không phải chỉ có ở các “thế lực thù địch”, những thành phần dân chủ chung quanh bà Aung San Suu Kyi mà còn ở một bộ phận đang hiện diện trong chính quyền Tổng Thống Thein Sein. Tôi đọc bài chính luận của tờ báo duy nhất bằng tiếng Anh một cơ quan ngôn luận chính thức của chính quyền xuất bản ngày 2/8/2012, phổ biến tại các khách sạn Yangon:

” Đã từ gần 1 năm nay, xu hướng dân chủ hóa đất nước đã trở thành thực tế. Dân chủ chính là cơ sở căn bản đảm bảo cho các quyền tự do, bình đẳng và công lý của công dân. Dân chủ là trục chính của chính sách mở cửa hiện nay, chính sách thân thiện với các nước cũ và mới trên thế giới. Nhưng tự do phải song hành với kỷ cương, pháp luật. Người thừa hưởng các quyền tự do không được lạm dụng làm tổn hại đến quyền tự do của kẻ khác. Tự do không có kỷ luật chỉ dẫn đến hoặc chuyên quyền hoặc vô chính phủ. Học đường sẽ phải làm nhiều việc để chuyển tải đến tuổi trẻ hôm nay ý nghĩa của tinh thần kỷ luật trong chế độ dân chủ. Sẽ không có dân chủ nếu tinh thần tự giác và lòng tôn trọng kỷ cương pháp luật không song hành”.

Một bài chính luận khác hôm sau cũng trên tờ báo trên ngày 3/8/2012:

” Xứ sở của chúng ta đang dự phần trong công cuộc phát triển liên tục của một xã hội tri thức đa dạng, một thế giới đang nhanh chóng bước lên phía trước, một thế giới mà vai trò của sự hiểu biết là hàng đầu so với quá khứ. Tuy nhiên, công cuộc dân chủ hóa đòi hỏi phải thực hiện cải cách sâu rộng cho từng lĩnh vực, từng ngành nghề có khả năng giúp chính phủ thay đổi cấu trúc cho phù hợp với một xã hội dân chủ. Đất nước đang đứng trong xu thế phải phát huy các khả năng học thuật, các thế lực chuyên ngành để một giai cấp trung lưu có cơ hội xuất hiện vươn lên có kỷ năng chuyên nghiệp đủ sức mạnh và ảnh hưởng đưa tổ quốc chúng ta bước vào thời đại hoàng kim của thể chế dân chủ, góp phần hòa nhập vào ASEAN và thế giới phát triển. Theo cách nhìn này, các bộ liên quan sẽ phải chuẩn bị kế hoạch hợp lý nhằm nâng cao trình độ người dân, đặc biệt cho giới trẻ. Chẳng hạn Bộ Khoa học Công nghệ phải có kế hoạch hành động đẩy công nghệ quốc gia lên ngang tầm quốc tế. Việc đầu tiên là phải nâng cao chất lượng đào tạo của Đại học Yangon và Đại học Mandalay thành những trung tâm tinh hoa ngay năm học sắp bất đầu trong ngày tháng tới…”.

Miến Điện và Việt Nam

Miến Điện ngày nay giống như Việt Nam của những năm cuối 80 đầu 90 giờ phút của sự thai nghén công cuộc đổi mới. Có mặt tại Việt Nam những năm ấy, tôi chưa hề đọc được trên báo Nhân Dân hay ngay cả trên những tờ khác có chút khoản cách với chính quyền, những chính luận thuộc loại này.  Bởi vậy, theo cảm nhận của tôi, cục điện dân chủ hóa ở Miến Điện có một cái đà rất vững chắc, rất toàn diện, không nửa vời, không do dự… Có một sự công hưởng khá hài hòa giữa phe đối lập và một bộ phận đổi mới đang vươn lên nắm quyền lực trong chính quyền.

Việc đôi co giữa phe bảo thủ tham quyền cố vị và các thành phần cấp tiến là không tránh khỏi, nhưng cơ hội cho công cuộc dân chủ hóa thực sự và toàn diện là điều rất rõ nét hiện nay.

Tôi miên man suy nghĩ mãi với sự so sánh. Tại sao Miến Điện đang đi trên đường đổi mới toàn diện thì Việt Nam sau hơn hai mươi năm phát động đổi mới nay phải vật lộn với bước thứ hai: kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Mọi việc vẫn còn phía trước và đổi mới chính trị vẫn còn đang ngủ say? Tại sao Miến Diện đã không quá gian nan đi thẳng vào con đường của tương lai còn Việt Nam ta lại vẫn cứ loay hoay giậm chân tại chỗ?

Theo tôi việc tìm ra lý do không có gì là khó.

