Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, January 6, 2013

ĐÀN ÁP BIỂU TÌNH GIỌT NƯỚC ĐÃ TRÀN LY !

ĐÀN ÁP BIỂU TÌNH GIỌT NƯỚC ĐÃ TRÀN LY !
 

ĐÀN ÁP BIỂU TÌNH GIỌT NƯỚC ĐÃ TRÀN LY !

 

 

Kính mời quý vị lắng nghe lời phát biểu của Hồ Ngọc Nhuận phó chủ tịch mặt trận tổ-quốc CSVN.


Họ biết rõ lòng tin của nhân dân gần như không còn nữa nhưng mà họ còn những guồng máy cai trị, guồng máy đàn áp thì họ sử dụng những guồng máy đó."

Hồ Ngọc Nhuận, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tp Hồ Chí Minh


 

Vietland


ĐÀN ÁP BIỂU TÌNH- GIỌT NƯỚC ĐÃ TRÀN LY !

Biểu tình chống Trung Quốc đã xảy ra trong thời gian ảm đạm nhất của đất nước. Trung Quốc đàn áp người đánh cá ở Biển Đông, ngang nhiên biến vùng biển của VN thành biển hồ của Trung Quốc.

Nhà lãnh đạo CSVN thay vì nuôi dưỡng lòng Yêu Nước của Nhân Dân để tiếp sức chống lại giặc ngoại xâm thì nay họ đã đánh mất những tấm Lòng Yêu Nước Cuối Cùng qua việc đàn áp thô bạo 2 cuộc biểu tình tại SG và HN trong ngày 09/12/2012 vừa qua.

Thời gian biểu tình ÔN HÒA để chống lại sự xâm lấn của Bắc Kinh coi như không còn nữa, người dân Việt Nam nên xem lại hành động yêu nước của mình và không nên để Lòng Yêu nước của mình bị làm nhục . Người làm nhục chí Lòng Yêu Nước của Nhân Dân không ai khác hơn chính là Đảng CSVN.

Đã tới lúc Nhân Dân VN Cần Nổi Dậy, Kháng Chiến để sống còn, để cứu đất nước thoát khỏi sự xâm lăng của Tàu Cộng.

Câu hỏi được đặt ra hôm nay cho người dân VN là chúng ta sẽ làm gì khi Đảng Và Nhà Nước CSVN đã bán đứng Việt Nam cho Tàu Cộng ? Muốn cứu nước thì chúng ta phải làm gì ? Nên nhớ là chúng ta không còn cơ hội để gào thét hay cầu cứu Đảng CSVN để mong họ đứng ra lãnh đạo bảo vệ tổ quốc được nữa.

Sự việc Đảng CSVN ra lệnh đàn áp người biểu tình ngày hôm nay đã đưa lên một hình ảnh rất rõ là Đảng CSVN không còn đứng về phía Nhân Dân để chống lại ngoại xâm mà họ đã đứng về phía giặc Bắc Kinh. Những người còn mang hoài bão tranh đấu “Ôn Hòa” nên suy nghĩ lại hành động của mình.

Những nhà Dân Chủ, Nhà Văn, Nghệ Sĩ, Trí Thức trước đây ủng hộ con đường Yêu Nước ôn hòa đã bị Đảng CSVN đàn áp, truy bức và giam cầm, từng người một đã đi vào nhà lao trong lạnh lùng. Phản kháng để bảo vệ tổ quốc là việc cần làm ngay vì thời gian không còn kịp nữa . Nếu chúng ta tranh đấu ngoài ánh sáng để dễ dàng bị bắt thì hãy tranh đấu trong bóng tối.

Người dân Việt Nam phải luôn nhớ nằm lòng là Đảng CSVN, những lãnh đạo là những người tham ô, họ đã hút máu nhân dân Việt Nam để làm giàu nhưng lại qùi gối trước sự xâm lăng của Trung Quốc. Đảng CSVN là những nhà tỉ phú, triệu phú, tôi muốn nói đến bạc tỉ họ tính bằng tiền Đô La Mỹ chứ không phải trị giá của đồng tiền VN . Đảng CSVN chắc chắn sẽ không từ bỏ gia sản khổng lồ mà họ đang có để bảo vệ tổ quốc, lo cho dân mà họ sẽ sử dụng tất cả quyền lực đang có để bảo vệ cho gia sản khổng lồ mà các lãnh đạo Đảng và gia đình họ đang chiếm đọat.

Bảo vệ đất nước VN đối với Đảng CSVN ngày nay không còn có ý nghĩa nữa, vì vậy Quân Đội VN nếu những ai còn có tấm lòng yêu nước thì hãy xem mình đang phục vụ ai, Quân Đội hãy đứng về phía Nhân Dân để bảo vệ tổ quốc, đừng nghe những lời khuyến dụ đầu hành của bọn Lê Chiêu Thống Đảng CSVN nữa.

Phản kháng hay tranh đấu để cứu quốc không phải một việc làm xấu mà là một việc làm của kẻ sĩ phu. Người Yêu Nước mà không biết áp dụng lòng yêu nước mình cho đúng chỗ là một người Yêu Nước khờ dại. Bạn phải hiểu là biểu tình ôn hòa để chống lại sự xâm lăng của giặc Bắc Kinh là bạn đã tự tay trói mình, đòi hỏi Dảng CSVN phải tôn trọng Hiến Pháp là một việc làm mơ hồ vì Đảng CSVN đã qùi gối từ lâu rồi.

Nếu bạn là một người có đầu óc suy nghĩ thì bạn sẽ thấy những công an mặc quân phục VN “đang nói tiếng Việt” chính là công an Trung Quốc hay bọn Việt Gian đang làm việc theo sự điều động từ Trung Quốc. Những lãnh đạo Đảng CSVN đang nói tiếng Việt với bạn mà tinh thần của họ đã là người Trung Quốc thì chúng ta nên xem họ là người Trung Quốc để dễ dàng chiến đấu Bảo Vệ Tổ Quốc.

Nếu bạn còn tin vào Đảng CSVN thì bạn đã để lòng Yêu Nước của mình bị làm nhục, bị xâm phạm một cách trắng trợn.

Thanh Hương

 

Date: Mon, 10 Dec 2012 07:40:02 -0800
From: sangthai42@yahoo.com
Subject: Kỷ Niệm Ngày Quốc tế Nhân Quyền 10 Tháng 12 - Biểu tình & Tuyệt thực cho Nhân Quyền tại Washington DC

 

10 THÁNG 12
KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (10/12/1948)

LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,

Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dă man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi ngườiđược tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,

Xét rằngđiều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,

Xét rằngđiều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,

Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,

Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,

Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.

Vì vậy,

ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC

Công bốbản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớtới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lănh thỗ bị giám hộ.

Điều 1:

Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.

Điều 2:

Ai cũngđược hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, ḍng dơi hay bất cứ thân trạng nào khác. Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị,pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lănh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Điều 3:

Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.

Điều 4:

Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.

Điều 5:

Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6:

Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 7:

Mọi ngườiđều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị.Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.

Điều 8:

Ai cũng có quyền yêu cầu toà án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hànhđộng vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.

Điều 9:

Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.

Điều 10:

Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tưxét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiăvụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.

Điều 11:

1. Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.

2. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.

Điều 12:

Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệchống lại những xâm phạm ấy.

Điều 13:

1. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.

2. Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.

Điều 14:

1. Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền t́m nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.

2. Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 15:

1. Ai cũng có quyền có quốc tịch.

2. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độcđoán.

Điều 16:

1. Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bịngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.

2. Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.

3. Giađình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17:

1. Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.

2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18:

Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

Điều 19:

Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền t́m kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Điều 20:

1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.

2. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.

Điều 21:

1. Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.

2. Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

3. ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Điều 22:

Với tưcách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền được được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

Điều 23:

1. Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng nhữngđiều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.

2. Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.

3. Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.

4. Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24:

Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

Điều 25:

1. Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.

2. Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:

1. Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.

2. Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạtđộng của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.

3. Cha mẹcó quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.

Điều 27:

1. Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.

2. Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.

Điều 28:

Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:

1. Ai cũng có nghiă vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.

2. Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngơ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những được hỏi chính đáng về đạo lư, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa măn.

3. Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 30:

Không mộtđiều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.

(Phỏng theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)

THE INTERNATIONAL BILL OF HUMAN RIGHTS

UNIVERSAL DECLARATION OF HUMAN RIGHTS

(10 December 1948)

Preamble

Whereas recognition of the inherent dignity and of the equal and inalienable rights of all members of the human family is the foundation of freedom, justice and peace in the world,

Whereas disregard and contempt for human rights have resulted in barbarous acts which have outraged the conscience of mankind, and the advent of a world in which human being shall enjoy freedom of speech and belief and freedom for fear and want has been proclaimed as the highest aspiration of the common people,

Whereas it is essential, if man is not to be compelled to have recourse, as a last resort, to rebellion against tyranny and oppression, that human rights should be protected by the rule of law,

Whereas it is essential to promote the development of friendly relation between nations,

Whereas the peoples of the United Nations have in the Charter reaffirmed their faith in fundamental human rights, in the dignity and worth of the human person and in the equal rights of men and women and have determined to promote social progress and better standards of life in larger freedom,

Whereas Member States have pledged themselves to achieve, in cooperation with the United Nations, the promotion of universal respect for and observance of human rights and fundamental freedoms,

Whereas a common understanding of these rights and freedom is of the greatest importance for the full realization of this pledge,

Now, therefore,

The General Assembly,

Proclaims this Universal Declaration of Human Rights as a common standard of achievement for all people and all nations, to the end that every individual and every organ of society, keeping this Declaration constantly in mind, shall strive by teaching and education to promote respect for these rights and freedoms and by progressive measures, national and international, to secure their universal and effective recognition and observance, both among the peoples of Member States themselves and among the peoples of territories under their jurisdiction.

Article 1

All human beings are born free and equal in dignity and rights. They are endowed with reason and conscience and should act towards one another in a spirit of brotherhood.

Article 2

1- Everyone is entitled to all the rights and freedoms set forth in this Declaration, without distinction of any kind, such as race, color, sex, language, religion, political or other opinion, national or social origin, property, birth or other status.

2- Furthermore, no distinction shall be made on the basis of the political, jurisdictional or international status of the country or territory to which a person belongs, whether it be independent, trust, non-self-governing or under any other limitation of sovereignty.

Article 3

Everyone has the right to life, liberty and security of person.

Article 4

No one shall be held in slavery or servitude; slavery and the slave trade shall be prohibited in all their forms.

Article 5

No one shall be subjected to torture or to cruel, inhuman or degrading treatment or punishment.

Article 6

Everyone has the right to recognition everywhere as a person before the law.

Article 7

1- All are equal before the law and are entitled without any discrimination to equal protection of the law.

2- All are entitled to equal protection against any discrimination in violation of this Declaration and against any incitement to such discrimination.

Article 8

Everyone has the right to an effective remedy by the competent national tribunals for acts violating the fundamental rights granted him by the constitution or by law.

Article 9

No one shall be subjected to arbitrary arrest, detention or exile.

Article 10

Everyone is entitled in full equality to a fair and public hearing by an independent and impartial tribunal, in the determination of his rights and obligations and of any criminal charge against him.

Article 11

1- Everyone charged with a penal offence has the right to be presumed innocent until proved guilty according to law in a public trial at which he has had all the guarantees necessary for his defense.

2- No one shall be held guilty of any penal offence on account of any act or omission which did not constitute a penal offence, under national or international law, at the time when it was committed. Nor shall a heavier penalty be imposed than the one that was applicable at the time the penal offence was committed.

Article 12

No one shall be subjected to arbitrary interference with his privacy, family, home or correspondence, nor to attacks upon his honor and reputation. Everyone has the right to the protection of the law against such interference of attacks.

Article 13

1- Everyone has the right to freedom of movement and residence within the borders of each State.

2- Everyone has the right to leave any country, including his own, and return to his country.

Article 14

1- Everyone has the right to seek and to enjoy in other countries asylum from persecution.

2- This right may not be invoked in the case of prosecutions genuinely arising from non-political crimes or from acts contrary to the purposes and principles of the United Nations.

Article 15

1- Everyone has a right to a nationality.

2- No one shall be arbitrarily deprived of his nationality nor denied the right to change his nationality.

Article 16

1- Men and women of full age, without any limitation due to race, nationality or religion, have the right to marry and to found a family. The are entitle to equal rights as to marriage, during marriage and at its dissolution.

2- Marriage shall be entered into only with the free and full consent of the intending spouses.
The family is the natural and fundamental group unit of society and is entitled to protection by society and the State.

Article 17

1- Everyone has the right to own property alone as well as in association with others.

2- No one shall be arbitrary deprived of his property.

Article 18

Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom, either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion of belief in teaching, practice, worship and observance.

Article 19

Everyone has the right to freedom of opinion and expression; this right includes freedom of hold opinions without interference and to seek, receive and impart information and ideas through any media and regardless of frontiers.

Article 20

1- Everyone has the right to freedom of peaceful assembly and association.

2- No one may be compelled to belong to an association.

Article 21

1- Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen representatives.

2- Everyone has the right to equal access to public service in his country.

3- The will of the people shall be the basic of the authority of government; this will shall be expressed in periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote or by equivalent free voting procedures.

Article 22

Everyone, as a member of society, has the right to social security and is entitled to realization, through national effort and international co-operation and in accordance with the organization and resource of each State, of the economic, social and cultural rights indispensable for his dignity and the free development of his personality.

Article 23

1- Everyone has the right to work, to free choice of employment, to just and favorable conditions of work and to protection against unemployment.

2- Everyone, without any discrimination, has the right to equal pay for equal work.

3- Everyone who works has the right to just and favorable remuneration ensuring for himself and his family an existence worthy of human dignity, and supplemented, if necessary, by other means of social protection.

4- Everyone has the right to form and to join trade unions for the protection of his interests.

Article 24

Everyone has the right to rest and leisure, including reasonable limitation of working hours and periodic holidays with pay.

Article 25

1- Everyone has the right to a standard of living adequate for the health and well-being o himself and of his family, including food, clothing, housing and medical care and necessary social service, and the right to security in the event of unemployment, sickness, disability, widowhood, old age or other lack of livelihood in circumstances beyond his control.

2- Motherhood and childhood are entitled to special care and assistance. All children, whether born in or out of wedlock, shall enjoy the same social protection.

Article 26

1- Everyone has the right to education. Education shall be free, at least in the elementary and fundamental stages. Elementary education shall be compulsory. Technical and professional education shall be made generally available and higher education shall be equally accessible to all on the basis of merit.

2- Education shall be directed to the full development of the human personality and to the strengthening of respect for human rights and fundamental freedoms. It shall promote understanding, tolerance and friendship among all nations, racial or religious groups, and shall further the activities of the United Nations for the maintenance of peace.

3- Parents have a prior right to choose the kind of education that shall be given to their children.

