Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, February 3, 2013

HRW tố cáo Việt Nam gia tăng đàn áp những ai chỉ trích chính quyền


 

HRW t cáo Vit Nam gia tăng đàn áp nhng ai ch trích chính quyn


 

Cồng an dồn những người biểu tình phản đối Trung Quốc
 tại Hà Nội ngày 09/12/2012 lên xe buýt.

Cồng an dồn những người biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội ngày 09/12/2012 lên xe buýt.

REUTERS/Tran Minh Tue

Thanh Phương


Trong bn báo cáo năm 2013 v tình hình nhân quyn trên thế gii công b ngày 01/02/2013, t chc Human Rights Watch nhn đnh : Chính quyn Vit Nam đang « gia tăng đàn áp các quyn t do ngôn lun, lp hi và hi hp ôn hòa mt cách có h thng, đng thi trn áp nhng người cht vn các chính sách ca chính ph, phanh phui các v tham nhũng ca quan chc hoc kêu gi các gii pháp dân ch thay thế cho chế đ đc đng. »


Theo Human Rights Watch, trong năm 2012, các nhà hot đng vn b chính quyn tùy tin bt gi, giam gi cách ly trong mt thi gian dài mà không được tr giúp pháp lý và cũng không được gia đình thăm viếng, b tra tn và b xét x ti các phiên tòa theo s ch đo ca chính quyn và b kết án tù nng n vi nhng điu lut mơ h v an ninh quc gia.

Ông Brad Adams, Giám đc châu Á ca HRW ghi nhn : « Tình hình nhân quyn Vit Nam li tht lùi thêm mt bước trong năm 2012, khi chính quyn tiếp tc dùng chính sách cng rn đ đi phó vi nhng bt mãn v chính tr, xã hi và kinh tế ngày càng tăng trong nước. »

Theo thng kê ca Human Rights Watch, tính đến cui năm 2012, có ít nht 40 nhà hot đng b kết án và x nhiu năm tù. Ngoài ra, có ít nht 31 người b bt và tm giam chưa xét x.

Chính quyn Vit Nam cũng đang khng chế t do Internet vi d tho Ngh đnh v Qun lý, cung cp, s dng dch v Internet và ni dung thông tin trên mng, vi các quy đnh cm đăng ti nhng ni dung b coi là chng Nhà nước, phá hoi an ninh quc gia, tiết l bí mt Nhà nước hay qung bá nhng quan đim b coi là « phn đng » trên mng.

T chc HRW cũng đc bit quan ngi v nn tra tn và các hình thc ngược đãi khác ca công an. Theo s liu ca báo chí chính thc, ch tính riêng trong 9 tháng đu năm, đã có ít nht 15 người chết trong khi b công an giam gi, trong đó có nhng người b đánh đến chết. HRW cũng ch trích vic chính quyn Vit Nam dùng vũ lc gii tán nhng người tun hành ôn hòa Hà Ni phn đi nhng hành đng ca Trung Quc xâm ln ch quyn Vit Nam trên Bin Đông, như v xy ra ngày 05/08.

HRW cũng lưu ý rng Ngh đnh 92 ca chính ph ban hành ngày 08/10/2012 chính là nhm gia tăng kim soát t do tôn giáo Vit Nam, vi quy đnh mi v các điu kin cho các t chc tôn giáo được công nhn chính thc, chng hn như phi chng minh chưa tng vi phm an ninh quc gia trong quá kh.

 

Lop 3 truong lang :http://www.youtube.com/watch?v=fYNE3bEcHQc

Thế Của Quốc Tịch Mỹ


 

 

Thế Của Quốc Tịch Mỹ

(02/02/2013)

Tác giả : Vi Anh

Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân thoát khỏi ngục tù CS, trở về Mỹ ngày 30/01/2013. Một người Việt được tự do là mừng cho một người. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN thoát khỏi ngục tù CS là một niềm vui lớn cho người Việt còn nghĩ đến vận mạng nước nhà đang nằm trong gọng kềm CS, cho công cuộc đấu tranh và cho chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN.

