Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, February 15, 2013

Nhược điểm kinh tế của Việt Nam


 

Nhược điểm kinh tế của Việt Nam


Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

2013-02-14

Sau một cái Tết khá ảm đạm, dân Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế trong năm con rắn. Nhưng đâu là vấn đề, đâu là giải pháp và ai có trách nhiệm giải quyết?


RFA photo

Một khu chợ vỉa hè ở Hà Nội

 

 


Thực trạng


Vũ Hoàng: Xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình phát thanh đầu tiên của mục Diễn đàn Kinh tế vào năm Quý Tỵ. Thưa ông, dù nhiều người còn nghỉ Tết tại Việt Nam, sinh hoạt lễ lạt năm nay có vẻ kém khởi sắc và mối lo về kinh tế sẽ lại sớm trở về ám ảnh mọi người. Trong chương trình đầu tiên của năm con rắn, xin đề nghị ông phân tích các vấn đề gì ông đánh giá là quan trọng nhất cho nền kinh tế của Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, tôi xin được kính chào quý thính giả gần xa của chúng ta, nhất là ở tại Việt Nam.

Về câu hỏi của ông, tôi xin nhắc tới một cuộc khảo sát của Ngân hàng Thế giới với sự tham gia của giới hữu trách tại Việt Nam, được thực hiện năm ngoái nhưng vẫn có giá trị khá biểu hiện về tâm tư của người dân ở trong nước. Kết quả khảo sát đã được Ngân hàng Thế giới phổ biến năm ngoái và nhắc lại trong báo cáo cuối năm 2012 về kinh tế Việt Nam.

Số là khi được hỏi về ba loại vấn đề họ cho là đáng lo nhất của Việt Nam, những người được thăm dò ý kiến nêu ra nhận định đáng chú ý. Trong 10 vấn đề được xem là đáng quan tâm nhất, chỉ có ba vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế. Đó là, đứng hạng nhất, vật giá gia tăng, với 44% cho là đáng lo nhất. Hai vấn đề kinh tế kia đứng chín và hạng 10 ở cuối bảng, đó là lợi tức và việc làm. Bảy vấn đề còn lại được nhiều người cho là đáng lo nhất đều ở ngoài lĩnh vực thuần túy kinh tế, mà thuộc trách nhiệm của nhà nước. Theo thứ tự từ cao đến thấp là 1) tai nạn giao thông, 2) vệ sinh thực phẩm, 3) tội ác xã hội, 4) tham nhũng, 5) ô nhiễm môi sinh, 6) phẩm chất của dịch vụ y tế, và 7) phẩm chất của giáo dục. Tôi xin được nêu vài nhận xét về cuộc khảo sát này.

Vũ Hoàng: Chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên về cuộc khảo sát ấy, ông nhận xét thấy như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Người lạc quan chỉ nhìn thấy ly nước đã đầy một nửa mà không nói đến cái phần nửa vơi, thì cho là trong năm 2011 và đầu năm 2012, tình hình kinh tế đã có cải thiện nên người dân chỉ chú ý đến ba loại vấn đề thuộc kinh tế, còn lại là bảy vấn đề thuộc về xã hội! Riêng về chuyện đáng lo nhất của họ là vật giá gia tăng thì ta nhớ lạm phát đã hoành hành mạnh và lên tới đỉnh cao là 23% vào giữa năm 2011 nên đầu năm 2012 mới là vấn đề đáng ngại, chứ ngày nay thì người ta có thể còn lạc quan hơn thế dù sự thật sẽ không hẳn tốt đẹp như vậy!

Và bước sang bảy loại vấn đề xã hội mà nhiều người cho là đáng ngại nhất như tôi vừa nhắc lại ở trên, ta thấy trật tự và an toàn xã hội là những mối bận tâm thiết thực trước mắt. Điều này có thể hiểu được. Nhưng đáng chú ý hơn thế là loại vấn đề cơ bản mà lâu dài, như ô nhiễm môi sinh hay giáo dục bất cập thì lại có mức quan tâm thấp hơn. Và then chốt hơn vậy, an ninh quốc gia và an toàn lãnh thổ của Việt Nam lại không được nhắc đến. Vì sao lại như vậy?

Tôi lại nhớ đến cuộc khảo sát của một cơ quan Pháp vào năm kia, khi cho thấy người Việt Nam thuộc loại lạc quan nhất thế giới! Ta có thể nêu câu hỏi về cách thức tiến hành khảo sát và giá trị biểu trưng của dân số mẫu, hoặc về hiện tượng tâm lý khá phổ biến của xã hội loài người, là chối từ thực tế khi thực tế ấy đã thay đổi, một hiện tượng xuất phát đầu tiên từ lãnh đạo rồi mới thấm xuống người dân. Bây giờ chúng ta mới trở lại đề tài của mình, là các vấn đề kinh tế của Việt Nam. Tôi xin được phép nói về chuyện gần rồi mới đến chuyện sâu xa trong cốt tủy.

Viễn ảnh


Vũ Hoàng: Nói về chuyện gần và viễn ảnh kinh tế của năm con rắn, ông thấy ra những gì?

Hang-tet_banh-keo-250.jpg

Bánh đậu xanh bán vào dịp tết tại một siêu thị ở Hà Nội. RFA photo

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Việt Nam lệ thuộc vào thị trường quốc tế, và nếu xét theo hai tiêu chuẩn quan trọng là tỷ trọng của ngoại thương trong tổng sản lượng kinh tế và khối tiền tệ lưu hành so với tỷ số dự trữ ngân hàng, Việt Nam bị lệ thuộc nặng nhất khu vực Á châu Thái bình dương. Vậy mà năm nay thị trường quốc tế chưa khởi sắc sau năm năm èo uột và dù các nước đang phát triển tại Đông Á có hy vọng tăng trưởng khá nhất, tình hình chung của kinh tế toàn cầu vẫn chưa sáng sủa nên viễn ảnh kinh tế của Việt Nam vẫn là tăng trưởng thấp.

Xét vào chi tiết, năm qua, đà tăng trưởng sa sút có dấu hiệu đáng ngại nhất là trong khu vực chế biến vì không chỉ tăng trưởng chậm hơn mà còn thụt lùi. Và suy thoái nặng nhất là từ doanh nghiệp nhà nước. Nhưng hậu quả trầm trọng hơn thế là có tới 10 vạn doanh nghiệp tư nhân đã phá sản hoặc ngưng hoạt động, không trả thuế. Nghĩa là thất nghiệp sẽ là vấn đề. Vậy mà cuộc khảo sát mà ta vừa nói đến lại cho thấy chỉ có 15% những người được thăm dò ý kiến cho là đáng quan tâm, tức là vấn đề ít được chú ý nhất. Phải chăng, đấy là hiện tượng chối bỏ thực tế?

