Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, April 24, 2013

Những mảnh đời tan nát...NGÀY QUỐC HẬN


 

HỌ LÀ AI?

Những mãnh đời tan nát, những ước mơ hoài bảo sụp đổ toàn diện ngày 30 tháng 4, 1975 có lay động được chăng lương tri của kẻ vô cảm? Nếu họ vẫn bình chân như vại, vì chưa một giờ, một giây phút chia sẽ khổ đau với đồng bào trên quê hương khói lửa, chưa một ngày sát vai chiến đấu với chiến sĩ VNCH, thì hôm nay họ tiếp tay Công Sản vui mừng chiến thắng 30/4 cũng là điều không có gì khó hiểu. HỌ LÀ AI?

---------- Forwarded message ----------
From: Thomas D. Tran <
Date: 2013/4/23
Subject: Fw: Những mảnh đời tan nát...
To:


Kính chuyển coi, đọc và chuyển tiếp tối đa để thấu hiểu thế nào là NGÀY QUỐC HẬN, tại sao ngày 30 tháng Tư lại là NGÀY QUỐC HẬN, ai đã khéo đặt tên cho ngày 30 tháng Tư là NGÀY QUỐC HẬN mà không cần có một nghị quyết, một sắc lệnh, một văn thư nào, v..v..nhìn nhận (Vì còn chính phủ nào đâu mà ra những giấy tờ này).
 
Những kẻ họanh hoẹ, bắt bẻ danh xưng NGÀY QUỐC HẬN, hoạnh hoẹ Làm Sao dịch chữ NGÀY QUỐC HẬN chỉ là những kẻ học hành rởm hoặc là những kẻ thân cộng, lươn lẹo, ngụy biện, cãi chầy cãi cối mà thôi. Chắc chắn rằng chúng đã "thân bại danh liệt" từ nay vì sẽ chẳng còn ai đọc bài chúng viết, nghe lời chúng nói. Chúng hãy coi những hình ảnh đính kèm mà có động lòng thương sót đồng bào đã bị điêu đứng vì cs pháo tàn bạo trong khi chạy trốn cs để còn ngụy biện, bênh vực cs, đả kích NGÀY QUỐC HẬN nữa hay thôi.

 

Xin qúy vị đọc xong, coi xong là chuyển ngay tới bạn hữu và cả những nhân viên NCQ cs, những kẻ thân cộng để chúng sáng mắt ra.

 

Kính

 

Thomas Tran

Không Nói, Không Viêt, Không Làm
nhung gì có loi cho công san. 

 

----- Forwarded Message -----
From: Anh H. Tran
To:
Sent: Tuesday, April 23, 2013 10:58 AM
Subject: Fw: Những mảnh đời tan nát...

 



 

 

Sent: Monday, April 22, 2013 1:24 PM

Subject: Những mảnh đời tan nát...

 

 

 

Tháng Tư Đen 1975 và...
Những mảnh hồn đau đứng dưới trời!                                                                                                        

 
Tại Tuy Hòa , Vạn Ninh (Tỉnh Phú Yên, Tỉnh Khánh Hòa)
Ngày 23-3-1975 phần đuôi đoàn xe di tản bị mắc kẹt trên Tỉnh Lộ 7 gần quận Phú Túc, cách Thành Phố Tuy Hòa khoảng 40 km về phía tây, vì pháo cộng sản bắn vào đoàn xe ở phía trước
Bà mẹ mất con tại Tuy Hòa. Ngày 25 - 3 – 1975
Ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Vạn Ninh, Ninh Hòa.
Những người dân chỉ có vài món đồ trên lưng , tức tưởi dẫn gia đình trốn chạy cộng sản
Tại Nha Trang
Ngày 31 - 3- 1975 tại phi trường Nha Trang
Trên chuyến bay cuối cùng rời khỏi phi trường Nha Trang ngày 31 - 3- 1975
Trong cuộc hổn loạn những người Lính VNCH không chỉ lo cho riêng bản thân mình mà còn giúp đở bảo vệ sự sinh tồn của người dân nhất là những em bé
Phi trường Nha Trang Ngày 1 - 4- 1975
Ngày 2 - 4- 1975. Trong cảnh di tản ra khỏi Nha Trang. Một người dân đang đu trên cánh cửa máy bay
3 giờ sáng Ngày 30 - 3 - 1975. Chiếc HQ 802 cập bến cãng Cam Ranh
... đến 8 giờ tối Ngày 30 tháng 3 năm 1975, nhổ neo tiếp tục cuộc hành trình, rời cảng Cam Ranh để về Vũng Tàu
Hai ngày sau, là ngày 3-4-1975. Tàu HQ 802 đang trên biển Đông
Ngày 2 tháng 4 ngăm 1975 Nha Trang thất thủ
Tại Phan Rang , Phan Rí
Tại Phan Rang . Ngày 16 tháng 4 năm 1975.
Tại Cửa Phan Rí . Ngày 18 tháng 4 năm 1975.
Tại Xuân Lộc
Ngày 12 tháng 4 năm 1975, đồng bào bỏ chạy khi việt cọng tới Xuân Lộc và người thanh niên xấu số này đã gục ngã trong vòng lửa đạn trên quốc lộ 1
Ngày 13 - 4 - 1975.
Tại Xuân Lộc
Ngày 14 - 4 - 1975, em trai này di tản một mình bằng chiếc xe lăn trên đoạn đường dài từ Xuân Lộc, đang di chuyển trên quốc lộ 1
Ngày 14-4-1975 , dân chúng Xuân Lộc chạy hổn loạn tranh dành leo lên chiếc trực thăng.
Ngày 15 - 4 - 1975
Ngày 23 tháng 3 năm 1975 tại Xuân Lộc
Ngày 31 - 3 - 1975
Ngày 23 tháng 3 năm 1975 Xuân Lộc thất thủ
Tại Lâm Đồng , Long Khánh
Ngày 15 tháng 4 năm 1975, tại tuyến phòng ngã ba Dầu Giây
Ngày 19 - 3 - 1975, trên quốc lộ 20 từ Lâm Đồng về Dầu Tiếng
Ngày 20 - 4 – 1975, Quốc lộ 20 từ Lâm Đồng về Dầu Giây
Ngày 20 - 4 - 1975 tại Dầu Tiếng
Ngày 21 - 4 - 1975, dân chúng Long Khánh chạy tránh cọng sản
Ngày 21 - 4 - 1975, người chồng cuả phụ nữ này bị trúng đạn pháo kích của cộng sản
Ngày 21 - 4 - 1975, cộng sản vô tới Long Khánh
Ngày 21 tháng 4 năm 1975 Long Khánh thất thủ
Khắp nơi - Dân chạy tránh giặc cọng sản
Một chiếc tàu vận tải Vishipco chở số người tị nạn nặng trĩu từ miền trung khi cộng sản tràn vô
Một chiếc thuyền tị nạn ở miền trung
Người chạy giặc chỉ có đôi giày, vài cái túi, và một cái radio
Một gia đình dắt dìu nhau chạy giặc từ miền trung tránh đợt tấn cộng của cộng sản
Gia đình và trẻ em chạy giặc từ miền trung vào nam trong ngày cuối tháng 4 năm 1975
Hai em bé lạc loài trong dòng người di tản
Với chút hành trang còn lại người cha cõng đứa con chạy trốn cộng sản ở Trảng Bom ngày 23 - 4 -1975
Khắp nơi - Dân chạy tránh giặc cọng sản
Vũng Tàu Ngày 9 tháng 4 năm 1975
Dân chúng chen chúc tìm lối thoát tại các bến tàu
Ngày 21 – 4 - 1975, người dân Sài Gòn lũ lượt kéo nhau chạy ra Vũng Tàu tị nạn
Vòng đai thành phố Sài Gòn những ngày cuối tháng 4 năm 1975 đã bị vây chặt bởi nhiều sư đoàn của cọng sản
Tại Sài Gòn
Ngày 24 - 4 - 1975. cọng sản đã ném bom vào Sài Gòn
Lúc 3 giờ 30 Ngày 27 tháng 4 năm 1975, cộng sản pháo kích vào hành phố Sài Gòn
Ngày 28 - 4 - 1975, cộng sản tiếp tục pháo kích vào Sài Gòn
Ngày 28 - 4 – 1975, Xác T-54 trên đường Trương Minh Giảng, gần Lăng Cha Cả
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, một chiếc trực thăng đáp trên sân thượng nhà 4 tầng của người dân trên đường Truơng Minh Ký
Tại Bến Sông Bạch Đằng
Người dân Sài Gòn tìm đường thoát trên bến phà Thủ Thiêm trên bến sông Bạch Đằng
Ngày 28 - 4 - 1975, người dân leo qua hàng rào bến cãng để trốn thoát khỏi Sài gòn
Những cửa ngõ duy nhất có thể thoát ra khỏi Sài Gòn như Toà Đại Sứ Mỹ, khu DAO ở gần Air Vietnam và bến Bạch Đằng, thì lúc nào cũng đông nghẹt người chen chúc chờ đợi một cơ hội cuối cùng. Đa số là thành phần trong chính quyền cao cấp hoặc những người có liên hệ với Mỹ trước đây
Và những người sài Gòn đang liều mạng trèo lên các xà lan tại bến cảng Sài Gòn họ cố gắng trốn thoát khỏi cộng sản
Ngày 29 - 4 - 1975
Một bé trai đầu đội mũ lính, trên lưng cõng một đứa bé lạc loài trong đoàn người di tản
Sài Gòn vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975 như một cái chảo đặt trên lửa đang nóng dần lên và dân chúng như đàn kiến loi ngoi trong đó không lối thoát
      