Article 27

1- Everyone has the right freely to participate in the cultural life of the community, to enjoy the arts and to share in scientific advancement and its benefits.

2- Everyone has the right to the protection of the moral and material interests resulting from any scientific, literary or artistic production of which he is the author.

Article 28

Everyone is entitled to a social and international order in which the rights and freedoms set forth in this Declaration can be fully realized.

Article 29

1-Everyone has duties to the community in which alone the free and full development of his personality is possible.

2- In the exercise of his rights and freedoms, everyone shall be subject only to such limitation as are determined by law solely for the purpose of securing due recognition and respect for the rights and freedoms of others and of meeting the just requirements of morality, public order and the general welfare in a democratic society.

3- These rights and freedoms may in no case be exercised contrary to the purposes and principles of the United Nations.

Article 30

Nothing in this Declaration may be interpreted as implying for any State, group or person any right to engage in any activity or to perform any act aimed at the destruction of any of the rights and freedoms set forth herein.

LA CHARTE INTERNATIONALE DES DROITS DE L'HOMME

DÉCLARATION UNIVERSELLE DES DROITS DE L'HOMME

(10 Décembre 1948)

Préambule

Considérant que la reconnaissance de la dignité inhérente à tous les membres de la famille humaine et de leurs droits égaux et inaliénables constitue le fondement de la liberté, de la justice et de la paix dans le monde.

Considérant que la méconnaissance et le mépris des droits de l'homme ont conduit à des actes de barbarie qui révoltent la conscience de l'humanité et que l'avènement d'un monde où les êtres humains seront libres de parler et de croire, libérés de la terreur et de la misère, a été proclamé comme la plus haute aspiration de l'homme.

Considérant qu'il est essentiel que les droits de l'homme soient protégés par un régime de droit pour que l'homme ne soit pas contraint, en suprême recours, à la révolte contre la tyrannie et l'oppression.

Considérant qu'il est essentiel d'encourager le développement de relations amicales entre nations.

Considérant que dans la Charte les peuples des Nations Unies ont proclamé à nouveau leur foi dans les droits fondamentaux de l'homme, dans la dignité et la valeur de la personne humaine, dans l'égalité des droits des hommes et des femmes, et qu'ils se sont déclarés résolus à favoriser le progrès social et à instaurer de meilleures conditions de vie dans une liberté plus grande.

Considérant que les Etats Membres se sont engagés à assurer, en coopération avec l'Organisation des Nations Unies, le respect universel et effectif des droits de l'homme et des libertés fondamentales. Considérant qu'une conception commune de ces droits et libertés est de la plus haute importance pour remplir pleinement cet engagement.

L'Assemblée Générale proclame la présente Déclaration universelle des droits de l'homme comme l'idéal commun à atteindre par tous les peuples et toutes les nations afin que tous les individus et tous les organes de la société, ayant cette Déclaration constamment à l'esprit, s'efforcent, par l'enseignement et l'éducation, de développer le respect de ces droits et libertés et d'en assurer, par des mesures progressives d'ordre national et international, la reconnaissance et l'application universelles et effectives, tant parmi les populations des Etats Membres eux-mêmes que parmi celles des territoires placés sous leur juridiction.

Article premier

Tous les êtres humains naissent libres et égaux en dignité et en droits. Ils sont doués de raison et de conscience et doivent agir les uns envers les autres dans un esprit de fraternité.

Article 2

1. Chacun peut se prévaloir de tous les droits et de toutes les libertés proclamés dans la présente Déclaration, sans distinction aucune, notamment de race, de couleur, de sexe, de langue, de religion, d'opinion politique ou de toute autre opinion, d'origine nationale ou sociale, de fortune, de naissance ou de toute autre situation.

2. De plus, il ne sera fait aucune distinction fondée sur le statut politique, juridique ou international du pays ou du territoire dont une personne est ressortissante, que ce pays ou territoire soit indépendant, sous tutelle, non autonome ou soumis à une limitation quelconque de souveraineté.

Article 3

Tout individu a droit à la vie, à la liberté et à la sûreté de sa personne.

Article 4

Nul ne sera tenu en esclavage ni en servitude; l'esclavage et la traite des esclaves sont interdits sous toutes leurs formes.

Article 5

Nul ne sera soumis à la torture, ni à des peines ou traitements cruels, inhumains ou dégradants.

Article 6

Chacun a le droit à la reconnaissance en tous lieux de sa personnalité juridique.

Article 7

Tous sont égaux devant la loi et ont droit sans distinction à une égale protection de la loi. Tous ont droit à une protection égale contre toute discrimination qui violerait la présente Déclaration et contre toute provocation à une telle discrimination.

Article 8

Toute personne a droit à un recours effectif devant les juridictions nationales compétentes contre les actes violant les droits fondamentaux qui lui sont reconnus par la constitution ou par la loi.

Article 9

Nul ne peut être arbitrairement arrêté, détenu ou exilé.

Article 10

Toute personne a droit, en pleine égalité, à ce que sa cause soit entendue équitablement et publiquement par un tribunal indépendant et impartial, qui décidera, soit de ses droits et obligations, soit du bien-fondé de toute accusation en matière pénale dirigée contre elle.

Article 11

1. Toute personne accusée d'un acte délictueux est présumée innocente jusqu'à ce que sa culpabilité ait été légalement établie au cours d'un procès public où toutes les garanties nécessaires à sa défense lui auront été assurées.

2. Nul ne sera condamné pour des actions ou omissions qui, au moment où elles ont été commises, ne constituaient pas un acte délictueux d'après le droit national ou international. De même, il ne sera infligé aucune peine plus forte que celle qui était applicable au moment où l'acte délictueux a été commis.

Article 12

Nul ne sera l'objet d'immixtions arbitraires dans sa vie privée, sa famille, son domicile ou sa correspondance, ni d'atteintes à son honneur et à sa réputation. Toute personne a droit à la protection de la loi contre de telles immixtions ou de telles atteintes.

Article 13

1. Toute personne a le droit de circuler librement et de choisir sa résidence à l'intérieur d'un Etat.

2. Toute personne a le droit de quitter tout pays, y compris le sien, et de revenir dans son pays.

Article 14

1. Devant la persécution, toute personne a le droit de chercher asile et de bénéficier de l'asile en d'autres pays.

2. Ce droit ne peut être invoqué dans le cas de poursuites réellement fondées sur un crime de droit commun ou sur des agissements contraires aux buts et aux principes des Nations Unies.

Article 15

1. Tout individu a droit à une nationalité.

2. Nul ne peut être arbitrairement privé de sa nationalité, ni du droit de changer de nationalité.

Article 16

1. A partir de l'âge nubile, l'homme et la femme, sans aucune restriction quant à la race, la nationalité ou la religion, ont le droit de se marier et de fonder une famille. Ils ont des droits égaux au regard du mariage, durant le mariage et lors de sa dissolution.

2. Le mariage ne peut être conclu qu'avec le libre et plein consentement des futurs époux.

3. La famille est l'élément naturel et fondamental de la société et a droit à la protection de la société et de l'Etat.

Article 17

1. Toute personne, aussi bien seule qu'en collectivité, a droit à la propriété.

2. Nul ne peut être arbitrairement privé de sa propriété.

Article 18

Toute personne a droit à la liberté de pensée, de conscience et de religion ; ce droit implique la liberté de changer de religion ou de conviction ainsi que la liberté de manifester sa religion ou sa conviction seule ou en commun, tant en public qu'en privé, par l'enseignement, les pratiques, le culte et l'accomplissement des rites.

Article 19

Tout individu a droit à la liberté d'opinion et d'expression, ce qui implique le droit de ne pas être inquiété pour ses opinions et celui de chercher, de recevoir et de répandre, sans considérations de frontières, les informations et les idées par quelque moyen d'expression que ce soit.

Article 20

1. Toute personne a droit à la liberté de réunion et d'association pacifiques.

2. Nul ne peut être obligé de faire partie d'une association.

Article 21

1. Toute personne a le droit de prendre part à la direction des affaires publiques de son pays, soit directement, soit par l'intermédiaire de représentants librement choisis.

2. Toute personne a droit à accéder, dans des conditions d'égalité, aux fonctions publiques de son pays.

3. La volonté du peuple est le fondement de l'autorité des pouvoirs publics ; cette volonté doit s'exprimer par des élections honnêtes qui doivent avoir lieu périodiquement, au suffrage universel égal et au vote secret ou suivant une procédure équivalente assurant la liberté du vote.

Article 22

Toute personne, en tant que membre de la société, a droit à la sécurité sociale ; elle est fondée à obtenir la satisfaction des droits économiques, sociaux et culturels indispensables à sa dignité et au libre développement de sa personnalité, grâce à l'effort national et à la coopération internationale, compte tenu de l'organisation et des ressources de chaque pays.

Article 23

1. Toute personne a droit au travail, au libre choix de son travail, à des conditions équitables et satisfaisantes de travail et à la protection contre le chômage.

2. Tous ont droit, sans aucune discrimination, à un salaire égal pour un travail égal.

3. Quiconque travaille a droit à une rémunération équitable et satisfaisante lui assurant ainsi qu'à sa famille une existence conforme à la dignité humaine et complétée, s'il y a lieu, par tous autres moyens de protection sociale.

4. Toute personne a le droit de fonder avec d'autres des syndicats et de s'affilier à des syndicats pour la défense de ses intérêts.

Article 24

Toute personne a droit au repos et aux loisirs et notamment à une limitation raisonnable de la durée du travail et à des congés payés périodiques.

Article 25

1. Toute personne a droit à un niveau de vie suffisant pour assurer sa santé, son bien-être et ceux de sa famille, notamment pour l'alimentation, l'habillement, le logement, les soins médicaux ainsi que pour les services sociaux nécessaires ; elle a droit à la sécurité en cas de chômage, de maladie, d'invalidité, de veuvage, de vieillesse ou dans les autres cas de perte de ses moyens de subsistance par suite de circonstances indépendantes de sa volonté.

2. La maternité et l'enfance ont droit à une aide et à une assistance spéciales. Tous les enfants, qu'ils soient nés dans le mariage ou hors mariage, jouissent de la même protection sociale.

Article 26

1. Toute personne a droit à l'éducation. L'éducation doit être gratuite, au moins en ce qui concerne l'enseignement élémentaire et fondamental. L'enseignement élémentaire est obligatoire. L'enseignement technique et professionnel doit être généralisé ; l'accès aux études supérieures doit être ouvert en pleine égalité à tous en fonction de leur mérite.

2. L'éducation doit viser au plein épanouissement de la personnalité humaine et au renforcement du respect des droits de l'homme et des libertés fondamentales. Elle doit favoriser la compréhension, la tolérance et l'amitié entre toutes les nations et tous les groupes raciaux ou religieux, ainsi que le développement des activités des Nations Unies pour le maintien de la paix.

3. Les parents ont, par priorité, le droit de choisir le genre d'éducation à donner à leurs enfants.

Article 27

1. Toute personne a le droit de prendre part librement à la vie culturelle de la communauté, de jouir des arts et de participer au progrès scientifique et aux bienfaits qui en résultent.

2. Chacun a droit à la protection des intérêts moraux et matériels découlant de toute production scientifique, littéraire ou artistique dont il est l'auteur.

Article 28

Toute personne a droit à ce que règne, sur le plan social et sur le plan international, un ordre tel que les droits et libertés énoncés dans la présente Déclaration puissent y trouver plein effet.

Article 29

1. L'individu a des devoirs envers la communauté dans laquelle seule le libre et plein développement de sa personnalité est possible.

2. Dans l'exercice de ses droits et dans la jouissance de ses libertés, chacun n'est soumis qu'aux limitations établies par la loi exclusivement en vue d'assurer la reconnaissance et le respect des droits et libertés d'autrui et afin de satisfaire aux justes exigences de la morale, de l'ordre public et du bien-être général dans une société démocratique.

3. Ces droits et libertés ne pourront, en aucun cas, s'exercer contrairement aux buts et aux principes des Nations Unies.

Article 30

Aucune disposition de la présente Déclaration ne peut être interprétée comme impliquant pour un Etat, un groupement ou un individu un droit quelconque de se livrer à une activité ou d'accomplir un acte visant à la destruction des droits et libertés qui y sont énoncés.


Biểu tình và tuyệt thực cho nhân quyền trước Đại Sứ Quán VN tại DC

Cơ sở Việt Tân tại Toronto có Thông Báo đăng trên Thời Báo Thứ Năm sô 1965 ngày 05/12/2012 mục Tin Cộng Đồng tổ chức phương tiện cho đồng hương tham dự nhằm hổ trợ v/v này cùng "Chiến dịch triệu con tim một tiếng nói" do NS.Trúc Hồ &SBTN phát động

Việt Tân có là "con đẻ hay là bàn tay nối dài của VC " như vài nguồn dư luận hay không ??

Mời cùng theo dõi qua lời phỏng vấn phu nhân của TS Nguyễn Quốc Quân, thành viên Việt Tân đang bị CSVN giam giữ!

LB.2TN

Mặc Lâm, biên tập viên RFA


2012-12-08

Sáng hôm nay Thứ Bảy ngày 8 tháng 12 năm 2012, một cuộc biểu tình kết hợp với tuyệt thực nhằm gióng lên tiếng chuông báo động tình hình đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam được đồng bào nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ tổ chức trước đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Washington.

RFA

Buổi tọa kháng và tuyệt thực cho nhân quyền trước Đại Sứ Quán VN tại DC hôm 08/12/2012.

Cuộc biểu tình được chuẩn bị trong tinh thần kỷ niệm ngày Nhân quyền Thế giới 10 tháng 12 hằng năm nhằm đánh động với thế giới về tình trạng nhân quyền và tự do tôn giáo ngày càng tồi tệ hơn trong nước. Hơn hai trăm đồng bào từ nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ và một số người từ Canada đã tập trung trước đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Washington để biểu tình bày tỏ sự chống đối của đồng bào trước việc đàn áp ngày càng khốc liệt đối với người dân trong nước.

Những người ấy là các vị chức sắc các tôn giáo, những dân oan, nhà bất đồng chính kiến, các bloggers hay những người từng biểu tình chống Trung Quốc… tất cả đang bị giam giữ một cách trái pháp luật do chính kiến của họ khác với chính sách của nhà nước hiện nay.

Đặc biệt cuộc biểu tình này có sự kết hợp tuyệt thực của hơn ba mươi người trong nhiều lứa tuổi từ nhiều nơi. Họ ngồi xếp hàng im lặng, trước mặt mỗi người là một chân dung của những người đang bị giam giữ hay đang bị sách nhiễu một cách công khai trong nước. Người ta thấy có linh mục Nguyễn Văn Lý, Đại lão Hòa thượng Quảng Độ, TS Cù Huy Hà Vũ, các blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sàigon, Phương Uyên, Vi Đức Hồi, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung… cùng hàng chục người khác nữa.