Vũ Hoàng: Ông chú ý đến hoàn cảnh bi quan của khu vực chế biến mà ta cũng biết là về cơ bản, Việt Nam đi vào công nghiệp hóa qua việc làm gia công để xuất khẩu ra ngoài. Nếu khu vực chế biến ấy lại sa sút thì hiển nhiên là ngoài nguy cơ thất nghiệp, ta còn thấy ra đà sút kém về ngành ráp chế cho xuất khẩu. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa đáng ngẫm hơn thế là năm qua, Việt Nam lại đạt mức xuất khẩu cao bất ngờ mà không chỉ nhờ bán dầu thô và dầu thô lại có giá. Nhìn sâu hơn vào cơ cấu của số hàng bán ra ngoài, ta thấy ra nhiều vấn đề như mặt trái của bức tranh màu hồng.

Thứ nhất, về nông sản và lương thực như cà phê hay gạo thì lượng có tăng mà giá không tăng nên mối lợi thật ra chỉ là tương đối. Quan trọng và đau buồn hơn vậy là Việt Nam xuất khẩu gạo rất mạnh và có thể vượt qua Thái Lan mà nông dân lại không được hưởng kết quả vì nguồn lợi lại nằm trong tay các công ty thu mua và xuất cảng, thuộc khu vực nhà nước.

Vũ Hoàng: Ông nêu ra nhận xét đáng chú ý và phản ảnh sự ưu lo của nhiều người khi nói đến số phận nông dân Việt Nam, ngoài cái nạn bị cướp đất mà không được bồi thường thoả đáng.

Từ hai năm nay, người ta đã nói yêu cầu cải tổ doanh nghiệp nhà nước mà chưa thấy làm việc gì cụ thể trong thực tế, có thể là vì những mắc mứu về quyền lợi ở trên cùng.
Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa Việt Nam có thể vượt Thái Lan để thành nước xuất khẩu gạo số một mà nông gia vẫn bị thiệt ở gốc trong khi các cơ sở của nhà nước ở ngọn thì chiếm lợi thế.

Thứ hai, về cơ cấu, sức xuất khẩu mạnh nhất là từ ngành chế biến áo quần, giày dép và đồ gỗ hay cơ phận điện tử như máy tính, điện thoại. Nhưng loại sản phẩm hạ đẳng và thâm dụng nhân công vì cần nhiều lao động như áo quần giày dép hay đồ gỗ, lại tùy thuộc vào nhập lượng mua từ bên ngoài nên trị giá đóng góp của Việt Nam thật ra chưa cao. Tức là ta vẫn làm gia công cho thiên hạ và muốn bán nhiều thì phải mua nhiều và lệ thuộc vào sức mua của thiên hạ.

Thứ ba, loại sản phẩm gọi là cao kỹ, vì đòi hỏi kỹ thuật cao, như linh kiện điện tử hay phụ tùng điện thoại vẫn chỉ là gia công mà ít khả năng chuyển giao công nghệ tỏa rộng cho cả xã hội để doanh nghiệp Việt Nam cũng học được nghề mà bước lên trình độ sản xuất có giá trị đóng góp cao hơn. Nôm na thì mình vẫn chỉ là khâu phụ, kiếm tiền ít hơn và còn chịu thiệt khi thiên hạ tìm ra nguồn cung cấp rẻ hơn.

Đã vậy và đây là vấn đề đáng quan ngại cho những ai làm chính sách là trong đà gia tăng của xuất khẩu nhờ bắp thịt hơn trí não, loại doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc lại chiếm đa số. Về kim ngạch, khu vực nội địa chỉ được có hơn 37%, và trong khu vực này, ta kể cả dầu khí nằm trong tay các tập đoàn nhà nước, chứ tư doanh nội địa thì còn yếu. Xét cho kỹ hơn, ta còn thấy ra một vấn đề khác là dù xuất khẩu của các doanh nghiệp nói chung có tăng thì phần của doanh nghiệp nhà nước lại giảm! Đây là loại vấn đề nằm trong cơ cấu kinh tế và chính trị.

Dù được coi là khu vực chủ đạo về kinh tế nên được ưu tiên nâng đỡ, doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam ít hiệu năng, kém sức cạnh tranh, là con nợ như con nghiện và trở thành hang ổ của tham nhũng. Từ hai năm nay, người ta đã nói yêu cầu cải tổ doanh nghiệp nhà nước mà chưa thấy làm việc gì cụ thể trong thực tế, có thể là vì những mắc mứu về quyền lợi ở trên cùng.

Trách nhiệm thuộc về ai


Vũ Hoàng: Đó là về lĩnh vực sản xuất, chứ trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng thì các chuyên gia kinh tế tại Việt Nam cũng đang báo động về sự yếu kém và những khoản nợ sẽ mất mà chẳng ai biết là bao nhiêu và ai sẽ chịu thiệt. Ông nghĩ sao về tình trạng này?

000_Hkg8119375-250.jpg

Phòng giao dịch chứng khoán Sacombank ảm đạm hôm 20/12/2012. AFP photo

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu tạm lấy cơ thể học mà so sánh thì ta có thể nghĩ tới tập đoàn nhà nước như bộ xương sống vì chính quyền muốn vậy. Nó không cân bằng và thiếu sức chịu đựng. Còn tư doanh thì cũng tựa như bắp thịt để tạo ra sự chuyển động trong sinh hoạt và hệ thống ngân hàng là bộ phận tuần hoàn có chức năng bơm máu cho cơ thể. Hệ tuần hoàn ấy bị ô nhiễm vì các khoản nợ xấu, khó đòi nên sẽ mất. Mà khi nó chỉ bơm máu cho cơ sở nào có quan hệ tốt thì đấy là một vấn đề.

Vì hậu quả là ngày nay nhiều doanh nghiệp bị thiếu máu vì vay không được nên lâm vào cảnh gọi là chết lâm sàng. Trong khi ấy vì ngân hàng lại bơm tiền vào nghiệp vụ đầu cơ về cổ phiếu và bất động sản nên mới bị gánh nợ xấu và gieo họa cho cả nền kinh tế. Nhưng toàn bộ vấn đề của cơ thể suy nhược này nằm tại bộ não, nằm trong hệ thống chính trị vì đã để xảy ra tình trạng nguy ngập này mà không chịu cải sửa.