Chế độ độc tài quân phiệt của Miến Điện tuy nói là chế độ xã hội chủ nghĩa Phật giáo nhưng thực chất là một chế độ độc tài thiên hữu kiểu Franco bên Tây ban Nha những năm 40-50 hay Pinochet bên Chi Lê những năm 70. Cũng như xã hội công giáo tại Tây Ban Nha hay Chi Lê, xã hội gốc Phật giáo của Miến Điện chưa bị xáo trộn, hư hại, tổn thương quá trầm trọng. Gia đình các tướng lĩnh Miến Diện vẫn đi viếng chùa, cúng dường thờ Phật. Ngược lại, vì chiến tranh liên tục, vì những quyết sách cải tạo sai lầm đấu tranh giai cấp, xã hội Việt Nam đã phải hoàn toàn bị lột xác trong chế độ toàn trị cực tả bắt đầu từ 1945 cho tới ngày nay. Tất cả những hệ giá trị công dân có tính độc lập truyền thống, tôn giáo hay dân sự  đều bị triệt tiêu hay ít ra bị lủng đoạn cho đến đường tơ kẻ tóc, từ thành thị đến thôn quê, từ đồng bằng đến vùng cao vùng sâu… Khi nhận thức có sai lầm thì đã quá muộn màng. Khi tư duy bị sa mạc hóa thì việc đâm chồi nẩy mầm phải cần hàng thế kỷ mới khôi phục lại được… Đây chỉ là vài đề đạt sơ khởi. Rất cần những nghiên cứu dài hơi cho sự so sánh này trong tương lai vậy.

Xin nói thêm một chi tiết nhỏ thôi để thấy sự khác biệt. Trên lộ trình từ Yangon đến Kyaiktiyo dài trên 180 km, xe buýt chở chúng tôi đã phải ngừng lại tại hàng quán ven đường để khách du lịch giải lao. Đây là những quán ăn bình dân thông thường của người đi xe đò. Tôi chú ý bàn nào cũng có một hủ mắm tôm. Té ra mắm tôm cũng là thức ăn gia vị thông thường của người Miến Điện. Tuy nhiên, trong những ngày chính quyền quân phiệt Miến Điện đàn áp khủng khiếp phe đối lập, tôi chưa bao giờ nghe nói công an Miến Diện liệng mắm tôm vào cửa nhà bà lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi với mục đích hạ nhục và bôi nhọ bà. Còn tại Việt Nam, hành động này rất phổ biến, người dân đã thấy, quốc tế đã biết từ lâu…

Bà Aung San Suu Kyi và tương lai

Sau 24 năm bà Aung San Suu Kyi đã trở lại Châu Âu và tại nhiều nước khác nhau, Na Uy, Thủy Sỹ, Pháp, Anh.. Bà đã được tiếp đón nồng hậu như một thượng khách, một đại diện cho tinh hoa nước Miến Điện.


Ngỏ vào nhà bà Aung San Suu Kyi tại thành phố Yangon. Ảnh của tác giả

Người phụ nữ mãnh mai với thần kinh sắt đá này là một ân huệ của Đức Phật đã ban cho dân Miến Điện, là một cơ may quý giá cho tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc của đất nước Miến Điện.

Những năm tháng tù đày, quản thúc chẳng những không làm bà nhụt chí mà đã tôi luyện bà trở thành một nhà lãnh đạo kiên cường bất khuất với niềm tin sắt đá vào vào công bằng, lẻ phải, công lý, vào những giá trị chân chính vĩnh hằng của thế giới văn minh ngày nay: dân quyền, dân chủ, dân sinh.

Những lời tuyên bố của bà trong chuyến công du Châu Âu là kết tinh của những thao thức suy tư đã cô đọng qua năm tháng và khi thốt ra trước đám đông, người nghe được, nhất là những người trực thuộc các dân tộc có thân phận giống như dân tộc Miến Điện, không thể không có những ấn tượng đồng tình, đồng cảm sâu sắc:

Hãy nghe phát biểu của bà khi được nhận giải

Nobel  ngày 16/6/2012 tại Na Uy:

“Bất cứ nơi nào sự đau khổ bị làm ngơ thì ở đó sẽ có mầm mống của xung đột…”.

Nhưng với tôi những phát biểu sáng giá nhất nằm trong tiểu luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ”của Aung San Suu Kyi. Xin phép trích ra đây vài đoản khúc:

“Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực”.

“Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị – những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ có rất ít cơ hội thành công thực sự”.

“Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử”.

“Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật”.

Lời tuyên bố cuối trên đây chính là lời mắng mỏ đanh thép và thằng thừng dành cho những kẻ độc tài chuyên quyền tại Miến Điện. Nó như một âm vang của một câu viết tương tự của Karl Marx:

“Chỉ có loài cầm thú mới dửng dưng trước nỗi khốn khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông của mình”.

Nhưng có lẽ các tướng lĩnh Miến Điện vẫn còn biết xấu hỗ. Họ đã không dùng những biện pháp hạ cấp để trả thù bà. Bà vẫn trường tồn và nay họ đang tự cải biến còn bà thì nay đã là thành viên sáng giá của Quốc Hội Miến Điện.

Khả năng tự cải biến là gì vậy? Ở Việt Nam nó có tên là khả năng “tự diễn biến”.  Mà tự diễn biến ở Việt Nam là tư duy của “thế lực thù địch” là “phản động”.

Cái khác nữa với Miến Điện là tại Việt Nam, khả năng biết xấu hỗ đã gần như bị tuyệt chủng.