Buổi tọa kháng và tuyệt thực cho nhân quyền trước Đại Sứ Quán VN tại DC hôm 08/12/2012. RFA photo.

Bên cạnh những người trong nước ấy nổi lên khuôn mặt của TS Nguyễn Quốc Quân, người đã nhiều lần về Việt Nam với ước vọng mang tiếng nói tự do dân chủ cho đồng bào. Ông bị bắt và hiện đang giam giữ tại Việt Nam với cáo buộc tuyên truyền chống phá nhà nước.

Chúng tôi được một phụ nữ có mặt trong cuộc biểu tình chia sẻ cảm nghĩ của chị khi từ thành phố Boston của tiểu bang Massachusetts:

“Tôi ở Boston, Massachusetts, tôi đi từ 10 giờ đêm hôm qua tới đây là 7 giờ sáng. Tôi thấy số người tuyệt thực hôm nay lên rất cao hơn ba mươi mấy người. Tất nhiên họ có tấm lòng yêu quê hương dân tộc. Họ tuyệt thực để đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.”

Bạn Nguyễn Duy Nam, người tham gia cuộc tuyệt thực, cho biết nguyên do khiến anh từ Canada trở về Washington DC để tham gia cuộc tuyệt thực này:

Hôm nay cũng nhân dịp Human Rights International day nhằm lên tiếng việc cộng sản Việt Nam đã làm những việc trái với công lý.

Nguyễn Duy Nam, Toronto, Canada

“Em tên là Nguyễn Duy Nam từ Toronto Canada. Hôm nay em tham dự cuộc biểu tình để đoàn kết lại với người dân Canada và Mỹ chia buồn với các gia đình Việt Nam có thân nhân bị cộng sản đàn áp. Hôm nay cũng nhân dịp Human Rights International day nhằm lên tiếng việc cộng sản Việt Nam đã làm những việc trái với công lý.”

Ông Nguyễn Văn Lực chủ tịch cộng đồng Việt Nam tại San Diego cho biết chi tiết về cuộc tuyệt thực ngày hôm nay:

“Tôi hưởng ứng chiến dịch “một triệu con tim, một tiếng nói” của nhạc sĩ Trúc Hồ. Với tư cách là chủ tịch cộng đồng đi cùng với phái đoàn chúng tôi gồm có rất nhiều người mà riêng tôi tình nguyện tham dự chiến dịch này.

Cuộc tuyệt thực sẽ kéo dài từ hôm nay tới trưa ngày Chúa Nhật, và chúng tôi đã chuẩn bị cuộc tuyệt thực này với lập trường vững chắc, và cá nhân của chúng tôi sẽ ngồi ở đây trong vòng 24 tiếng đống hồ để chống đối lại nhà cầm quyền Việt Nam.”

Một bạn trẻ khác tên là Dạ Thảo từ Nam California ngồi trong số người tuyệt thực cho biết ý kiến của cô:

“Chúng tôi là Dạ Thảo từ Nam Cali. Chúng tôi có mặt tại đây vì thấy Việt cộng họ đàn áp dân mình thành ra tôi muốn nói với tất cả người trong nước là tất cả người dân Việt Nam, nước ngoài không quên quý vị đâu…”

Chị Ngô Thị Mai Hương (giữa), vợ của TS Nguyễn Quốc Quân, trong buổi tuyệt thực cho nhân quyền trước ĐSQ VN tại thủ đô Washington DC hôm 08/12/2012. RFA photo.

Chúng tôi chú ý tới một thiếu phụ có khuôn mặt thật buồn trong nhóm người tuyệt thực, và sau đó được biết bà là Ngô Thị Mai Hương, hiền thê của TS Nguyễn Quốc Quân, một Việt kiều hiện bị giam giữ tại Việt Nam. Bà cho chúng tôi biết tình hình hiện nay của TS Quân:

“Tôi được biết qua tòa Tổng lãnh sự tại Sài Gòn thì anh Quân đã có ba lần tuyệt thực. Đầu tiên là 4 ngày để đòi lại những quyển sách mà họ đã lấy đi. Lần thứ hai anh ấy tuyệt thực 12 ngày chỉ vì họ không trả lại những đồ vật cá nhân của anh ấy. Và gần đây nhất ảnh đã tuyệt thực để đòi gặp mặt luật sư, và sau 7 ngày nhờ sự can thiệp của Tổng Lãnh sự Mỹ thì luật sư đã gặp anh Quân.”

Khi được hỏi lòng tin của bà vào cuộc tuyệt thực cũng như biểu tình nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền này liệu có đánh động được sự thờ ơ của thế giới cũng như đồng bào trong nước hay không, bà Hương cho biết:

Mỗi việc làm của mình dù cho nho nhỏ cũng đều đánh động đến thế giới. Chúng ta ngồi đây là chúng ta nói với thế giới về những đàn áp nhân quyền tại Việt Nam.

Bà Ngô Thị Mai Hương

“Thưa anh, mỗi việc làm của mình dù cho nho nhỏ cũng đều đánh động đến thế giới. Đó là lý do tại sao anh Quân trở về Việt Nam để đánh động thế giới. Chúng ta ngồi đây là chúng ta nói với thế giới về những đàn áp nhân quyền tại Việt Nam.

Người ta nói bộ cánh của một con bướm cũng có thể tạo nên một cơn lốc nếu mình làm hết giới hạn của mình thì sẽ tạo được kết quả.”

Nhà văn Ngụy Vũ từ California có mặt trong cuộc biểu tình cho biết nhận xét của ông:

“Tinh thần hôm nay là một tinh thần rất đặc biệt vì trước mặt chúng tôi đã có hơn ba mươi người đang tuyệt thực suốt 24 tiếng đồng hồ. Qua hình ảnh tuyệt thực này chúng tôi thấy đó là những người đấu tranh chân chính và họ thật sự quan tâm tới quyền lợi của quốc gia dân tộc. Tôi hy vọng hình ảnh hôm nay sẽ đánh động được chính quyền cộng sản Việt Nam.”

Cuộc tuyệt thực còn kéo dài tới trưa ngày mai, tức là ngày Chúa Nhật 09 tháng 12 . Khi bài tường trình này tới quý vị thì cả nước đang ngủ say để chuẩn bị cho cuộc biểu tình vào sáng ngày mai, chúa nhật 9 tháng 12 tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong nỗ lực lên tiếng với thế giới về những hành động xâm lược của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Mời quý vị tiếp tục theo dõi cuộc biểu tình này có diễn ra hay không sẽ được phóng viên đài chúng tôi tường trình từ Bangkok vào sáng mai giờ DC tức tối Chúa Nhật giờ Việt Nam.

 

ĐÚNG, ĐỒNG CHÍ NÓI - VIỆT OANè http://youtu.be/rFHOZE8M-3c

Biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Trường Sa-Hà Nội 9/12/2012è http://youtu.be/dpriluwhvrs

Dậy mà đi, hỡi Đồng bào ơiè http://youtu.be/6z3luJ9zWMQ

 

Fw: Bộ đội 'ém máy bay', xuất kích & tiêu diệt '2 hàng không mẫu hạm của Mỹ'




Date: Sun, 16 Dec 2012 19:06:35 -0800
From:
Subject: Fw: Bộ đội 'ém máy bay', xuất kích & tiêu diệt '2 hàng không mẫu hạm của Mỹ'

                            Có lẽ tại tôi ngu về tiếng Việt Nam nên không hiểu tờ báo điện tử CAND.com viết.

                         "  Bộ Đội Không Quân đã ÉM máy bayMIG21 ở đây và xuất kích, tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hoá và Đồng Hới".

                        Cái chữ ÉM để chỉ hành động DẤU, ngay hai chữ Bộ Đội không thôi đã nói lên sự ngu muội ngôn ngữ trong văn hoá Việt Nam, có thể người Viết đã không thông văn hoá VN,

                         Chữ BỘ đã ám chỉ sự xử dụng hai bàn chân để đi trên mặt đất nếu chỉ nói về con người.

                         Chữ BỘ đã ám chỉ cho một tổ chức trong Chính Phủ, một cơ cấu

                         Hai chữ Bộ Đội, một đại danh từ để chỉ một đoàn quân di chuyển bằng đôi chân; câu Bộ Đội Không Quân, không biết xếp người viết câu này có văn hoá thuộc loại nào vì Không Quân để chỉ một đơn vị hoạt động trong không khí trên trời mà kèm hau chữ BỘ ĐỘI thật là xung khắc nhau và tối nghĩa.

                      Riêng chữ ÉM như đã giải thích là đặt để, là dấu. Một chiếc máy bay MIG21 nặng bao nhiêu Cân hay bao nhiêu Kilogram cộng thêm bom, đạn, xăng và ông hoa tiêu nữa thì tổng cộng là nặng bao nhiêu cân hay kilogram? mà trong một hẻm núi đã ÉM (DẤU ), đợi tầu sân bay của địch CHẠY tới, may bay MIG21 nhào ra xung kích.

                      Thật đúng là trò đùa trên giấy bút trong tưởng tượng, muốn ai thắng, ai thua tuỳ người cầm bút, có nghĩa là hai tầu sân bay (Hàng Không mẫu Hạm không có rada, không có máy bay nên không thấy MIG21 vậy làm sao nghênh chiến cũng như không có người điều khiển chiếc tầu ma này, đúng là một trang tiểu thuyết dưới Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi muốn nó thua, tôi muốn nó chìm vì tôi là người viết, hay hay, văn hay thậm hay, dành cho các em bé chăn trâu đọc, chứ em bé chăn trâu miền Nam Việt Nam cũng không thèm đọc vì XẠO hay theo kiểu Xã Hội Chủ Nghĩa là NÓI ĐIÊU và RÁCH CHUYỆN

                     Kính thưa quý diễn đàn.

                   Chắc tất cả quý vị đã biết rằng một chiếc Hàng Không Mẫu Hạm mang trên tầu vài chục cái máy bay, số quân nhân phục vụ trên tầu như một xã hội nhỏ, chưa kể một đoàn tầu khác hộ tống và bảo vệ, như vậy một chiếc MIG21 xung kích hạ hai  (2) hàng Không Mẫu Hạm có nghĩa là một lần xung kích của MIG21 phải bắn chìm trên dưới mười tầu hộ tống chưa kể tầu ngầm, rồi mấy ngàn người trên số tầu hộ tống, tầu ngầm và hàng không mẫu hạm, một trận chiến gây hãi hùng như thế mà nước Mỹ cứ tỉnh như không, chuyện lạ.

                    Theo tôi nghĩ bài báo này của Công An Nhân Dân được viết bởi một cậu bé chăn trâu khoảng 7, hoặc 8 tuổi là phóng viên toà soạn.

                    Đúng là người tài trong xã hội chủ nghĩa không cần tuổi và không cần tới trường nên khi Đảng và nhà nước tới đâu là người ta bỏ của chạy lấy người, trong chứng tích 1975 đã có câu : CÁI CỘT ĐIỆN, NẾU CÓ CHÂN NÓ CŨNG ĐI DI TẢN.

                  Không bao nhiêu ngày nữa, Chúa sẽ Giáng Sinh để cứu nhân loại, thành kính cầu chúc quý vị :

                                      VINH DANH CHÚA CẢ TRÊN TRỜI.

                              BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM

                                                                                                        amen.

                   Người lính già

                  Nguyễn ngọc Phách

----- Forwarded Message -----
From: Do Quang
Sent: Sunday, December 16, 2012 11:43 AM
Subject: Bộ đội 'ém máy bay', xuất kích & tiêu diệt '2 hàng không mẫu hạm của Mỹ'

 


 



Danlambao - Một bài phóng sự trên báo An Ninh Thế Giới nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật ông Hồ Chí Minh và Ngày thành lập Binh đoàn Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2005) đã bịa ra một 'chiến tích' có một không hai của bộ đội không quân Quảng Bình.

 

Bài báo 'Những tuyến đường ra trận trên đất Quảng Bình' của tác giả Hồ Ngọc Diệp nhắc đến trận đánh năm 1971 tại sân bat Khe Cát có nội dung nguyên văn: "Bộ đội không quân đã ém máy bay MiG21 ở đây và xuất kích, tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hòa và Đồng Hới".

 

Chưa dừng lại ở đó, ông tác giả bài báo còn khẳng định một cách hùng hồn: "Đó là chiến công có một không hai trong lịch sử chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình."

 

Xem ra, khả năng 'chém gió' của báo Đảng đã đạt tới đỉnh cao, bịa chuyện có một không hai trong lịch sử báo chí.

 

An Ninh Thế Giới là chuyên đề của báo Công An Nhân Dân, tổng biên tập là ông tướng công an Hữu Ước.

 

Dưới đây là đường link bài báo trên trang An Ninh Thế Giới điện tử: http://antg.cand.com.vn/vi-vn/phongsu/2009/4/69139.cand

 


Danlambao


 


 

Bản chụp lại bài báo, bạn đọc có thể click vào ảnh để xem độ phân giải lớn hơn

 


 



 

16.12.12  



 



LABELS: TINTUC

  •  

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt
 

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt


 


 


Sau ngày tuyên bố độc lập



» Tác giả : Hứa Hoành
» Dịch giả :
» Thể lọai: Thời Chinh Chiến
» Số lần đọc: 554


1. Sau ngày tuyên bố độc lập

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt

Vừa chiếm được chính quyền và ra mắt cái chánh phủ tự phong, công việc quan trọng nhứt của ông Hồ gồm: cầu phong với đồng minh; đút lót tiền bạc cho các tướng Tàu để họ không can thiệp; tiếp tục đi đêm thương thuyết với Pháp để có thì giờ khủng bố người quốc gia.

Công việc cầu phong với đồng minh để họ nhìn nhận “Việt Minh là tập họp các đảng phái quốc gia, đã từng tranh đấu bên cạnh đồng minh, chống Pháp, chống Nhựt.. Xin đồng minh nhìn nhận Việt Minh là đại diện duy nhứt và chính thức của dân tộc Việt Nam ” thất ba.i. Ông Hồ dàn cảnh để dân chúng đón tiếp phái bộ của thiếu tá A. Patti, đôn phái bộ nầy lên làm “phái bộ đồng minh đến nhìn nhận và thâm xã giao chánh phủ lâm thời”. Phái bộ không tới vì biết mình bị lợi du.ng. Việt Minh lại dàn cảnh đoàn biểu tình đến nhà riêng để phái đoàn ra đứng trước cửa cho họ chào.... Nhiều người biết việc ấy chỉ là một màn lừa bịp, nhưng một số lớn dân chúng vẫn chưa hiểu.

