Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, January 1, 2013

CỘNG SẢN VIỆT NAM VỎ MÁC RUỘT MAO


CỘNG SẢN VIỆT NAM

VỎ MÁC RUỘT MAO

Chủ thuyết cộng sản đã tàn tạ. Thế giới cộng sản đã vỡ nát. Thế nhưng cho đến nay, CSVN vẫn tiếp tục duy trì chế độ cộng sản độc tài toàn trị, nhất định không chịu thay đổi Điều 4 Hiến Pháp, nhất quyết bám lấy lấy tư tưởng Mác Lê làm chỗ dựa tinh thần.
 
Thật ra hôm nay, chẳng mấy người còn tin vào chủ thuyết Mác Lê, mà thật sự đã ngã theo Trung Quốc, lệ thuộc và theo Tàu từng buớc. Một cách nôm na, có thể khẳng định rằng, hôm nay Cộng sản Việt Nam chỉ còn khoác cái vỏ Mác bên ngoài, mà thật sự bên trong đang mang cái ruột Mao, tình nguyện làm thái thú của quan thầy Bắc phương!

Nhắc lại ý thức hệ Mác Xít, người ta thường nói tới Duy vật Biện Chứng, theo đó, vật chất đuợc coi là nguồn gốc mọi giá trị, và cấu trúc tinh thần chỉ là sản phẩm của vật chất. Bởi lẽ vật chất là “hạ tầng cơ sở” nên các giá trị tinh thần, đuợc gọi là “thượng tầng kiến trúc” đều lệ thuộc vào vật chất.
 
 Suy rộng ra, kinh tế là căn bản, là nguồn gốc, còn văn hóa, tôn giáo, chính trị, đều là sản phẩm của kinh tế, như thế, phương cách cai trị hữu hiệu nhất là quản lý “cái bụng” của người dân “ đói thì đầu gối phải bò”

Còn về cấu trúc xã hội, lý thuyết Mác đựa trên mâu thuẫn Hữu và Vô áp dụng vào giai cấp xã hội và được diễn tả như sau:

Đề: Hữu, là Có, là Tư bản, thâu tóm của cải trong tay

Phản đề: Vô, là Vô sản, tay không, tay trắng,bần cố

Hợp đề: Muôn sự của chung, là cộng sản

Lịch sử nhân loại tiến theo biện chứng Tư bản - Vô sản - Cộng sản, và như thế, Cộng sản đuợc coi là xã hội lý tưởng, nơi đó, không còn giai cấp, nhà nước triệt tiêu, mọi người làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu trong một thế giới đại đồng..

Nghe ra thật hấp dẫn, vì ai mà chẳng ao ước được sống trong cái xã hội bình đẳng tuyệt đối đó? Nhưng hôm nay thì sự thể đã thật sự thay đổi. Thế giới mơ tưởng đó chẳng bao giờ có, đến nỗi Trần Mạnh Hảo cách đây mấy năm, đã phải viết “Chuyện Thật Như Đùa” để thẳng thắn nêu lên 5 sự kiện làm nền tảng cho câu hỏi: Cộng sản Việt Nam đang theo Mác hay chống Mác?

Thứ nhất, theo biện chứng pháp Macxit, mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt Đối Lập Thống Nhất, nghĩa là mâu thuẫn nhau. Thế nghĩa là muốn tiến bộ, phải có đối lập chính trị. Điều đó không thể xảy ra tại Việt Nam, vì hiện nay tại VN, Đảng CSVN là sự vật to bằng Trời, nắm quyền lãnh đạo độc tôn, chủ trương độc tài toàn trị, thì đâu còn ngõ ngách nào cho đối lập chính trị?
 Mở miệng nói chuyện cải cách là vào tù hay bị khai trừ khỏi Đảng, như Trần Xuân Bách, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Hoàng Minh Chính, Viện Trưởng Viện Triết Học Mác Lê! Đặt bút viết về dân chủ là bị kết tội phản động như Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Bùi Minh Hằng! Trần Mạnh Hảo tự hỏi: Marx đã sai lầm tại VN hay Việt Nam đang chống lại học thuyết Mác, bởi lẽ tại Việt Nam, chuyện đối lập chính trị chỉ là giả tưởng!