Vũ Hoàng: Vì thời lượng có hạn, chúng ta sẽ quay trở lại bộ máu tuần hoàn là tiền bạc của nền kinh tế Việt Nam, nhưng tạm tổng kết cho chương trình hôm nay, ông nghĩ loại vấn đề nào mới là trầm trọng nhất?

Trách nhiệm thuộc về chính quyền, là cơ chế vốn dĩ đã biết vì được quốc tế khuyến cáo từ 20 năm nay về những gì cần cải tổ.
Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Vừa qua, chúng ta đã có năm chương trình liên tiếp về các yếu tố đem lại sự thịnh vượng cho các quốc gia và về những vấn đề gây ra sự nghèo khốn. Câu kết luận của hôm nay là dân Việt Nam vẫn còn nghèo và nếu xét theo tiêu chuẩn của quốc tế để đánh giá mức độ nghèo khốn thì thật ra còn nghèo hơn người ta thường nghĩ. Và sau hai thập niên bất cập với quá nhiều vấn đề mà tiết mục chuyên đề này đã phân tích từ 16 năm qua, kể từ Tết Đinh Sửu 1997, việc giải quyết nạn nghèo đòi ấy thật ra sẽ khó khăn hơn trong giai đoạn tới và nếu không khéo thì Việt Nam còn tụt lui vào hố sâu nghèo khổ của năm xưa. Trách nhiệm thuộc về chính quyền, là cơ chế vốn dĩ đã biết vì được quốc tế khuyến cáo từ 20 năm nay về những gì cần cải tổ. Cơ chế này ngần ngại cải cách và không chịu trưởng thành vì chỉ lo cho sự tồn tại của chính nó, với cái giá là người khác phải trả.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi đầu năm.

Theo dòng thời sự:





Ngân hàng VN 'muốn bán nhưng bị ế'


 

Ngân hàng VN 'muốn bán nhưng bị ế'

Cập nhật: 13:51 GMT - thứ năm, 14 tháng 2, 2013
Ngân hàng tại Việt Nam bị xem là khu vực làm yếu nền kinh tế.
Việt Nam có thể sử dụng các nhà đầu tư nước ngoài để khắc phục hệ thống ngân hàng yếu kém đang làm cản trở kinh tế, nhưng tăng trưởng chậm, nợ xấu và thiếu minh bạch khiến nỗ lực thu hút giới đầu tư không dễ dàng, theo báo tài chính Wall Street Journal.
Bài Bấm blog nhận định chính phủ Việt Nam có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tới 49% cổ phần trong các ngân hàng có vốn nhà nước, hoặc cổ phần phần đa số với điều kiện sẽ giảm đi về sau này, một số người thạo tin về kế hoạch được đề xuất đã nói với The Wall Street Journal.

Các bài liên quan

Chủ đề liên quan

Bán những cổ phần này sẽ giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chuyên môn cần thiết, theo Ivan Tan, một giám đốc của Standard & Poor’s.
Các ngân hàng nước ngoài hiện được phép sở hữu 20% cổ phần trong một ngân hàng Việt Nam như là một nhà đầu tư cá nhân, hoặc 30% khi có thêm một đối tác. Chính phủ hiện sở hữu đa số -và trong một số trường hợp, 100% - tất cả năm ngân hàng có vốn nhà nước.
Cách đây không lâu các ngân hàng nước ngoài có thể mong muốn mua cổ phần tại các ngân hàng quốc doanh.
Những ngân hàng này gồm HSBC Holdings PLC, Société Générale SA và Australia & New Zealand Banking Group Ltd (ANZ).
Họ đều có cổ phần trong các ngân hàng có vốn nhà nước tại Việt Nam trước khi có khủng hoảng tài chính toàn cầu mặc dù ANZ bán cổ phần của mình trong tháng 1 năm 2012 trong nỗ lực thay đổi chiến lược của mình để tập trung vào hoạt động của riêng ngân hàng này tại Việt Nam.
Nay, mặc dù các định chế tài chính của Nhật Bản gần đây đã đầu tư vào lĩnh vực này nhưng các ngân hàng của Việt Nam không ở vị thế hấp dẫn như trước.
Nền kinh tế đã chậm lại từ mức tăng trưởng trung bình hàng năm 7% kể từ đầu những năm 1990, theo HSBC, xuống 5% vào năm ngoái, theo một dự báo của chính phủ.
"Vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết để tái cơ cấu vốn cho các ngân hàng quốc doanh lớn hơn, nhưng sự hấp dẫn của hệ thống ngân hàng của Việt Nam đã giảm bớt phần nào"
Ivan Tan, Standard & Poor’s
Giá bất động sản sụt giảm và các khoản nợ xấu đã chồng chất, khiến các ngân hàng ngại cho vay và tiếp tục tạo gánh nặng lên đà tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng hàng năm, vốn vượt quá 20% từ năm 2006 đến năm 2010, giảm xuống 8,9% năm ngoái, Standard & Poor’s (S&P) cho biết.
Một yếu tố khiến làm cho vấn đề tồi tệ hơn là thực trạng thiếu minh bạch và thực hành kế toán còn yếu, không ai biết chắc chắn có bao nhiêu khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết trong tháng 11/2012 là tỷ lệ nợ xấu cho trên tổng số cho vay là 8,82% vào cuối tháng chín, tăng từ 6% vào cuối năm 2011.
Tuy nhiên, Moody’s Investors Service cho biết trong một báo cáo vào tháng Mười năm ngoái rằng nợ xấu lên tới ít nhất 10% tổng dư nợ vào cuối năm ngoái, và có thể cao hơn nhiều. Giới phân tích từ công ty Fitch Ratings vào năm ngoái đưa ra số nợ xấu cao tới 15%.
Ông Tan từ S&P cho biết "vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết để tái cơ cấu vốn cho các ngân hàng quốc doanh lớn hơn, nhưng sự hấp dẫn của hệ thống ngân hàng của Việt Nam đã giảm bớt phần nào."
Để trấn an, chính phủ Việt Nam đã thừa nhận vấn đề gặp phải và đang tiến hành các bước để sửa chữa. Những biện pháp được áp dụng bao gồm xử lý thực trạng quản lý yếu kém tại các ngân hàng có vốn nhà nước, bắt giữ lãnh đạo một số ngân hàng và ít nhất là bắt một trong những doanh nhân có máu mặt.
'Chào giá bán cao'
Giới tài chính và đầu tư nước ngoài theo dõi sát các cam kết cải cách ngân hàng mà chính phủ đã tuyên bố.
Tháng Ba năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt kế hoạch tái cơ cấu khu vực ngân hàng thương mại bao gồm cả việc sáp nhập các ngân hàng nhỏ và lập công ty mua lại nợ xấu.
Các ngân hàng Nhật Bản khá hoạt náo trong nỗ lực đầu tư vào khu vực ngân hàng Việt Nam và là nguồn cung cấp vốn quan trọng.
Mitsubishi UFJ Financial Group đã mua 20% cổ phần Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), một trong những ngân hàng lớn nhất của Việt Nam tính trên giá trị vốn hóa vào cuối năm ngoái với 741 triệu đôla.
Mizuho Financial Group Inc đã mua 15% cổ phần trong Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ngân hàng lớn nhất Việt Nam được niêm yết theo giá trị thị trường, với khoảng 560 triệu đôla vào tháng Chín năm 2011.
Sumitomo Mitsui Financial Group Inc đã mua 15% cổ phần tại Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Việt Nam với 225 triệu đôla trong năm 2007, và hiện đang đàm phán để mua Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, (Sacombank).
"Ngân hàng Nhật Bản cũng có những mục tiêu khá độc đáo. Quan tâm của họ ở Việt Nam một phần được thúc đẩy bởi mong muốn của họ nhằm cho các công ty Nhật Bản vay để hoạt động tại đây"
"Các ngân hàng Nhật có cách nhìn dài hạn, và chịu nắm cổ phần thiểu số", ông Joe Gallagher, từ Credit Suisse AG cho biết.
Ngân hàng Nhật Bản cũng có những mục tiêu khá độc đáo. Quan tâm của họ ở Việt Nam một phần được thúc đẩy bởi mong muốn của họ nhằm cho các công ty Nhật Bản vay để hoạt động tại đây, đặc biệt là cho các nhà sản xuất, nhiều công ty trong số họ đang tìm cách để bớt phụ thuộc vào Trung Quốc, và điều đó khiến họ phải nắm cổ phần thiểu số trong một ngân hàng Việt Nam, một giám đốc tại một ngân hàng lớn nhất của Nhật Bản cho biết.
Kết quả là, các thỏa thuận theo đó các ngân hàng Nhật mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam không thể báo trước xu hướng ngân hàng nước ngoài có mua thêm cổ phần hay không.
Hiện tại các cổ đông nước ngoài không thấy có nhu cầu để bơm thêm vốn vào các ngân hàng Việt Nam, theo Moody’s, bởi hầu hết đã nắm cổ phần gần giới hạn cho phép, và yêu cầu về vốn theo quy định mới ngân hàng quốc tế, được gọi là Basel III, khiến các ngân hàng miễn cưỡng nắm cổ phần thiểu số.
Giá trị cũng là trở ngại khác. Nhiều giao dịch cho đến nay được chốt lại ở giá trong khoảng từ 2.5 tới 3 lần giá trị trên sổ sách, tức là không phải là rẻ, theo S&P. Giá mua như vậy là khó có thể là giá phải chăng cho một môi trường kinh doanh còn mới và tăng trưởng bị chậm lại.
"Nếu các ngân hàng Việt Nam vẫn còn chào bán ở giá quá cao thì ... tốc độ đầu tư sẽ chậm lại trong năm nay", ông Tan nói.