Mặt khác, các tướng Trung Hoa, đại diện đồng minh, đến tiếp thu và giải giới quân Nhựt từ vĩ tuyến 16 trở lên, đã bị ông Hồ đút lót tiền, vàng, để ông ta tự ý hành động mọi việc có lợi cho đảng cộng sản. Trong khi đó, Việt Minh vẫn đi đêm thương thuyết với Pháp để họ có thì giờ rảnh tay đàn áp, khủng bố những đảng phái quốc gia yêu nước. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, trong hồi ký đã viết: “Đã nói chánh sách của Việt Minh là một chánh sách giả dối, lường ga.t. Còn là một chánh sách gây câm thù, một chánh sách bốc lột, một chính sách chém giết. Tất cả những chính sách xảo trá và tàn bạo của Việt Minh thấy ở mỗi hành vi, phân tích ra từng mục là một điều phức ta.p. Cho nên chỉ nói ra ít nhiều trường hợp, để có ít nhiều quan niệm” (Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, tr. 325).

“... Về tuyên truyền, có thể nói Việt Minh đã thắng thế. Qua tuyên truyền của Việt Minh phải nói là một sách lược cao độ, cả một nghệ thuâ.t. Cán bộ Việt Minh thường dựng đứng lên những chuyện có tính cách tốt đẹp, vẻ vang, có lợi cho họ, cho đảng, và dĩ nhiên dìm, hạ thấp đối phương. Dân chúng sẵn sàng tin, lại tán dương thêm vào. Về sau, những chuyện đơm đặt kia, dân cũng không cần xét đến thực hư, dẫu có biết chắc là không có, cũng sẵn sàng quên, rồi tin ngay một chuyện đồn khác.. “. Yêu nhau nên tốt” là thế. Mặc dầu Quốc Dân Đảng thời ấy, tung ra mấy tiếng gọi là một thành ngữ “nói dối như vẹm”, vẹm vẫn nói dối và vẫn lường gạt được dân. Dân chúng tin Việt Minh đến mức có thể nói như 'ăn phải bùá. Tất cả đã ủng hộ Việt Minh từ trước, hoặc mới theo, đều có một thái độ căm thù Quốc Dân Đảng. Chỉ phong thanh nghe nói những ai là Quốc Dân Đảng, không cần biết tông tích, thành tích, không cần biết tâm tình, không một mảy may suy nghĩ, gắn ngay cho những người ấy những tiếng “phản động”, “phản quốc” và muốn bắt giam ngay, muốn giết ngay.

Về chuyện giết lẫn nhau nghe thuật lại: hai lãnh tụ quan trọng Quốc Dân Đảng là Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Thế Nghiệp mà tôi có gặp mấy lần trong thời gian trước ngày Việt Minh đảo chính, đều bị cắt tiết ở Trèm Vẽ, xác trôi sông. Những vụ chôn sống, cũng được nghe kể lại, nay quên tên mất nhân vật và nơi chốn. Những vụ ám sát thì nhiều, kể một vụ là Nhượng Tống....

Nhưng riêng chuyện cắt tiết thì phương pháp tàn nhẫn đối với người như đối với loài vật vâ.y. Việt Minh không những thi hành ở thủ đô trong cuộc tranh đấu với Quốc Dân Đảng, mà còn thi hành ở các thôn quê trong công cuộc trừng trị những phần tử gọi là phản đô.ng. Ở đây, cắt tiết còn moi gan trong những trường hợp giết vì thù cá nhân.

Thời kỳ đầu, Việt Minh cầm chánh quyền, cán bộ còn thiếu súng đa.n. Chôn sống, cắt tiết dành những triê.u chứng căm thù, cũng còn là những phương pháp tiết kiệm đa.n. Lại một thủ đoạn nữa, tàn nhẫn bội phần là lấy búa bổ lên đầu người, như đồ tể bổ vào đầu vâ.t. Ngay hồi còn ở chiến khu mà Việt Minh cũng đã giết những người Việt hay Nhựt nghi ngờ, cán bộ chỉ dùng gươm, dao chém, hay búa bổ để khỏi phí đa.n.

Ngoài sự tranh giành thế lực, Việt Minh còn có những vụ tống tiền. Vụ tống tiền công khai và vĩ đại của Việt Minh là “Tuần lễ vàng”. Việt Minh lớn tiếng kết tội tội những người quốc gia là “phản quốc”, “Việt gian”, “phản động”, “thổ phỉ” mà cho tới nay chưa trưng được bằng cớ nào về những hành động mà họ đã phao vu, thêu dệt cho những người đã bị họ giết. Còn trong khi đó, Việt Minh lại xu phụng người ngoại quốc thì được gọi là... yêu nước! Thỏa thuận cho Pháp vào chiếm đóng các thành phố lớn trên đất Bắc, Việt Minh lại hô hào chống Pháp. Tiêu diệt tất cả các đảng phái quốc gia, Việt Minh hô hào “chỉ có một Mặt Trận Việt Minh”. Kẻ có chánh nghĩa, lại không biết kỹ thuật tuyên truyền như Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), dùng tờ báo sao trắng, vạch trần bộ mặt thật của Việt Minh là cộng sản, và Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. cán bộ Đệ Tam cộng sản trá hình, thí ít được dư luận chú ý...” (Nguyễn Xuân Chữ, tr. 303).

Trong khi Hồ Chí Minh theo phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, thì ở nhà, đã ra mật lịnh cho Giáp tàn sát, tấn công tất cả trụ sở của Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội... Võ Nguyên Giáp là kẻ chủ mưu bịa đặt, ngụy tạo, vu khống các vụ án Ôn Như Hầu, cầu Chiêm Sơn.... để thẳng tay tấn công các đảng phái tại Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Việt Trì, Hưng Hóa, Yên Báy, Phú Thọ tới sát biên giới Trung Hoa.

Ông Nguyễn Việt thuật lại: “...Riêng anh tôi, cùng một số đồng chí bị vây tại nhà ga xe lửa Việt Trì, và bị bắt sống trên trần nhà Hotel de la gare của cụ bà Lưu. Việt Minh giam tất cả trong nhà máy giấy Việt Trì, ngay đầu cầu Bạch Hạc, rồi đem ra bờ sông giết bằng lưỡi lê, xác bị vứt xuống sông mất tích. Nhiều người trốn thoát được trong vụ càn quét nầy biết rõ.. Tại Bắc Bộ Phủ, thư ký riêng của Phạm Văn Đồng, hiện sống ở Hà Nội, biết rõ vụ nầy. Cũng không ngờ, trong số bị giết, có người em chú bác ruột với mình.Biết cũng vậy, không biết cũng thế thôi, đối với người cộng sản không có nhân tình, cũng chẳng có nhân tính. Ai ở trong hàng ngũ Việt Minh, chỉ có một cách giải quyết duy nhất là giết, kể cả bố mẹ, anh em hay những người thân yêu nhất”.

“Tại Hải Phòng, khi rút lui, Việt Minh bắt dân chúng Hải Phòng phải tản cư sang Kiến An, đi bộ nườm nượp suốt ngày đêm cả tuần lễ. Đồng thời, khi tản cư, Việt Minh thực hiện kế hoạch nhằm vào 3 thành phần phải tiêu diê.t. Đó là:

- Việt gian: đối với những người nào trước kia đã làm việc cho Pháp. Trong lúc chạy loạn, ông thợ cắt tóc, gia đình chỉ có bộ đồ nghề dao cao, kéo, tông đơ và cái gương. Việt Minh nói “cái gương đó có thể làm ám hiệu cho phi cơ Pháp bỏ bom”. Ông thợ cắt tóc hiền lành vô tội, bị lôi ngay ra lề đường bắn bỏ tức khắc. Anh thanh niên mặc áo sơ mi trắng, quần xanh thợ máy, túi cày bút chì xanh đỏ, đúng là cờ tam tài của Pháp, bị cho là ám hiệu của bọn Việt gian, bị bắn ngay.

- Phản động: là thành phần không theo chúng như Việt Quốc, Việt Cách, công chức người Pháp, quan lại cũ, chánh tổng, lý trưởng.... nếu không chịu làm việc, tham gia các công tác như tự vệ, canh gác khu phố... đều bị ghép vào hai tiếng ‘phản động’.

- Thổ phỉ: để chỉ những người Hoa ở lại Hải Phòng, không chịu tản cư, mà treo ở trước nhà tấm bảng “Maison chinois” để tỏ ra trung lập, đứng ngoài cuộc chiến. Ngoài ra, khi thấy người Pháp vào nhà họ mua thức ăn, họ bị ghép tội “tiếp tế cho địch”.

“....Công việc đầu tiên của Việt Minh trong khi kêu gọi tản cư là phá nhà cửa ở tỉnh lỵ thành bình địa, phân tán mỏng lực lượng, nếu bị tấn công thì rút nhanh và bảo tồn lực lươ.ng. Ở vào trường hợp nầy, cái khó là làm sao đem theo và nhốt ở đâu một số lớn mà họ gọi là “Việt gian, phản động”? Sách lược cố hữu của Việt Minh từ xưa tới nay vẫn không thay đổi: đó là giải phóng, tức là “giết”. Bộ đội trong tiểu đoàn, chỉ cách trại giam có một bức tường. Đêm đêm nghe nhiều tiếng bốp bốp... tiếp theo là tiếng rên nhỏ và tiếng người ngã huy.ch. Toán tuần tiễu và canh gác tò mò, trèo lên tường nghe ngóng: một cảnh tượng hãi hùng diễn ra trước mắt. Tên Rộng, mặt rỗ, thường gọi là “Rộng rỗ”, đứng giạng chân, tay cầm búa tầm sét, nhấm ngay chính sọ người bị giam bổ mạnh như bổ củi. Nạn nhân bị bịt mắt, chỉ còn kêu được tiếng hự rồi ngả vật xuống đất. Vì số người bị giam quá đông, nếu giết không kịp, khi bị tấn công, nên tên Rộng la lớn:

- Không bịt mắt nữa! Không cần trói!

Thế là nạn nhân vừa bước ra, ngơ ngác, chưa kịp định thần nhìn sự thế bên ngoài, đã bị tên Rộng quai cho một búa vào sọ, ngã vật, dẫy giẫy và chết tươi....

Và cứ thế suốt đêm, xác người chồng chất cao như đống rạ, máu chảy lênh láng ngập sân. Sáng hôm sau, chúng xúc từng thùng đất đổ lên máu, rồi hốt đổ ngay lề đường, ngoài trại giam. Rồi máu đông thành cục với đất, ruồi nhặng bu đen. Bộ đội chạy tập thể dục buổi sáng, đến quãng đường nầy dội ngược trở lại, vì mùi xú uế xông lên nồng nă.c. Còn xác chết, chúng đào từng hố lớn ngay chân núi Cột cờ, sau trại lính khố xanh cũ. Vì quá vội vã, chúng lấp đất kín xác người cho xong chuyê.n. Qua này hôm sau, xác chết sình lên, đẩy mấy lớp đất mỏng bên trên, để lộ nguyên người, giò, cả chân, tay. Mùi hôi thúi tỏa đi khắp nơi thôn xóm lân câ.n. Không biết làm sao, chúng chất rơm phủ kín xác người và đốt. Đốt hết lớp nầy đến lớp khác, đến khi xác bị cháy xẹp xuống, chúng lấp đất la.i. Cảnh tượng đó được lập lại chôn hơn 14000 dân Huế vào dịp tết Mậu Thân”. (Hồi ký Nguyễn Việt, báo Lạc Việt).

Còn ở Trung Bộ, việc bắt cóc rồi thủ tiêu những nhân vật có uy tín, hoặc thuộc các đảng Việt Quốc... đều được thực hiện âm thầm, ít lộ liễu hơn. Chẳng hạn, trường hợp ông Phạm Quỳnh, bị cán bộ Việt Minh tới nhà mời đi họp vào buổi xế, rồi sau đó mất tích. Cùng bị giết với ông Phạm Quỳnh còn có ông Ngô Đình Khôi, một người con ông Khôi là Ngô Đình Huân và một người đàn bà cho tới nay chưa xác định rõ là ai: người đàn bà Bắc Bộ, ăn mặc theo lối Bắc. Bác sĩ Hồ Văn Châm còn kể lại nhiều vụ Việt Minh giết người ném đá giấu tay như trường hợp các ông giáo sư của trường Quốc Học Huế như: giáo sư Nguyễn Trung Thuyết, Đại Việt Quốc Dân Đảng bị Trần Việt Châu là trưởng phòng chánh trị sở công an Trung Bộ cho người bắt giữ vào một ngày cuối tháng 10/1946. Giáo sư Thuyết đang ngồi ăn cơm trưa với bác sĩ Bửu Hiệp, là xứ trưởng xứ bộ Trung Việt của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sau đó, thầy Thuyết bị đưa ra giam tại lao xá Đồng Hới, rồi bị Việt Minh giết. Thầy Ngô Văn Hân, thường viết bài cho báo Sống Mới của Phan Quang Bổng, cùng với thầy Phan Ngô xuất bản ở Huế tờ nhựt báo Dân Đen, đấu tranh đòi cải tổ dân sinh, dân chủ. Tất nhiên chỉ có cộng sản giết thầy và nhà cầm quyền đương thời cũng theo dõi, rình rập thầy dữ lắm. Thầy Ngô Văn Hân thuộc Quốc Dân Đảng, được sự hỗ trợ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ, lập ra “nhóm thứ năm”, qui tụ một số tí thức và nhân sĩ Huế, và các đệ tử ruột của thầy ở ban Tú Tài như các anh Lê Tuyên, Lê Văn, Nguyễn Văn Mừng, Thái Mộng Hùng, Âu Ngọc Hồ...

Hoạt động của “nhóm thứ năm” kéo dài nhiều năm, chỉ chấm dứt ít lâu sau khi thầy Ngô Văn Hân bị Việt Minh bắt ở Bàu Vá và xử bắn ở Nam Đông, vùng ngoại ô thành phố Huế! Nhóm Đại Việt Quốc Dân Đảng thành lập bởi Trương Tử Anh tại Hà Nội vào năm 1939 và nhanh chóng phát triển tại 3 kỳ. Xứ bộ Bắc Việt do bà cả tề (Đặng Thị Khiêm), Trung Việt có Bửu Hiệp và Nam Việt có Nguyễn Văn Hướng, tức em ruột bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương. Cuối năm 1946, Việt Minh bắt và giết Trương Tử Anh, tấn công các chiến khu của Quốc Dân Quân, khủng bố trắng. Một người biết rõ thủ đoạn của Việt Minh là Lê Khang. Khang trước là đảng viên Đệ Tứ quốc tế, sau theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, lãnh đạo ban chấp hành. Lê Khang có mặt trong buổi họp lịch sử của Quốc Dân Đảng tối ngày 18/8/1945 tại Hà Nội để thảo luận việc cướp chính quyền. Trong lúc lực lượng võ trang của Quốc Dân Đảng điều động từ chiến khu Lạc Triệu về tập trung tại trường tiểu học Hàng Kèn để đợi lệnh khởi nghĩa, thì các vị lãnh đạo Quốc Dân Đảng ngần ngừ, thiếu quyết đoán, ngại đổ máu, trừ một mình Lê Khang cương quyết chủ trương cướp chánh quyền ngay trong đêm. Những lý lẽ của Lê Khang đưa ra vô cùng xác đáng. Lê Khang cảnh cáo rằng Việt Minh sẵn sàng cấu kết với thực dân Pháp và với quân phiệt Tàu, để tiêu diệt những người cách mạng dân tô.c. Nếu để Việt Minh cướp chính quyền, họ sẽ trở mặt vu cáo người quốc gia là phản động, là Việt gian. Vì vậy Quốc Dân Đảng phải nắm chính quyền ngay, thu súng đạn của Bảo An Binh, tiếp nhận khí giới của quân Nhựt chứa trong kho Ngọc Hà để trang bị cho 3 sư đoàn quân cách mạng để làm chủ tình thế.