Thứ hai, Marx dạy rằng, “hoài nghi là phẩm tính của trí thức”. Trong xã hội vô sản chuyên chính, kinh tế chủ đạo, vai trò của trí thức qủa khiêm tốn “không bằng cục phân”, nhưng chính bản chất hoài nghi đó đã xác định bản chất của trí thức, khác với những người CS được Nhân Văn Giai Phẩm gọi là những “Bộ máy chém giết, những người khổng lồ không tim không óc”.
Trong xã hội Việt Nam hôm nay, không còn chỗ đứng cho trí thức hoài nghi, bởi lẽ, giới trí thức đang bị trù giập, buộc đi theo lề phải, bẻ cong ngòi bút để tô hồng chế độ. Bọn trí thức gọi là “trí thức yêu nước” hôm nay thì chỉ là bọn người “bán miệng nuôi trôn” theo lời Bùi Minh Quốc.
 Rõ ràng, khi những người tự xưng là trí thức yêu nước, là đã chối bỏ phẩm tính hoài nghi của trí thức, hay đúng hơn, trí thức mang “ bệnh liệt kháng” theo kiểu nói của Dương Thu Hương, đã thật sự đánh mất khả năng và phẩm chất của mình. Trần Mạnh Hảo tự hỏi, Marx đã sai lầm tại VN hay VN đang chống lại Mác, bởi lẽ trí thức đã bị cuớp đoạt mất phẩm tính hoài nghi!

Thứ ba, theo lời dạy của Marx, khi tiến tới cùng đích cộng sản, con người buớc vào thế giới đại đồng, mọi người hoàn toàn bình đẳng, không còn giai cấp, nhà nuớc triệt tiêu và con nguời thật sự làm chủ chính mình, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.
 Nhưng tại Việt Nam hôm nay, người ta đang hô hào Đảng muôn năm, nhà nước cộng sản càng ngày càng tóm gọn mọi quyền trong tay, và giai cấp tư bản Đỏ là giai cấp mới đang thống trị đất nước với đặc quyền đặc lợi, thì làm sao có chuyện san bằng giai cấp, triệt tiêu nhà nước để đi đến thế giới đại đồng?
Trần Mạnh Hảo phải hỏi, CSVN theo lý thuyết của Mác hay chống lại lý thuyết Mác, bởi lẽ tại Việt Nam, càng ngày giai cấp thống trị càng lộng quyền, và người dân càng bị đẩy vào chốn bần cùng tay trắng, khố rách áo ôm!

Thứ tư, theo lý thuyết Marx, kinh tế quyết định chính trị và hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc. Cộng sản Việt Nam đang muốn đảo ngược tiến trình đó với chủ trương kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hàm ý kinh tế được định hướng bởi chính trị.
Hiện nay tại Việt Nam, người ta muốn cổ võ cho kinh tế thị trường, nghĩa là kinh tế đa nguyên với tự do cạnh tranh, nhưng đồng thời lại móc vào nền kinh tế thị trường đó cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghiã” thì quả là mâu thuẫn và nghịch lý, chẳng khác nào đem râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thật vậy, phải chọn một trong hai, hoặc kinh tế thị trường, hoặc kính tế xã hội chủ nghĩa vốn là kinh tế tập trung.
Không thể nhập nhằng chắp vá một cách miễn cưỡng, “đầu voi đuôi chuột” hay “treo đầu dê bán thịt chó như thế!” Trần Mạnh Hảo lại hỏi, CSVN theo Mác hay đang chống Mác, bởi lẽ không thể có kinh tế đa nguyên mà vẫn duy trì chính trị độc đảng độc tôn!

Thứ năm đến hôm nay, đã 20 năm sau khi chủ nghĩa cộng sản tan rã tại Liên Sô và các nước Đông Âu, ý thức hệ cộng sản lỗi thời phản tiến hóa đã bị đẩy vào thùng rác lịch sử, thế mà CSVN vẫn còn bám lấy chủ thuyết sai lầm đó, tôn vinh tư tưởng Mác Lê làm chỉ đạo chính trị và tư duy của Việt Nam! Chủ thuyết Mác Lê bị phế bỏ ngay tại cái nôi của nó, sao Việt Nam lại cứ nằng nặc bám chặt vào nó?
Trần Mạnh Hảo lại nêu lên câu hỏi, CSVN có ngoan cố và lạc hậu không? Hỏi là trả lời, vì tại Việt Nam hôm nay, tập đoàn lãnh đạo thật sự ngoan cố, ít ra là ngoài mặt, vẫn còn khoác cái vỏ Mác làm chỗ dựa tinh thần.