Trường hợp Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân, một người Mỹ gốc Việt, một công dân Hoa kỳ, một nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, được phóng thích một cách bất ngờ còn nói lên cái thế quốc tịch Mỹ của người Mỹ gốc Việt hiện chiếm hơn phân nửa dân số người Việt hải ngoại. Cái thế công dân Mỹ gốc Việt, cái uy của quốc tịch Mỹ là lợi thế, lợi khí an toàn và hữu hiệu cho công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, ngay trong chế độ CSVN. Và người Mỹ gốc Việt vận dụng rất thành công.

Cùng bị cáo buộc tội âm mưu lật đổ chánh quyền mà 14 đồng bào Công Giáo ở Thanh Hoá, công dân của chế độ CSVN bị CSVN kêu án tổng cộng 83 năm tù cộng với mấy chục năm quản chế. Còn Ts Nguyễn quốc Quân công dân Mỹ bị cáo buộc tội khủng bố rồi sau đổi tội danh thành âm mưu lật đổ chánh quyền lại được phóng thích chỉ sau 9 tháng điều tra xét hỏi ở trại tạm giam.

Với quan điểm lập trường “địch và ta” của CSVN, theo tinh thần Nghị Quyết 36 của Bộ Chánh Trị CSVN, người như Ts Nguyễn quốc Quân là “lực lượng thù địch” số 1 của CSVN.

Ts Quân là một người Mỹ gốc Việt thuộc một đảng chánh trị có chủ trương đưa cán bộ về nước ”bám thắt lưng địch mà đánh”, với chiến lược, chiến thuật tuy ôn hoà, bất bạo động, tuy dùng quyền lực mềm tự do, dân chủ, nhân quyền rất êm nhưng vô cùng thấm. Nó thấm tận tâm can tì phế thận của CSVN. CS sợ như thí sinh sợ phạm húy trường thi, không dám nói tên mà nói trại ra là “diễn biến hoà bình”.

CSVN quá sợ nên rất thù đảng Việt Tân, chụp cho cái mũ là “khủng bố”, dù Đảng Việt Tân là một chánh đảng có trụ sở ở Mỹ là quốc gia lãnh đạo cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu; nên chẳng con ma nào kể cả con ma “khỉ đít đỏ” cũng không tin sự cáo buộc vô căn, vô lý này của CSVN.

Cái thế công dân Mỹ đã làm cho CSVN rất bối rối, mất bình tĩnh, tiền hậu bất nhứt trong khi giải quyết vấn đề bắt bớ, giam cầm TS Quân. Công an CSVN ban đầu buộc tội khủng bố, rồi đổi tội danh âm mưu lật đổ chánh quyền. Rồi toà án CSVN công khai tuyên bố ngày giờ đăng đường xét xử rồi bất thần hoãn, lại hoãn vô hạn định, rồi bất ngờ phóng thích, cho trở về Mỹ ngay. Vì vấn đề mặt mũi, Đảng Nhà Nước CSVN lại làm một chuyện ruồi bu, kiến đậu nữa. “Báo đài” của Đảng Nhà Nước CSVN nói, đương sự “nhận tội” và nhà nước “khoan hồng”, nhưng dấu đầu lòi đuôi nói “trục xuất” về Mỹ.

Báo chí quốc tế, báo chí VN hải ngoại và truyển thông ngoài luồng của người dân Việt trong nước đều cười ngạo cái trò hề rẻ tiền của CSVN. Lý trí và luận lý cho thấy nếu thực sự Ts Quân “nhận tội”, nhà nước “khoan hồng” thì hà cớ gì CSVN phải sợ mà trục xuất TS ngay sau khi trả tự do. Tại sao CS không dùng Ts trong việc tuyên truyền cho chế độ là khoan hồng. Già sử TS Quân có yếu bóng vía “nhận tội”, thì hà cớ gì Ts lại chịu biệt giam 9 tháng, mà không nhận trước để được khoan hồng thả ra cho khoẻ thân. Ts Quân là một người già dặn kinh nghiệm CS, thuộc một chánh đảng dám xông vào bám thắc lưng địch mà đánh thì đâu có yếu bóng vía như vậy bao giờ. Người trí thức đấu tranh, người có đảng tịch cao như Ts Quân dám làm là dám chịu, sẵn sàng vào tù ra khám, kiên cường giữ khí tiết của một nhà cách mạng.