Tiếc thay, ý kiến của Lê Khang không được hội nghị chấp thuận, đại sự hỏng ngay từ bước đầu. Lê Khang bèn tức tốc lên Tam Lộng, phối hợp với Đỗ Đình Đạo, sáng ngày 22/8/45 cướp chính quyền Vĩnh Yên. Lê Khang làm chủ tịch chánh trị, bỏ chiến khu Vĩnh Yên, Đỗ Đình Đạo làm tư lệnh, Lê Thanh phụ tá, rồi mở rộng tiến lên các tỉnh Yên báy, Phú Thọ, Việt Trì, Lao Cay... Đầu năm 1946, Lê Khang được điều động về trung ương, đại diện cho Quốc Dân Đảng, công tác trong ban Liên Kiểm của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến, cùng Trần Văn Giàu (?) đại diện Cộng sản đi các nơi dàn xếp các vụ xung đột võ trang giữa Việt Minh và Quốc Dân Đảng. Ít tháng sau, Lê Khang vào Thanh Hóa, giúp củng cố và mở rộng chiến khu Di Linh Bái Thươ.ng. Sau vụ Ôn Như Hầu, Lê Khang bị công an Cộng sản bắt giam ở Hỏa Lò, rồi đưa lên lao xá Phú Thọ, đến giữa năm 1947 thì bị thủ tiêu cùng với Phan Kích Nam và 11 đảng viên Quốc Dân Đảng khác. Một đời Lê Khang nhìn xa thấy rộng, gốc gác là cộng sản, biết quá rõ về cộng sản mà rút cục vẫn không thoát khỏi chết thảm dưới bàn tay của cộng sản! (Câu Chuyện Xoay Quanh Lá Cờ của Bác sĩ Hồ Văn Châm, báo Đi Tới).

Trong khi tìm cách tiêu diệt những người ngoài đảng Việt Minh, ông Hồ bắt đầu bí mật liên lạc với Pháp. Theo sự tiết lộ của Sainteny thì do sự dàn xếp của Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám đến gặp Sainteny, Salan và Pignon. Họ bí mật gặp nhau nhiều lần trong đêm, tại một biệt thự gần công trường Paul Bert. Hai bên thương lượng một hiệp ước để Pháp đổ quân vào Hà Nội và Hải Phòng, ngược lại chỉ nhìn nhận “Việt Nam là nước tự do”.

Một tuần sau (7/12/45), Pignon lại bí mật giao cho Hoàng Minh Giám một bản dự thảo hiệp ước sơ bộ mà Hồ đợi sau ngày thành lập chính phủ liên hiệp, mới dám ra mặt để ký kết vì sợ dân chúng chống đối. (Việt Nam Niên Biểu, Chính Đạo, tr. 291). Sau đó Pignon vào Saigon báo cáo những cuộc gặp gỡ bí mật với Việt Minh cho Cao Ủy D'Argenlieu. Cao Ủy Pháp đồng ý gặp Hồ Chí Minh trên chiến hạn Richelieu đậu ở ngoài khơi Đồ Sơn. Lúc đó, chính phủ Liên Hiệp vừa trình diện quốc hội và được phê chuẩn. Ông Hồ công khai thương thuyết với Pháp, không còn đi đêm nữa.

Cụ Trần Trọng Kim kể lại: “Khi chính phủ Pháp ký hiệp ước với chính phủ Trung Hoa rồi mới trù tính đem quân ra Bắc Bộ. Cao cấp ủy viên nước Pháp lúc ấy là D'Argenlieu, có ra vịnh Hạ Long, mời ông Hồ Chí Minh xuống tàu nói chuyê.n. Ông Hồ đi với ông Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao và mấy người khác nữa. Xuống dưới tàu, chỉ một mình ông Hồ được vào buồng nói chuyện, còn mọi người đứng ở ngoài. Xong việc nói chuyện ở dưới tàu chiến rồi, cao cấp ủy viên là ông Sainteny thay mặt để lên Hà Nội cùng với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng khanh... ký tờ hòa ước mồng 6/3/46”. Rõ ràng ông Hồ thương lượng riêng với Pháp, không cho bất cứ ai biết. Khi xong việc, ông nhân danh chính phủ Liên Hiệp ký vào hòa ước. Ông mời Vũ Hồng Khanh ký phó thự, để cùng chia xẻ trách nhiê.m. Trong lúc Hồ đi đêm thương thuyết với Pháp, dư luận biết Hồ “bán nước”, nên dân chúng biểu tình, do Việt Nam Quốc Dân Đảng tổ chức, để chống lại Hồ Chí Minh. Đoàn biểu tình cũng yêu cầu Bảo Đại lên cầm quyền (Việt Nam Niên Biểu, Chính Đạo, tr. 308).

Hiệp ước sơ bộ vừa ký kết, phía Viêt Minh cho là “thắng lợi”, bắt dân chúng lên tỉnh khiêng về huyện, rồi từ huyện khiêng về xã, về thôn để “học tập”.

Tuy nhiên, đó chỉ là một sự bán nước trắng trơ.n. giặc thập thò trước cửa, Hồ ký hiệp ước rước giặc vào tận trong nhà. Việt Nam Quốc Dân Đảng thấy rõ âm mưu của Hồ, nên lại hô hào dân chúng biểu tình rầm rộ tại nhà hát lớn, chống Hồ Chí Minh. Hồ phải sai Phạm Văn Đồng tới giải đô.c. Hồ còn thề thốt “Hồ Chí Minh nầy không bán nước đâu” (Việt Nam Niên Biểu, tr. 321).


Nam Bộ: 3 tuần độc lập bánh vẽ, Việt Minh phá nát lực lượng kháng chiến.

Ba tuần độc lập bánh vẽ ở Nam Bộ (2/9 tới 23/9/45) cũng như một năm độc lập dưới chế độ quân quản của các tướng Lư Hán, Tiêu Văn, Việt Minh đã gây cảnh cốt nhục tương tàn, phá nát thế đoàn kết kháng chiến, cuối cùng chỉ còn một lực lượng duy nhứt là Việt Minh, tức cộng sản trá hình. Việt Minh bôn đào, trốn mất dạng, mặc cho quân Pháp tung hoành chiếm lại lãnh thổ mà họ đã mất. Cuộc chiến tranh kỳ lạ, diễn ra hàng ngày, hàng giờ giữa những người lãnh đạo và những kẻ đồng chiến tuyến. Về ngoại giao, Việt Minh thất bại hoàn toàn. Không một nước đồng minh nào nhìn nhận Mặt Trận Việt Minh hay Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ, cũng như Chính Phủ Lâm Thời tự phong ở Bắc Bộ.

Chiếm ngụ tại dinh Norodom Nam Kỳ (dinh Độc Lập sau nầy), Trần Văn Giàu và Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ, tức chính phủ lâm thời của ông ta, ra lịnh “chuẩn bị tiếp đón phái bộ đồng minh”. Lâm Ủy ta thông cáo:

“Dân chúng phải cộng tác với chính phủ tổ chức lễ “đón tiếp phái bộ đồng minh thật long tro.ng. Mỗi nhà, mỗi công sở hay tư nhân phải treo đủ 4 lá cờ đồng minh: Anh, Pháp, Nga, Mỹ....trong đó lá cờ VN treo ở giữa. Ngoài đường phố, các biểu ngữ giăng khắp các ngã tư, ngã ba đường lớn:

- Hoan hô phái bộ đồng minh!

- Độc lập hay chết!

- Thà chết còn hơn nô lệ!

Ngày 3/9, đại diện Pháp và Việt Minh họp tại Sàigòn. Phía đồng minh có Henry Brain, cố vấn cho tướng Gracey, đã nói với phái đoàn Việt Minh do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cầm đầu:

- Người Anh không nhìn nhận chính phủ do quân thù (Nhựt) tạo nên. Lâm Ủy Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ không phải là một chính phủ hợp pháp do toàn dân bầu ra, do đó không đại diện cho toàn dân Nam Bộ.

Theo nhận xét của đồng minh, thì mối quan tâm của Lâm Ủy Hành Chánh là tìm cách tiêu diệt tất cả các đảng phái, khuất phục mọi sự chống đối việc làm của họ, để tỏ ra Việt Minh có đủ khả năng giữ trật tự khi đồng minh tới.

Ngày 6/9/45, đại tướng Gracey, đại diện tổng tư lịnh đồng minh ở Đông Nam Á là Lord Mounbatten tới Sàigòn. Ông ta nhân danh đồng minh, nắm quyền chỉ huy từ vĩ tuyến 16 trở xuống phía Nam . Ngày hôm sau, không biết hai bên có hop mật như thế nào, đột ngột Lâm Ủy Hành Chánh ra lịnh khiến dân chúng hoang mang: “giải tán các tổ chức dân quân chống Pháp”. Ủa sao lạ vậy? Mọi người ngơ ngác hỏi nhau câu ấy. Lịnh của Trần Văn Giàu nói rõ: “Đối với những ai đã kêu gọi dân chúng võ trang chiến đấu chống lại phe đồng minh (ý nói chống Pháp) sẽ bị coi là phá hoại và sách đô.ng.” Lúc nầy Pháp và Việt Minh còn hưu chiến (1 tuần, đến ngày 10/10/45). Pháp cần thời gian chờ viện binh tới. Việt Minh cần thời gian để loại những người quốc gia ngoài đảng Việt Minh. Cả hai bên gặp nhau chỗ đó, mới có sự hưu chiến. Lần lượt nhiều chiến hạm Pháp chở viện binh tới Sàigòn. Trong khi đó, nhiều máy bay của Pháp bay qua không phận Sàigòn, thả truyền đơn đe do.a. Tình trạng chiến tranh có vẻ nguy cấp thêm.

Ngày 12/9, có thông cáo của phe Trotskyist công khai tố cáo Việt Minh phản bội chính trị, đang tìm cách thương thuyết với Pháp và nhận những điều kiện gần như đầu hàng, trước sự đe dọa tấn công của quân Anh Pháp. Ngày hôm sau 13/9, tướng Gracey ra lịnh đuổi Ủy Ban Hành Chánh ra khỏi dinh Norodom (Dinh Toàn quyền cũ). Liền ngày ấy, hồi 4:30 phút, Dương Bạch Mai, thanh tra chính trị miền Đông, chỉ huy một nhóm thanh niên cứu quốc bao vây trụ sở của nhóm Đệ Tứ quốc tế CS, đang nhóm đại hô.i. Trong lúc giặc Pháp khiêu khích, Việt Minh chỉ lo khủng bố những người cùng chung chiến tuyến. Mặc dầu quân số đông, võ khí đầy đủ hơn, nhưng phe Đệ Tứ chịu để bị Việt Minh bắt. Việt Minh tịch thu súng trường, tước súng lục (súng cá nhân), cướp trụ sở, lấy đi nhiều tài liệu như máy đánh chữ. Dương Bạch Mai còn ra lịnh cho nhóm cứu quốc dưới quyền của y đập phá bàn ghế, xé cờ Đệ Tứ CS, đốt tài liệu, sách báo.....chỉ vì phe Trotskyist muốn tránh đổ máu nên không kháng cự.

Sau khi thi hành cuộc khủng bố nầy, Trần Văn Giàu tuyên bố bắt đầu tàn sát phe Trotskyist ở Nam Bộ. Lần lượt, các thành viên phe Trotskyist đều sa lưới CS đệ tam.

Người ta còn nhớ, trong cuộc biểu tình mừng độc lập 2/9, chẳng những Giàu cho biểu dương lực lượng bằng 4 sư đoàn dân quân như là một sự thách thức đối với thực dân Pháp mà cũng kích thích lòng dũng cảm của toàn dân khi quân đồng minh tới, đồng thời cũng làm nản chí nhóm Trotskyist khi nhóm nầy kêu gọi dân chúng võ trang. Rồi cũng do lịnh Dương Bạch Mai, phóng thích những người Pháp bị bắt trong cuộc biểu tình ngày 2/9 để hòa hoãn với Pháp, đặng rảnh tay đối phó với người quốc gia. Lịnh phóng thích nầy làm cho dân chúng hoang mang, nghi ngờ thái độ của Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ. Chẳng những thế, Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ còn ra lịnh thật động trời: “Cấm mang võ khí như dao găm, mã tấu hay tầm vông vạt nhọn, súng trường....ngoa.i trừ dân quân và các toán an ninh, tự vệ của Lâm Ủy Hành Chánh.

Trong khi Việt Minh nhượng bộ Pháp, nhóm Đệ Tứ quốc tế tổ chức một cuộc biểu tình trước chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi tăng cường các ủy ban nhân dân và võ trang quần chúng chống bọn đế quốc dù mang nhãn hiệu phát xít hay dân chủ.

Trong cuộc biểu tình nầy, nhiều biểu ngữ và khẩu hiệu nhằm chống áp bức, bất công xã hội như:

- Chia đất cho dân cày

- Công nhân làm chủ xí nghiệp

- Độc lập cho Đông Dương.

Trước vụ này, nhóm Đệ Tứ bị phản ứng từ hai phía Việt Minh và Pháp:

Báo Dân Chúng của Việt Minh tố cáo nhóm Trotskyist là Việt gian, xúi giục dân chúng làm loa.n.

Phía đồng minh và Pháp ra lịnh cho thống chế Terauchi phải chịu trách nhiệm giữ trật tự, tức phải dẹp các đám biểu tình như vậy (4/9).

Phái bộ đồng minh tới Sàigòn, Việt Minh vẫn tiếp tục bắt bớ, khủng bố nhóm Trotskyist, bắt một số lãnh tụ Hòa Hảo, rồi kết tội họ: âm mưu đảo chánh chính phủ tức Lâm Ủy Hành Chánh. Lý do nhóm Trotskyist trưng bằng chứng Giàu làm mật thám cho Pháp.