 

Trung Cộng Giao Động Thay Đổi Việt-Nam


 

Từ 30/4, 2012 Nhận định tình hình tài chánh Hoa Kỳ Trung Cộng Việt Nam

Đến 30/4, 2013 Ký Thỉnh Nguyện Thư Giảm Ngoại Tệ, Hạn Chế Du Lịch Việt Nam Sẽ Dồn Cộng Đàng Vào Chân Tường

Mời ký TNT, vui lòng mở link:  http://wh.gov/ex68

Nếu góp khó khăn vì quên Password TNT ln ký trước, nên mở email mới sẽ dễ dàng hơn 

Trung Cộng Giao Động


Thay Đổi Việt-Nam

 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Lương

(ghi chép buổi nói chuyện
trên Paltalk 30-4-2012)


 

Năm 1991, sau sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết vì sự chạy đua không gian với Hoa Kỳ (HK), hàng hóa Trung Cộng (TC) bắt đầu ồ ạt xuất cảng vào Hoa-Kỳ, đánh dấu sự “chạy đua” kinh tế giữa“hai anh hùng không sống chung một quả đất” bắt đầu.

Cứ mỗi tam cá nguyệt, kể từ khi giao thương với TC, Hoa-Kỳ luôn luôn báo cáo sự bất quân bình mậu dịch với quốc gia mà thế giới ai cũng biết là Hoa Kỳ đã giúp đỡ để được mang danh là một“siêu cường TC” ngang hàng hoặc sẽ vượt qua kinh tế Hoa-Kỳ trong thập niên sắp tới. 


Thời gian trôi di, cả hai thập niên, sự thương lượng quân bình kinh tế bế tắc, khiến TC lầm tưởng rằng, chính phủ Hoa Kỳ không còn đường lối nào khác hơn là ngậm đắng nuốt cay, phải chấp nhận sự nhập cảng hàng hóa TC càng ngày càng gia tăng, để người dân HK có được một cuộc sống căn bản cao phải tùy thuộc vào hàng hóa TC vì rẻ mà không quốc gia nào trên quả điạ cầu này cạnh tranh được. 



Khi biến cố 911 (năm 2001) xảy ra cho 2 tòa nhà của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới (World Trade Center) tại NữuƯớc, thế giới bàng hoàng, người dân Mỹ ngẩn ngơ, và khi TT Bush quyết-định đưa quân trừng phạt Iraq và A Phú Hãn, thì lãnh tụ Trung Cộng mở tiệc ăn mừng, vì nghĩ rằng, Hoa Kỳ sẽ bị sa lầy vào một chiến tranh mà có thể còn khốc-liệt hơn cả chiến tranh Viet-Nam  nữa. Do đó, họ đã âm thầm khuyến khích gia tăng sản xuất để xuất cảng bành trướng sang châu Âu vì nghĩ rằng, họ chế ngự được thị trường HK, thì những quốc gia Âu Châu không có gì là đáng kể. 



Chính vì thế, giới thương gia đổ tiền của vào sản xuất với rất nhiều tín dụng cá nhân, và với sự bóc lột lao động tối đa nên có lợi điểm với gía cả rẻ mạt, hàng hóa TC tràn ngập Mỹ và Âu Châu trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục.


 

Đến năm 2004 là năm mà HK bắt đầu sửa chữa thị trường theo “thứ tự” của kinh tế thế giới . Theo kinh nghiệm, tại HK, cứ 8 đến 10 năm một lần, HK phải “điều chỉnh” kinh tế để “quân bình” tài chánh hầu tránh sự kinh tế sụp đổ tương tự diễn ra cho thế giới vào năm 1930s, và sự điều chỉnh này dài hay ngắn, nhanh hay chậm, là tùy thuộc vào sự chênh lệch tài chánh của HK trong sự giao thương của khoảng thời gian liên quan đó. Chúng ta cũng nên biết rằng, kể từ khi người Việt tị nạn đặt chân đến HK sau chiến tranh VN năm 1975, Hoa-Kỳ có 4 lần điều chỉnh: 


(1) Đầu thập niên 80s, điều chỉnh với nền kinh tế Nhật Bản,
(2) đầu thập niên 90s thì thế giới tự do
“đóng góp hơn 100 tỉ” trợ giúp HK trong chiến tranh Trung Đông, 



(3) Cuối thâp niên 90s thì sự đầu tư vào sự khai thác mạng lưới (internet developments) sụp đổ, tiền mất của người đầu tư vào những công ti bị phá sản này, trở thành tài sản của HK…
Trong thời gian này, 



(4) HK có kế hoạch “điều chỉnh” kinh tế với TC, nhưng chưa áp dụng thi biến cố 911 xảy ra, khiến bị trì hoãn đến năm 2004, khi TT Bush tuyên bố phải áp dụng 3 điều căn bản chính đểgia tăng xuất cảng, đó là: 



(1) giảm trị giá Dollars để khuyến khích
ngoại quốc mua hàng HK vi rẻ hơn; 



(2) phải giảm tiền lời đề khuyến khích những
công ty HKđược vay rẻ thi sản xuất rẻ và nhiều hơn, và 



(3) phải tạo điều kiện dễ dàng đểngười dân HK có cơ hôi làm chủ chính căn nhà của họ… đó chính là giai đoạn khai hỏa “trừng phạt” TC bắt đầu. 



 Kế hoạch của TT Bush nêu trên đã làm trương mục của những “chủ nợ” của HK (điển hình là TC) bị xuống giá, tiền lời lại không có (cần phải nói là giai đọan này là thời kỳ đen tối của những người sống bằng lợi tức chắc chắn, cố định, những công dân HK về hưu, hưởng tiền già và sinh sống tại nước ngoài), Thêm vào đó, những đại công ty đầu tư của HK như AIG, Leman Brothers, Merrill Lynch có đưa ra những kế họạch, chương trình đầu tư khá hấp dẫn, đáng tin cậy, “không” bảo đảm nhưng rất “an toàn” đó là đầu tư vào bất động sản tại HK như hệ thống ngân hàng HK đã và đang áp dụng: vì chủ nhân ngôi nhà phải có bảo hiểm khi mượn nợ nên không sợ bị hư hỏng, người mua nhà đặt cọc tiền nên phải cố gắng gìữ nhà, không bỏ hoang,.. giá nhà tại HK luôn luôn lên giá… và với tiền lời 5%, 7% cố định, cho cả 30 năm thì không phải lo lắng về tiền lời nữa…


 

Do đó, khi điều căn bản (3) của TT Bush được áp dụng thì người dân đổ xô đi mua nhà nhưng thực tế chỉ xảy ra tại 4 tiểu bang nóng bỏng nhất, đó là: Arizona, California, Florida, và Neveda… vì dân chúng những tiểu bang khác có những ước mơ về đây sinh sống khi lớn tuổi, khiến giá nhà tăng nhanh một cách khủng khiếp do kết quả số lượng CUNG-CẦU chênh lêch nhau quá sức tưởng tượng.