__._,_.___

Bắc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân nhờ hậu thuẫn của Trung Quốc


 

BẮC TRIỀU TIÊN - PHỎNG VẤN - 

Bài đăng : Thứ năm 14 Tháng Hai 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 14 Tháng Hai 2013

Bắc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân nhờ hậu thuẫn của Trung Quốc


Chế độ Bình Nhưỡng khép kín với thế giới bên ngoài nói chung, nhưng không khép kín với Trung Quốc. Trong ảnh, một đoạn biên giới Bắc Triều Tiên - Trung Quốc. (DR)

Chế độ Bình Nhưỡng khép kín với thế giới bên ngoài nói chung, nhưng không khép kín với Trung Quốc. Trong ảnh, một đoạn biên giới Bắc Triều Tiên - Trung Quốc. (DR)

Trọng Thành  RFI


Ngày 12/03/2013, Bắc Triều Tiên thử hạt nhân lần nữa với độ công phá tương đương một nửa trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima. Theo một số nhà phân tích, thái độ của Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến tham vọng hạt nhân của Bình Nhưỡng. RFI phỏng vấn bà Valérie Niquet, phụ trách mảng Châu Á của Fondation pour la recherche stratégique.

Theo chính quyền Bình Nhưỡng và một số chuyên gia, vụ thử này là một bước tiến mới của Bắc Triều Tiên nhằm chế tạo thành công tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, tiếp theo vụ bắn thử thành công tên lửa đẩy Unha-3 ngày 13/12/2012, đưa một vệ tinh khí tượng lên quỹ đạo, mà nhiều chuyên gia cho rằng có đầy đủ tính năng của một tên lửa đạn đạo.

Một lần nữa, ngay lập tức cộng đồng quốc tế, ngay cả đồng minh Trung Quốc, đã lên án mạnh mẽ tham vọng hạt nhân của Bình Nhưỡng và hứa hẹn sẽ có các biện pháp trừng phạt. Đại sứ Bắc Triều Tiên tại Trung Quốc đã bị triệu lên ngay sau vụ thử. Hoa Kỳ cam kết sẽ có hành động kiên quyết trước thái độ của Bình Nhưỡng, tuy nhiên, quyết định trừng phạt mới của Liên Hiệp Quốc sẽ còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của Trung Quốc, thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An và là đồng minh của Bắc Triều Tiên.

Ngày hôm qua, 13/02/2013, nhiều quan sát cho thấy, cư dân mạng Trung Quốc đồng loạt chế nhạo và chỉ trích Bắc Kinh đã phản ứng quá nhẹ nhàng. Đối với một số người, vụ thử hạt nhân mới vào dịp Tết Nguyên đán là « một cái tát mà Bình Nhưỡng giáng vào mặt Bắc Kinh », nhất là khi Trung Quốc đã từng yêu cầu Bắc Triều Tiên dừng hoạt động này.

Sau đây là phần phỏng vấn của RFI với bà Valérie Niquet, phụ trách bộ phận Châu Á của Fondation pour la recherche stratégique/Viện nghiên cứu chiến lược.

