Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, May 13, 2013

DÂN CHÁN ĐẢNG -LÃNH ĐẠO TUỘT DỐC Ở VIỆT NAM


 

DÂN CHÁN ĐNG -

LÃNH ĐO TUT DC VIT NAM

 

Phạm Trần

 

Hội nghị Trung ương 7 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), từ 02 đến 11 tháng 05 (2013), đã lộ ra những bất ổn trong nội bộ ngày một nghiêm trọng và uy tín lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xuống thấp trước giữa nhiệm kỳ 5 năm.

Bằng chứng  đã tập trung vào 4 lĩnh vực  trong Bài diễn văn khai mạc Hội nghị của ông Trọng:

-Thứ nhất, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở lỏng lẻo, chồng chéo, rườm rà, tự duy cán bộ, đảng viên chậm đổi mới, tiếp tục đùn đầy trách nhiệm và vô trách nhiệm.

-Thứ hai, Đảng không nắm được dân, dân ngày một xa đảng, thù ghét cán bộ.

-Thứ ba, Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đã thất bại, các tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền tiếp tục lan rộng. Suy thoái tư tưởng và mất phẩm chất chưa có dấu hiệu suy giảm.

-Thứ 4, Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược gặp khó khăn, các phe nhóm lợi ích trong đảng, quân đội và công an tiếp tục lũng đọan, phá nhau để bảo vệ quyền lực, chống “đổi mới chính trị”.

Vế điểm một, ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận sau hai khoá đảng IX và X, tổng cộng 10 năm, hệ thống lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn : “ Chưa được phát huy đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chậm được nâng cao; việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa mạnh, tình trạng "hành chính hóa " chậm được khắc phục ? Vì sao c ải cách hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; bộ máy tổ chức và tổng biên chế vẫn tiếp tục phình to, nhất là ở cấp tổng cục, các đơn vị trực thuộc bộ và chính quyền cơ sở. Tình trạng "tách ra, nhập vào", "nhập vào, tách ra" vẫn lặp đi lặp lại.”

Nhưng tại sao lại có tình trạng này sau  12 năm Việt Nam bắt đầu thực hiện cuộc Cải cách Hành chính (CCHC) từ 2001 ?

Lý do chính và quan trọng nhất là “không ai muốn thay đổi vì thay đổi là thất thu cho bản thân và phe nhóm” nên người dân ở Việt Nam đã quen gọi “hành là chính” trong muôn vàn lọai giấy tờ và quyết định, nghị định dù Chính phủ biết không đem lại kết qủa  cũng cứ ban hành để vừa làm vừa sửa rồi không sửa gì cả, để mặc cho dân chịu những hậu qủa !

Vì vậy, sau 10 năm “cải cách hành chính” từ 2001 đến 2010 (nhiệm kỳ đảng IX và X thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh), Chính phủ thừa nhận : “Tuy vậy, 10 năm thực hiện CCHC vẫn còn có những hạn chế, yếu kém như tốc độ chậm, kết quả chưa được như mục tiêu đặt ra: Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, vẫn chồng chéo, nhiều về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng; các đầu mối trực thuộc CP giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa giảm; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng; cải cách tài chính công mới chỉ là bước đầu, kết quả còn hạn chế...

Đặc biệt, cải cách tiền lương vẫn còn chậm, lương chưa chưa trở thành động lực cho cán bộ, công chức phấn đấu và cống hiến.” (Báo ViệtNamNet, 02/04/2011) 

Báo cáo tổng kết CCHC 10 năm cũng nhìn nhận một bộ phận cán bộ, công chức còn "thiếu trách nhiệm, chưa thạo việc, hạn chế về năng lực” nhưng số nhân viên vẫn mỗi ngày một nhiều thêm, thay vì bớt đi như kế họach đã đề ra.Trong một bài nghiên cứu Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học  Nguyễn Văn Thâm của Học Viện Hành chính Quốc gia viết : “Những tồn tại qua hơn 10 năm cải cách nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều. Có thể kể ra những tồn tại chính như sau:

Bộ máy hành chính vẫn mang nặng nhiều dấu ấn cũ trong quá trình điều hành (quan liêu , bao cấp), không theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới, Cụ thể:

- Chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chế thị trường;

- Hệ thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất. Thủ tục hành chính vẫn còn nhiều điều rườm rà, nặng nề. Kỷ cương quản lý không nghiêm. Nạn lãng phí, tham nhũng không bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng trầm trọng;

- Bộ máy vẫn còn cồng kềnh. Phương thức quản lý vừa quan liêu vừa phân tán. Không nắm hết được yêu cầu của dân.