 

Và tất cả nợ nần của những ngôi nhà mới bán này được bán cho những chủ nợ ngoại quốc giàu có.dưới hình thức của “Mortgage Notes” …cho đến khi trái bóng nhà cửa bị nổ tung vì giá quá cao vào đầu năm 2008, AIG, Merill Lynch, and Leman Brothers khai phá sản, thì các chủ nợ ngoại quốc cũng đành chung số phận, phải ngậm đáng nuốt cay vì đầu tư vào bất động sản rất “an toàn” tại HK, ôm những căn nhà tráng lệ bị bỏ rơi bởi chủ nhân làm tài sản, còn tiền để dành đã chạy hết vào ngân hàng dự trữ Hoa Kỳ một cách hợp pháp…

 

Thêm vào đó, khi Thống Đốc Ngân Hàng Bernanke yêu cầu quốc hội HK gia tăng nợ nần ngân sách quốc gia cho HK thếm 1 trillion dollars nữa, thế giới kinh hoàng vì hiểm lầm là HK nợ nần quá nhiều nên không thể trả nợ nổi, khiến bao nhiêu chủ nhân của TRÁI PHIẾU (US Bonds) tung ra bán hết với giá thật thấp, để lấy tiền mua vàng. Vì số CUNG nhiều hơn số CẦU (HK mua lại 800 tỉ mà thôi); do đó, Hoa Kỳ có dip thâu hồi trái phiếu một cách hợp pháp mà không phải trả tiền lời cho những trái phiếu này… và giá vàng trên thế giới đã lên rất cao vì nhu cầu đòi hỏi của người có tiền của…không tin tưởng vào trị giá của US dollars nữa, chỉ vì không hiểu rằng căn bản tiền tệ của HK căn cứ vào tín dụng, có nghĩa là HK đã khá hơn, có khả năng trả nợ thêm 1 trillion dollars nữa… 


Là một siêu cưòng, HK không thể không thi hành những luật lệ kinh tế quốc tế mà những quốc gia đã ký ước…Thi dụ Hoa Kỳ không thể cấm hàng hóa TC nhập cảng vào HK , chính vì thế, HK phải có những phương pháp khác để hàng hóa TC không có người tiêu thụ. Do đó, HK không ngần ngại đưa tỉ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên cao, thật cao, với lý do bị ảnh hường bởi kinh tế TC không hợp tác Với số lượng thất nghiệp này, HK không còn có nhu cầu tiêu thụ khối hàng TC khổng lồ nhập cảng nữa, dù rẻ mạt… 



Và tổng số thất nghiêp cao của xứ cờ hoa này sẽ còn kéo dài trong những năm sắp tới cho đến khi sự “quân bình kinh tế” được giải quyết. Đó cũng là lúc Dollars sẽ lên giá và vàng sẽ xuống giá như dầu lửa dưới thời TT Clinton (vì vàng cũng chỉ là món hàng trao đổi, HK không dùng vàng làm kim bản vị cho tiền dollars của nước HK); và đây cũng là giai đoạn cuối cùng của nền kinh tế suy thoái HK.


 

     Khi hàng hóa sản xuất để xuất cảng bị ứ đọng, không phải là nhu yếu phẩm của quốc gia, tiền lương lao động TC thấp nên không có mãi lực trong nước, khiến nhiều công ty TC bị phá sản; 


Sự thất nghiệp (không có trợ cấp như HK) gia tăng, đã và đang tạo nhựng sự xáo trộn xã hội lớn tại TC, và có chiều hướng gia tăng. Thêm vào đó, sự rút lui của giới tư bản HK vì luật thuế vụ áp dụng cho những công ty có chi nhánh tại hải ngoại, sẽ làm cho tình trạng lao động TC gặp nhiều khó khăn hơn. Chính phủ TC biết rõ điều này, nhưng không công nhận sự thực, chỉ cố gắng đổ lỗi cho lãnh đạo yếu kém, tham nhũng, hối lộ nên có những kế hoạch thanh trừng với mục đích chính là củng cố địa vị trong giai đoạn đen tối của quốc gia mà không thể tránh nổi.
Nói một cách khác đi, TC sẽ phải đối diện với một giai đoạn cực kỳ khó khăn trong nội bộ, mà nguy cơ có thể đưa đến một sự tan rã như Liên Bang Sô Viết, cáo chung chủ thuyết cộng sản trên qủa địa cầu.


 

Lẽ dĩ nhiên, lãnh đạo Trung Cộng sẽ không ngồi yên, họ cũng có những đường lối “ngoại giao” để làm nhẹ gánh bớt cho tình hình nội bộ của TC như:

 

1-TC sẽ tạo chiến tranh thế giới để giải quyêt kinh tế nội bộ? - Điều này không thể xảy ra, vì với vũ khí quá tối tân mà con chim đầu đàn của thế giới tự do, sẽ không cho phép TC làm được chuyện này… Và nếu có, sự thiệt hại không thể hủy diệt được toàn cầu, hoặc sẽ không lôi kéo những quốc gia khác vào chiến tranh, mà ngược lại, có rất nhiều sự bất lợi cho chính TC. Chúng ta cần phải hiểu rằng, khi HK thỏa hiệp với Nga-Sô để hủy bỏ vũ khí nguyên-tử, thì họ phải có những vũ khác hiệu nghiệm hơn và chính xác hơn… 

 

2. TC mong chờ có một phong trào chống chính phủ HK vì thất nghiệp cao? – cũng rất khó vì HK có cả trăm ngàn công ăn việc làm mà nhân công HK cần phải huấn luyện khá hơn để được tuyển dụng… có hơn 12 triệu việc làm lao động mà những người cư ngụ bất hợp pháp Mễ Tây Cơ đang làm… nếu cần phải thay thế bằng lực lượng lao động HK 

 

3. TC cũng mong có những cuộc biểu tình phản chiến chống chiến tranh của người dân HK lan tràn khi gia tăng quân sự ỏ DNA? - chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra, vì thái độ lạnh lùng, ngạo mạn của lãnh tụ TC trong những chuyến thăm TC để điều đình thương mại của TT tài chánh và TT Obama; khiến truyền thông HK có những sự bất lợi cho TC, hàng loạt tài liệu kêu gọi tẩy chay hàng hóa của TC vì thiếu tiêu chuẩn sản xuất trong số đó, sự vi phạm vệ sinh là chính thức… và người dân HK thức tỉnh là quốc gia nguy cơ, cũng như kết quả thất nghiệp đã và đang đến từ ảnh hưởng kinh tế của TC.

 

4. Tìm đồng minh thế giới chăng? – Không có, nhìn từ Đông sang Tây, từ Mỹ, Phi, và Á châu: phong trào chống TC lan tràn và gia tăng. Sự đồng lòng của những quốc gia thành lập Trans-Pacific Economic Partnerships (TPP) chứng minh cho thấy là không một quốc gia nào hưởng ứng theo TC. 