Chỉ còn lại là sự vô cảm triền miên trước nỗi đau cùng cực của dân tộc, của con người…

Nguyễn Đăng Hưng

Viết từ Yangon ngày 3/8, viết xong tại Sài Gòn ngày 9/8/201


Liều Thuốc Đắng Cho Kinh Tế Hoa Kỳ:


Vc Thm Ngân Sách

 NGUYỄN-XUÂN NGHĨA                                  

Liều Thuốc Đắng Cho Kinh Tế Hoa Kỳ:

 

 Giảm Chi Và Tăng ThuếHoa Kỳ mất hai năm và sáu tỷ Mỹ kim cho cuộc tổng tuyển cử 2012 để bầu lại một hệ thống lãnh đạo đã từng gây ra ách tắc chính trị từ năm 2010. Đảng Dân Chủ kiểm soát Hành pháp và Thượng viện, đảng Cộng Hoà giữ đa số tại Hạ viện và 30 chức vụ Thống đốc tiểu bang. Tình trạng chính trị lưỡng cực ấy không giải quyết được bài toán ngân sách trong hai năm qua và nay lại tái diễn trận đấu về chi thu trước sự phân vân của dân chúng và hoài nghi của thị trường.
 
Về bối cảnh, Hoa Kỳ đã qua ba chục năm chi tiêu hào phóng và vay mượn quá sức nên đến hồi trả nợ, kể từ năm 2007. Đấy là bối cảnh chung và có nguyên nhân "lưỡng đảng" lẫn công tư.Cả chính quyền lẫn tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp) đều đi vay trong mấy thập niên và nay phải cắt giảm chi tiêu để trả nợ. Sự chuyển động chậm rãi ấy mới giải thích những hoạn nạn của năm năm qua khi kinh tế bị suy trầm từ cuối năm 2007 và bị nhồi trong cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008.
 
 Các chính khách mị dân và thiếu lương thiện – hai chữ này là đồng nghĩa – thường quy tội cho Chính quyền George W. Bush là gây ra khủng hoảng vì tăng chi bừa phứa và mở ra hai cuộc chiến – Afghanistan và Iraq – mà không tăng thuế và còn đồng loạt cắt giảm tô suất thuế qua hai đợt 2001 và 2003.
 
Sự thật lại không đơn giản như vậy. Sự thật là nước Mỹ đến hồi trả nợ, không khác gì hoàn cảnh của hai khối kinh tế công nghiệp hóa kia là Âu Châu và Nhật Bản. Cho nên các biện pháp kích thích kinh tế cổ điển như qua ngân sách (tăng chi và giảm thuế) và tiền tệ (hạ lãi suất và bơm tiền) đều chậm có hiệu quả.
 
Trong khung cảnh đó, sau khi thắng cử năm 2008, Chính quyền Obama còn tăng chi và muốn cải tạo xã hội nên nâng bội chi ngân sách lên mức kỷ lục, mỗi năm ngàn tỷ đô la trong bốn năm liền. Khi ngân sách bị bội chi thì chính quyền phải đi vay nên khoản công trái - nợ của khu vực công quyền – đã cao bằng Tổng sản lượng quốc gia GDP, hãy tính cho tròn là 15 ngàn tỷ.
 
Trong khi ấy, kinh tế chưa phục hồi và thất nghiệp vẫn mấp mé 8% và con số khiếm dụng thực sự (thất nghiệp toàn thời và bán thời) còn cao gấp đôi. Bối cảnh ấy giải thích mâu thuẫn hiện nay là phải kích thích sản xuất để giảm trừ thất nghiệp và đồng thời tiết giảm công chi để dần dần quân bình lại ngân sách. Quốc hội khóa 112 được bầu lên từ năm 2010 đã có một thay đổi là đảng Cộng Hoà chiếm lại đa số tại Hạ viện nên đòi giới hạn công chi để giảm dần bội chi ngân sách trong 10 năm tới.
 
Nếu không, Quốc hội không cho phép chính quyền đi vay thêm. Đảng Dân Chủ đồng ý trên nguyên tắc, nhưng vẫn muốn bảo vệ thành quả cải tạo xã hội đã thu được từ năm 2006 và chú trọng nhiều hơn đến việc tăng thuế.
 
Họ nhấn mạnh tới yếu tố mang tính chất đấu tranh giai cấp, và ăn khách, là phải tăng thuế nhà giàu. Suốt năm 2011, trận đánh về ngân sách giữa hai hướng giảm chi và tăng thuế đã không ngã ngũ và đôi bên đành đồng ý với một giải pháp tạm, do một siêu ủy ban của hai đảng đề nghị và được Tổng thống Obama ban hành ngày mùng hai Tháng Tám: cho phép nâng cao định mức đi vay, nhưng hai đảng phải thỏa thuận về một kế hoạch chấn chỉnh chi thu trong 10 năm tới.
 
Nếu không, một số quyết định sẽ được tự động ban hành từ đầu năm 2013: mặc nhiên cắt giảm công chi và thu hồi các biện pháp giảm thuế của Chính quyền Bush (năm 2001 và 2003) và Chính quyền Obama (năm 2009). Chấm dứt việc giảm thuế là trở lại thuế suất cao hơn, vào trước năm 2001, tức là tăng thuế. Trong suốt năm 2012, đôi bên không đạt thỏa thuận về việc chấn chỉnh này nên kể từ mùng hai Tháng Giêng năm 2013, biện pháp tự động sẽ được áp dụng, làm kinh tế gánh thêm nợ và hụt mất một số mục chi tổng cộng khoảng 500 tỷ trong số bội chi ngàn tỷ.
 