Nhà nghiên cứu Valérie Niquet (Paris)
 
14/02/2013
 
More
 
 

RFI : Câu hỏi đầu tiên, với sự ngạc nhiên là : Bắc Triều Tiên là một chế độ khép kín nhất thế giới, bị quốc tế áp dụng nhiều biện pháp trừng phạt đã từ lâu, vậy tại sao quốc gia này là có được khả năng theo đuổi một chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân như vậy ?

Valérie Niquet : Tất cả những gì mà Bắc Triều Tiên có đều được dùng để chu cấp cho quân đội và phát triển chương trình quân sự này, nếu không tính đến những chi phí cho sự xa hoa của các lãnh đạo Bình Nhưỡng, nếu so với đời sống của dân chúng Bắc Triều Tiên.

Điều đáng chú ý là, người ta thường nói đến những chỉ trích và những lời tuyên bố của Bắc Kinh sau vụ thử hạt nhân vừa qua, nhưng không nên quên rằng, trong khi cộng đồng quốc tế áp đặt các biện pháp trừng phạt Bắc Triều Tiên, thì viện trợ của Trung Quốc, các trao đổi kinh tế với Trung Quốc, các đầu tư của Trung Quốc tại Bắc Triều Tiên đã tăng lên một cách đáng kể. Cuối cùng thì, điều này làm giảm đi hết sức nhiều những tác động của các biện pháp trừng phạt, mà Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã áp đặt đối với Bắc Triều Tiên.

Như vậy, Bắc Triều Tiên có đầy đủ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân. Điều này làm tăng lên trọng lượng của Bình Nhưỡng trong các hù dọa để mặc cả, cũng như khả năng gây hại cho cộng đồng quốc tế và cho Hoa Kỳ.

Tôi cho rằng, chừng nào Trung Quốc còn ủng hộ Bắc Triều Tiên mạnh mẽ về mặt tài chính, vì không muốn chế độ Bình Nhưỡng không sụp đổ vì các lý do chiến lược, thì chế độ Bắc Triều Tiên vẫn có thể tiếp tục sống sót và tiếp tục theo đuổi chương trình hạt nhân ngày càng gây lo ngại, với việc vũ khí hạt nhân được thu nhỏ lại, như các chuyên gia ghi nhận. Và chúng ta nhớ rằng cách đây ít tháng, lần đầu tiên Bình Nhưỡng đã bắn thử thành công tên lửa đạn đạo tầm xa.

RFI : Như vậy có thể nói Bắc Triều Tiên rõ ràng đang phát triển chương trình vũ khí hạt nhân quân sự, và nếu như việc chế tạo các đầu đạn hạt nhân là đúng, thì đây phải chăng lại thêm một yếu tố gây lo ngại mới, trong khi quốc gia này ngày càng làm chủ được kỹ thuật nguyên tử ?

Valérie Niquet : Đúng như vậy, làm chủ năng lượng nguyên tử là một chuyện, vì đây là một kỹ thuật cũ không quá khó nắm băt. Điều khó là thu nhỏ vũ khí hạt nhân, đặc biệt là việc có các phương tiện để đưa các vũ khí này đến các mục tiêu xa nhất có thể được, nếu Bắc Triều Tiên muốn tấn công Hoa Kỳ, mà trước hết là nhắm vào các căn cứ của Mỹ tại Nhật Bản hay Hàn Quốc.

Ngay cả khi Bắc Triều Tiên không có ý định sử dụng vũ khí này, việc sở hữu được vũ khí hạt nhân cũng mang lại cho Bình Nhưỡng nhiều ưu thế trong các hành động dọa dẫm và cộng đồng quốc tế.

RFI : Như vậy, có phải là khi Bình Nhưỡng nói đến « các thiết bị thu nhỏ », có nghĩa là các đầu đạn hạt nhân gắn với tên lửa tầm xa ?

Valérie Niquet : Đúng như vậy, cho dù Bắc Triều Tiên chưa hoàn thiện vũ khí này, nhưng các nguy cơ ngày càng trở nên hiện hữu.

RFI : Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói đến « sự khiêu khích » của chế độ Bắc Triều Tiên, Liên Hiệp Châu Âu nói đến « thêm một thách thức nữa của Bình Nhưỡng đối với cộng đồng quốc tế ». Liệu chúng ta có thể nói đến một mối nguy hiểm thực sự đối với sự cân bằng địa chính trị thế giới ? Liệu Bình Nhưỡng sẽ đi đến cùng trong tham vọng này và chuẩn bị một cuộc tấn công thực sự ?

Valérie Niquet : Hiện tại không có một xung đột hạt nhân với Bắc Triều Tiên. Nhưng tất cả những gì khiến cho các áp lực mang tính đe dọa của Bình Nhưỡng tăng cường, thì về mặt tiềm năng sẽ gây bất ổn định tại một khu vực, mà tôi xin nhấn mạnh rằng, từ vài năm nay trở nên ngày càng bất ổn, với tất cả những gì liên quan đến các tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Nhật Bản, Philippines hay Việt Nam.

Đây là một khu vực ngày càng bất ổn về mặt chiến lược, và chúng ta biết rằng, Hoa Kỳ đã tái bố trí lực lượng một cách đáng kể tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, như tổng thống Obama đã làm trong nhiệm kỳ đầu của mình. Bên cạnh đó, sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc cũng không phải đang ở trong giai đoạn bình lắng. Điều này ảnh hưởng nhiều đến sự bất ổn chiến lược của khu vực này. Và đây là một khu vực mà tôi xin nhấn mạnh, là đầu tàu tăng trưởng của kinh tế thế giới, một khu vực rất quan trọng đối với nền kinh tế Châu Âu, cho dù ở rất xa Châu Âu.

RFI : Chúng ta cùng hiểu rằng, đây là một khu vực cần phải theo sát. Theo bà, liệu các chuyên gia có khả năng biết tường tận hơn về thực chất vụ thử hạt nhân này ? Xét vẻ bề ngoài thì Bình Nhưỡng có vẻ như thổi phồng vụ thử hạt nhân và muốn mọi người tin theo. Làm thế nào có thể phân biệt được giữa hiện thực và các lời lẽ tuyên truyền ?

Valérie Niquet : Tôi không phải là nhà kỹ thuật, nhưng rõ ràng các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Nga hay Pháp, có đủ các phương tiện để xác định được xem Bắc Triều Tiên có năng lực thực sự hay không. Chúng ta nhớ rằng, vào thời điểm vụ thử hạt nhân thứ nhất, đã có những nghi vấn, nhưng đối với vụ thử thứ ba này, thì không ai nghi ngờ nữa rằng vụ thử này thành công hơn so với vụ trước.