 

5. Không theo kịp sự tiến bộ kỹ thuật, TC có những kế hoạch gia tăng quốc phòng, và những chương trình phá hoại kỹ thuật HK - Điều này TC đã và đang làm, có chiều hướng gia tăng nhưng tỉ lệ thành công rất thấp… Gia tăng quốc phòng thì cả trăm năm nữa cũng không bằng HK… Phá hoại kỹ thuật HK chăng? Nhìn những kết qủa trong qúa khứ, WTC bị phá hủy hoàn toàn, 133 hệ thống ngân hàng thế giới với số tiền trao đổi vài trillion dollars hàng ngày, chúng ta có nghe đến những sự than phiền, mất mát, thiếu hụt không? những hệ thống điện toán thương mại của công ty HK có dễ dàng bị xâm chiếm không??? Thì không cần phải bàn đến sự tinh vi về kỹ thuật của bộ Quốc Phòng, Quân Sự HK mà TC có đủ khả năng phá rốí. 

 

Nhìn về thể chế chính trị và xã hôi Viêt Nam, chúng ta phải đồng ý rằng TC và VN có những sự tổ chức và ràng buộc với nhau. Có khác đi, VN có được một ưu điểm duy nhất mà TC không có, đó là một quốc gia nhỏ bé nhưng có được sự trợ giúp“không chính thức”, có kế hoạch của chính phủ HK với mục đích tách rời VN ra khỏi ảnh hưởng của TC, nên số tiền của người Việt tị nạn gửi về VN có chiều hướng gia tăng đã được làm ngơ. 

 

Số tiền này chính là sư quyết đinh sống còn cùa chế độ hiện hữu. Nói như thế, không phải là HK chấp nhận chế độ CSVN hiện tại, mà chỉ muốn kéo dài sự “yên ổn” của VN cho đến hồi kết cuộc của TC. Nhưng ngược lại, VN có một vị trí bất lợi là nằm bên cạnh TC nên bị áp lực và ảnh hưởng rất lớn của quốc gia này. Nếu so sánh VN và Cuba, nguời dân tị nạn Cuba có dược những lợi điểm trong sự đấu tranh thay đổi thể chế Cuba, vì nước này nằm trên một vị trí chỉ cách bờ biển HK hơn 90 dậm anh (160 Km), nên không có quốc gia CS đàn anh nào bén mảng đến gần; và với một tổ chức kinh tế xuất nhập cảng, phát triển mạnh mẽ hầu như bao trùm tất cả Nam Mỹ (một khối người nói tiếng Tây Ban Nha (Spain)) của cộng đồng tị nạn Cuba tại Little Havana (Miami, Florida), cộng đồng Cuba có ảnh hưởng rất lớn với chính phủ HK. Chính vì thế, nhà cầm quyền nước Cuba gặp rất nhiều khó khăn vì sự đấu tranh của khối người tị nạn Cuba đó. 

 

Là người VN, chúng ta cần phải nhận thức rằng, Chúng ta đã bị CSVN lừa đảo quá nhiều rồi và chờ đợi vì những sự lừa đảo đó, hết thủ đoạn này đến đường lối khác, dùng MTGPMN là công cụ đánh phá miền Nam, dùng nơi học tập làm trại tù để nhốt những người có khả năng chỉ huy lãnh đạo,,,thay đổi sự lãnh đạo để người miền Nam mơ tưởng có sự cởi mở, và bây giờ dùng gia đình Nguyễn Tấn Dũng để tạo sự mơ tưởng một chính phủ thân Mỹ nên có những sự “yên ổn” kéo dài chờ đơi… (vì chờ đợi Dollars gửi về, vì có những suy diễn chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là chính phủ thân Mỹ, nên HK sẽ trở lại VN…)… 

 

Chúng ta cũng cần biết thêm rằng, Hitler bị kết án là một kẻ độc tài sắt máu, nhưng ông ta chỉ giết người Do Thái trong giai đọan chiến tranh, còn chế độ CSVN hiện tại, giết người dân của chính dân tộc mình, mà giết trong thời bình, không chiến tranh, thí chúng ta nghĩ sao về chế độ này?... Chúng ta cũng biết rằng, TC sẽ gặp nhiều khó khăn trong giaiđọan sắp tới, không đấu tranh CSVN cũng phải thay đổi vì quan thày của chúng suy xụp, nhưng những sự kéo dài chờ đợi của người dân VN trong giai đoạn này là mắc mưu chế độ cầm quyền, vì họ chỉ mong có thế để biến đổi tình thế khi có dip.

 

Nói khác đi, sự chờ đợi sẽ không có những lợi điểm cho đất nước chúng ta, cũng như sự chờ đợi cho đến ngày TC sụp đổ để thay đổi VN thì e rằng qúa trễ,vì những lý do sau đây:


1) Tài nguyên bị tịch thu bán cho ngoại quốc để trục lợi của bè nhóm chế độ hiện hữu: Đã không biết bao nhiêu mẫu đất từ Bắc xuống Nam của người dân bị tịch thu bán cho ngoại quốc làm sân golf (!), khu kỹ nghệ… mới đây nhất là Bắc Giang, Hưng Yên; cũng như tài nguyên thiên nhiên Bô Xit thuộc vùng cao nguyên, Dà Lạt… người dân trong nước có chống đối nhưng không hiệu quả.


 

2) Sự đồng hóa sẽ nhanh chóng của TC: với con số hơn 200 triệu đàn ông không có đàn bà để lấy làm vợ của kết qủa cách mạng văn hóa Mao Trạch Đông từ năm 1960s, thì lượng di dân của khối người này đến VN phải xảy ra…qua những hình thức như nhân công, du lịch đến VN dài hạn… để tìm vợ; hoặc trong tương lai di dân vì lý do an-ninh, kinh tế..

 

3) Thiếu khả năng, thiếu sức mạnh của một quốc gia khiến VN mất dần tài nguyên ngoài khơi, và hải sản… hoặc người lãnh đạo sẽ bán ăn chia những tài nguyên cho ngoại quốc khai thác như những lãnh đạo của những quốc gia độc tài Lybia, Trung Đông…

4) Nhân tài VN của hải ngoại già yếu hoặc qua đời, VN sẽ mất đi những khả năng chuyên môn, tiền của, đặc biệt là những gạch nối, móc nối tốt đề tái thiết cho VN và những quốc gia có người Việt hải ngoại cư ngụ… lực lượng đấu tranh và người dân trong nước sẽ thiếu đi điểm tựa đấu tranh vững chắc.


5) Sự thiếu dinh dưõng, không có điều kiện căn bản sống của môt quốc gia VN lạc hậu, chỉ biết có ăn để mà sống, trực tiếp tạo điều kiện rất khó khăn cho sự tiến bộ của đất nước, sự mạnh mẽ của xã hội… người dân chết dần mòn theo thời gian mà không có năng xuất…


 

Chinh vì thế, chúng ta cần phải thay đổi VN càng nhanh càng tốt…và cần phải chuẩn bị gấp cho một đường lối chính trị của VN trong tương lai, phải có lập trường dứt khoát: ai là bạn, ai là thù, không nên đúng chàng hảng, lòng thòng, đúng giữa, chia phe nhóm thủ lợi…vì những khía cạnh này chì phí tổn thêm nhân sự và thời gian mà thôi. Những người phục vụ đất nước trong tương lai phải nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc Viêt-nam khi quyết đinh. 


Chúng ta không ngồi chỉ đọc lại nhũng chồng tài liệu cũ, lấy những sự chỉ trích Henry Kissinger là sự suy luận để thỏa mãn là chúng ta đã làm đúng, 40 năm nhìn lại đểchúng ta có những trận chiến oai hùng trên chiến trường, đổ lỗi cho đồng minhđã làm sai… 



Nói như thế, không có nghĩa là tôi phủ nhận những gía trị tài liệu, hoặc những chiến công hiển hách của miền Nam; vì cha của tôi cũng là môt quân nhân của liên đoàn 1 BĐQ, học khóa đầu tiên tại Dục-Mỹ, em thứ hai của tôi là một chiến sĩ trẻ của trường Thiếu Sinh Quân, và trước ngày này của năm 1975, là một Thiếu Uý của ĐĐ Trinh Sát Sư Đoàn 2… Nhưng tôi thấy, chúng ta ngồi ôn lại lịch sử nhưng chúng ta không áp dụng những gì đã có kết qủa oai hùng, chiến công lừng lẫy, cho một kế hoạch nào đó để tìm một phương pháp giải thể chế độ hiện tại mà ngược lại, chỉ để mãn nguyện, phô trương thành tích…như những vị có bằng cấp khoa bảng nổi tiếng mà không hành nghề… thậm chí mua bằng giả để hãnh diện,,, vì tôi thấy có những quân nhân cấp cao đã quên đi sự nhục nhã trong trại tù cài tạo, quên đổng đội của mình, đi Việt nam hí hố một cách trơ trẽn; hoặc nịnh bợ, luồn cúi vì quyền lợc cá nhân, không biết nhân phẩm của chính mình, và đơn vi mình đã phục vụ. đã hãnh diện.