- Cơ chế tài chính không thích hợp.

Công chức còn nhiều người yếu kém về năng lực chuyên môn, tinh thần trách

nhiệm, phẩm chất chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng.”

Ông Trọng thay ông Nông Đức Mạnh lãnh đạo đảng kể từ ngày 19/1/2011 nhưng những điều Giáo sư Nguyễn Văn Thâm nêu ra vẫn còn nguyên nên ông Trọng mới nói thêm trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 rằng : “ Hoạt động của nhiều ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối vẫn lúng túng. Giữa các bộ, ngành vẫn còn một số nội dung quản lý nhà nước trùng lắp hoặc chưa được phân công cụ thể, rõ ràng. Việc phân cấp của Trung ương cho chính quyền địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới nhìn chung chưa thật hợp lý; có lĩnh vực quá rộng, thiếu sự kiểm tra, giám sát, ảnh hưởng đến sự quản lý thống nhất cả nước; có lĩnh vực lại quá hẹp, không phát huy được quyền chủ động, tính năng động, sáng tạo của địa phương. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện sau khi sắp xếp lại tuy có giảm đầu mối trực thuộc ủy ban nhân dân nhưng lại tăng các đơn vị bên trong các sở, ngành. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vị trí, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Vấn đề biên chế, phụ cấp cho cán bộ cơ sở vẫn chưa có lời giải thấu đáo. Số các hội quần chúng được lập mới vẫn tăng nhanh, một số hội đề nghị có biên chế cán bộ, công chức và hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước...”

Như thế rõ ràng là cả hệ thống cầm quyền từ Trung ương xuống cơ sở đã chưa làm theo quyết định của Bộ Nội vụ khi tổng kết 10 thi hành CCHC và đề ra nhiệm vụ cho 5 năm (2011-2016).

 

Báo cáo do Tiến sỹ  Vũ Văn Thái, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Biên chế, Bộ Nội vụ đề ra các nhiệm vụ này gồm :

 

- Nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đáp ứng tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng XI và tạo cơ sở pháp lý để cải cách cơ bản hơn hệ thống các cơ quan hành chính các cấp.

- Xây dựng đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ khoá XIII theo yêu cầu, nâng cao hàm lượng cải cách để tổ chức được tinh gọn, hợp lý hơn. Theo đó, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thống nhất với cơ cấu tổ chức Chính phủ sau khi được điều chỉnh, sắp xếp lại.

- Xây dựng, hoàn thiện thể chế tổ chức bộ máy, đặc biệt là ban hành Nghị định quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; các Nghị định riêng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ, nhất là đối với những bộ được sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức.

-Tiếp tục rà soát, điều chỉnh việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực giữa Trung ương và địa phương theo yêu cầu giảm mạnh quan hệ “xin - cho” trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

-Nghiên cứu hình thành một cơ quan ngang tầm để thực hiện chức năng chủ sở hữu, và giám sát hoạt động đối với các doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện việc tách căn bản giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý của doanh nghiệp.

-Hoàn thiện cơ chế quản lý đối với khu vực sự nghiệp công, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công.

-   Đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn với giảm quan hệ “xin – cho” và kiểm soát thủ tục hành chính, trong việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước.

Như vậy, liệu thời gian còn lại chỉ còn hơn 2 năm sẽ đến Đại hội đảng XII (nhiệm kỳ 2016-2021), đảng có đủ thời giờ để làm sạch mình và canh tân guồng máy cai trị không ?

Và nếu không (phần nhiều là không) thì hậu qủa của “hệ thống chính trị” sa lầy này sẽ đưa dân đi về đâu ?

Ngay trong trường hợp Hội nghị Trung ương 7 có “sáng kiến” cho đảng và luôn để giúp bản thân 200 Ủy viên thì cũng để nằm trên giấy, khó mà biến thành hiện thực như đã chứng minh từ bấy lâu nay.

DÂN VẬN HAY LÀM CHO DÂN GIẬN ?

Về công tác “Dân vận”  ông Trọng thắc mắc : “Vấn đề đặt ra là vì sao lúc này chúng ta lại phải bàn về đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận ? “

Không có gì khó hiểu cả. Nếu ông Trọng trả lời được tại sao cái gì đảng cũng nói là “của dân, do dân và vì dân” mà đảng và cán bộ, đảng viên nắm tất cả và có tất cả còn dân thì trắng tay ?