Ngày 7/9/45 tin Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi được lan truyền ở Sàigòn. Tin này được dán trước tòa soạn báo Tranh Đấu tại ngã tư đường Garros và Lagrandière. Nhóm La Lutte thách thức Trần Văn Giàu về vụ nầy, Giàu trả lời: vụ Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không có liên quan gì tới Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ. Ủy ban hành chánh Quảng Ngãi không có quyền xét xử Tạ Thu Thâu. Cũng ngày đó, báo Cờ Giải Phóng của Việt Minh tại Hà Nội kêu gọi: “Phải triệt hạ ngay bọn Trotskyist. Lý do thầm kín vụ nầy là do ông Hồ. Vũ Thư Hiên viết:

“Ông Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại nhà tôi hồi đầu thập niên 1960 nói với ông Dương Bạch Mai:

- Mấy chả không ưa mầy, vì mầy thẳng như ruột ngựa, nghĩ sao nói vậy, mầy làm mấy chả mếch lòng, mới lòi cái vụ mầy hợp tác với đám Tờ-rốt-kít ra mà rêu rao.

- Thì mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời chơi thân với Nhật đó thôi. Chơi với Tờ–rốt-kít thì mẩy cũng có chơi chớ bộ.

Dương Bạch Mai cười ngất:

- Nè, cẩn thận, sổ đen của mấy chả có ghi thêm vô chớ không có xóa đâu nghen!

“Theo cha tôi, thái độ của những người lãnh đạo CSVN đối với những người Tờ-rốt-kít là không thể hiểu đươ.c. Họ có thể đoàn kết với bất cứ ai khác, trừ những người Tờ-rốt-kít, thậm chí cả những hành động cụ thể chống lại nhà cầm quyền thuộc địa” (Hồi ký Vũ Thư Hiên)

Để giải thích thái độ bất cộng đới thiên nầy, người ta dẫn ông Hồ Chí Minh: “Đối với bọn Tờ-rốt-kít không thể có một thỏa hiệp hay nhân nhượng nào cả. Phải lột mặt nạ chúng như là tay sai của phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” (trích báo cáo của ông gởi Quốc Tế CS cuối năm 1939).

Quả ông Hồ có viết như vâ.y. Lập trường cứng rắn này của ông, được những người nghiên cứu tiểu sử ông giải thích bằng sự cần thiết: phải thanh minh trước một quốc tế đa nghi, dưới sự chỉ đạo của Stalin sắt thép.

Hồi ấy, quốc tế nghi ngờ lập trường cách mạng vô sản của ông Hồ, cho rằng nó không vững chãi. Ông cần sự ủng hộ của quốc tế cho mục đích giải phóng dân tộc hay cần tiền để sống qua ngày trong khi còn lang bạt nơi đất khách quê người, mà quốc tế là nguồn cấp đó?

Trở lại việc đồng minh tới Sàigòn gặp đại diện của Trần Văn Giàu. Đột ngột Giàu theo lịnh của đồng minh, ra lịnh: Đại bản doanh quân Nhựt có lịnh buộc Lâm Ủy Hành Chánh phải giải giới 4 sư đoàn mới thành lập vội vã ngày 29/8/45. Theo Giàu thì nhóm, Đệ Tứ biểu tình trước chợ Bến Thành, đòi võ trang dân chúng chiến đấu, tạo cơ hội cho ngoại quốc cướp đoạt chủ quyền của VN. Lại một lần nữa, Giàu đổ tội cho phe Đệ Tứ. Đối với Việt Minh, sách lược của họ cũng kỳ lạ: Khi giành được quyền hành, đánh không được thì đàm. Hòa đàm thất bại, bị dồn vào thế gần như đầu hàng thì lại đổ tội cho nhóm Đệ Tứ. Tại sao Việt Minh cầm quyền lại đổ tội cho kẻ khác khi đồng minh và Nhựt ra lịnh giải tán quân dân? Đó là thủ đoạn của Việt Minh.

Nhắc lại Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, nhận lịnh ông Hồ, tức tốc vào Nam đảo chánh Trần Văn Giàu. Nhiệm vụ bí mật của Việt và Lãnh là củng cố sự lãnh đạo của đảng CS miền Bắc. Họ mở phiên họp tại dinh thống đốc Nam Kỳ. Ngoài mặt, họ làm bộ cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh, mời nhiều nhân vật đối lập, bên ngoài đảng tham gia, làm ủy viên hoặc cố vấn, có mục đích cầm chân họ để tiêu diê.t. Đây là một thủ đoạn thâm độc, gian hùng của Việt Minh thời kháng chiến.

Chính Hoàng Quốc Việt (tên thật là Hà Bá Cang) là người được đảng CS miền Bắc cử theo dõi Tạ Thu Thâu khi Thâu về tới Quảng Ngãi. Khi Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh vừa lên đường, ông Hồ liền phái một nhóm binh lính trung thành với ông ta lên đường vào Nam để tăng cường quyền hành cho Việt và Lãnh, đề phòng phe miền Nam chống lại phe miền Bắc. Đó là các đạo quân Nam tiến Quang Trung, và một toán 72 khóa sinh mới tốt nghiệp khóa 4 quân chính vào Nam Bộ ngày 4/10/45. Các đoàn quân Nam tiến ấy với danh nghĩa là giúp dân Nam Bộ đánh Pháp. Độc giả có thấy sự khôi hài, giả tạo ở chỗ đó? Nam Bộ đâu thiếu nhân lực, tài lực, vật lực để kháng chiến mà phải nhờ đến Bắc chi viện? Bí mật lịch sử đó ít người biết. Sự thật, toán quân Nam tiến nầy chỉ bảo vệ quyền lợi của phe CS miền Bắc. Trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy ngày 8/9/45, Việt và Lãnh chọn sẵn một nhân vật gốc đại điền chủ ở Trà Vinh, có vợ đầm là luật sư Phạm Văn Bạch làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh......Ủy ban mới cải tổ nầy gồm:

- Chủ tịch: Luật sư Phạm Văn Bạch

- Ủy viên quân sự: Trần Văn Giàu

- Ngoại giao: Phạm Ngọc Thạch

- Nội vụ: Nguyễn Văn Ta.o.

Các ủy viên: Ngô Tấn Nhơn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Nghiêm, Huỳnh Văn Tiểng, Từ Bá Đước.

- Dự khuyết: Phan Văn Hùm (không nhận) Trần Văn Nho, Nguyễn Văn Thủ.

- Cố vấn đặc biệt: Huỳnh Phú Sổ

(Tài liệu của Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, trang 260).

Hồi đó rất ít người biết thủ đoạn của Việt Minh. Họ rất quỷ quyê.t. Ngoài mặt Việt Minh luôn kêu gọi đoàn kết, liên hiệp, hợp tác, nhưng bên trong tìm cách ám sát, bắt cóc, thủ tiêu. Đường lối của Việt Minh là làm mọi cách độc chiếm chính quyền. Tạm giấu biệt bộ mặt thật CS, ông Hồ giả vờ giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương, nhưng vẫn duy trì và gia tăng sự lãnh đạo của đảng, nhứt là Nam Bộ. Khi mạnh, đánh được, thì phao vu, rồi trở mặt, tàn sát, tiêu diê.t. Khi yếu thế, đánh không được thì liên hiệp, đoàn kết. Ban ngày hợp tác trong các ủy ban, ban đêm tới mời họp, rồi thủ tiêu mất tích, cách làm việc của Việt Minh ở đâu cũng giống nhau. Khi Pháp mở cuộc tấn công, nhiều người tản cư về hậu phương, bị Việt Minh chận bắt, rồi kết tội là Việt gian rồi cho mò tôm. Chiến dịch dã man nhứt là thời gian 10 ngày hưu chiến trong tháng 10/45, Việt Minh gieo ác mộng kinh hoàng cho những người yêu nước, nhưng không chịu theo Việt Minh. Những ai không theo Việt Minh là Việt gian. Những ai không tản cư cũng là Việt gian. Chưa bao giờ dân ta trở thành Việt gian nhiều như dưới thời Việt Minh!

Theo tài liệu của Nam Đình, trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh do Hoàng Quốc Việt đóng kịch, có nhiều người đề cử các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, luật sư Dương Văn Giáo (Lập hiến)......làm ủy viên. Đây không phải là thiện chí của Việt Minh, muốn mở rộng thành phần chính phủ, mà chỉ là một thủ đoạn, một cái bẫy để lừa các nhân vật trên tham gia, cầm chân họ, để tới nhà bắt và giết đi. Sau khi phiên họp giải tán, nội tối đêm đó, Trần Văn Giàu liền trở mặt cho bao vây trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo tại đường Miche để bắt đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Nhân chứng vụ nầy là cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh thuật lại như sau:

“...và một đêm, Mười Bạch, cảnh sát quận 1 do luật sư Huỳnh Văn Phương bổ nhiệm nhận được lịnh quái gở là đánh úp vào trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo ở đường Miche. Mười Bạch có chịu ơn đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Khi ra khỏi khám Sàigòn, anh đến tá túc tại chỗ ở của vị giáo chủ Hòa Hào và đức Thầy có biệt nhãn với anh.

Đêm ấy, Mười Bạch cố tình tập họp quân lính trễ hơn nửa tiếng đồng hồ, và bí mật báo tin cho đức Thầy biết. Vì thế khi quân Việt Minh bao vây và tấn công vào ngôi nhà lầu của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, không tìm được đức Thầy ở đâu, chỉ bắt được vài trăm tín đồ. Mới liền hiệp hồi sáng, thì tối bao vây, tấn công, đánh úp. Đó là thế đoàn kết của Việt Minh!

Ngày 12/9/45, Giàu ra lịnh giải tán các bót cảnh sát, bỏ trống, trả võ khí cho Pháp. Các bót chánh ở mỗi quận có 15 súng trường, 25 súng lục trái khế, các bót phụ thì có 7 súng trường, 15 súng lục trái khế. Khi bị các cảnh sát trưởng chất vấn, Giàu trả lời:

Chánh phủ đang điều đình với Pháp để tìm một giải pháp khỏi đánh nhau, khỏi đổ máu. Muốn tỏ thiện chí, ta trả cho Pháp các thành lính, các bót cảnh sát cùng võ khí. Rõ ràng Việt Minh ở Bắc và Nam Bộ đều có chung một chính sách: Hòa hoãn với kẻ thù để tiêu diệt anh em trong nhà.” (Thư riêng của cụ An Khê).

Tình hình chiến tranh càng ngày thêm bộc phát. Được viện binh, Pháp khiêu khích khắp nơi. Vừa tới Sàigòn, quân Anh Ấn liền chia nhau chiếm lại các ngân hàng, ngân khố, phi trường, thương cảng, nhà đèn Chợ Quán, sở lọc nước...Việt Minh phản ứng yếu ớt rồi giao các cơ sở ấy cho Pháp, Anh.

Ngày 16/9/45, Ủy Ban Hành Chính dời về Tòa Đô Chánh, vì trụ sở tại dinh Norodom bị Anh chiếm la.i. Trong tình trạng lâm nguy tới nơi, Ủy Ban Hành Chánh ra thông cáo nhằm vào anh em, gây chia rẽ: Chính Phủ Lâm Thời Nam Bộ đang dự bị lập ủy ban điều tra mỗi tỉnh, mục đích xem xét và tố cáo bọn phản quốc. Bọn nầy sẽ bị tòa án nhân dân trừng trị, tài sản của họ sẽ bị tịch thu, ruộng đất của họ sẽ bị lấy lại và chia cho dân nghèo. Thông cáo này được đăng báo ngày 8/9/45 vì kể từ khi Việt Minh nắm chính quyền, báo chí Việt ngữ đặt dưới quyền điều khiển của Mai Văn Bộ, cán bộ tuyên truyền của Việt Minh. Đây là một thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng, vừa vu khống họ vừa đán áp. Tiếp theo là một phong trào khủng bố lan tràn khắp nơi. Những ai đối lập với Việt Minh đều bị thủ tiêu bí mâ.t. Một cơ hội để Việt Minh trả thù. Những người biết các hành vi chỉ điểm của Trần Văn Giàu và đồng bọn sẽ bị bắt cóc, dẫn đi trong đêm tối và không bao giờ trở về.

Ngày 17/9/45,Ủy Ban Hành Chánh của Phạm Văn Bạch ra lịnh đình công: cấm bán hàng cho Pháp, cấm bồi bếp phục vụ cho Pháp. Ai làm việc đó sẽ bị coi là phản bội, là Việt gian. Sàigòn bắt đầu tê liê.t. Tại các nhà hàng, khách sạn, không có bồi bàn. Trên đường phố không còn xe xích lô, cu li. Bến tàu vắng ngắt. Mọi sự giao thông trên đường phố đều ngưng hoạt đô.ng. tình trạng nghiêm trọng thêm....

Trước tình trạng ấy, tướng Gracey ra lịnh mở cửa khám lớn Sàigòn, phóng thích tất cả những người Pháp bị Việt Minh bắt giữ vì tình nghi trong cuộc biểu tình ngày 2/9/45. Đồng thời Cédille võ trang cho 1400 tù binh Pháp bị Nhựt cầm tù mới được thả. Sở dĩ Cédille vừa chân ướt chân ráo tới Sàigòn mà lạc quan như vậy nhờ tiếp xúc với luật sư Béziat, chủ đồn điền cao su, Bazé....là những tên thực dân hạng nặng ở Sàigòn lâu năm. Ông Nam Đình kể lại:

“Hai người nói cho Cédille biết rằng: Việt Minh là CS, họ đã đứng cạnh Nhựt chống Pháp. Bây giờ đại tá cứ võ trang quân đội Pháp. Súng nổ là họ chạy hết. Chúng tôi biết người Việt nhiều. Cương quyết là họ chạy liền.

Cédille làm sao hiểu được lòng dân lúc bấy giờ? Ông ta cũng chẳng biết gì về phong trào kháng chiến của toàn dân Nam Bộ có một lời thề: Thà chết chớ không chịu nô lệ!.

Ngày 19/9/45, Cédille tổ chức một buổi họp báo. Bây giờ nhiều ký giả Anh, Mỹ, Pháp có mặt tại Sàigòn, nhứt là đoàn viết báo Pháp. Cédille tuyên bố:

- Việt Minh không phải là đại diện dân chúng VN. Họ không có đủ lực lượng để giữ trật tự an ninh ở Sàigòn. Quân đội Pháp sẽ đứng ra tái lập trật tự. Khi trật tự vãn hồi, Pháp sẽ thành lập cho VN một chánh phủ theo bản tuyên ngôn 24/3/45. Hai ngày sau, 12/9/45, đại tướng Douglas Gracey chỉ huy quân đội Anh Ấn ra lịnh:

- Cấm các báo Việt ngữ.

- Xử tử bất luận những kẻ nào âm mưu phá hoa.i.

Nghe lời Pháp, đại tướng Gracey làm cho dư luận quần chúng xôn xao. Gracey liền ra thông cáo số 1, dán khắp nơi.