Tôi muốn nói đến những gì chúng ta có kinh nghiệm và hãnh diện, phải được phải đem ra áp dụng để thay đổi một nước VN hiện tại, nơi vẫn còn kẻ thù của chúng ta đang cai trị, đang đàn áp 90 triệu người dân lành. Trong số đó, gần 30 triệu người chúng ta đã bảo vệ khi đang cầm súng, và chúng ta đã có giấc mơ giải phóng phần còn lại sống đói khổ tại miền bắc Viet Nam trước năm 1975 … và quên đi rằng chúng ta đã không có những lãnhđaọ giỏi giang, những sức mạnh của chính quốc gia mình để hợp tác với ngoại bang, mà không bị ngoai bang chi phối…Hãy nhìn Đài Loan và Do Thái là những thi dụ cho đất nước…


 

Do đó, ngay bây giờ đây, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết là HK đến DNA chứ không trở lại VN, và chúng ta cần phải làm những gì nhân cơ hội này để có một sự thay đổi VN hiện tại. Những sự chờ đợi khiến HK và ngoại quốc hiểu lầm là chúng ta bầng lòng vối chế độ hiện tại, chấp nhận những gì đang có. Do đó, chúng ta phải nghĩ đến những yếu tốchính, những gi chúng ta làm được, để thay đổi VN càng sớm càng tốt, chỉ có nhưthế, chúng ta mới hãnh diện với những gì chúng ta đã có, bắt đầu cải thiện cuộc sống cho người dân VN, và đưa VN trở lại vị trí “hòn ngọc của Viễn Đông”.

 

Chúng ta làm được vì chúng ta có nhiều ưu điểm:

 

1) Chúng ta có một khối chuyên viên hùng hậu trên thế giới, có thể nói là chỉ thua nước Hoa Kỳ. Kinh nghiệm của những chuyên viên này, hấp thụtừ Dông sang Tây, từ quân sự đến dân sự, từ văn phòng đến hầm mỏ, từ tài chánhđến kỹ thuật… họ không những chỉ có tài mà có tiền nữa, công thêm một gía trị vô giá là có sự móc nối với những đầu óc chuyên gia của người dân bản xứ… Chính vì thế, nếu đồng lòng, không có gì là chúng ta không làm được…

 

2) Hoa-Kỳ hiện diện trong vùng Đông Nam Á. Đây là một điểm rất thuận lợi… Nhìn trên bản đồ thế giới, từ Nato đến Nam-Hàn, sự hiện diện của HK khiến có sự ổn định. Sự ổn định mang đến sư dễ dàng phát triển của quốc gia… Đó là chưa kể đến sự tái phối trí hiện hữu dài hạn của quân đội HK từ Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore, va Úc Đại Lợi (Trong thời gian gần đây, Phi Luật Tân đã chứng tỏ lập trường rõ ràng để được vịtrí đó; và lãnh tụ PLT chứng tỏ rất khôn ngoan khi có quyết định này). Giả sử rằng năm 1954, TT Ngô Đình Diệm yêu câu HK đóng ở vĩ tuyến 17, hoặc năm 1975, chế độ CSVN hiện tại, mời HK đọ quân ở biên giới Việt-Hoa thì đất nước VNđâu có tệ hại, người dân đâu có lầm than như bây giờ. 

 

1- Người dân từ Bắc xuống Nam bất mãn, đói khổ lầm than, họ rất mong HK trở lạì VN, mơ ước một sự thay đổi cho VN,

 

2- Hệ thống tài chánh VN gặp trở ngại một cách khá trầm trọng, cố gắng trả tiền lời cao để chiêu dụ người ký thác (deposits) nhưng khó rút tiền ra (withdrawal) khi cần đến 

 

3- Nước VN có đươc một bộ “Ngoại Giao” vững chắc vì sự hiện diện của người tị nạn tại những nơi cưngụ hậu thuẫn… nói chung là của một Cộng Đồng Việt-Nam lớn Hải Ngoại
Đầu tiên, chúng ta phải làm những gì?


 

Như đã trình bày ở trên, VN có một lợi đíểm hơn TC, đó là nguồn lợi tức gửi về VN của người dân tị nạn. Nếu không có nguồn lợi nay, chế độ VN và ngườì dân có những lợi điểm cũng như sẽ đối diện với rất nhiều khó khăn như sau:

 

1) VN không có sưgiao thương với quốc gia lân cận một cách mạnh mẽ: Không có Dollars, những quốc gia này không mang hàng hoá thừa thãi, vi phạm luật lệ đển bán rẻ cho VN (thay vì phế thải,,,); người dân VN không phải mua những hàng hóa có danh mà không có phẩm chất tốt, có thể không nguy hại tức khắc nhưng ảnh hưởng lớn cho sức khỏe trong tương lai

 

1. Công An, Quân Đội, công quyền nhà nước… không có cơ hội hối lộ, sách nhiễu dân để có lợi cho cá nhân vi hệ thống tham nhũng, hối lộ ỏ VN quá tệ hại. Họ không còn lý do “đoàn kết”, bám víu nhau để thủ lợi nữa

 

2. Việt kiều không du lịch Việt Nam thì làm gì có phe nhóm, hối lộ của Hải Quan trong phi trường Tân Sơn Nhất

 

3. Nền thương mại giả tạo có được trong VN là kết qủa luân lưu của tiền người Việt gửi về sẽ bị bế tắc như TC hiện tại vì không có mãi lực

 

4. Sự cấm xử dụng Dollars và vàng (áp dụng từ 25 tháng 5 năm 2012) trên thị trường sẽ giúp chế độ kìm chế sự lạm phát giả tạo nhưng sẽ bất lợi cho người Việt trong nước làm chủ những“hàng quốc cấm” này. Thí dụ, khi thân nhân của người Việt hải ngoại nhận tiền dollars từ ngân hàng hay từ một nơi trung gian nào đó, những nơi này có thể tố cáo người nhận tiền để được thưởng hoặc để tránh sự liên lụy. Do đo, gửi tiền về than nhân tại VN có thể tạo sự khó khăn (hôi lộ, tịch thu…) hoặc nguy hiểm (vì bị cướp bóc…)

 

5. Không có Dollars, VN không còn giao thưong với nước ngoài, vì tiền VN không còn được công nhận nhiều nơi

Người Việt hải ngoại, phải hợp tác với người dân đang sống cực khổ tại VN, phải có kế hoạch vô hiệu hóa những nguồn lợi tức gửi về VN.