Điều mỉa mai là những lý thuyết gia cộng sản Việt Nam về ý thức hệ CS đã quay lưng với Mác, đã ly khai khỏi Đảng, tiêu biểu như Hoàng Minh Chính, Viện Trưởng Viện Triết học Mác Lê, cũng như Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Hữu Quýnh,Trương Như Tảng, và ngay cả Hoàng Văn Hoan! Thế thì rõ ràng, “con cháu Bác” nay chỉ còn khoác áo Mác như thể cái vỏ bọc thân, nếu không nói là “bọc thây”.

Nhưng chuyện nghịch lý đến nực cười, là hôm nay, ruột gan của cộng sản Việt Nam lại hoàn toàn cống hiến cho Mao, vì thật sự họ đang theo Tàu từng nét từ đầu xuống chân! Thật vậy, họ đang theo đuổi chính sách cai trị bằng sắt máu, bằng công an trị, đúng như Mao đã chỉ dạy: “Cộng sản không phải là tình yêu. CS là búa tạ đuợc sử dụng để đấp nát kẻ thù”.
Nếu cộng sản Trung Quốc đã theo lời dạy của Mao, áp dụng chính sách cai trị sắt máu, đàn áp dân chủ, tiêu biểu như thảm nạn Thiên An Môn, hành động chiếm đóng Tây Tạng, tiêu diệt Pháp Luân Công, và còn đẩy mạnh chủ trương làm chủ Biển Đông, xâm lăng Việt Nam, thì cộng sản Việt Nam cũng đang thẳng tay bóp chết mọi tiếng nói dân chủ từ trong trứng nước.
 Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Việt Khang còn mòn mỏi trong tù. Cũng thế, nếu Mao đã huỷ diệt trí thức Trung Quốc bằng cuộc Cách Mạng Văn Hóa, thì hôm nay, cộng sản Việt Nam cũng đang bắt chước Trung Quốc, áp dụng chính sách đàn áp trí thức, bỏ tù những người trí thức có lòng yêu nước chân chính, như Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Điếu Cày, Việt Khang, và đặc biệt là các thanh niên trí thức Vinh, đã bị bắt và bị xét xử một cách bất công..

Hẳn người ta chưa quên cuộc Cải Cách Ruộng Đất tại Việt Nam năm 1956 là rập khuôn theo Trung Quốc, và chính các cố vấn Tàu đã huấn luyện, chỉ đạo và điều hướng cuộc thảm sát đến gần nửa triệu dân lành với chủ trương “giết giết nữa bàn tay không ngưng nghỉ..”

Điều đáng tủi hổ nhất là cộng sản Việt Nam đang nhẫn tâm làm Việt gian bán nuớc cho Tàu, cụ thể là những văn kiện bán nước như Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958, Hiệp ước biên giới 1999-2000, và những mật ước nhượng biển đảo và lãnh hải, dâng hiến tài nguyên cho Trung Quốc để bảo vệ chiếc ghế thái thú của mình!
Đó là lý do tại sao Hà Nội làm ngơ, hay chỉ phản ứng lấy lệ trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc tại Biển Đông, ngang nhiên sát nhập Hoàng sa Trường Sa của Việt Nam vào bản đồ Trung Quốc, thậm chí còn vẽ cả hình lưỡi bò trên hộ chiếu của người Hoa!
 Đó là chưa nói tới sự kiện cộng sản Việt Nam, vì muốn làm hài lòng đàn anh Bắc phương, đã thẳng tay đàn áp những người xuống đường biểu tỏ lòng yêu nước chống ngoại xâm, qua những cuộc biểu tình từ mấy năm nay, và các cuộc biểu tình ngày 9 tháng 12 vừa qua tại Sài Gòn và Hà Nội, bất chấp những thủ đoạn đàn áp thô bạo của công an và du đảng côn đồ.