 
Khi sản xuất còn èo uột, ở mức 2% một năm là mừng, nếu biện pháp tăng thuế và giảm chi đó được áp dụng, Tổng sản lượng 15 ngàn tỷ sẽ hao hụt và kinh tế có thể bị suy trầm mất chừng 12-15 tháng, bốn năm quý. Vì vậy, người ta mới nói đến "vực thẳm ngân sách" hay "tận thế thuế vụ" Taxmageddon.
 
Các kinh tế gia tranh luận về hiệu ứng của việc cắt giảm 500 tỷ - hay ít hơn nếu đôi bên tiến tới một số thỏa thuận là giảm bao nhiêu và tăng thuế ngần nào, cho những ai - đối với sinh hoạt kinh tế. Sự thật là kinh tế có thể lại trôi vào suy trầm nữa, sau vụ suy trầm lần trước từ Tháng 12 năm 2007 đến Tháng Bảy năm 2009, nhưng sau đó tình hình sẽ khả quan dần.
 
Đây là một nhận định của cơ quan độc lập có nhiệm vụ nghiên cứu ngân sách cho Quốc hội là CBO qua phúc trình mới nhất, được công bố hôm mùng tám Tháng 11. Nhưng các chính khách đều ngại một vụ suy trầm nữa vào năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2014. Họ bèn đổ lỗi cho nhau, cũng với lập luận mị dân của một cuộc tranh cử ngay sau khi vừa hoàn tất tổng tuyển cử.
 
Truyền thông đại chúng của Mỹ thì chỉ nhắc lại các lập luận đó theo thiên kiến chính trị riêng và đa số dân chúng không rõ vì sao lại có "vực thẳm ngân sách". Cũng theo truyền thống, đảng Dân Chủ rất khéo tuyên truyền còn đảng Cộng Hoà thì chẳng biết giải thích cho rõ tình hình thực tế của một siêu cường mắc nợ. Kết quả bầu cử vừa qua có cho thấy sự khác biệt đó giữa hai đảng. Và lần này, đảng Cộng Hoà sẽ lại mắc bẫy nữa! Nhưng căn bệnh chi thu vẫn còn nguyên vẹn và cần một liều thuốc đắng.
 
 
*** Từ ba chục năm nay, dân Mỹ đã chi tiêu và vay mượn quá sức, ngày một nhiều hơn cho đến năm 2007 mới thấy bàng hoàng. Tổng số nợ của các hộ gia đình đã tăng vọt trong suốt 30 năm. Từ một ngàn 500 tỷ đô la vào năm 1980, khoản nợ này lên gấp đôi trong 10 năm (ba ngàn tỷ), rồi gấp sáu trong 10 năm kế tiếp (chín ngàn tỷ vào năm 2001) trước khi lên tới đỉnh là hơn 13 ngàn tỷ vào năm 2007.
 
Đây là một nỗ lực chẳng phải là lưỡng đảng mà của toàn dân! Nhờ lãi suất hạ, tiền rẻ và vay muợn dễ dàng, kể cả vay mượn ngoại quốc, nước Mỹ hồn nhiên tiêu xài quá mức, thổi lên bong bóng đầu tư và bắt đầu phải trả nợ. Khi cần tiết giảm chi tiêu để trả nợ thì tài hóa bớt lưu thông và kinh tế bị suy trầm, đó là hoàn cảnh của vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Mặc dù như vậy, tính đến quý hai năm nay, khoản nợ của các hộ gia đình vẫn ở mức 12 ngàn 900 tỷ đô la, so với 15 ngàn tỷ của Tổng sản lượng. Yếu tố quan trọng nhất, gần như thuộc về văn hoá, là kinh tế Hoa Kỳ lệ thuộc vào tiêu thụ. Nửa thế kỷ trước, tiêu thủ ở khoảng 62% của Tổng sản lượng GDP, ngày nay mức lệ thuộc đó là 71%.
 
 
Trong bước ngoặt của việc tư nhân giảm chi để trả nợ sau 30 năm hồ hởi, nhà nước bèn vào số hao hụt bằng biện pháp tăng chi kỷ lục và mắc nợ ngập đầu. Mà vẫn không kích thích được sinh hoạt sản xuất. Khi nâng mức công chi đến ngàn tỷ một năm thì khu vực công quyền đã chẳng giải quyết được bài toán sản xuất và thất nghiệp mà chỉ nâng mức công trái và sẽ phải trả tiền lời. Bế tắc của biện pháp kích cầu bằng ngân sách khiến Ngân hàng Trung ương đã hạ lãi suất tới số không và ba lần in bạc bơm tiền vào kinh tế - mà chưa thấy hiệu quả.
 
Chỉ vì cùng với nỗ lực tăng chi để kích cầu, Chính quyền Obama còn tiến hành cải tạo xã hội và mở rộng việc điều tiết và kiểm soát thị trường với rất nhiều luật lệ mới. Tình trạng đó gây khó khăn và bất trắc cho các doanh nghiệp khiến các cơ sở kinh doanh lớn nhỏ đều có sẵn hiện kim, tiền mặt, và hơn ngàn tỷ chứ không ít, mà vẫn ngần ngại đầu tư.
 