Đảng nói “nhân dân làm chủ” nhưng lại để cho Nhà nước “qủan lý cái dân làm chủ” như không cho dân được quyền tự do ứng cử, bầu cử, tự do lập hội, tự do biều tình, tự do ra báo và tự do thờ phượng và hành đạo, không cho dân có quyền làm chủ ruộng vườn do cha ông đã dầy công khai phá để lại thì làm sao mà đảng nói dân nghe lọt lỗ tai ?

Đảng và ngay cả Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã nhiều lần kêu gọi dân giúp đảng vạch mặt, chỉ tên những kẻ có chức, có quyền đã đục khoét công qũy, rút của mồ hôi nước mắt của dân để thanh toán “quốc nạn” tham nhũng, và truy tố những kẻ áp bức, đe dọa dân nhưng lại không dám bảo vệ dân để không bị kẻ ác trù dập thì có ai dám “đưa đầu ra cho chúng báng” ?

Lại nữa, khi người dân bị lấy đất, bị cưỡng chế bằng bạo lực thì nhà nước lại bênh vực kẻ có tiền, chủ đầu tư để mặc cho dân bị mất công bằng và bị bóc lột đến trắng tay bại sản thì nhân dân tin ai ?

Đấy cũng là nguyên do của các vụ người dân đã không ngại đường xa, nằm đường xó chợ về tận Trung ương, ăn vạ trước Nhà các Lãnh đạo để  khiếu kiện đông người, hoặc phải tấn công vào các Trụ sở Ủy ban Nhân dân để đòi công bằng đã diễn ra khắp nước chỉ vì các cấp chính quyền đã đùn đẩy cho nhau đến vô cảm trước đau khổ, đói nghèo của dân.

Ngay đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân chống mọi mưu toan chiếm đất, chiếm biển Việt Nam của Trung Cộng mà nhà nước cũng ra tay đàn áp, bắt dân bỏ tù để làm hài lòng “các đồng chí anh em” Bắc Kinh thì làm sao mà dân không nghi ngờ trong đảng đã có những kẻ “nối giáo cho giặc” hoặc “cõng rắn cắn gà nhà” như lời cảnh báo của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang ?

Vì vậy, ông Nguyễn Phú Trọng đã “bắt trúng mạch” bất mãn của dân khi ông nhìn nhận : “Phải chăng là do bối cảnh, tình hình đã và đang có nhiều thay đổi. Bên cạnh mặt thuận lợi cơ bản, cũng xuất hiện không ít khó khăn, thách thức mới, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới và bản thân công tác dân vận hiện còn những hạn chế, yếu kém? ….Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân cực, phân tầng xã hội; những biến đổi về quan hệ lợi ích, hệ giá trị xã hội; sự cách biệt về kinh tế, xã hội… làm nảy sinh tiền đề của sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng…. Những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... đang làm tổn thương đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của nhân dân.”

Ông Trọng nói đúng và trúng. Nhưng khi ông “chạy quanh” đổ vạ chuyện rối ren nội bộ, ruỗng rữa trong hàng ngũ là do “các thế lực thù đich” đã lợi dụng cơ hội để “nói xấu chế độ” và “bôi nhọ đội ngũ lãnh đạo” là ông không thành thật chịu trách nhiệm của một người lãnh đạo.

Ông nói : “Lợi dụng những khó khăn của nước ta trên con đường phát triển, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hòa bình", xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nói xấu chế độ, bôi nhọ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tìm mọi thủ đoạn phân hóa nội bộ Đảng, kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.”

Ông Trọng và các lãnh đạo Nhà nước hãy nghiêm chỉnh soi gương xem trên mặt mình có vết nhám nào không rồi hãy lên án những người chỉ trích mình thì có lẽ phải đạo hơn là cứ nhắm mắt che dấu những khuyết điểm của mình và của đồng chí để tạo  nghi ngờ trong dân, trong khi không lo sửa mình như Nghị quyết Trung ương 4 đã đòi hỏi.

CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC VÀ LÁ PHIẾU TÍN NHIỆM

Điểm thứ ba, tuy ông Trọng nói dài về kết qủa 1 năm sau ngày thi hành Nghị quyết 4 về  "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" nhưng ông không “vớt vát” được những mất mát nghiêm trọng do chính ông gây ra tại Hội nghị Trung ương 6.

Tại Hội nghị 6,  ông Trọng đã để cho các phe phái thao túng Ủy ban Trung ương đảng để  đưa đến việc không kỷ luật Bộ Chính trị và cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dù ông Dũng và một số người khác đã có “có biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó, đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.”