Câu hỏi căn bản là trước tình trạng “Vỏ Mác ruột Mao” của cộng sản Việt Nam, dân Việt phải làm gì để đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cứu nguy Tổ Quốc?
Nhiều người đã nói tới sức mạnh Diên Hồng, tới sức mạnh quần chúng, như là yếu tố quyết định cho cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc và Dân Chủ Hóa Việt Nam hôm nay. Hẳn nhiên, những cuộc xuống đuờng, những buổi cầu nguyện hiệp thông đang thể hiện sức mạnh quần chúng đó.
Nhưng thiết tưởng, dân Việt phải thật sự thức tỉnh và đánh thức lương tri của các cán bộ, đảng viên các cấp, để họ nhận chân đuợc cái “Vỏ Mác Ruột Mao” của Đảng cộng sản Việt Nam.
 Có như thế thì trên 3 triệu đảng viên, trên cả triệu quân đội, cả triệu công an mới quay mũi súng, thay vì nhắm vào nhân dân, hãy chỉa thẳng vào tập đoàn Việt gian bán nuớc. Có như thế thì sức mạnh quần chúng mới có hậu thuẫn, lấy đà bừng khởi và chiến thắng!
Ngô Quốc Sĩ

Monday, December 31, 2012

HIẾN PHÁP NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ, NỀN TẢNG VÀ LÝ TƯỞNG KIẾN TẠO VIỆT NAM XỨNG ĐÁNG VỚI CON NGƯỜI (1)


 

[Attachment(s) from Huu Dong Nguyen included below]

Trân trọng kính chuyển.

NHDong

 

HIẾN PHÁP  NHÂN   BẢN   VÀ   DÂN   CHỦ, 

NỀN TẢNG VÀ LÝ TƯỞNG KIẾN TẠO VIỆT NAM XỨNG ĐÁNG VỚI CON NGƯỜI (1)

 

 

                                                                                                                                                            NGUYỄN HỌC TẬP

 

I - Tự do thuyết lý và tự do thực hữu, tự do tiêu cực và tự do tích cực.

 

Muốn thay đổi cơ chế ( hay tổ chức hành chánh : lập pháp, hành pháp, tư pháp) của một Quốc Gia, chúng ta cần thay đổi thể chế     ( quan niệm và lý tưởng) định hướng để tổ chức cơ chế của Quốc Gia đó.

Thỉnh thoảng đó đây, trên báo chí cũng như trên các Diển Đàn Điện Toán, chúng ta thường nghe một vài người đề nghị Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam bải bỏ điều 4 Hiến Pháp XHCN của họ, để đi đến một tổ chức lý tưởng cho Việt Nam trong tương lai.

Có thật, nếu Cộng Sản Việt Nam chịu bải bỏ điều 4 Hiến Pháp XHCN hiện hành ở Việt Nam, là chúng ta có thể tổ chức được cho Việt Nam cơ chế Quốc Gia lý tưởng cho đồng bào chúng ta trong tương lai không?

 

A - Tự do thuyết lý và tự do thực hữu

Điều đó còn tùy chúng ta có thấy phần còn lại của Hiến Pháp 1992 của XHCNVN là thể chế lý tưởng để định hướng tổ chức Quốc Gia chúng ta trong tương lai không?

Nói cách khác, trong Hiến Pháp 1992 hiện hành của XHCNVN có những điều khoản Nhân Bản và Dân Chủ như lý tưởng mà chúng ta mong muốn cho tương lai đất nước và có những điều khoản nào  bảo đảm thực thi những gì Hiến Pháp tuyên bố?

Tuyên bố suông bằng cách " sao y bản chánh" các điều khoản Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền LHQ, ai cũng làm được:

" Tự do cá nhân bất khả xâm phạm",

" Tự do gia cư bất khả xâm phâm",

" Tự do ngôn luận và tự do hội họp là những quyền bất khả xâm phạm",

" Mọi người đều có quyền tự do di chuyển"...…

Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền LHQ chỉ nêu lên những quyền tối thiểu bất khả xâm phạm, mà bất cứ Quốc Gia thành viên nào cũng phải tuân giữ. Nhưng những quyền ở mức tối thiểu đó là những điều kiện sống Nhân Bản tối thiểu  mà con người phải có, chớ chưa phải là lý tưởng mà một cá nhân mong đạt đến. 

Và " sao y bản chính" để tuyên bố như vậy, ai cũng tuyên bố được, nhưng đó chỉ là cách tuyên bố "tự do thuyết lý " (liberté formelle), tuyên bố miệng và tuyên bố trên giấy tờ.

Ai chịu trách nhiệm đứng ra bảo đảm khi các quyền vừa kể không được tôn trọng và thực thi?

Tuyên bố và quy trách cho những ai sẽ chịu trách nhiệm trước Hiến Pháp trước tiên và trước luật pháp kế tiếp, đặt các điều kiện phải có để thực hiện và quy trách tội trạng đối với những ai không thi hành,  mới là phương thức biến các quyền tự do được bảo đảm thuyết lý thành "tự do thực hữu" ( liberté substantielle), có thật.