RFI : Bà nói rằng, không thể chờ đợi gì nhiều từ Hội đồng Bảo an LHQ. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế sẽ phải làm việc rất căng thẳng để giải quyết các bất đồng với Bắc Triều Tiên, và với cả Iran nữa. Theo bà thì, liệu có thể có các biện pháp để răn đe thực sự Bắc Triều Tiên, hay là Bình Nhưỡng sẽ vẫn cứ làm những điều mà họ muốn ?

Valérie Niquet : Biện pháp thực sự là Trung Quốc phải ngừng mọi trợ giúp vẫn dành cho Bình Nhưỡng, tránh cho chế độ này không bị sụp đổ. Mà trong hiện tại, không có biện pháp nào của Bắc Kinh đi theo hướng này cả, cho dù Trung Quốc có lời tuyên bố mới đây sau vụ thử hạt nhân, lên án Bắc Triều Tiên « một cách mạnh mẽ ». Nhưng mặt khác, Trung Quốc cũng lại kêu gọi tất cả các bên bình tĩnh, coi Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên như nhau, và yêu cầu các bất đồng cần phải được giải quyết trong khuôn khổ một cuộc đối thoại, trong khuôn khổ cuộc đàm phán 6 bên. Mà chúng ta biết, trên thực tế đàm phán 6 bên đã không diễn ra từ nhiều năm nay, do hoàn toàn không có tác dụng gì cả.

 

 

“Soán ngôi” Mỹ,khổ đau đang chờ Trung Quốc?


 

“Soán ngôi” Mỹ,

khổ đau đang chờ Trung Quốc?

image
 
Viễn cảnh Trung Quốc trở thành quốc gia có GDP lớn nhất thế giới là hoàn toàn có thực nhưng Mỹ lại không hề lo lắng, thậm chí họ còn khuyến khích. Ít người Trung Quốc biết rằng, một cái bẫy vô cùng đau đớn đã được Mỹ giăng sẵn để chờ Trung Quốc ở phía trước.
 
Gã làm thuê to xác
Viện Khoa học Trung Quốc mới đây đưa ra dự báo rằng vào năm 2019, Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tới năm 2049 sẽ vượt Mỹ một cách toàn diện. Nhưng Trung Quốc dựa vào yếu tố nào để vượt Mỹ và nước này được lợi gì ngoài "cái danh hão"?
 
Nếu xem xét một cách đơn thuần từ khía cạnh GDP, việc Trung Quốc vượt Mỹ về kinh tế là chuyện đã được dự đoán. Ngay từ tháng 8/2012, tờ Thời báo Tài chính của Anh đã có nhận định rằng vào năm 2017, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Song, có một điều đáng ngạc nhiên là Mỹ tuyệt đối không lo lắng bị Trung Quốc đuổi kịp và vượt mặt kinh tế. Ngược lại, các nước Âu – Mỹ trở thành những người lợi nhất từ sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là Mỹ.
Nếu kinh tế thế giới chưa thoát khỏi sự ràng buộc vào đồng USD, Trung Quốc tiếp tục ở vị thế “người làm thuê của Mỹ”. Sự ràng buộc vào đồng USD khiến Trung Quốc dùng vàng bạc thật để tạo ra sản phẩm, mang đi xuất khẩu và đổi lại những “đồng bạc xanh” được in ấn tinh xảo của Mỹ. Nếu xuất phát từ khía cạnh này, việc Trung Quốc có thể vượt Mỹ về kinh tế hay không không phải là vấn đề cốt lõi và ưu thế về GDP của Trung Quốc là hoàn toàn vô nghĩa.
 
image
Cốt lõi của vấn đề là trong lịch sử có rất nhiều nước đứng đầu thế giới về GDP, nhưng cuối cùng không phải tất cả họ đều trở thành “bá chủ” thế giới. Trung Quốc vượt Mỹ, việc này gần giống với việc Mỹ vượt Anh 100 năm trước.
 
Thông thường, chúng ta cho rằng kinh tế Mỹ vượt Anh là cốt lõi của vấn đề Mỹ trở thành bá chủ kinh tế thế giới và đồng USD trở thành đồng tiền quốc tế. Ngay từ giữa thế kỷ 19, giá trị sản xuất công nghiệp của Mỹ đã vượt qua Anh. Nhưng có một điều dễ nhận thấy là gần 100 năm sau, Anh vẫn là nước dẫn dắt kinh tế toàn cầu. Phải tới sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc, Mỹ mới triệt để trở thành “lãnh tụ” của thế giới mới.
 
Tại sao Mỹ phải mất gần 100 năm sau Mỹ mới trở thành lãnh tụ thế giới ? Đơn giản là vì Anh không chịu nhường ngôi vị bá chủ thế giới vì được lợi từ vị thế chưa bị đánh đổ của đồng bảng Anh. Tới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, đồng USD mới thay thế vị trí của đồng bảng Anh. Khi đó, Mỹ mới thật sự trở thành bá chủ thế giới.
 
"Ăn quả đắng" vì ý định soán ngôi Mỹ
Mấy chục năm sau khi trở thành bá chủ thế giới, địa vị này của Mỹ trên thực tế gặp phải sự thách thức của không ít quốc gia. Vào những năm 1980, có không ít người tin rằng Nhật Bản sẽ trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới. Bước sang thập niên 1990, sự trỗi dậy của khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) tương tự đã dẫn tới thái độ cứng rắn kiểu đối kháng với Mỹ và Mỹ cũng từng coi các nước Eurozone là đối thủ mạnh.
 
Nhưng không đầy 10 năm sau, những viễn cảnh xán lạn khi xưa đã trở nên ảm đạm. Năm 1985, Mỹ bắt tay với 4 nước khác ký thỏa ước Plaza gây ra bong bóng kinh tế ở Nhật Bản và từ đỉnh cao kinh tế Nhật Bản đã rớt xuống vực sâu. Cái gọi là “phục hưng” và “vượt Mỹ”, thậm chí là “ mua cả nước Mỹ” đã trở thành giấc mộng tan vỡ.
 
Thủ đoạn đối phó của Mỹ đối với Eurozone còn thô bạo hơn. Việc tỷ phú Soros tấn công đồng bảng Anh trước khi Anh muốn gia nhập Eurozone nghe đồn đằng sau có sự ủng hộ của Mỹ. Gần đây, ba hãng đánh giá tín nhiệm lớn dưới sự thao túng của Phố Wall đã trực tiếp gây ra khủng hoảng tín nhiệm nợ công của Hy Lạp, từ đó đẩy Eurozone vào nổi loạn. Giấc mộng “chia thiên hạ làm đôi” của đồng Euro cuối cùng như bong bóng vỡ tan trong đám mây nợ công châu Âu.
Như vậy, có thể thấy Trung Quốc không phải là nước đầu tiên được cho là sẽ vượt Mỹ.
 