Nạn ách tắc chính trị trong Quốc hội hai đầu chẳng giúp gì thêm cho tâm lý e ngại đó. Tinh thần đấu tranh giai cấp và kết tội tham lam cho những ai có tiền đầu tư – bọn nhà giàu đáng ghét – càng khiến doanh gia ngồi trên núi bạc chờ thời. Ách tắc chính trị dẫn đến bế tắc kinh tế.Giải pháp được gọi là vực thẳm ngân sách - một từ do Thống đốc Ngân hàng Trung ương nghĩ ra và nói tới - gồm có hai phần chua ngọt. Chua là biện pháp mặc nhiên cắt giảm công chi và ngọt là việc tăng thuế nhà giàu.
 
 Hãy nói đến thực đơn chua ngọt đó. Khi bội chi ngân sách được giảm dần, chính quyền sẽ bớt đi vay và tài nguyên dành cho việc vay mượn đó qua công khố phiếu có thể được giành lại cho sản xuất. Trước mắt là giảm dần khoản tiền lời mà công khố phải trang trải một cách đều đặn khi đi vay. Đấy là quyết định hợp lý của siêu ủy ban năm 2011 khi đề ra biện pháp tự động giảm chi, gọi là "sequestration".
 
Nó hợp lý vì thị trường trái phiếu không tiếp tục cho nhà nước vay với lãi suất rất rẻ như vậy trong khi nước Mỹ cứ mấp mé vỡ nợ. Có ngày họ sẽ đòi phân lời trái phiếu cao hơn thì công quỹ sẽ phá sản.
 
 
Đây là ta chưa nói đến một vực thẳm còn sâu hơn nữa là quỹ an sinh và y tế - xin để kỳ khác. Nhưng giảm chi là quyết định hợp lý mà không hợp tình vì nhiều người sợ rằng khoản phúc lợi xã hội của họ sẽ bị cắt. Họ dồn phiếu cho đảng Dân Chủ, một đảng có tiếng là thương dân nghèo và bảo vệ thành quả cải tạo xã hội, và họ gây áp lực để tăng thuế nhà giàu. Áp lực này là một lý luận hợp tình.
 
 
Thiếu số 1% những người có lợi tức cao nhất (lợi tức chứ không phải tài sản), đã thấy lợi tức trung bình của họ tăng hơn 90% trong các năm sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009. So với trung bình ở khoảng 50% trước đó (từ 1993 đến 2009) thì đấy là bước nhảy vọt vĩ đại trong khi lợi tức của người dân nói chung đều giảm. Cho nên, nếu các triệu phú có chịu thêm một gánh nặng thuế khóa thì cũng hợp tình!
 
Nhưng chuyện ấy lại không hợp lý vì có thể gây phản tác dụng cho kinh tế.Sản lượng kinh tế quốc gia chỉ có thể tăng nhờ dân số lao động cộng với mức gia tăng năng suất. Nhiều người làm việc hơn, với hiệu năng cao hơn thì sẽ sản xuất ra nhiều của cải hơn. Khi các chính khách nói đến chuyện tạo thêm việc làm để giải quyết nạn thất nghiệp, là nâng cao dân số lao động, thì đấy là dân số lao động trên thị trường tư doanh.
 
Chứ lực lượng công chức là thành phần đóng góp rất ít cho sản xuất và lợi tức của họ chỉ là tiền thuế của dân. Mà khu vực tư doanh đang chờ thời và ngần ngại đầu tư nên sản lượng kinh tế không tăng và thất nghiệp cũng chẳng giảm.
 
 
Số việc làm trong khu vực tư chỉ tăng khi có ai đó muốn cung cấp loại hàng hóa và dịch vụ mà thị trường chịu mua. Muốn như vậy thì phải có đầu tư và đầu tư vào những ngành có năng suất cao hơn trước thì mới có lời. Bọn nhà giàu triệu phú tiêu biểu là thành phần có khả năng đầu tư như vậy. Hãy cho rằng họ có lợi tức bạc triệu trong một năm và dự trù mất 40% vì trả đủ loại thuế, còn lại 600 ngàn cho hai nhu cầu. 1) chi tiêu để duy trì mức sống sa hoa đáng ghét và 2) đầu tư hay tiết kiệm cho tương lai.
 
 
Nếu thuế suất mà tăng, giả dụ thêm 5%, họ sẽ bớt các mục chi dụng phù phiếm, là tiêu xài ít hơn và đánh sụt số cầu trên thị trường, ít ra cũng khoảng 5%. Giải pháp kia là giảm mức đầu tư hoặc tiết kiệm, thí dụ như cũng 5%. Ai sẽ được cái khoản "mất" này, giả dụ là 5%? Nhà nước. Và được như vậy để làm gì? Tăng lương công chức hay mức trợ cấp cho dân nghèo?
 
Ngược lại, phần tiết giảm 5% vì gánh nặng thuế khóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt kinh tế? Những câu hỏi thường thức ấy cho thấy quyết định tăng thuế CŨNG có hậu quả kinh tế chứ không hẳn là vô hại. Hậu quả đầu tiên là gây thêm tâm lý bất an trong một xã hội xưa nay vẫn quý trọng những người dám lấy rủi ro để kinh doanh và làm giầu. Ngày nay, làm giầu có thể là cái tội rất đáng gọt đầu.
 