Kể cả Bà Quân, một phụ nữ lúc nào cũng bình tĩnh, kiên cường khi lên Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao, nhờ can thiệp và đòi công lý cho chồng, cũng như khi trả lời phỏng vấn với truyển thông quốc tế.

Chính cái thế công dân Mỹ, chính cái uy của quốc tịch Mỹ, hay nói một cách khác chính chánh quyền Mỹ của dân, do dân, vì dân đã bảo vệ công dân Mỹ, đã can thiệp trực tiếp hay gián tiếp, đã áp lực công khai hay ngấm ngầm khiến CS VN phải thả Ts Quân.

Ủy Ban Quốc Hội của Mỹ đã hơn một lần mở cuộc điều trần, chất vấn, khuyến cáo Thứ Trưởng Ngoại Giao, hỏi coi Toà Đại sứ, Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN có đi thăm TS Quân, Bộ Ngoại Giao có cử người gặp phu nhân của TS Quân ở Mỹ chưa.

Cả chục dân biểu hơn một lần chánh thức gởi văn thư cho Bộ Ngoại Giao, Phủ Tổng Thống yêu cầu can thiệp cho những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó thường nhắc đến Ts Quân một cách quan tâm đặc biệt.

Còn Toà Đại sứ hay Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN hàng tháng có cử người vô tận khám viếng thăm Ts Quân. Mọi biến chuyển về sức khoẻ tinh thần và vật chất của Ts, nhà ngoại giao Mỹ đều có cho Bà Quân ở Mỹ biết.

Sứ quán của Mỹ ở VN cũng có liên lạc với luật sư nhiệm cách bảo vệ cho Ts Quân khi ra toà.

Sứ quán và nhân viên ngoại giao Mỹ làm việc hết sức chuyên nghiệp và tận tâm, không khoa trương mà rất hữu hiệu. Xem các cuộc phỏng vấn của các nhà báo trong vụ Ts Quân được phóng thích trở về Mỹ, cho thấy nhân viên ngoại giao Mỹ có liên quan trong vụ Ts Quân chỉ cho luật sư nhiệm cách biện hộ cho Ts Quân biết Ts Quân được trả tự do khi máy bay của Ts Quân rời khỏi không phận của VN. Và Bà Ts Quân cũng thế, ngoại giao Mỹ thông báo đúng lúc CSVN không còn có thể gây khó khăn gì cho Ts Quân nữa. Bà Quân được thông báo cụ thể giờ Ts Quân đổi máy bay ở Đài Loan để nói chuyện với chồng.

Chánh quyền của dân, do dân vì dân Mỹ, cấp trung ương cũng theo dõi sát và công khai và chánh thức bày tỏ niềm vui khi công dân Mỹ trở về Mỹ. Xin lấy tin của Pháp ít chủ quan hơn trong chuyện của Mỹ. Tin thông tấn xã Pháp AFP, từ Hà nội phát ngôn viên Toà Đại sứ Mỹ ở Hà Nội, Christopher Hodges, cho biết là phía Mỹ cảm thấy “khích lệ” trước việc Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân được phóng thích. Từ Washington DC, bà Victoria Nuland, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc tiếp xúc với báo chí xác định đối với chính quyền Hoa Kỳ, “không có một ưu tiên nào cao hơn sự an toàn và an ninh của công dân Mỹ ở ngoại quốc”. Hoa Kỳ cảm thấy “hài lòng về việc công dân Mỹ Richard Nguyễn được trả tự do”, và đấy là một “tin vui”.

Đúng là một tin hết sức vui đối với người Mỹ gốc Việt. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyển VN thoát khỏi ngục tù CS về với gia đình, cộng đồng, đoàn thể trong những ngày Tết cỗ truyển của dân tộc Việt./.(Vi Anh)

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Saturday, February 2, 2013

Lá Cờ Chính Nghĩa


Giới Thiệu Một Cuốn Phim nhiều công sức

Lá Cờ Chính Nghĩa

alt

Trần Gia Phụng

Lời người viết: Sau khi bài “Mặt trời không bao giờ lặn bên trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ” được đăng trên báo và đưa lên web, có một độc giả tự xưng là du học sinh Việt Nam gởi e-mail cho người viết và đưa ra hai câu hỏi:

1) Tại sao người viết nói rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện năm 1948 chứ không phải 1954 khi đất nước bị chia hai?