“1. Quan đô đốc Lord Louis Mounbatten, tổng tư lịnh các đạo quân đồng minh tại Đông Nam Á, đã giao quyền cho ta là đại tướng D.D. Gracey, cai quản tất cả quân đội (Anh, Pháp và Nhựt) cùng các đội bảo an và quân đội khác.

2. Mọi người phải hiểu rõ rằng: ta nhất định sẽ dùng các phương pháp trung lập đến triệt để, đặng mà thi hành sự trần thuật ôn hòa trong thời kỳ giao thời giữa buổi chiến tranh và lúc hòa bình.

3. Thay mặt cho quan Tổng Tư Lịnh quân đội đồng minh, ta báo cho tất cả dân chúng phải hợp tác một cách triệt để mà thực hành cái mục đích đã nói trên. Luôn đây ta báo cho những kẻ bất lương, nhứt là trộm cướp...biết rằng: chúng sẽ bị tử hình ngay.

4. Những lịnh sau đây sẽ thi hành lập tức:

a/ Không được phép tổ chức một cuộc biểu tình và cuộc biểu diễn nào hết.

b/ Không được hội họp đâu hết.

c/ Không được mang võ khí bất kỳ là thứ nào, cho đến gậy, giáo, tầm vông vạt nhọn...trừ ra quân đội Anh và đồng minh và các quân đội nhà binh hay là Bảo An, có ta cho phép riêng mới đươ.c.

d/ Thiết quân luật theo lịnh ta mà nhà binh Nhựt đã buộc ở trong châu thành Sàigòn - Chợlớn từ 21 giờ rưỡi cho đến 5 giờ rưỡi sáng, sẽ còn thi hành và quang soát một cách nghiêm nhă.t.

Saigon, le 19 Septembre 1945

Ký tên: D. D. Gracey

Quan Tổng Tư Lịnh Quân đồng minh

đóng ở miền Nam Đông Dương.

Thông cáo nầy ký ngay, nhưng đến 21/9/45 mới dán ra khắp nơi cho dân chúng đọc và hiểu.

Với lực lượng viện quân, quân Pháp mới được thả từ khám tù, võ trang, khuya đêm 22 rạng 23/9/45, Pháp tung ra chiếm lại các công sở, các bót cảnh sát, công an dễ dàng vì Ủy Ban Hành Chánh của Việt Minh đã bỏ chạy từ trước. Tuy vậy, dân quân Sàigòn vẫn tiếp tục ở lại chiến đấu.

Các ông Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà thành lập Ủy ban phong tỏa Sàigòn Chợlớn. Việt Minh đã cao bay xa chạy ra Bình Điền, Chợ Đệm, rồi xuống Mỹ Tho.....mặc cho dân quân tự túc chiến đấu. Lực lượng quốc gia tự vệ của Nguyễn Văn Trấn được lịnh lùng sục hàng đêm, bắt cóc các nhân vật yêu nước, ngoài đảng Việt Minh, hoặc không chịu theo Việt Minh, rồi phao vu cho họ là Việt gian để xử tử một cách lén lút.

Trước ngày bỏ chạy xuống Hậu Giang, Ủy Ban Hành Chánh còn ra lịnh cho tất cả dân chúng chuẩn bị kháng chiến. Tản cư những ông già, bà cả và trẻ em, phụ nữ ra khỏi thành phố. Cùng ngày 20/9/45, Gracey gởi giác thư cảnh cáo Phạm Văn Bạch không dung thứ bất cứ hành động tẩy chay hay đình công nào.

Thứ bảy 22/9/45, quân Pháp chiếm nhà tù, bưu điện, ty cảnh sát ở Sàigòn. Trung tá Rivier được lịnh trang bị hoàn tất cho 12 đại đội của trung đoàn 11BB thuộc đi.a. Tờ mờ sáng ngày 23/9/45 Gracey bãi bỏ lịnh giới nghiêm và coi như toàn thắng. Khoảng 20.000 Pháp kiều có mặt ở Sàigòn xuống đường ăn mừng chiến thắng nầy bằng cách sỉ nhục và hành hung bất cứ người Việt nào họ gặp trên đường phố.

Phía Việt Minh lấy ngày 23/9/45 làm ngày bắt đầu của Nam Bộ kháng chiến. Đó là ngày toàn dân miền Nam nhứt tề đứng dậy theo tiếng gọi của non sông. Họ tạm quên thù nhà, quên những tội ác của Việt Minh đã giết các người yêu nước vì khác chính kiến. Chỉ trừ những gia đình có thân nhân bị giết lúc tản cư, được vài tháng, thấy không thể sống với Việt Minh, nên quay trở la.i. Từ đó có phong trào hồi cư. Ngoài Bắc sau 19/12/46, có phong trào Dinh tê, ta gọi về thành.

Một nhân chứng lịch sử, ông Ngô Văn kể lại những chi tiết:

“Tối, hồi 4:30 khuya đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy Ban Hành Chánh đã rút khỏi Sàigòn từ trước. Tiếng súng bắt đầu im bặt lúc 6 giờ rưỡi sáng. Tờ báo Daily Telegraph, phóng viên người Anh tường thuật vụ nầy như sau: “Đêm 22/9 quân Pháp đã khủng bố và săn đuổi người Việt (lúc đó gọi là Annam ). Họ bắt được hàng trăm người Việt, cho quỳ gối, đưa hai tay lên đầu ở phía trước tòa đô chánh, trước nhà bưu điê.n. Đây là hành động nhục mạ mà thực dân Pháp cố ý gây ra để trả thù người Viê.t.

Đêm 23/9/45, theo báo thì “Sàigòn nổi loạn toàn diện”. Trên nhiều đường phố, cây cối bị đốn ngã ra đường làm chướng ngại giao thông. Phong trào dân chúng nổi dậy lan qua các khu Khánh Hội, Cầu Kho, Bàn Cờ, Phú Nhuận, Tân Định, Thị Nghè và các khu vực đông dân quanh Sàigòn. Nhiều toán dân quân tấn công để cố chiếm lại thương cảng Sàigòn. Sáng sớm ngày 24/9, quân Anh bắt đầu lục soát những nhà ở trung tâm Sàigòn Chợlớn. Còn các thủy thủ lục soát khu vực quanh bến tàụ”

Đột ngột, chiều 24/9, dân quân Sàigòn mở cuộc phản công quân Pháp. Hồi ký Trần Tấn Quốc viết:

“Sáng ngày 24/9 tình hình Sàigòn khá yên tĩnh, nhưng xế chiều, tình hình thay đổi hẳn. Một đội dân quân tiến theo đường Verdun (Lê Văn Duyệt trước năm 1975) tràn vào trung tâm Sàigòn, chiếm chợ Bến Thành, kéo thẳng đến đại lộ Bonard (Lê Lợi), xả súng bắn vào các vị trí của Pháp. Mặt khác nhiều đội dân quân (ổ kháng chiến từ Xóm Chiếu) vượt qua cầu Ông Lãnh, đổ bộ lên Sàigòn, tiến vào đại lộ De La Somme (Đường Hàm Nghi). Súng nổ khắp nơị”

Đại tướng Gracey họp báo cho biết:

Lúc ấy không có lấy một ngọn đèn. Trong cảnh tăm tối ấy, mọi người đều tự hỏi những gì đã xảy ra, những gì sẽ xảy đến, và mọi người đặt cho Gracey nhiều câu hỏi dồn dâ.p. Xa xa, nhiều đám lửa rực trời. Một cảnh tượng kinh hoàng bao trùm nhà hàng Continental. Rất đông đàn bà trẻ em Pháp lánh nạn tại nhà hàng. Ở đây không còn một miếng nước, không có một tia sáng đèn điện, chốc chốc lại được tin người Pháp nầy, người Pháp nọ chết. Những tin làm điên đầu cứ truyền ra. Tiếng súng nổ không ngớt, làm rối loạn thần kinh. Khi ấy dân quân chiếm đóng tất cả các khu vực ngoại ô. Gracey không muốn để xảy ra chuyện lớn, nhưng tránh làm sao khỏi dùng võ lực?

Qua đêm 25, chợ Bến Thành vẫn cháy rực trời. Hăng máu, Việt Minh cho Ba Nhỏ, một tên du đãng khát máu, chỉ huy một toán quân tấn công cư xá Herault ở Tân Định, giết hàng trăm người Pháp, kể cả đàn bà, trẻ con. Báo chí Pháp phẫn nộ về vụ nầy và gọi Việt Minh là bọn dã man. Vụ nầy gây nhiều tiếng vang ở ngoại quốc. Từ đó thề: “Lột da bọn Annamite”.

Buổi sáng ngày 26/9, thiếu tá Dewey, trưởng toán Embarkement bị giết tại chợ Sàigòn vì lịnh của Hoàng Quốc Việt muốn trả thù bất cứ người da trắng nào.

Vì cái chết này mà ông Hồ phải viết thư xin lỗi chính phủ Mỹ, và sau đó Hoàng Quốc Việt bị triệu hồi về Bắc.

Nhân chứng lịch sử Trần Văn Ân kể lại:

“Ngày 16/9/45, chúng tôi gồm Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà lập ủy ban phong tỏa Sàigòn, Chợlớn...

Một buổi sáng nọ, ở Chợlớn, vùng Lò Gốm, Kha Vạng Cân chạy tới nơi chúng tôi ở trọ, nhà anh Nguyễn Bá Tường, quản lý hãng thuốc lá Bastos, bảo:

- Anh Sâm, anh Ân, hai anh nên lánh mặt lập tức. Đêm qua bỗng dưng anh Hồ Văn Ngà đã bị bắt....Thế rồi chúng tôi lánh mặt, bỏ ủy ban phong tỏa đô thành......”

Trên các ngả đường, còn nhiều người lũ lượt tản cư. Các đường tỏa ra ngoại ô như Thủ Đức, Lái Thiêu, Hốc Môn, Bình Chánh, Chợ Đệm đều đông nghẹt những chiếc xe bò, xe ngựa, xe đạp thồ......chở đầy những rương, tráp, đồ vật cần thiết.....đoàn người

ra đi trong hỗn loa.n. Dưới sông, ghe xuồng, tam bản nườm nượp chở đồ tản cư... Đi đâu? Mọi người ngơ ngác hỏi nhau: Mạnh ai nấy đi. Đi đâu cũng được, miễn ra khỏi cái thành phố đang khói lửa ngút trời. Ai có thân nhân ở miền quê thì về quê, ai không có vẫn cứ đi......

Trong khi đó, suốt ngày 25/9, nhiều trận đánh dữ dội giữa quân Pháp và dân quân để tranh giành chiếm các đầu cầu như trận Cầu Kiệu, một địa điểm trên rạch Thị Nghè. Vào lúc nửa đêm 24/9, một đại đội hỗn hợp quân Anh Pháp từ Tân Định kéo xuống Cầu Kiê.u. Họ chia làm 2 cánh: từ đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) và từ Bến Tắm Ngựa, tức phía trước đường Mac Mahon (sau nầy là Công Lý). Hai bên chọn hai đầu cầu làm ổ kháng cự. Giữa lúc tình thế chiến đấu sôi nổi, không thấy một tên Việt Minh nào, chỉ có dân quân, thanh niên tự nguyện chiến đấu và hy sinh, không cần biết họ thuộc thành phần nào. Trận đánh Cầu Kiệu diễn ra hai ngày ác liê.t. Vì võ khí thô sơ, quân kháng chiến phải rút về Gò Vấp, rồi qua An Phú Đông. Sở dĩ mặt trận Cầu Kiệu còn cầm cự được 2 ngày là nhờ toán binh sĩ Nhựt rã ngũ yểm trợ.

Dưới cờ Đệ Tứ quốc tế, các toán dân quân chiến đấu gồm những công nhân võ trang đã đánh những trận lớn đầu tiên ở Dakao, Bàn Cờ, Cầu Kho, Ngã Sáu, Chợ Quán, Vĩnh Hội, Chánh Hưng, Cây Quéo (Gia Định), Gò Vấp, Nhà Bè.....với sự tham gia của dân quân tự nguyê.n. Không thấy một bóng dáng Việt Minh Cộng Sản nào, dù là ở cấp chỉ huy. Lúc nầy, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, đại diện chính phủ trung ương đã chạy xuống tới Sóc Trăng (24/9).

Riêng mặt trận Thị Nghè, trong số 214 chiến sĩ, có đến 210 người đã hy sinh (Ngô Văn). Vào ngày thứ ba của trận đánh (28/9). Ủy Ban Hành Chánh còn ra lịnh bằng truyền đơn: “giải giới các toán dân quân kháng chiến thuộc nhóm La Lutte, đang đánh nhau với Pháp mà không có lịnh của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ. Rõ ràng, Việt Minh chỉ muốn giành độc quyền lãnh đạo, chớ không chịu chiến đấu.

Tại Gò Vấp, bất chấp lịnh của Ủy Ban Hành Chánh, một toán dân quân gốc công nhân trạm xe điện, do Liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ tổ chức gồm 60 người, tự động nổi dậy chống Pháp. Nhóm nầy có khoảng 400 hoặc hơn gồm công nhân xe điện thuộc Tổng công đoàn, một bộ phận do Giàu lập ra để kiểm soát lực lượng công nhân. Lực lượng này chống lại việc mang cờ Việt Minh và lực lượng công nhân cứu quốc do Việt Minh chỉ huy. Người cầm đầu tổ chức nầy là Trần Đình Minh, do công nhân bầu lên, đã chiến đấu dưới cờ Đệ Tứ quốc tế (Ngô Văn). Tổn thất đầu tiên của nhóm Đệ Tứ Cộng sản quốc tế là

- Hồ Văn Đức, một thợ may góc Mỹ Tho

- Trần Văn Nghị, thuộc nhóm cảm tử quân, chết tại An Phú Đông.....

Một nhân chứng lịch sử kể lại:

“Những vị trí khác như Cầu Bông, trạm xe điện, cầu Thị Nghè....đêm đêm có lính gác, bắn cầm canh khi thấy thấp thoáng xa xa có bóng người, chớ không phải Việt Minh tấn công như họ đã rêu rao đánh cả trăm tên lính Pháp.

Vì bóng dáng những tên lính gác cầu Thị Nghè thường làm cho Ủy Ban Hành Chính tỉnh Gia Định Nguyễn Văn Chiêu lo sợ Pháp đánh úp, nên ra lịnh cho Ủy Ban rút về cù lao An Phú Đông ở Gò Vấp cho an toàn......”

Đêm đêm, pháo binh của Pháp từ phía Tân Sơn Nhứt bắn vèo vèo trên đầu dân Hạnh Thông Tây, trước khi rơi, nổ ầm ầm trên cù lao An Phú Đông. Rồi một buổi sáng, bến đò An Phú Đông, ngày thường tấp nập kẻ qua người lại, trở nên vắng như chùa bà Đanh, vậy có nghĩa là Ủy Ban Hành Chính tỉnh Gia Định đã bỏ An Phú Đông, chạy tuốt qua Lái Thiêu rồi lên Thủ Dầu Một mất da.ng. Chiến thuật chuồn êm, đem con bỏ chợ, làm bia đỡ đạn tiếp diễn khắp nơi ở Nam Bộ......