 
Trong khi ấy, nếu nhìn vào thống kê về ngân sách từ mấy năm qua, nguồn thu về thuế lợi tức đã tăng trong thực tế dù với thuế suất thấp: không phải quyết định giảm thuế đã làm giảm số thu ngân sách và tăng mức bội chi. Ngân sách bị thiếu hụt vì tăng chi quá nhiều và vì kinh tế sa sút đã thu hẹp căn bản tính thuế.Do đó, nhìn sâu hơn vực thẳm ngân sách, người ta thấy ra một hố sâu văn hóa của nước Mỹ về chuyện làm giầu. Còn gánh nợ lưu cữu từ ba chục năm nay, ai sẽ trả sau này? Thế hệ con cháu.
 
 
Tương lai đó nó vượt xa tầm nhìn của các chính khách vì hai năm tới đây họ sẽ lại phải xin phiếu của dân. Lấy tiền của bọn nhà giàu để mua phiếu của dân nghèo là một giải pháp chính trị hấp dẫn. Nhưng không là giải pháp kinh tế đã làm nên sức mạnh của Hoa Kỳ.Các nước trên thế giới hẳn là rất vui về quyết định đó của cử tri Mỹ: Hoa Kỳ sẽ sớm chấm dứt kỷ nguyên siêu cường độc bá.[NXN]

 

 

Tại sao có vực thẳm tài chánh


Tại sao có vực thẳm tài chánh

Ngô Nhân Dụng

Nước Mỹ đang đứng trên bờ vực. Ít nhất đó là lời các nhà chính trị Mỹ đã nói trong suốt một tháng qua, sau khi họ phải tạm ngưng nói vì mùa tranh cử đã chấm dứt. Ðúng ra, họ chưa bao giờ ngưng nói, chỉ bớt nói mà thôi. Công việc quan trọng nhất của các chính trị gia là nói, nếu không nói gì thì ai biết mà bỏ phiếu cho mình? Cho nên, khi hết chuyện tranh cử, người ta phải nói đến chuyện bờ vực, cả nước Mỹ đang đứng trên bờ vực. Ai cũng phải lắng nghe.

Các nhà báo Mỹ tất nhiên phải thuật lại những lời tuyên bố này. Các báo, đài phát thanh và ti vi không ngớt nói về cái vực thẳm đang chờ đón 300 triệu con dân nước Mỹ rớt xuống. Trong khi đó, đại đa số dân Mỹ vẫn làm như không hay biết gì cả. Họ vẫn lái xe ào ào trên xa lộ mà số tai nạn không tăng. Họ vẫn vào sở cắm cúi “đi cày,” cuối tuần vẫn ngồi uống la de coi các trận đấu bóng bầu dục, hay đi mua sắm quà Giáng Sinh cho gia đình. Ai tính làm đám cưới cứ tiếp tục đặt tiệc, ai tính ly dị cứ tiếp tục bàn chuyện với luật sư. Tại sao dân Mỹ dửng dưng, bình chân như vại thế?

Bởi vì cái bờ vực thẳm là do các nhà chính trị tạo ra. Họ đào hố trong mấy năm nay, mỗi năm hố lại sâu hơn. Nước Mỹ đứng trước cái vực thẳm tài chánh năm 2012, là vì từ năm 2010 các nhà chính trị không giải quyết ngay các vấn đề quan trọng về ngân sách, cứ khất lần khất lữa với nhau. Mỗi lần trì hoãn như vậy, họ vẽ ra một cái vực thẳm để dọa nhau: Nếu trong một năm nữa mà không giải quyết thì cả lũ sẽ lăn xuống vực hết! Nhưng dân Mỹ không ngu. Họ biết cái hố thẳm do các nhà chính trị tự đào lấy thì chính họ sẽ tìm cách nhảy qua chứ không ai lại dại dột để cả nước rớt xuống hố.

Cái vực thẳm vào đầu tháng 12 năm 2012 có thể mô tả như sau: Nếu đến cuối năm nay mà Quốc Hội Mỹ với Tòa Bạch Ốc không thỏa thuận được làm một đạo luật mới về ngân sách, thì sang đầu năm 2013 hầu hết dân Mỹ sẽ bị tăng thuế; và một phần ngân sách chính phủ sẽ bị cắt không thương tiếc.

Hậu quả là: Dân lo đóng thuế sẽ bớt tiêu tiền. Nhà nước cũng không có tiền xài nhiều như trước. Tổng cộng, số tiền lên tới 600 tỷ đô la. Một số tiền lớn như vậy bị rút ra khỏi nền kinh tế, thì kinh tế sẽ sụm. Người dân bớt tiêu thụ thì các xí nghiệp phải bớt việc làm, lại thêm nhiều người thất nghiệp. Chính phủ bớt tiền tiêu thì các công ty cung cấp cho chính phủ cũng phải bớt hoạt động. Kinh tế sẽ suy thoái, tức là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) trong năm 2013 có thể chỉ giảm đi; tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng. Ðó là vực thẳm. Dưới vực có hai phần, vừa tăng thuế vừa giảm chi ngân sách. Tại sao có cái vực thẳm này?