2)...Nếu người viết bảo rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính nghĩa thì người viết giải thích như thế nào về biến cố 1975? Xin cảm ơn anh du học sinh đã đặt câu hỏi. Sau đây là bài trả lời câu hỏi thứ nhất. Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trong số báo sau.

1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Năm 1945, sau thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), nhanh tay chiếm được chính quyền. Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) quyết định thoái vị và trao quyền lại cho mặt trận VM. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ra mắt chính phủ lâm thời, chọn cờ của mặt trận VM là Cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.

Không đầy mười ngày sau, trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra chủ trương VM độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) [Về sau, đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục việc nầy qua điều 4 hiến pháp năm 1992.]

Để bảo đảm độc tôn quyền lực, về đối nội, VM thực hiện kế hoạch mà VM gọi là “giết tiềm lực” hay “tiêu diệt tiềm lực”, tức là tiêu diệt tất cả các đảng phái và tất cả các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, tất cả những người có khả năng nhưng không cộng tác với VM, có thể nguy hiểm cho VM hay trở thành đối thủ của VM trong tương lai.

Về đối ngoại, VM nhượng bộ các lực lượng nước ngoài để rảnh tay đối phó với các lực lượng đối kháng trong nước, nhằm duy trì việc độc quyền chính trị. Khi Pháp gởi lực lượng, theo quân Anh tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Bắc nhằm thay thế quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng, VM liên tục nhượng bộ. Thấy VM yếu kém, ngày 18-12-1946, Pháp buộc VM phải giao quyền kiểm soát an ninh Hà Nội cho Pháp. Hồ Chí Minh họp trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà Nội) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946.

(Một nhóm tác giả, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.) Không thể để Pháp bắt và cũng không thể bỏ trốn nhục nhã, quyết định của hội nghị Vạn Phúc nhằm tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo VM và đảng CSĐD thoát thân ra khỏi Hà Nội một cách chính thức. Thế là chiến tranh không tuyên chiến xảy ra.

Trong khi chiến tranh tiếp diễn, VM tiếp tục chủ trương “giết tiềm lực”. Trong các năm 1945, 1946, 1947 trên toàn quốc, VM giết khoảng 100,000 người ở tất cả các cấp từ trung ương xuống tới địa phương làng xã. Đứng đầu danh sách nầy là những nhân vật như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh …

Vì bản năng sinh tồn, những người theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản phải trốn tránh, bỏ ra nước ngoài, hoặc phải đến sinh sống tại vùng do Pháp tái chiếm khi Pháp trở lại Đông Dương, hay chẳng đặng đừng cộng tác với Pháp để thành lập tổ chức hành chánh địa phương tạm thời do Pháp bảo trợ, chống lại VM.

Ở Nam Kỳ, chính phủ Cộng hòa Lâm thời Nam Kỳ được thành lập tháng 6-1946, đổi thành chính phủ Nam Kỳ tự trị tháng 2-1947. Cũng trong tháng 2-1947, Pháp thành lập Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ tại Huế. Ra tới Hà Nội, Pháp thành lập Uỷ ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội, còn được gọi là Hội đồng An dân tháng 5-1947. Tháng 10-1947, ông Nguyễn Văn Xuân, thiếu tướng trong quân đội Pháp, đã từng được Hồ Chí Minh cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ VNDCCH ngày 2-9-1945, đứng ra thành lập chính phủ lâm thời Nam Kỳ.

Việt Minh kết án chung tất cả các tổ chức nầy là Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Tuy nhiên nếu những người nầy không hợp tác với Pháp để chống VM cộng sản, bảo toàn sinh mạng của chính họ, thì không lẽ họ ngồi yên để chờ đợi VM tới bắt giết, như đã từng bắt giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi? Nếu Nguyễn Văn Xuân, một tướng lãnh trong quân đội Pháp, là tay sai của thực dân Pháp, thì tại sao Hồ Chí Minh lại cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ của Hồ Chí Minh?