Chỉ huy các toán dân quân và thợ thuyền võ trang thuộc liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ không được, các lực lượng võ trang Việt Minh đe dọa tiêu diệt, chặn đánh họ, làm cho tàn quân của Đệ Tứ quốc tế phải rút về phía Đồng Tháp Mười. Ở đây, nhóm nầy được Đệ Tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp che chở. Ông Nguyễn Hòa Hiệp là lãnh tụ VNQĐD đang phản đối Việt Minh Cộng Sản độc tài. Trong cuộc bôn đào nầy, quốc tế Đệ Tứ còn mất thêm các đồng chí:

- Chị Quý, một nữ y tá, các anh Đồng, Thiê.u.

- Trần Văn Thanh, Nguyễn Văn Hương, Trần Quốc Kiểu và 6 đồng chí khác từ các đồn điền cao su Tây Ninh tới......

Một đoàn quân của Liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ khác, rút về Thủ Đức gồm:

- Nguyễn Văn Lịnh, Lê Ngọc

- Nguyễn Văn Nam, Ngô Văn Xuyết. Tác giả Ngô Văn đã gặp họ tại ấp Tân Lộ. Lúc nầy một toán Việt Minh đã có mặt tại Thủ Đức từ 26/9/45. Mục đích của họ là săn đuổi, chặn bắt các tổ chức chống Pháp ngoài Mặt Trận Việt Minh để tiêu diê.t. Bạn đọc thấy cung cách lãnh đạo kháng chiến của Việt Minh như thế nào?

Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch, các đồng chí (lời Ngô Văn) kể trên phải võ trang để tự vệ trước hai kẻ thù Pháp và Việt Minh. Cuối cùng toán nầy cũng phải dàn quân chiến đấu để rút lui về Đồng Tháp Mười, chiếm các khu sình lầy ở đây làm cứ điểm. Ngô Văn Xuyết bị Việt Minh bắt và xử bắn ngay bên bờ sông Vàm Cỏ tháng 10/45. Người ra lịnh bắn Ngô Văn Xuyết là một thầy giáo làng, tên Trọng, được Việt Minh cử làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh tỉnh Tân An 1 tháng trước. Ngô Văn Xuyết bị bắt giam chung với một nhóm độ 30 người tình nghi, trong đó có một người đàn bà điên, tối ngày cứ chửi tên Tro.ng. Người đàn bà này bị Trọng kết tội vô lễ, sau đó cũng bị bắn. Khu vực các nạn nhân nầy bị giam trước khi xử bắn là một thánh thất Cao Đài, ven sông Vàm Cỏ Tây. Lần đó, cả 30 người tình nghi đều bị bắn. Lúc bị giam chung trong thánh thất, qua một tấm vách ngăn mỏng, đêm đêm người ta nghe tiếng rên la thảm thiết của một nông dân nghèo bị Việt Minh kết tội gián điê.p. Sự thật anh ta trở lại nhà đào khoai cho con ăn, sau đó anh bị tra tấn, cuối cùng bị đâm chết một cách hết sức dã man.

Sau đó, Việt Minh chuyển tác giả Ngô Văn tới một ngôi nhà lợp lá tại Sông Xoài (Xoài hột?), đã biến thành trại giam. Tại đây, tác giả Ngô Văn gặp lại các đồng chí, trong đó có cô Thu, người đã giám sát việc phân chia ruộng đất cho nông dân. Tất cả những phần tử chánh trị bị Việt Minh bắt giam, đều bị một tên CS từ Côn Đảo về kết tội và tử hình: Trần Đình Minh bị bắn ngày 13/1/46 tại Mỹ Lơ.i. Các công nhân Lê Ngọc, Lê Kỳ, Lê Văn Hương bị Việt Minh ám sát vì tội Việt gian tại Hốc Môn.

Trong suốt tháng 10/45, Việt Minh lợi dụng thời gian hưu chiến từ 2 tới 10/10 mặc sức lùng sục như chó săn, tìm kiếm, săn đuổi những nhóm chiến đấu ngoài tổ chức của họ, những nhân sĩ, trí thức yêu nước, khác chính kiến, các lãnh tụ những đảng phái quốc gia, Cao Đài, Hòa Hảo, Trotskyist...đều lần lượt sa lưới Việt Minh. Tại miền đông lúc nầy Dương Bạch Mai đã có mặt tại Biên Hòa, chỉ huy cuộc lục soát, chặn bắt các trí thức tản cư để giam riêng, chờ ngày giờ thuận tiện để thủ tiêu. Ở miền tây, đặt dưới quyền sanh sát của Nguyễn Văn Tây (Thanh Sơn), cán bộ từ Côn Đảo mới về, cùng với Phạm Hùng coi vùng Mỹ Tho. Tại Sàigòn Chợlớn, có Nguyễn Văn Trấn, hung thần ác quỷ, đã sát hại rất nhiều nhà yêu nước như Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm......Vào năm 1945, tôi có nghe đồng bào nhắc lại (lời ông Dương Đình Lôi) cơ quan quốc gia tự vệ cuộc của ông Bảy Trấn đóng tại ngã ba giáp nước, kinh xáng Lý Văn Mạnh đổ ra sông Chợ Đê.m. Ba tôi nói hầu hết các vụ giết người là do cơ quan nầy tự động làm, không thông qua Ủy Ban Hành Chánh. Họ coi như có quyền hành riêng biệt để sanh sát bất cứ ai. Vì vậy, thời bây giờ các điền chủ, tư sản, có người bỏ cơ nghiệp trốn về thành ẩn trú. Nhiều ông phủ, ông huyện (hàm) thời Tây có đất đai, nhà máy cũng phải ngả theo cách mạng, cho con em theo kháng chiến, hoặc bản thân họ đỡ đầu cho vệ quốc đoàn trong những năm đầu kháng chiến để được yên thân. Nhưng nhiều nơi, con đi kháng chiến, họ vẫn về nhà sát hại người cha như thường......Lúc bấy giờ Việt Minh có một chính sách nghi ngờ những viên chức làng xã, hương chức hội tề cũ, sợ những người này sẽ ngã theo Pháp khi Pháp trở lại, nên họ giết trước để trừ hậu hoa.n. Có một điều, cho tới nay ai ai cũng biết là thời đó, các Ủy ban kháng chiến hành chánh gồm những người yêu nước thật sự, nhưng bọn Việt Minh Cộng Sản sử dụng họ như những tấm bình phong, để che đậy tội ác, đồng thời lôi cuốn các thành phần khác trong xã hội theo khẩu hiệu đại đoàn kết toàn dân bịp của Hồ Chí Minh........ (thư riêng cho tác giả).

Trong một đoạn hồi ký, bác sĩ Trần Nguơn Phiêu có kể lại:

“Khi cuộc cách mạng tháng 8 khởi sự ở Nam Bộ, thì một số thanh niên vùng Gia Định, xuất thân từ các trường Sàigòn, Chợlớn tập hợp lại trong tổ chức Thanh Niên Học Sinh Tân Bình. Pháp tái chiếm Sàigòn với sự tiếp tay của quân Anh. Mặt trận Tân Bình tan vỡ khi Pháp phá được vòng vây về phía Gia Đi.nh. Một phần các anh em di chuyển về Biên Hòa. Sau đó, một số gia nhập đoàn tuyên truyền lưu động của Đặng Ngọc Tốt để về miệt Hậu Giang.

Khi quân đội Anh, Pháp tiến chiếm Biên Hòa thì thành phần chính trị và quân sự Việt Minh được điều động cấp tốc đi vào khu. Thành phần du kích địa phương, trong đó có Mã, được chỉ thị ở lại đánh trì hoãn để bộ phận lớn rút đi an toàn. Khi quân Anh Pháp bắt đều mở rộng vòng vây, thì những dữ kiện mới làm cho Mã có những ý nghĩ băn khoăn. Giáo sư Trần Văn Quế cũng như những nhà ái quốc khác bị đày Côn Đảo được về đất liền. Sau đó thầy được cứ làm cố vấn cho viên chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh tỉnh Biên Hòa. Vị nầy tất nhiên là một người của đảng CS, miệng thì thao thao giáo điều, nhưng chữ nghĩa rất kém. Việc gì cũng phải hỏi ý kiến nhân vật cao cấp là Dương Bạch Mai, ủy viên thanh tra chính trị miền Đông, đại diện cho Trần Văn Giàu, chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ.

Khi cơ quan hành chánh sắp phải rời tòa hành chánh tỉnh, thì phần đông các người trí thức, nhân sĩ, giáo viên.....bi. tập trung đưa đi trước, vì Việt Minh lo sợ họ có thể cộng tác với Pháp. Tình cờ khi đi chích thuốc, Mã được nghe người thân tín của viên tỉnh ủy hỏi:

- Cố vấn thì sao?

Y trả lời:

- Thì cứ thi hành lịnh của anh Mai đối với tụi trí thức.

Mã cấp tốc báo với giáo sư Quế, thì giáo sư ngao ngán trả lời:

- Qua cảm ơn em. Thiệt các anh đệ tam lúc nào cũng vâ.y.

Sau đó, giáo sư tìm cách trở về thánh địa Tây Ninh. Sau này gặp lại giáo sư Quế (1972) nói: “Trước kia qua được làm cố vấn ở Biên Hòa vì người ta (Việt Minh) muốn cầm chân, không để qua về được Tây Ninh mà thôi”. Trong những người bị tập trung thời đó, còn có ông Phan Văn Hùm, một nhân vật chính trị danh tiếng miền Nam .....

Những sự kiện trên cũng như nhiều diễn tiến sau nầy, đã giúp Mã nhiều kinh nghiệm để không còn tin tưởng ở người CS. Miệng họ thì hô hào đoàn kết quốc gia để chống Pháp, nhưng trong lòng thì chủ trương phải tiêu diệt những thành phần yêu nước có thể có khả năng lãnh đạo khác ho..”

Một đoạn khác, bác sĩ Trần Nguơn Phiêu kể: Một hôm, anh trưởng đoàn thanh niên cấm trại đi hội về, bí mật thông báo cho anh em thân tín là sẽ có cuộc nổi dậy chống và yêu cầu anh em chuẩn bị góp sức. Với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, mặc dầu chưa biết phong trào sẽ do đoàn thể nào khởi xướng, nhưng anh em vẫn bắt tay phân công lo nhiệm vụ nổi dậy vùng Sàigòn, Chợlớn. Hăng hái nhứt là anh Trần Thanh Nhàn....... Phần tổ chức võ trang là anh Trần Thạnh Mâ.u. Anh Mậu người làng Vĩnh Lợi, Gò Công, có nhiệt tâm với đất nước, thường bàn với anh em nội trú về tương lai VN trong giờ chiều sau buổi ho.c. Khi Việt Minh cướp chánh quyền ở miền Nam, anh thuộc những thanh niên tiền phong đã góp sức, nhưng đã bị CS đem xử tử ở sân vận động Gò Công cùng nhiều thanh niên trí thức, và ông Nguyễn Văn Thành, giáo sư sử địa trường Pétrus Ký. Lý do thầm kín là vì thuộc thành phần trí thức, hăng hái nhưng hay chỉ trích CS địa phương. Đảng Tân Dân Chủ bấy giờ có phái Đặng Ngọc Tốt từ Sàigòn đến can thiệp, nhưng không hiệu quả. Tốt chỉ còn có khóc và ôm anh em trước giờ hành quyết mà thôi. Về sau chính Đặng Ngọc Tốt cũng bị Việt Minh hãm ha.i. (ghi chú của tác giả). Hồi đó vùng Sàigòn, Chợlớn do Nguyễn Văn Trấn là trùm công an, núp dưới mỹ từ tự vệ, muốn bắt muốn tha hay giết tự quyền. Ông Bùi Quang Chiêu đã bị quốc gia tự vệ cuộc của ông Trấn tới bắt tại nhà, rồi đem giết cùng với 3 người con trai của ông Chiêu tại Chợ Đê.m. Chúng tôi sẽ có một bài viết riêng về cái chết của ông Bùi Quang Chiêu, do chính người con gái của ông là bà Renée Bùi thuật la.i. Luật sư Hình Thái Thông, đang chủ tọa một phiên họp các đại biểu làng, tổng liên tỉnh, liền bị Việt Minh bao vây và bắt đi. Nội trong đêm luật sư Hình Thái Thông bị Thanh Niên Tiền Phong dẫn di hạ sát bằng cách chôn sống tại Quơn Long, Chợ Gạo trước khi Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rút vào Đồng Tháp Mười. Trước khi chôn sống, luật sư Thông bị mổ bụng một cách dã man, rồi chôn chung vào một hầm tập thể, còn nhiều tiếng rên la thảm thiết. Theo tác giả Ngô Văn, chánh phủ VN khám phá được hầm nầy để tìm hài cốt nạn nhân, trong đó có ông Hồ Văn Ngà (?).

Theo bác sĩ Trần Nguơn Phiêu: riêng trường hợp ông Hồ Văn Ngà thì bị giết nguội về sau, khi ông bị giam ở Kim Quy, Đá Ba.c. Cùng bị giam với ông Hồ Văn Ngà có ông Trần Quang Vinh, một nhân sĩ Cao Đài danh tiếng. Ông Nguyễn Thành Phương và Vũ Tam Anh tổ chức phá khám để giải thoát hai ông Vinh và Ngà, nhưng chỉ cứu được ông Trần Quang Vinh, Hồ Văn Ngà hôm đó được một cán bộ giữ khám là học trò cũ mời về nhà dùng cơm. Ông Ngà sau đó bị giết ở Hòn Đá Bạc.......

......Ông Hồ Văn Ngà đã nói với những người giết ông: Giết thì giết nhưng đừng kêu “qua” là Việt gian!

Sau đó còn một nhóm thuộc Đệ Tứ quốc tế tiếp tục chiến đấu với Pháp ở Chợlớn, rồi rút về Chợ Đệm, bị tự vệ của ông Trấn giải giới, rồi mất tích luôn. Hồi tháng 8/9/45, Chợ Đệm là một trung tâm giam giữ và hành quyết của Việt Minh. Ông Trấn dùng chành lúa của Võ Lợi Trinh làm khám nhốt những người bị Việt Minh bắt vì tình nghi, vì sợ uy tín của họ hay vì ngăn ngừa họ tranh giành quyền bính với Việt Minh. Đêm đêm có tiếng rên la thảm thiết vì bị Việt Minh tra tấn dã man, khiến cho dân chúng Sàigòn, Chợlớn nghe nói đến Chợ Đệm phải rùng mình. Chúng tôi sẽ trở lại việc nầy trong một bài khác.

Hứa Hoành

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link