Sau khi xác nhận ở đoạn 1

 

" Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

 

Kế đến Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức còn phải quy trách cho các cơ chế Quốc Gia phải chịu trách nhiệm thực thi những quyền mà Hiến Pháp đứng ra bảo đảm trước mọi người, nếu không muốn tuyên bố để mà tuyên bố:

 

" Những quyền căn bản được kể sau đây có tính cách bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3, id.).

 

Nếu nhân phẩm con người bị vi phạm và con người không thực sự hưởng các quyền căn bản của mình, tổ chức Quốc Gia là chủ thể phải chịu trách nhiệm đầu tiên, bị Hiến Pháp quy trách cho có trách nhiệm trực tiếp, " là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp", có nghĩa là những quyền người dân có thể kỳ vọng phải được thực hiện cho họ ( actionables), bằng cách nhờ cơ quan tư pháp hay Viện Bảo Hiến đứng ra bảo chứng.

Cũng vậy,  sau khi tuyên bố người làm  việc phải được bảo đảm an sinh xã hội, những người tàn tật và kém khuyết có quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội để có được một đời sống xứng đáng với nhân phẩm con người, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc quy trách:

 

" Các bổn phận của Quốc Gia được kể trên đây sẽ được giao cho các tổ chức và cơ chế sẽ được thiết lập hay sẽ được chính tổ chức Quốc Gia bổ khuyết " ( Điều 38, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Tuyên bố Nhân Bản và Dân Chủ, tiên liệu phương tiện để thục hiện và quy trách cho ai là chủ thể chịu trách nhiệm. Đó mới là khuôn mẫu Nhân Bản và Dân Chủ thực hữu, không nói để mỵ dân.

Hiến Pháp 1992 XHCNVN có những điều khoản tương tợ quy trách cho Nhà Nước hay " Đảng và Nhà Nước" trách nhiệm bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, và nếu " Đảng và Nhà Nước mình " không thực thi, thiếu trách nhiệm, làm việc tắc trách, bè đảng, thiên vị, Hiến Pháp có tiền liệu cơ quan nào là cơ quan có thẩm quyền " xách lỗ tai Đảng và Nhà Nước" không?

Ai bảo đảm được " Đảng và Nhà Nước mình" không sai lầm, làm việc tắc trách, không bè phái thiên vị ức hiếp người dân?

 

B - Tự do tiêu cực và tự do tích cực.

Chúng tôi chưa bàn đến nội dung quan niệm về nhân phẩm con người thế nào trong Hiến Pháp 1992 XHCNVN, mà chỉ mới  đề cập đến hình thức tuyên bố.

Lần đọc những điều khoản tuyên bố về quyền và tự do của người dân, chúng ta sẽ thấy rằng Hiến Pháp 1992 XHCNVN chỉ tuyên bố một loạt các quyền dưới hình thức tiêu cực, như những gì chúng tôi trích dẫn ở trên.

Tuyên bố " Tự do cá nhân bất khả xâm phạm" là hình thức tuyên bố tiêu cực, đồng nghĩa với phía bên kia, " phía bên Chính Quyền hay cá nhân khác " " không được xâm phạm, có bổn phận phải tôn trọng ". Người dân được " tự do khỏi, liberté de..."…, bị người khác xâm phạm.

Nhưng người dân trong một Quốc Gia không phải chỉ có mức sống luôn luôn phòng thủ tiêu cực "khỏi bị người khác xâm phạm ", người khác đó là Chính Quyền hay tư nhân cũng vậy , mà còn phải có cơ hội và điều kiện thuận tiện ho phép mình tự do phát triển con người của mình và cộng tác phát triển, đem lại thịnh vượng cho chính mình và cho đồng bào mình , " tự do tích cực, liberté à..., tự do để làm một cái gì).

Đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nêu lên ở một trong những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp, đặt ở vị trí quan trọng nổi bậc:

 

" Bổn phận của nền Cộng Hoà Dân Chủ là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Hay " Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập thành chính đảng để cộng tác theo phương thức dân chủ  định đoạt  đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49 , id.)