Hãy thôi ảo tưởng
 
image
Trung Quốc đã trải qua 30 năm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao. Nhưng sự phình to của GDP không thể mang tới điều tốt lành hơn cho Trung Quốc. Dù là nước giàu, nhưng Trung Quốc vẫn chỉ là kẻ làm thuê.
 
Kinh tế Trung Quốc không phải đã bền chắc. Nếu nhìn thẳng vào mức độ tiêu hao năng lượng để tạo ra GDP của Trung Quốc, rõ ràng kiểu tăng trưởng GDP dựa vào đầu tư vốn, nhân lực, vật lực của Trung Quốc đã tự gây ra mầm họa. Lâu nay, mức độ tiêu hao năng lượng của một đơn vị GDP của Trung Quốc luôn duy trì ở mức cao gấp 3 – 4 lần mức bình quân của thế giới. Sự trỗi dậy với tốc độ cao trong 30 năm của Trung Quốc không phải không bị trả giá.
 
image
Cùng trong khoảng thời gian 30 năm, Trung Quốc đã tiêu thụ 46% lượng thép, 16% năng lượng và 52% lượng xi măng toàn cầu sản xuất nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 8% GDP toàn cầu. Trực tiếp hơn là trong bối cảnh đầu tư quá nóng, mầm họa của lạm phát và nợ nần cao sẽ trở thành điểm bùng nổ trong cuộc chiến tranh tài chính tương lai.
 
Xem xét ở góc độ này, việc chìm đắm một cách mù quáng trong ảo mộng “vượt Anh, đuổi Mỹ” là hành vi vô cùng ấu trĩ Trung Quốc. Nhiều chuyên gia kinh tế Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo chính phủ nước này rằng cái mà họ cần không phải là ánh hào quang GDP mà là quyền phát ngôn về kinh tế thế giới. Nếu không có quyền phát ngôn, Trung Quốc chỉ là công cụ chế tạo của Mỹ hay đơn giản chỉ là “công xưởng giá rẻ” của các nước Âu – Mỹ.
 
image
Năm 2008, Trung Quốc đóng góp không nhỏ trong việc tạo ra 956 tỷ USD doanh lợi của các doanh nghiệp Mỹ hoạt động ở nước ngoài trong khi ở trong nước Mỹ đạt được không đến 532 tỷ USD. Như vậy có thể thấy doanh lợi mà các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài của Mỹ đạt được lớn gấp 1,8 lần doanh lợi của các doanh nghiệp trong nước. Xem xét ở góc độ số liệu sẽ càng thấy rõ. Mỗi một đồng USD chi cho sản phẩm do Trung Quốc chế tạo có 55 xu chạy vào vị trí làm việc của người Mỹ. Trong khi Mỹ không ngừng bòn rút thành quả trỗi dậy của Trung Quốc, hơn thế còn mượn tay Trung Quốc tiến hành nghiên cứu phát triển công nghệ cao mới cho bản thân, thoát ra khỏi không gian của ngành chế tạo.
Nhìn lại cái giá phải trả trong quá khứ của Nhật Bản, đồng euro và thậm chí là đồng bảng Anh trong cuộc đấu với đồng USD, Trung Quốc cần nhận thức rằng việc vượt Mỹ về GDP tuyệt đối không phải là cái gì đó đáng vui mừng.
 
image
Đây chỉ là bước đi đầu tiên trong cuộc vạn lý trường chinh mà thôi.

--- On Wed, 2/13/13, anh truong <Anhdalat23@yahoo.com> wrote:

From: anh truong <Anhdalat23@yahoo.com>
Subject: [PhoNang] CÁI GIÁ TRUNG CỘNG PHẢI TRẢ , VỚI GDP NHẤT THẾ GIỚI
To: "anhtruong" <anhdalat23@yahoo.com>
Date: Wednesday, February 13, 2013, 2:54 PM
 
 CÁI GIÁ TRUNG CỘNG PHẢI TRẢ ,
VỚI GDP NHẤT THẾ GIỚI
tka23 post
  Viễn cảnh Trung cộng trở thành quốc gia có GDP lớn nhất thế giới , là hoàn toàn có thực nhưng Mỹ lại không hề lo lắng, thậm chí họ còn khuyến khích. Ít người Trung cộng  biết rằng, một cái bẫy vô cùng đau đớn đã được Mỹ giăng sẵn để chờ Trung cộng  ở phía trước.
 
Gã làm thuê to xác
Viện Khoa học Trung cộng mới đây dưa ra dự đoán rằng vào năm 2019, Trung cộng sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tới năm 2049 sẽ vượt Mỹ một cách toàn diện. Nhưng Trung cộng dựa vào yếu tố nào để vượt Mỹ và nước này được lợi gì ngoài "cái danh hão"?
Nếu xem xét một cách đơn thuần từ khía cạnh GDP, việc Trung cộng vượt Mỹ về kinh tế là chuyện đã được dự đoán. Ngay từ tháng 8/2012, tờ Thời báo Tài chính của Anh đã có nhận định rằng vào năm 2017, Trung cộng sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Song, có một điều đáng ngạc nhiên là Mỹ tuyệt đối không lo lắng bị Trung cộng đuổi kịp và vượt mặt kinh tế. Ngược lại, các nước Âu – Mỹ trở thành những người được lợi nhất từ sự trỗi dậy của kinh tế Trung cộng.
Nếu kinh tế thế giới chưa thoát khỏi sự ràng buộc vào đồng USD, Trung cộng tiếp tục ở vị thế “người làm thuê cho Mỹ”. Sự ràng buộc vào đồng USD khiến Trung cộng dùng vàng bạc , mồ hôi xương máu thật để tạo ra sản phẩm, mang đi xuất cảng và đổi lại những “đồng bạc xanh” được in ấn tinh xảo của Mỹ.
   Nếu xuất phát từ khía cạnh này, việc Trung cộng có thể vượt Mỹ về kinh tế hay không không phải là vấn đề cốt lõi và ưu thế về GDP của Trung cộng là hoàn toàn vô nghĩa.
Cốt lõi của vấn đề là trong lịch sử có rất nhiều nước đứng đầu thế giới về GDP, nhưng cuối cùng không phải tất cả họ đều trở thành “bá chủ” thế giới. Trung cộng vượt Mỹ, việc này gần giống với việc Mỹ vượt Anh 100 năm trước.
Thông thường, chúng ta cho rằng kinh tế Mỹ vượt Anh là nồng cốt của vấn đề Mỹ trở thành bá chủ kinh tế thế giới và đồng USD trở thành đồng tiền quốc tế. Ngay từ giữa thế kỷ 19, giá trị sản xuất công nghiệp của Mỹ đã vượt qua Anh. Nhưng có một điều dễ nhận thấy là gần 100 năm sau, Anh vẫn là nước dẫn dắt kinh tế toàn cầu. Phải tới sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc, Mỹ mới trở thành “lãnh tụ” của thế giới mới.
Tại sao  phải mất gần 100 năm sau Mỹ mới trở thành lãnh tụ thế giới ? Đơn giản là vì Anh không chịu nhường ngôi vị bá chủ thế giới vì được lợi từ vị thế chưa bị đánh đổ của đồng bảng Anh. Tới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, đồng USD mới thay thế vị trí của đồng bảng Anh. Khi đó, Mỹ mới thật sự trở thành bá chủ thế giới.
 