2.- CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ XUẤT HIỆN

Trong khi đó, trong một chuyến công du cho chính phủ VM qua Trung Hoa tháng 3-1946, theo lời cựu hoàng Bảo Đại, cố vấn chính phủ VM, ông bị phái đoàn VM bỏ rơi ở lại Côn Minh (Kunming) tháng 4-1946. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 242.) Cựu hoàng tự ý thức rằng VM bỏ rơi ông có nghĩa là VM không còn cần đến ông nữa, nên cựu hoàng bắt đầu tách ra khỏi chính phủ VM, qua trú ngụ ở Hồng Kông. Các lãnh tụ trong các tổ chức hay đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc dần dần tập họp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, yêu cầu cựu hoàng ra cầm quyền trở lại, nhằm tranh đấu giành độc lập và thống nhất đất nước.

Về phía Pháp, sau một thời gian thương thuyết với VM nhưng thất bại, Pháp thay đổi chính sách từ tháng 9-1947, quay qua thương thuyết với cựu hoàng Bảo Đại để tìm một giải pháp mới. Cao uỷ Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert gặp cựu hoàng Bảo Đại trên một chiếc tàu thả neo ở vịnh Hạ Long ngày 6-12-1947. Hai bên đồng ký bản thông cáo chung theo đó Pháp hứa trao trả độc lập cho Việt Nam và ngược lại Việt Nam hứa sẽ cộng tác và ưu tiên sử dụng chuyên viên Pháp trong công cuộc kiến thiết đất nước.

Sau cuộc nói chuyện sơ khởi trên đây, Bảo Đại qua Pháp tiếp tục vận động. Để tạo cơ chế hành chánh chung có thể nói chuyện với Pháp, khi trở về lại Hồng Kông, cựu hoàng uỷ cho Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam. Nguyễn Văn Xuân được Hội nghị các giới cầm quyền do Pháp bảo trợ và đại diện các đoàn thể, các đảng phái tại ba miền Bắc Trung, Nam Việt Nam, họp tại Sài Gòn ngày 20-5-1948, đồng ý ủng hộ làm thủ tướng.

Ngày 1-6-1948 Nguyễn Văn Xuân chính thức công bố chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam gồm đầy đủ đại diện Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Hôm sau, 2-6-1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố “Pháp quy lâm thời” (Statut provisoire), quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ ở giữa, quốc ca là bài “Tiếng gọi sinh viên”, sau đổi là “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước.

Khi chuẩn bị lập chính phủ, Nguyễn Văn Xuân đã cho trưng cầu ý kiến về việc chọn quốc kỳ. Lúc đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp, dễ thực hiện.

Quốc kỳ mới do thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố hình chữ nhật, chiều cao bằng hai phần ba chiều ngang, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau, chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. Chiều cao chia thành 3 phần bằng nhau. Ở phần giữa, ba sọc đỏ nằm xen kẻ với hai sọc vàng, tất cả năm sọc đều bằng nhau.

Ngày 8-3-1949 cựu hoàng Bảo Đại ký với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée, tại Paris, theo đó chính phủ Pháp chính thức giải kết hòa ước bảo hộ năm 1884, Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Sau những thủ tục pháp lý đưa Nam Kỳ, vốn là thuộc địa của Pháp, sáp nhập trở lại vào lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là đất nước được thống nhất, Bảo Đại trở về Việt Nam lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng cuối tháng 4-1949.

Lúc đó, trên đất nước Việt Nam có hai chính phủ. Chính phủ QGVN ở các thành phố và vùng nông thôn phụ cận. Chính phủ VNDCCH ở núi cao, rừng sâu và bưng biền. Khu vực cai trị của hai bên không có giới tuyến rõ rệt. Hai chính phủ theo hai đường lối hoàn toàn đối kháng nhau. Chính phủ QGVN chủ trương tự do dân chủ, đa đảng tuy có phần hạn chế vì chiến tranh, và dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc. Chính phủ VNDCCH chủ trương độc tài toàn trị, độc đảng và dựa trên nền văn hóa Mác-xít. Hai chính phủ được tượng trưng bằng hai lá cờ cũng đối nghịch nhau: Cờ vàng ba sọc đỏ và Cờ đỏ sao vàng.

Về phía QGVN, do đặc trính tự do dân chủ, nhiều chính phủ kế tiếp nhau cầm quyền. Cuối cùng, năm 1954 quốc trưởng Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Ngô Đình Diệm chính thức chấp chánh từ ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Hai tuần sau, hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17), VNDCCH ở phía bắc và QGVN ở phía nam.

Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống ngày 26-10-1955. Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.

Lá Cờ vàng ba sọc đỏ được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4.

Như thế, lá Cờ vàng ba sọc đỏ đã xuất hiện từ năm 1948 trên toàn quốc, chứ không phải chỉ xuất hiện sau năm 1954, ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai.

Lá Cờ vàng ba sọc đỏ hoàn toàn đối nghịch với lá Cờ đỏ sao vàng chẳng những về màu sắc, nhưng quan trọng nhất đối nghịch cả về ý nghĩa chính trị. Một bên, Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho tự do dân chủ và dân tộc; một bên, Cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho độc tài, đảng trị và quốc tế cộng sản.

Trần Gia Phụng

 

Chiếc quan tài không có nắp


Chiếc quan tài không có nắp


Ngô Thị Hồng Lâm


Tôi vừa đọc xong bài viết «Một phận người của bên thắng cuộc» của tác giả Đức Thành viết về sự hy sinh của liệt sĩ Phạm Văn Cam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Trước hết tôi xin được thắp nén nhang tri ân trước hương linh người liệt sĩ đã anh dũng quên mình xông vào lửa đạn cứu tàu cứu hàng trong cuộc đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trên miền Bắc Việt Nam lúc đó và chia sẻ nỗi đau mất người thân trong chiến tranh với gia tộc họ Phạm của liệt sĩ Phạm Văn Cam.

Tác giả Đức Thành nói: Chúng tôi đã thử tìm hiểu về cái Ban Thống nhất được nhà nước lập ra từ khi có hiệp định Genève nhưng hầu như không có thông tin nào về Ban Thống nhất này. Thưa ông có đấy, tên của nó là Ban Thống nhất Trung ương đóng tại đường Quốc Tử Giám Hà Nội, có chức năng nhiệm vụ hoạt động và vai trò trên các lĩnh vực tiêu biểu là: “tiếp đón và bố trí cán bộ, chiến sĩ, đồng bào và con em miền Nam tập kết và từ chiến trường miền Nam ra hậu phương miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, con em miền Nam trên đất Bắc, điều động cán bộ dân, chính, đảng từ hậu phương miền Bắc vào các chiến trường miền Nam”. Vậy thì người ta phải nắm rõ về từng người cán bộ trong tầm quản lý của mình thưa ông Đức Thành.

Người lãnh đạo cao nhất của Ban này theo tôi được biết là ông Huỳnh Bá Vân, ông này người gốc khu 5, có một đặc điểm là với cái nóng như thiêu như đốt và gió Lào ở giữa cái chảo lửa Hà Nội tháng 6, ông ấy vẫn luôn mặc chiếc áo bông, đầu đội chiếc mũ bê-rê, tay cầm cái quạt giấy phe phẩy. Nhà ông này ở 58B Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (ngã tư Trần Hưng Đạo – Bà Triệu). Đó là một biệt thự cổ kiểu kiến trúc Pháp (1 trệt, 1 lầu), tầng trệt phía trước là nhà của ông bà Đỗ Tiễu, đi vòng ra phía bên hông ngôi biệt thự phía đường Bông thợ Nhuộm là nhà ông Đỗ. Toàn bộ tầng lầu là gia đình của ông Huỳnh Bá Vân, Chủ nhiệm Ban Thống nhất Trung ương.

Hành động cao cả quên thân mình để cứu tàu, cứu hàng ra khỏi vùng bom đạn là một tiêu chuẩn hàng đầu để được xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho cá nhân. Hành động của ông Phạm Văn Cam xứng đáng được nằm trong bình xét danh hiệu này. Theo tôi anh Đức Thành hay thân nhân ông Phạm Văn Cam nên tìm đến gặp trực tiếp ông Huỳnh Bá Vân hỏi cho ra nhẽ vấn đề xem sao. Ông này nếu còn sống thì nay cũng đã ngoài 90. Không thể nói một cách vô trách nhiệm không biết được. Họ biết hết đấy nhưng họ không ngó tới mà thôi.