 

Như vậy tổ chức cơ chế Quốc Gia không những " không được cấm đoán", " không được xâm phạm" các quyền tự do của người dân hay người dân có tự do khỏi bị Quốc Gia cấm đoán ( liberté de...) quyền tự do gia nhập hội , mà chính tổ chức Quốc Gia còn tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích, " dẹp bỏ đi những chướng ngại vật ", để người dân có thể xử dụng quyền  tự do nhập hội và hội họp của mình,  hành động mưu ích cho mình và cho Cộng Đồng Quốc Gia, tự do tích cực để, tự do để làm một việc gì … ( liberté à...…):

 

"...tự do cộng tác theo phương thức dân chủ định đoạt đường lối chính trị quốc gia, "( Điều 49, id.).

 

Thể chế tốt đẹp hơn cho tương lai Việt Nam không những cần phải có những điều khoản bảo đảm dưới hình thức tiêu cực, mà còn quy trách cho Quốc Gia tạo điều kiện vật chất và phương thế thích hợp, để khuyến khích người dân thăng tiến chính mình và cộng tác phát triển cho xứ sở đến văn minh và phú cường.

Hiến Pháp 1992 Cộng Sản Việt Nam có những điều khoản như vậy không?

 

II - Thể chế Nhân Bản trong Hiến Pháp.

 

A - Thể chế độc tài là thể chế chống con người, trước khi chống thể chế dân chủ.

Đọc các Hiến Pháp Tây Âu, nhứt là Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, hai Hiến Pháp thoát xuất từ hai chế độ độc tài của Mussolini và Hitler, điều nổi bậc mà ai cũng thấy được, đó là tính cách Nhân Bản của người dân Âu Châu.

Trong quan niệm thường nhật, chúng ta thường đặt đối ngược nhau quan niệm Quân Chủ và Dân Chủ, Độc Tài và Tự Do.

Dường như Quân Chủ hay Độc Tài là những phương thức tổ chức hành quyền chống Dân Chủ hơn là chống Con Người, đàn áp và nô lệ hoá Con Người, đê tiện hoá nhân phẩm Con Người, không tôn trọng Nhân Bản.

Quan niệm Độc Tài, phương thức hành quyền chống Dân Chủ,  là quan niệm  không chính xác.

Bất cứ cách hành xử quyền bính Độc Tài nào cũng là cách  thức lạm  dụng quyền lực chống Con Người trước tiên, chống các quyền và tự do bất khả xâm phạm của Con Người, trước khi chống lại "phương thức tổ chức quyền lực  Quốc Gia dựa trên sự đồng thuận của người dân " hay Dân Chủ.

Đó là những gì được ghi trong hai Bản Tuyên Ngôn của hai cuộc Cách Mạng đưa đến tổ chức văn minh của nhân loại hiện nay, Cách Mạng Độc Lập Hoa Kỳ và Cách Mạng Pháp Quốc 1789:

 

   - Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau.

  Tất cả đều được Đấng Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả nhượng.

 Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là các quyền thượng đẳng" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776).

 

- "Các đại diện đồng thanh tuyên bố rằng: các quyền của con người do Thiên Phú, bất khả nhượng và cao qúy " ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp Quốc 1789).

 

Như vậy, lý do mà người dân nổi lên làm Cách Mạng, chống Quân Chủ, chống Độc Tài là để bênh vực Con Người bị chà đạp, đê tiện hóa và nô lệ hóa Con Người, để bênh vực Nhân Bản của mình.

Thừa hưởng tinh thần Nhân Bản trên, các vị soạn thảo  hai Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBĐ)  khởi đầu viết Hiến Pháp bằng cách quan niệm  Con Người phải được đặt  ở địa vị trung tâm điểm và tối thượng trong tổ chức cơ chế Quốc Gia, chống lại quan niệm coi con người như thú vật, bị đánh đập, tra tấn và lùa vào các lò sát sinh hay hầm chôn tập thể dưới  chế độ độc tài Hitler và Mussolini.

Nói cách khác,tổ chức Quốc Gia được thành lập  để phục vụ con người chớ không ngược lại.

Trong quan niệm đó, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ tuyên bố về con người ngay ở điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp:

 

" Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm " ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp CHLBĐ).

 

Và liên tục tuyên bố về các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người, phương thức liên hệ để bảo vệ liên tiếp trong 19 điều khoản kế tiếp, trước khi định nghĩa thể chế và kết cấu tổ chức Quốc Gia như là dụng cụ để bảo đảm, thực thi và tạo điều kiện thích ứng để phát triển con người từ điều 20 trở đi.