"Ăn quả đắng" vì ý định soán ngôi Mỹ
Mấy chục năm sau khi trở thành bá chủ thế giới, địa vị này của Mỹ trên thực tế gặp phải sự thách thức của nhiều quốc gia.
  Vào những năm 1980, có nhiều người tin rằng Nhật Bản sẽ trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới.
  Bước sang thập niên 1990, sự trỗi dậy của khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) tương tự đã dẫn tới thái độ cứng rắn kiểu đối kháng với Mỹ và Mỹ cũng từng coi các nước Eurozone là đối thủ mạnh.
  Nhưng không đầy 10 năm sau, những viễn cảnh xán lạn khi xưa đã trở nên ảm đạm. Năm 1985, Mỹ bắt tay với 4 nước khác ký thỏa ước Plaza gây ra bong bóng kinh tế ở Nhật Bản và từ đỉnh cao kinh tế Nhật Bản đã rớt xuống vực sâu. Cái gọi là “phục hưng” và “vượt Mỹ”, thậm chí là “ mua cả nước Mỹ” đã trở thành giấc mộng tan vỡ.
Thủ đoạn đối phó của Mỹ đối với Eurozone còn độc đáo  hơn. Việc tỷ phú Soros
 
tấn công đồng bảng Anh trước khi Anh muốn gia nhập Eurozone nghe đồn đằng sau có sự ủng hộ của Mỹ. Gần đây, ba hãng đánh giá tín nhiệm lớn dưới sự thao túng của  Wall street  đã trực tiếp gây ra khủng hoảng tín nhiệm nợ công của Hy Lạp, từ đó đẩy Eurozone vào nổi loạn. Giấc mộng “chia thiên hạ làm đôi” của đồng Euro cuối cùng như bong bóng vỡ tan trong đám mây nợ công châu Âu.
Như vậy, có thể thấy Trung cộng không phải là nước đầu tiên được cho là sẽ vượt Mỹ.
 
Hãy thôi ảo tưởng
Trung cộng đã trải qua 30 năm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao. Nhưng sự phình to của GDP không thể mang tới điều tốt lành hơn cho Trung cộng. Dù là nước giàu, nhưng Trung cộng vẫn chỉ là kẻ làm thuê.
Kinh tế Trung cộng không phải đã bền vững. Nếu nhìn thẳng vào mức độ tiêu hao năng lượng để tạo ra GDP của Trung cộng, rõ ràng kiểu tăng trưởng GDP dựa vào đầu tư vốn, nhân lực, vật lực của Trung cộng đã tự gây ra mầm họa. Lâu nay, mức độ tiêu hao năng lượng của một đơn vị GDP của Trung cộng luôn duy trì ở mức cao gấp 3 – 4 lần mức  trung bình  của thế giới. Sự trỗi dậy với tốc độ cao trong 30 năm của Trung cộng không phải không bị trả giá.
Cùng trong khoảng thời gian 30 năm, Trung cộng đã tiêu thụ 46% lượng thép, 16% năng lượng và 52% lượng xi măng toàn cầu sản xuất nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 8% GDP toàn cầu. Trực tiếp hơn là trong bối cảnh đầu tư quá nóng, mầm họa của lạm phátnợ nần cao sẽ trở thành điểm bùng nổ trong cuộc chiến tranh tài chính tương lai.
Xem xét ở góc độ này, việc chìm đắm một cách mù quáng trong ảo mộng “vượt Anh, đuổi Mỹ” là hành vi vô cùng nguy hiểm cho  Trung cộng. Nhiều chuyên gia kinh tế Trung cộng đã lên tiếng cảnh cáo chính phủ nước này rằng , cái mà họ cần không phải là ánh hào quang GDP mà là quyền phát ngôn về kinh tế thế giới. Nếu không có quyền phát ngôn, Trung cộng chỉ là công nhân chế tạo của Mỹ hay đơn giản chỉ là “công xưởng giá rẻ” của các nước Âu – Mỹ.
Năm 2008, Trung cộng  đóng góp không nhỏ trong việc tạo ra 956 tỷ USD doanh lợi của các doanh nghiệp Mỹ hoạt động ở nước ngoài trong khi ở trong nước Mỹ đạt được không đến 532 tỷ USD. Như vậy có thể thấy doanh lợi mà các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài của Mỹ đạt được lớn gấp 1,8 lần doanh lợi của các doanh nghiệp trong nước. Xem xét ở góc độ số liệu sẽ càng thấy rõ.
   Mỗi một đồng USD chi cho sản phẩm do Trung cộng chế tạo có 55 xu chạy vào vị trí làm việc của người Mỹ. Trong khi Mỹ không ngừng bòn rút thành quả trỗi dậy của Trung cộng, hơn thế còn mượn tay Trung cộng  nghiên cứu phát triển công nghệ cao mới cho Mỹ, thoát ra khỏi không gian của ngành chế tạo.
Nhìn lại cái giá phải trả trong quá khứ của Nhật Bản, đồng euro và thậm chí là đồng bảng Anh trong cuộc đấu với đồng USD, Trung cộng cần nhận thức rằng việc vượt Mỹ về GDP tuyệt đối không phải là cái gì đó đáng vui mừng.
Đây chỉ là bước đi đầu tiên trong bước đi dài mà thôi
TỔNG HỢP

__._,_.___

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link