Hãy nói về thuế trước, câu chuyện bắt đầu với những đạo luật cắt giảm thuế của cựu Tổng Thống George W. Bush từ năm 2001. Từ năm trước đó chính phủ Mỹ dư tiền xài, gọi là thặng dư ngân sách. Bèn làm luật mới, giảm suất thuế phải đóng cho tất cả mọi mức lương và lợi tức. Từ năm 2002 đến 2009, số thuế chính phủ Mỹ thu vào giảm bớt khoảng 1,800 tỷ đô la. Vì vậy, đưa tới tình trạng ngân sách khiếm hụt và nhà nước phải đi vay thêm nợ, để bù vào. Các đạo luật giảm thuế của Tổng Thống Bush lại ấn định đến hết năm 2010 sẽ hết hiệu lực. Tức là nếu luật không được triển hạn thì từ năm 2011 mọi người sẽ trở lại đóng thuế lợi tức cao hơn, như dưới thời cựu Tổng Thống Bill Clinton.

Trong năm 2010, ai cũng bàn chuyện phải làm gì với thời hạn đó. Bởi vì không ai muốn sang năm 2011 toàn dân bị tăng thuế lợi tức. Cả năm 2010, hai đảng không thể đồng ý với nhau phải làm gì để tránh cảnh tăng thuế. Ðảng Cộng Hòa muốn triển hạn tất cả các đạo luật cắt thuế. Ðảng Dân Chủ lúc đó vẫn chiếm đa số ở Hạ Viện nhưng không chịu cho các người có lợi tức cao được giảm thuế như ông Bush đã cho.

Ðầu tháng 12 năm đó, các đại biểu đảng Dân Chủ trong Hạ Viện, mới thua to và biết sang năm 2011 họ sẽ thành thiểu số; đã làm một dự luật, giữ nguyên luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, trừ những người có lợi tức 250,000 đô la một năm trở lên; rồi nâng lên mức một triệu đô la. Khi lên Thượng Viện, dự luật này không được bỏ phiếu; vì các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối, phe ủng hộ không đủ 60 phiếu để gạt qua.

Cuối cùng, hai bên thỏa hiệp: Triển hạn các đạo luật cắt thuế của ông Bush, nhưng chỉ cho thêm hai năm. Ðảng Dân Chủ cũng yêu cầu được thêm khoản giảm bớt 2% trên thuế khấu trừ khi lãnh lương để góp vào quỹ hưu bổng. Ðiều này bớt cho những người đang đi làm tổng cộng 120 tỷ đô la thuế. Một số gia đình “khó khăn” cũng được giảm thêm thuế, tổng cộng 40 tỷ nữa. Các xí nghiệp mua máy móc thiết bị sẽ được khai bớt 100% trong lợi nhuận trước khi đóng thuế. Ngoài ra, cũng kéo dài thời gian trợ cấp cho những người thất nghiệp được lãnh lâu hơn, tốn 56 tỷ đô la nữa. Tất cả các khoản ân huệ này cũng được ấn định hết hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm nay; nếu không làm luật gia hạn thì các xí nghiệp và người đi làm đều đóng thêm thuế.

Ðó là một phần, phần thuế trong cái vực thẳm tài chánh mà chính phủ liên bang đang phải đối đầu. Lý do chỉ vì trong năm 2010 các chính trị gia đã không thỏa hiệp được về các luật cắt thuế của Tổng Thống Bush. Họ hoãn lại hai năm, để vấn đề này thành một đề tài tranh cử năm nay. Ngoài ra, họ còn đèo thêm mấy món ân huệ khác, và cho cùng hết hạn một ngày. Nếu đến cuối năm 2012 mà hai bên không thỏa hiệp được, thì sang năm 2013 tất cả mọi người sẽ phải đóng thuế nhiều hơn. Mọi người đi làm sẽ phải đóng thêm 2% lương của mình vào quỹ hưu bổng. Một gia đình lương 50,000 đô la một năm sẽ phải đóng thêm 2,000 đô la thuế; những người thất nghiệp lâu sẽ mất trợ cấp.

Phần thứ hai của cái vực thẳm tài chánh cũng do Quốc Hội Mỹ gây ra trong năm 2011, với sự đồng lõa của Tòa Bạch Ốc. Nguyên nhân là họ dùng một thủ tục gọi là “Sequestration” trong tiếng Anh. Trong tự điển kinh tế chữ Hán người ta dịch là “Khấu chấp,” ở Ðài Loan và trong lục địa đều dịch như vậy. Sequestration vốn thường dùng trong luật lệ thương mại, là hành động cầm giữ một tài sản của một con nợ chẳng hạn, để chờ khi nợ được thanh toán thì mới thả cho tự do bán hay cầm thế tài sản bị khấu chấp. Quốc Hội Mỹ đã dùng chữ Sequestration lần đầu vào năm 1985, khi biểu quyết một đạo luật nhắm mục đích giảm bớt khiếm hụt ngân sách, thời Tổng Thống Reagan.

Thủ tục “Khấu chấp” áp dụng nếu Quốc Hội ấn định một mức chi tiêu tổng quát về ngân sách xong rồi; nhưng khi biểu quyết các khoản chi tiêu nhỏ trong ngân sách thì cộng lại thấy tổng số cao hơn con số đã được ấn định. Thí dụ, Quốc Hội ấn định tổng cộng ngân sách là 80 đồng; nhưng cộng lại các khoản chi đã quyết định thì thấy lên tới 100 đồng. Khi đó, nếu các đại biểu không thể đồng ý với nhau nên cắt bớt phần chi nào, thì ngân sách sẽ tự động bị “khấu chấp,” tức tất cả các khoản chi cùng bị giảm 20% như nhau. Nhưng có những khoản chi bắt buộc không thể giảm, thí dụ lương bổng của quân đội, công chức, số tiền phải trả các nhà thầu đã ký hợp đồng dài hạn với nhà nước, vân vân.