Hành xử như vậy, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ muốn đặt vị trí nổi bậc của con người trong tổ chức Quốc Gia.

 

Con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm của tổ chức Quốc Gia.

 

Mục đích hiện hữu của tổ chức Quốc Gia là phục vụ con người, giúp cho con người đạt được những gì mà cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân không có điều kiện và phương tiện để thực hiện.

Cho đến bao giờ, Quốc Gia chưa có được một thể chế định hướng để tổ chức đất nước đặt trên nền tảng trên tôn trọng Nhân Phẩm, Quốc Gia đó còn chất chứa tranh chấp, lường lọc, chia rẻ, lấn áp, trả thù phục hận, là địa ngục trần gian.

Bởi lẽ thể chế và cơ chế của  Quốc Gia tổ chức chống lại Bản Tính con người, chống lại các ước vọng tự nhiên về tự do và bình đẳng, do chính bản tính con người đòi buộc.

Chế độ của Hitler và Mussolini đã minh chứng.

Đó là những gì Hiến Pháp 1949 CHLBĐ tuyên bố kế tiếp trong cùng một điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp:

 

" Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

 

Cũng vậy, Hiến Pháp 1947 Ý tuyên bố về con người từ điều 2 đến điều 54, trước khi xác định phương thức tổ chức cơ chế Quốc Gia  như là phương thức tổ chức để bảo đảm thực thi lý tưởng Nhân Bản, mà các điều khoản kế tiếp của  Hiến Pháp sẽ tuyên bố.

Ngay ở điều 2 của Hiến Pháp, địa vị con người được đặt trên một vị trí nổi bậc:

 

" Nền Cộng Hoà nhận biết ( riconosce) và bảo vệ ( garantisce) các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi con người phát triển nhân cách của mình " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

B- Con người và người công dân.

Các vị soạn thảo của hai Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 CHLBĐ đã dùng chữ rất chính xác để nói lên tư tưởng quan trọng mà các vị đã đặt vào những dòng đầu của Hiến Pháp.

Các vị đã dùng từ ngữ " con người ", thay vì " người công dân" để nói lên tư tưởng nhân bản tối thượng mà mọi người phải tôn trọng:

 

- " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp CHLBĐ),

 

- " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

        ( 1 ) - Con Người.

 Khi đề cập đến "con người "   là chúng ta đề cập đến những đặc tính được cấu tạo do chính bản tính của con người xác định.

"Con người " đó bất cứ là ai, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.

Hể đã là người, chúng ta đều có nhân vị và nhu cầu như nhau, cần phải được kính trọng và thoả mãn, không phân biệt màu da, sắc tộc, ngôn ngữ, chính kiến, tôn giáo, địa vị cá nhân và xã hội:

 

" Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Người nam và người nữ đều ngang hàng nhau, đối với các quyền của mình.

Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đãi do phái tính, sinh trưởng, giòng giống, ngôn ngữ, quốc gia hay nguồn gốc, tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo hay chính kiến" (Điều 3, đoạn 1,2 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

 

Tư tuởng trên cắt nghĩa tại sao người Đức không tuyên bố " trên lãnh thổ Đức  …"     hay "đối với dân tộc Đức, nhân phẩm con người bất khả xâm phạm", mà chỉ tuyên bố một câu ngắn ngủi như là một mệnh lệnh phải tôn trọng:

 

" Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1, id.).

 

Mệnh lệnh của dân tộc Đức đã quá rõ: " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm", bất cứ con người đó là ai và " bất khả xâm phạm " là điều bắt buộc đối với bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, nếu những người đó muốn có một cuộc sống hòa bình và thân hữu đối với dân tộc Đức, vì đó

 

"...…là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới" (Điều 1, đoạn 2, id.).

 

Nói cách khác, những thể chế và những ai hành xử theo những thể chế không tôn trọng nhân phẩm con người là những ý thức hệ và con người không thể nào có một cuộc sống cộng tác hòa bình và thân hữu với dân tộc Đức.

Bởi lẽ nếu họ không tôn trọng nhân phẩm con người, là họ miệt thị những giá trị mà dân tộc Đức đặt lên hàng đầu trong cuộc sống của mình.

 

       ( 2 ) - Người Công Dân.

Như trên đã nói, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 CHLBĐ dùng danh từ " con người " thay vì " người công dân", để nói lên tính cách phổ quát của lý tưởng nhân bản mà bất cứ ai cũng phải được tôn trọng và đối với bất cứ ai.