 

6. Hoa Kỳ có kế hoạchđể người dân không xử dụng hàng hóa TC, Người Việt chúng ta phải có kế hoạch tảy chay hàng hóa nhập cảng từ VN

 

7. Vi danh dự của người dân quân Miền Nam, nếu chúng ta còn hãnh diện về qúa khứ, còn ngẩng mặt lên ngạo nghễ khi VN thay đổ, ngay từ bây giờ chúng ta phải tự thi hành nhữngđiều sau đây:

 

a. Không du lịch VN như người Cuba đã và đang còn áp dụng cho đất nước của họ

 

b. Không gửi tiền nhiều về VN (chỉ $50.00 /tháng như người tị nạn Cuba đã thi hành từ năm 2003)… Năm 1954, chúng ta còn nhớ, hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam không có sự trợgiúp nào nhưng vẫn sinh sống được

 

c. Không ủng hộ,không quyên góp cho những tổ chức từ thiện, tôn giáo, những tổ chức danh nghiã tại VN …

 

3. Không gửi tiền, thân nhân không bị theo dõi, ăn cướp, ăn trộm, có khi bị nguy hiểm đến tánh mạng vì có dollars

 

4. Thât là mâu thuẫn khi chúng ta có những thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ HK không viện trợ, trợcấp, qùa tặng khi biến cố, thiên tai như bão lụt, mà chúng ta lại trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển về VN hàng tỉ dollars. Số tiền này chiếm khỏang 1/3 ngân khoản tài chánh CSVN hàng năm… Sự tự nguyện không gửi tiền, không du lịch VN sẽ làm chế độ đang cầm quyền khốn đốn từ quốc nội (vi không có mãi lực) đến đối ngoại (vì không có hối đoái)… Nếu cá nhân chúng ta vô ý thức với lý do ở những xứ tự do chúng ta muốn làm gì thì làm, thi tôi xin đề nghị với những đoàn thể chính trị, tôn giáo, cộng đồng…hãy hoạt động, sinh hoạt một cách hiệu quả hơn trong đường lối đấu tranh của đoàn thể mình, bằng cách vận động chính phủ nơi quốc gia mình đang cư ngụ, ban hành những Đạo Luật cấm gửi tiền, cấm du-lịch về VN, … 

Không do dự, vì những băn khoăn không gửi tiền của chúng ta là những băn khoăn của đồng bào tị nạn Cuba, của chính phủ HK từ giữa thập niên 1980s, nhưng họ đã thi hành, bây giờ họ đã rất vui mừng vìđã quyết định làm như thế vào năm 2003, để đến năm 2009, Cuba phải thay đổi chính sách.

 

Còn những người trong nước, chúng tôi biết được những khó khăn của qúi vị, đang sống trên đe, dưới búa. Nhưng không có nghiã là không làm được, trong mọi cuộc cách mạng, muốn có sự thay đổi, phải có sự hy sinh… ngồi chờ đợi thì sự chết chóc cũng sẽ đến với tốc độ chậm hơn mà thôi… Ngày xưa, những kẻ đang ngồi trên đầu quí vị đã áp dụng “du kích chiến” đánh phá để chiến thắng, thì ngày nay, quí vị cũng áp dụng ngược lại để thay đổi cuộc sống của chính quí vị. Từng phường, từng xã, từng ấp,,, đêm nào cũng có sự tổn thương vì kết quả của những anh hùng du kích, thì tinh thần công an, quân đội nhân dân, bọn cường hào ác bá cũng phải tìm cách lo thân, và quí vị dần dần sẽ chủ động…

 

Những người cầm bút, những nhà chính trị (lãnh đạo hoặc không lãnh đạo), và những người quan tâm đến nước VN cần phải thay đổi sự phân tách, suy diễn, phê bình của chính mình… Không nên nói về người khác, phóng đại những tài liệu để thỏa mãn cá nhân, đoàn thể… mà nên phân tách rút tỉa những kinh nghiệm đưa đến những gì  chúng ta có thể làm được, thi hành được, phải chủ động…và có lợi cho chính quốc gia của chúng ta… 

Khi gặp những khó khăn, phải được bàn cãi, tìm một phương pháp đồng nhất đề giải quyết. Những người quan tâm thay đổi VN cần phải có ưu tiên chung để cùng quyết định và thi hành thì sẽ không tốn nhiều công sức cũng như vật chất. Đừng lấy cái sai của người làm điều hãnh diện cho mình, mà phải xét đoán chúng ta đã làm được gì từ kết qủa đó.. 

Hãy dẹp chữ TÔI mà hãy dùng chữ CHÚNG TA, đừng cho rằng ý kiến của mình đúng mà phải nghĩ đến quyết định chung đem đến kết quả nào tốt nhất cho đất nước Viêt Nam về cả hai phương diện: đối nội cũng như đối ngoại. 

· Đài Loan bị hất ra khỏi Liên Hiệp Quốc mà vẫn làm được, giữ được đất nước của họ, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.

 

· Do Thái đơn độc đối diện với khối Trung Đông được, giữ được chủ quyền được, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.

 

· Cộng đồng tị nạn Cuba thay đổi nước Cuba được, vì quyết định không gửi tiền về Cuba, tại sao tịn ạn Việt-Nam chúng ta không làm được?

Hay là chúng ta không muốn VN thay đổi vì những sự du lịch gia-tăng, và người Việt Kiều hí hố quá nhiều, nếu có thay đổi người dân trong nước sẽ biết rõ bộ mặt thật của Việt Kiều? hoặc nếu có sự thay đổi thực sự thì các ngài du lịch VN sẽ hết hí hố?, chẳng lẽ chúng ta ích kỷ chỉ nghĩ đến cá nhân chúng ta như vậy sao?


 

Chúng ta phải suy nghĩ kỹ càng và tìm hưóng đi cho chính chúng ta, và cho Việt-Nam của chúng ta! Điều phải làm ngay từ bây giờ là không du lịch và gửi tiển về Viêt-Nam! Người Việt trong nước khẳng định không nhận tiền từ nước ngoài gửi về dù nhiều hay ít!

 

Và ngưòi viết cũng tin chắc rẳng, với sự hợp tác của người Việt trong và ngoài nước, chỉ trong một tương lai gần, rất gần, nước Việt Nam sẽ được kính phục khắp Năm châu trong đó có cả kẻ thù của VN tại Phương Bắc! đó là Trung Cộng.

 

Nguyễn Văn Lương

Florida 4/2012

 

 

 


__._,_.___

Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng.






Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng.


 


 

 

Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng qua ghi chép của một Tình Báo Mỹ

 

 

 

Không chê người đáng khen
Không khen người đáng chê


James E Parker Jr., tác giả cuốn sách “Last Man Out – A Personal Account of the Vietnam War”,” là một giới chức tình báo của CIA rời khỏi Việt Nam cuối cùng vào ngày 1 tháng 5 (1975) sau mười năm phục vụ, giai đoạn đầu với vai trò một quân nhân, và giai đoạn sau trong ngành tình báo Hoa Kỳ.
 
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tác giả tự hào là “I was among the first men in and I was the last man out” và cuốn sách trên được Đô Đốc Elmo Zumwalt, vị Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ trẻ tuổi nhứt trong lịch sử hiện đại, đánh giá là “sống động và thuyết phục… Một bổ sung quan trọng cho nền văn học kỷ nguyên Việt Nam.” Được biết thêm, Đô Đốc Elmo Zumwalt trong thời kỳ cuộc chiến Việt Nam leo thang là chỉ huy trưởng Chiến Dịch SEALORDS (Southeast Asia Lake Ocean River and Delta Strategy) phát xuất từ Căn Cứ Năm Căn (Cà Mau). Và qua thời “Việt Nam hóa Chiến tranh,” ông đề xuất và thi hành kế hoạch ACTO (Accelerate Turnover to the Vietnam) nhằm chuyển giao và trang bị quân cụ hải quân nhanh chóng cho Việt Nam (Theo “Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam” của Nguyễn Kỳ Phong).

Đặc biệt trong “Last Man Out” rải rác trong nhiều chương, tác giả đề cập, qua ghi chép và nhận xét, đến nhiều nhân vật quân sự tên tuổi mà ông có nhiều cơ hội và thời gian làm việc chung, như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Tác giả mô tả tướng Nguyễn Khoa Nam điềm đạm, làm việc mẫn cán, chu toàn trọng trách tướng chỉ huy…
Tướng Trần Văn Hai thâm trầm, khép kín, hút thuốc nhiều, và có vẻ ít nhiều định kiến với các cố vấn, giới chức Mỹ. Nhưng vị tướng này có tài quân sự, đã cho tác giả biết trước vào ngày 22 tháng 4 là Sàigòn đã bị Cộng Sản bao vây rồi sẽ “mất trong 7 ngày” sau đó, căn cứ theo sự thẩm định và ước đoán tình hình quân sự và những biến chuyển chính trị rất xấu cho miền Nam vào lúc bấy giờ. Tướng Hai nghiêm mặt, nâng cao ly cà phê được đặt trong chiếc bình giữ ấm, mời tác giả cụng ly để cầu nguyện cho những chiến sĩ đã hy sinh và chúc lành cho nhau …
 
Tác giả dành cho Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (trong sách in là Canh, có lẽ tác giả quên cách viết chữ Cẩn) sự cảm mến nồng hậu. Trước khi làm tỉnh trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã nổi tiếng với những chiến công, nhứt là những trận đánh giải vây cho An Lộc, và một phần bên mặt bị thương, dù đã giải phẫu chỉnh hình vẫn còn để lại vết sẹo dài dọc theo hàm. Tác giả nhận xét Đại Tá Cẩn là “lính của lính, can trường và thanh liêm” (he was a soldier’s soldier, brave and incorruptible).