Các món chi đó không giảm được, thì phải giảm các món khác. Hậu quả là nhiều bộ và cơ quan trong chính phủ sẽ bị cắt giảm nhiều hơn 20%. Ðây là một thủ tục buộc các đại biểu Quốc Hội phải đắn đo khi biểu quyết ngân sách. May mắn là Quốc Hội Mỹ vốn rất linh động; mà họ không sợ chi tiêu tiền do dân đóng thuế; cho nên họ thường biểu quyết nâng mức trần của ngân sách lên cho phù hợp với thực tế! Lối làm việc linh động này là một nguyên nhân khiến ngân sách ngày càng khiếm hụt hơn, chính phủ phải vay nợ nhiều hơn!

Vụ khấu chấp đưa tới bờ vực thẳm tài chánh năm nay là do Quốc Hội và hành pháp cùng đồng ý đặt một trái “bom nổ chậm” trong một luật ngân sách năm 2011. Năm đó, chính phủ phải vay thêm nợ, muốn vậy phải xin Quốc Hội cho nâng “trần nợ,” tức là khoản tối đa tổng số các món nợ công của liên bang. Ðảng Cộng Hòa lúc đó đang kiểm soát Hạ Viện đã đòi chính phủ Obama phải cắt bớt chi tiêu, nếu không họ từ chối nâng trần nợ. Sau cùng, hai bên thỏa hiệp cho nâng trần nợ lên, đi đôi với những khoản cắt giảm chi tiêu trong một năm. Ðạo luật còn ấn định nếu đến cuối năm 2011 mà không thỏa hiệp một giải pháp dài hạn thì sang năm 2013, tất cả ngân sách chính phủ Mỹ bị “sequester,” bị khấu chấp, tức là sẽ bị cắt tự động! Số tiền phải cắt trong ngân sách quốc phòng sẽ chiếm một nửa tổng số bị cắt giảm!

Khi hai đảng thỏa hiệp về đạo luật trên vào năm 2011, mỗi bên đều nghĩ mình khôn, vì sẽ bắt ép được bên kia nhượng bộ khi ngồi lại bàn chuyện đứng đắn. Phía Dân Chủ nghĩ là bên Cộng Hòa sẽ không đời nào để cho ngân sách quốc phòng bị cắt tự động như vậy. Bên Cộng Hòa thì đoán phía Dân Chủ sẽ lo lắng về các khoản chi tiêu như xã hội, giáo dục, y tế sẽ bị cắt, cho nên thế nào họ cũng phải nhượng bộ. Bây giờ là thời điểm hai bên phải tìm cách thỏa hiệp, để giải quyết vấn đề thu và chi của chính phủ liên bang Mỹ. Và họ còn đang tranh luận công khai trên báo, trên đài. Bên nào cũng đem cái vực thẳm tài chánh công chi ra dọa lẫn nhau.

Nghe nói đến vực thẳm thì kinh thật. Nhưng chắc dân Mỹ không lo sẽ bị rớt hết xuống hố. Từ nay đến ngày 31 tháng 12 thế nào các nhà chính trị cũng tìm ra cách thỏa hiệp để quả bom nổ chậm không phát nổ; dân Mỹ chắc sẽ không phải đóng thêm thuế. Họ sẽ thỏa hiệp thế nào, chưa biết được. Nếu nhìn và quá khứ để dự tính tương lai thì có thể đoán là họ sẽ lại đi tới một thỏa hiệp ngắn hạn, giống hệt những năm 2010 và 2011. Họ sẽ làm một đạo luật triển hạn các đạo cắt thuế thời Tổng Thống Bush, nhưng trong 6 tháng hay một năm thôi; rồi giảm bớt công chi chút chút, cũng chỉ trong một thời hạn ngắn thôi. Sau đó, đạo luật mới sẽ yêu cầu Quốc Hội phải cải tổ luật thuế vụ để tăng số thu trong ngân sách, ấn định thời hạn trong một năm phải làm xong. Thế là trong năm 2013, dân chúng Mỹ còn được nghe các nhà chính trị tranh luận về thuế (tăng thu) và các chương trình xã hội như hưu bổng, y tế (giảm chi) suốt ngày suốt đêm, thêm một lần nữa.

Như vậy dân có phí thời giờ quá vì phải nghe các nhà chính trị tranh cãi hay không?

Thử tưởng tượng, nếu có một cách biểu quyết ngân sách khác thì ra sao. Thí dụ, có những nước mà tất cả các khoản thu và chi của chính phủ đều được một nhóm 15, 17 người họp kín với nhau bàn luận rồi quyết định. Dân chúng không phải nghe mà cũng không được hỏi. Bởi vì tất cả đều do đảng lãnh đạo cả. Nếu được chọn giữa hai phương pháp quyết định việc nước như vậy, liệu quý vị chọn lối tự do dân chủ hay theo lối độc tài đảng trị?

 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link