Trong chính trị học, khi đề cập đến " người công dân" là chúng ta nói đến người dân liên hệ với một tổ chức Quốc Gia cá biệt, có thể chế, luật lệ và cơ chế đặc thù. Khi nói đến người công dân Ý chẳng hạn, là chúng ta đề cập đến người dân vừa kể liên quan đến tổ chức Quốc Gia Ý.

Quyền và nhiệm vụ của người dân do đó tùy theo luật pháp Quốc Gia Ý quy định.

Chúng ta đã thấy rằng Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đề cập đến địa vị và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người từ điều 2- 54 và Hiến Pháp 1949 CHLBĐ, từ điều 1-19, trước khi định nghĩa thể chế chính trị và phương thức tổ chức cơ chế quyền lực Quốc Gia từ điều 20 trở đi.

Trái lại Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết chỉ đề cập đến " người công dân" của họ từ điều 33 trở đi, sau khi đã bàn thảo về thể chế chính trị ( điều 1-9), hệ thống kinh tế ( 10-18), phát triển xã hội và văn hóa ( 19-27), chính sách ngoại giao ( 28-30) và chính sách bảo vệ Quốc Gia và Chủ Nghĩa Xã Hội ( 31-33).

Điều đó cho thấy người dân được ý thức hệ Cộng Sản ban cho một chỗ đứng nào trong quan niệm tổ chức quốc Gia của họ.

Còn nữa, nếu Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 CHLBĐ cũng như các Hiến Pháp Tây Âu đề cập đến " con người ", thì Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết  chỉ đề cập đến " người công dân".

Và nếu Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố

 

" nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người…" ( Điều 2),

 

vì là những quyền " …được Đấng Tạo Hoá ban cho…" (Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776)

hay " là những quyền của con người do Thiên Phú bất khả nhượng và cao qúy" ( Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789),

thì đây là những gì Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết ban cho " người công dân" của họ:

 

" Nhân dân Sô Viết ( hay Đảng Cộng Sản Sô Viết cũng vậy) được hướng dẫn bằng tư tưởng Cộng Sản Chủ Nghĩa khoa học và trung thành với các truyền thống Cách Mạng…xác định nền tảng của chế độ xã hội và chính trị của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối với người công dân, các nguyên tắc tổ chức và mục đích cho Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa của toàn dân" ( Tiền Đề, đoạn XIV Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết".

 

Như chúng ta vừa nói, khi đề cập đến " người công dân", là chúng ta đề cập đến người dân có liên hệ với tổ chức Quốc Gia. Quyền và bổn  phận của người dân tùy thuộc vào sự quyết định của thể chế và cơ chế Quốc Gia.

Đó là điều mà Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết tuyên bố:

 

" Nhân dân Sô Viết ( hay Đảng CS Sô Viết) …thiết định quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối với người công dân" ( Tiền Đề, đoạn XIV, Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang So Viết)

 

Điều đó chứng tỏ rằng con người sống dưới chế độ Cộng Sản chỉ là "người công dân "liên hệ với tổ chức Quốc Gia Cộng Sản. Các quyền và tự do cũng như bổn phận phải do Đảng Cộng Sản " thiết định" cho mới có.

Và vì Đảng Cộng Sản có quyền " thiết định" các quyền và tự do của người dân họ, nên ai sống ngoài tổ chức của Cộng Sản, những ai không chấp nhận thể chế và cơ chế Cộng Sản, là người không được thể chế luật pháp Cộng Sản " thiết định".

Điều đó có nghĩa là những ai chống lại thể chế và cơ chế Cộng Sản, những nhà ly khai chẳng hạn, là những người không có được một quyền và tự do nào: Cộng Sản có thể tiêu diệt họ.

Ngoài ra nếu giới hành quyền Cộng Sản có quyền " thiết định" quyền và tự do của người dân, thì họ cũng có quyền " không thiết định", hay " thiết định nhiều hay ít và lúc nào tùy hỷ" : họ có thể giãm bớt hay truất hữu quyền làm người của những ai sống dưới chế độ Cộng Sản.

Hay nói như Linh Mục Tiến Sĩ Hortz S.J, giáo sư Luật Hiến Pháp tại đại học Gregoriana ( Roma):

 

- " Trong thể chế Cộng Sản không có con người" ( Hortz S.J., La Nuova Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica, 1978, 40).

 

( còn tiếp )

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link