Số phận của ông Phạm Văn Cam xem ra cũng còn khả dĩ hơn nhiều đồng chí khác, vì lúc chết ít nhiều ông ấy còn được xây một nấm mộ và khắc một tấm bia đá cho dù chỉ là: «xè xè nắm đất bên đàng». Xin kể chuyện của chồng tôi – một người con của Hương Trà, tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi, kết nạp Đảng năm 17 tuổi (11/1949), bị chính quyền ông Ngô Đình Diệm bắt năm 1955 và 1/5/1975 mới ra tù. Là cựu tù Côn Đảo 20 năm, thương binh ¾, Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng 3, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Kỷ niệm chương, chồng tôi khi chết cũng chỉ được cơ quan Bảo hiểm xã hội Vũng Tàu chi trả tiền tang ma 2.230.000 đồng. Lúc đó một chiếc quan tài gỗ xấu giá thấp nhất là 2.500.000 đồng, số tiền được chi trả như vậy chỉ đủ mua được quan tài không có nắp. Trợ cấp cho Đảng viên lâu năm của Thành ủy cộng với trợ cấp đặc biệt cho hộ nghèo của Thương binh Xã hội cũng không quá 2.000.000 đồng, trong khi chi phí cho một đám ma và xây mộ thấp nhất cũng trên 20 triệu đồng. Tôi làm đơn đến các tổ chức chính trị  nơi quản lý chồng tôi thì đều nhận được câu trả lời: “không có kinh phí, đã giải quyết đúng chế độ”. Tôi phải đi vay trả lãi cao để có tiền chi phí tang ma cho chồng tôi mồ yên mả đẹp.

Thưa ông Đức Thành,

Nếu ông quyết tâm đi gặp những người ở cái Ban Thống nhất Trung ương năm xưa, thì tôi tin chắc rằng ông cũng sẽ chỉ nhận được câu trả lời là Ban này đã giải thể, ông hãy đi đến Ban X mà hỏi. Ông đến Ban X hỏi thì Ban X lại chỉ ông đến Ban Y. Đến Ban Y thì họ lại chỉ cho ông ngược về lại Ban X. Ông cứ thế đi cho đến khi gót mòn chân mỏi, không còn tiền để đi xe nữa thì lúc ấy chẳng còn biết kêu ai thấu cho ông nữa đâu ông ạ. Ông Phạm Văn Cam, chồng tôi và nhiều người khác nữa cùng bị thiệt thòi như ông Cam, suy cho cùng cũng giống như con trâu đã về già không còn sức ra đồng cày ruộng cho người chủ được nữa thì bị người chủ hắt hủi, dắt ra khỏi bờ rào nhà mình và thả cho muốn đi đâu thì đi, chủ không còn trách nhiệm. Vì thế để chỉ rõ hành động ngược đãi thiếu tình của con người với con vật  khi đã già nua ốm yếu dân gian có câu «đưa trâu qua rào». Hãy nghe lời than của con trâu trong truyện Lục súc tranh công, «bảnh mắt chúa gọi đi cày» theo chủ ra đồng miệt mài cày ruộng làm ra thóc gạo làm giàu cho chủ: Một vai xe kéo ruộng cày/Thóc đầy bịch nọ tiền đầy túi ai… Hòa bình rồi thì số phận của các vị cũng không hơn gì số phận con trâu già kia bị chủ dắt qua khỏi hàng rào.

Để kết thúc bài viết này, xin mượn lời của người kỹ nữ trong khúc Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, người kỹ nữ luống tuổi trò chuyện cùng vị quan lận đận trên đường công danh, cả hai bên cùng than thân trách phận mình, người nào cũng nhận  là mình khổ đau nhiều hơn: “Lệ ai chan chứa hơn người/Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh”. Thôi thì liệt sĩ Phạm Văn Cam, chồng tôi cùng nhiều người thiệt thòi khác nữa chẳng qua cả một thời tuổi trẻ đã đổ xương máu của mình cho Đảng hưởng thụ, khi cái vỏ chanh hết nước rồi Đảng đâu có nâng niu cái vỏ chanh để làm gì ông Đức Thành ạ, thôi ông đừng than thân trách phận dùm ông Phạm Văn Cam chi nữa.

“Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh, bên nào thắng thì nhân dân đều bại”.

Chỉ biết rằng vì chiến tranh chúng ta mất người thân, đó là một thiệt thòi cho riêng từng gia đình không gì bù đắp nỗi.

Sài Gòn 31/1/2013

N.T.H.L

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link