Người hùng tử thủ An Lộc, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (TLSĐ5BB) bắt tay Đại tá Tư Lệnh Phó SĐND trên đỉnh đồi Đồng Long ngày 12 tháng 6/1972.


Riêng Tướng Lê Văn Hưng, tác giả James E. Parker, Jr. ghi lại nhiều chi tiết hơn.

Trong suốt thời gian về làm việc tại vùng châu thổ Cửu Long (Vùng 4), chủ yếu tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận, tác giả do vai trò “case officer” trong ngành CIA nên luôn có dịp gặp Tướng Hưng. Ngày đầu tiên diện kiến ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tác giả “hơi lấy làm lạ” về cách đánh giặc và điều quân của Tướng Hưng là “thủ nhiều hơn công” khi đôi bên trao đổi và thảo luận, về kế hoạch quân sự trong vùng. “Tại sao lại đánh một trận chiến đang thua?” tác giả thắc mắc thì tướng Hưng cười và hỏi lại: “Tôi còn có những lựa chọn gì nữa đâu?” rồi chậm rãi nói tiếp – “Đây là đất nước của tôi.”

Sau nhiều tháng liên tục làm việc để lập mạng lưới tình báo tại vùng châu thổ, tác giả ghi nhận tướng Hưng dành rất nhiều thời giờ cho việc trận mạc: Sáng sớm thường đáp trực thăng đi thị sát và trao đổi với các đơn vị trưởng địa phương. Trở về họp tổng kết tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thỉnh thoảng họp khẩn về đêm. Càng về sau tác giả mới hiểu ra thêm tổng quan (outlook) của một ông tướng Việt Nam trong cuộc chiến giữa những người Việt Nam ngay trên quê hương của mình. Tướng Hưng tin rằng sự chiến đấu thực sự cho vùng châu thổ đang diễn tiến ở những nơi khác, có thể trong các cuộc họp hành ở Sài Gòn. Vả lại, là một người theo đạo Phật, ông tin vào định mệnh, những gì xảy ra với những hậu quả gì đem đến đều là sự an bài, xếp đặt trong vạn vật cả.

Tuy nhiên, tháng 2 năm 1975, theo đòi hỏi của cấp trên từ Cần Thơ và Sài Gòn, Tướng Hưng đã phát lệnh tấn công một lực lượng quân sự trọng yếu của Cộng Sản tại mạn đông của tỉnh Chương Thiện, nằm trong một mật khu lâu đời thuộc rừng U Minh
 
– Theo tác giả, đây là chiến dịch động binh lớn nhứt và khổ cực nhứt của Tướng Hưng với những điều kiện khó khăn và phương tiện hạn hẹp.
 
Chỉ còn cách tấn công địch theo lối “liệu cơm mà gắp mắm” thiếu hụt đủ thứ: Phi vụ không quân hạn chế nên không vận chuyển kịp thời các quân cụ, khí giới nặng, điều động nhanh các đơn vị chiến đấu tấn kích thần tốc. Quân đội Hoa Kỳ tuy để lại nhiều súng đại bác nhưng thiếu đạn, còn nhiều mìn claymore nhưng không có đủ bộ phận khởi động (activators), còn nhiều loại đạn dược, nhưng ngòi nổ đã tịt! Tuy vậy nhờ sự chỉ huy tài giỏi, sự can trường và thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lực lượng cộng sản Bắc Việt đã bị đẩy lùi sâu vào rừng U-Minh khi kết thúc chiến dịch.
 
Trận đánh lớn như vậy hẳn nhiên chiến trường tàn cuộc phải tang tóc, sự chết chóc và thương tật cả đôi bên phải nhiều. Tác giả ngậm ngùi ghi chép tâm trạng Tướng Hưng trong hoàn cảnh tàn cuộc chiến đó: General Hưng was not sure if he had, in fact, secured the net advantage. He had used much of his limited resources. For what? ...
 
He suffered extensive casualties.
 
Tướng Hưng không biết chắc là trong thực tế mình có thắng lợi thực sự hay không. Ông ta gần như đã xả láng những gì còn có trong tay. Để cho gì đây? Ông đã chịu đựng bao thứ tai ương.

Trong con người võ tướng còn có một văn nhân. Tác giả đã sống với Tướng Hưng những buổi chiều đằm thắm: Hỏi thăm chuyện gia đình, bàn chuyện nước Mỹ, chuyện thời sự, thảo luận văn chương. Kiến thức ông tướng uyên bác, nhiều nhà văn và tác phẩm văn chương Mỹ ông đề cập phần tác giả còn chưa đọc tới dù rằng là “mọt sách” đọc không dưới hai ba cuốn sách mỗi tuần.
 
Còn Tướng Hưng ưa kể chuyện lịch sử Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương. Ông ăn nói cân nhắc, từ tốn, luôn tươi cười, ngay cả những khi tranh luận các vấn đề quan trọng. Tướng Hưng có được những nét tự tin đặc biệt và quanh người ông như toát ra vẻ thanh thản, trầm tĩnh. Tánh tình khả ái, rất dễ gây được cảm tình của mọi người từ ông tướng đã thu phục “con tim” của một điệp viên Mỹ, tạo thành tình bạn thân thiết giữa hai người.

Và tác giả đã dành riêng phần lời bạt (Epilogue) để kể lại cái chết bi tráng, thương cảm của tướng Lê Văn Hưng. Dưới đây là phần dịch của Lời Bạt.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đúng lúc 7 giờ tối, Tướng Hưng, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là người bạn của tôi, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ.
 
Tướng Hưng cho vợ biết là có mười người dân địa phương đến thỉnh cầu ông đừng chống trả với lực lượng Việt Cộng đang tiến quân vô thành phố. Họ nói bọn Cộng Sản sẽ pháo kích nát Cần Thơ thành đống gạch vụn và gây thương vong cho nhiều dân lành.
 
 Tướng Hưng nói với vợ rằng ông hiểu rõ chuyện đó và đồng ý sẽ không để thành phố Cần Thơ biến thành một bãi chiến trường tuyệt vọng.
 
Ông cũng cho biết kế hoạch khẩn cấp rút lui cùng một số thuộc hạ vào một mật khu xa xôi vùng châu thổ đã hẹn trước, nơi sự sống khó tồn tại. Đầu hàng giặc không phải là một giải pháp lựa chọn.

Tướng Hưng cũng không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một quan chức Việt Cộng trách nhiệm trong vùng, Thượng Tá Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Châu thổ Nam Bộ cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân.
 
Ông có một trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ.
 
 Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.

Vợ của Tướng Hưng bật khóc và năn nỉ ông hãy suy tính lại. “Tại sao mình không thể bỏ ra ngoại quốc giống như những người khác?,” bà hỏi chồng.

Tướng Hưng lập lại lần nữa với vợ về trách nhiệm riêng đối với xứ sở và binh lính. Ông ôn tồn và chậm rãi nối tiếp: “Mình đừng để anh bị mất lòng kiên định. Giờ đây cứ đánh tiếp cũng chỉ đem lại rắc rối và mất mát không những cho gia đình và bà con mình, mà còn cho binh lính và dân lành nữa. Và anh không muốn thấy mặt thằng Cộng Sản nào hết.”
Rồi Tướng Hưng đứng dậy, ôm vợ vào lòng, và rớt nước mắt. Sau cùng, ông nói cùng vợ: “Lẹ lên đi mình, tới mời Má và dẫn các con vô đây gặp anh.”
Khi người Má vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông rồi, Tướng Hưng nói lời chia tay và cúi xuống hôn từng đứa con.

Bên ngoài văn phòng, nhiều sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.

Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi cho ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó. Bầu không khí xung quanh nặng nề. “Tôi xin chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em,” Tướng Hưng dứt câu.

Tướng Hưng đưa tay lên chào và đưa tay bắt từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về. Một vài quân nhân vẫn đứng tại chỗ không chịu lui bước, nên tướng Hưng buộc lòng phải bước tới đẩy và giục họ về. Rồi ông bảo vợ đừng có nài nỉ thêm điều gì nữa và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc.

Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng. (Hết trích)

Sau phần Lời Bạt, và xếp cuối trang sách “Last Man Out” James E. Parker Jr. đã chọn bài thơ của một chiến binh Mỹ ẩn danh (Làm tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, khoảng năm 1969). Từ và ý bài thơ hoa mỹ, lãng mạn và phảng phất siêu thoát, nhưng dứt bằng một câu thơ đầy hào khí tang bồng hồ thỉ như khí tiết của những chiến sĩ, hiệp khách Đông Phương:

Do not stand by my grave and weep:
I am not there. I do not sleep…
I am a thousand winds that blow
I am the diamond’s glint on snow
I am the sunlight on ripened grain
I am the gentle autumn’s rain
When you awake in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circle flight
Do not stand by my grave and cry:
I am not there. I did not die.

Tạm dịch nghĩa:
Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời
Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
Anh không ở trong mộ này. Anh không chết đâu em.

Bài thơ không tựa và tác giả ẩn danh trên, tác giả James E. Parker Jr. xếp liền ngay sau phần mô tả cái chết của Tướng Hưng để xem như vòng hoa tang cho một ông tướng cốt cách hào hoa. Bởi vì trong đời thường và trong quân ngũ, tướng Hưng vẫn không giấu được ngay cả dưới lớp quân phục những nét nho nhã và dáng hào hoa của một người đàn ông.
 
Nhiều người nhận xét, Tướng Lê Văn Hưng “có tướng quan văn hơn là võ tướng,” chẳng qua ông quan văn này phải khoác chiến y, áo giáp đỡ đạn trong thời chiến và trên chiến trường mà thôi! Tướng Hưng cũng có tiếng là “người chịu chơi,” nhứt là thời còn trai trẻ, sĩ quan còn mang lon cấp úy, cấp tá, nhiều phen “quậy tới bến” sau chiến trận được về lại hậu cứ nghỉ ngơi. Ôi, đó là những năm anh còn trẻ của một người trai thời ly loạn sống nay chết mai. Thiết nghĩ không ai quá khắt khe đối với ông tướng.

Nhưng rồi ông tướng không mấy năm sau đó cũng có cơ hội, gặp thời thế để trả nợ chí trai và làm đẹp non sông: Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa anh hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử và quân sử Việt Nam.

Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm “Last Man Out,” tác giả James E Parker, Jr. chính vì vậy đã xếp bài thơ không tựa, không tên tác giả với câu thơ chấm dứt:
I am not there. I did not die.

Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như quân huấn của danh tướng Douglas MacArthur:

“Duty, Honor, Country.”





Vụ tử vong sau khi CSGT thổi phạt: Khởi tố 2 kẻ "nhiều chuyện"


 

Vụ tử vong sau khi CSGT thổi phạt: Khởi tố 2 kẻ "nhiều chuyện"


Thứ Hai, 22/04/2013 18:10

(NLĐO) - Hai hung thủ bị khởi tố tội cố ý gây thương tích khai nhận do thấy ông Hiền cãi nhau to tiếng với CSGT nên... tức (!?) và đuổi theo đánh nạn nhân chấn thương sọ não, sau đó tử vong


·         Một cái chết bất thường


Ngày 22-4, tin từ Cơ quan CSĐT Công an quận Tân Phú - TPHCM cho biết đã khởi tố bị can đối với Lê Thanh Bằng (SN 1977, ngụ Bến Tre) và Lê Văn Tòng (SN 1995, ngụ Tiền Giang) về tội cố ý gây thương tích.

 

Đây là 2 đối tượng vô cớ đánh chết ông Trần Văn Hiền (SN 1971, ngụ phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân) vào tối 9-4.

 

Như Báo Người Lao Động đã thông tin, tối 9-4, ông Hiền đi uống bia với em trai là Trần Văn Hậu (SN 1972) và ông Ngô Quang Ý (SN 1966) tại một quán nhậu trên đường Lê Trọng Tấn (quận Tân Phú).

 

Theo tường trình của ông Hậu và ông Ý, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi  mỗi người uống khoảng 5 chai bia, cả 3 ra về. Họ vừa sang đường thì ông Hiền, ông Ý bị lực lượng CSGT của quận Tân Phú chặn lại đo nồng độ cồn và lập biên bản tạm giữ xe.

 

Ông Hiền xin đưa tiền để được cho đi nhưng nhóm CSGT từ chối. Do có uống bia, thiếu kiềm chế, ông Hiền đã cãi vã với nhóm CSGT rồi giơ ĐTDD dọa chụp hình.


 


Nơi 2 đối tượng vô cớ đánh ông Hiền vào tối 9-4 trên đường Lê Trọng Tấn (quận Tân Phú – TPHCM)

 

Với ông Hậu, khi về đến nhà thì nhận được điện thoại của anh trai báo bị CSGT giữ xe nên đón xe ôm ra hiện trường. Đến nơi, ông Hậu thấy ông Ý và Hiền vẫn đang cãi nhau với CSGT nên khuyên can rồi cả 3 tự đón xe ôm về.

 

Theo lời ông Hậu, sau khi ông Hiền chết, ông quay lại hiện trường thì nghe 2 bảo vệ Công ty Cổ phần Bánh kẹo Givral kể rằng: Khi xe ôm chở ông Hiền đi được khoảng 300 m thì có 2 thanh niên mặc thường phục đi chung xe hiệu SH đuổi theo. Đến trước cổng Công ty Givral, 2 thanh niên đánh ông Hiền khiến nạn nhân ngã xuống đường. Thấy vậy, người lái xe ôm bỏ chạy, còn 2 tên thanh niên tiếp tục đánh đấm ông Hiền cho đến khi nạn nhân van xin mới bỏ đi.


Hai bảo vệ đã gọi cho công an phường đến đưa nạn nhân đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tân Bình. Lúc người nhà đến bệnh viện thì ông Hiền đã tử vong.


 


Người thân tổ chức đám tang cho ông Hiền

 

Theo giấy xác nhận của Công an quận Tân Phú gửi UBND phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân), ông Hiền bị đánh chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

 


Công an quận Tân Phú  xác nhận nguyên nhân ông Hiền tử vong do bị đánh chấn thương sọ não.

 

Sau khi báo chí thông tin, biết không thể trốn thoát, tối 16-4, Tòng và Bằng đã đến Công an quận Tân Phú đầu thú.

 

Theo lời khai ban đầu của hai đối tượng này, vào tối 9-4, khi đi trên đường Lê Trọng Tấn, nhìn thấy ông Hiền to tiếng cãi nhau với tổ CSGT đang làm nhiệm vụ nên cả hai thấy… tức (?). Sau khi ông Hiền gọi xe ôm chở về, Bằng và Tòng dùng xe SH đuổi theo đánh ông khiến nạn nhân sau đó tử vong vì chấn thương sọ não.

 

Cũng theo cơ quan CSĐT Công an quận Tân Phú, 2 kẻ đánh chết ông Hiền hoàn toàn không liên quan đến tổ CSGT thổi phạt ông vào tối 9-4.

Tin - ảnh: T. Tiến

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link