Mặc dù tại Hội nghị 7 ông Trọng nhìn nhận “trong hơn một năm qua, dù thời gian còn ngắn, nhiều việc mới triển khai hoặc chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng được kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân…”, nhưng ông không lấy lại được niềm tin trong dân mà ông và Ban Chấp hành Trung ương đã đánh mất  tại Hội nghị 6.

Ông Trọng đã thất bại và uy tín của ông cũng đã xuống dốc như chiếc xe mất  thắng sau hơn 2 năm lãnh đạo. Những điều ông “phân bua” trong Diễn văn khai mạc Hội nghị 7 về Nghị quyết 4 chỉ làm cho đảng viên và người dân đứng xa ông hơn.

Do đó, những gì ông nói về công tác được gọi là “xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” cho niên khóa đảng XII (20016-2021) cũng không gây được ấn tượng gì trong nhân dân, nếu lấy kinh nghiệm “mánh mung, phe cánh, chạy chọt, đùn đầy, chia chác” đã diễn ra tại Đại hội đảng XI để soi gương.

Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy ông Trọng đã rào đón rằng : “Đây là lần đầu tiên Trung ương tiến hành xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, chắc là không tránh khỏi những mặt còn hạn chế, chúng ta sẽ vừa làm vừa rút kinh nghiệm.”

Nhưng Đảng đã có qúa nhiều kế họach, dự án kinh tế được gọi là “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” để sau đó đổ vỡ, lãng phí không biết bao nhiêu triệu tỷ đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân như  “phong trào mía đường”, “nhà máy xi-măng”, “bến cảng” đến “đánh bắt xa bờ”.

Ngay cả “dự án khai thác Bauxite” trên Tây Nguyên cũng đang lâm vào ngõ bí thì có hy vọng gì trong dự án “quy họach cán bộ cấp chiến lược” cho tương lai đảng sẽ bảo đảm không xẩy ra nạn bè phái, bênh che, nể nang, chạy chọt của các “nhóm lợi ích” đang lũng đọan trong Quân đội, Công an và bộ máy kinh tế-tài chính ở Việt Nam ?

Ấy là chưa kể đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khai mạc ngày 20/5 (2013) sẽ có việc thảo luận việc “lấy phiếu tín nhiệm” 49 Chức danh do Quốc hội phê chuẩn.

Nhiều lời cảnh giác trong dân về dự phòng sẽ có tình rạng “chạy chức chạy quyền”, “bỏ phiếu cho có lệ”,  “chín bỏ làm mười”, “nay anh mai tôi”, “cùng đồng chí với nhau” ai nỡ làm khó nhau, “chạy cửa hậu”  v.v… đã đến ngưỡng cửa Quốc hội.

Các chức danh sẽ “bị” lấy phiếu  tín nhiệm tại Quốc hội gồm :  Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước.

Nhưng từ khi “lấy phiếu” đến giai đòan “bỏ phiếu tín nhiệm”  còn dài.

Theo dự kiến thì người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm”.

Đây sẽ là cuộc trắc nghiệm mới mà 500 Đại biểu Quốc hội phải chứng minh với nhân dân xem họ có thật lòng muốn “đổi mới bộ mặt chính trị” của Việt Nam hay sẽ lại  tiếp tục đi theo đường cũ “đảng bảo sao tôi làm vậy” như từng xẩy ra trước đây.

Vì vậy mọi con mắt ở Việt Nam đang tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội có ảnh hưởng đến địa vị chính trị của ông hay ông sẽ thoát khỏi thêm lần nữa như đã xẩy ra tại Hội nghị Trung ương 6 ?


Phạm Trần
(05/013)

__._,_.___

TẠI SAO NƯỚC ĐÃ THỐNG NHẤT MÀ LÒNG DÂN THÌ KHÔNG ?


 

 TI SAO NƯỚC ĐÃ THNG NHT              MÀ LÒNG DÂN THÌ KHÔNG ?

 

·       Đảng ngồi lên Hiến pháp ở Hội nghị Trung ương 7

 

Phạm Trần

 

 

Cứ mỗi dịp 30-4 về, vết thương dân tộc lại bị bóc ra cho máu chảy. Năm 2013 cũng  như  37 năm trước, không thay đổi.

 

Tại sao ?

Nói như  ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài (UBNNVNVNONN)  thì nguyên nhân “do cả hai phía”, Chính phủ Việt Nam và Kiều bào, nhưng phía nào có trách nhiệm cao hơn ?

Ông Sơn nói với Báo Thanh Niên ngày 30-4-2013 : “Thực tế đúng là chúng ta chưa làm tốt được vấn đề đại đoàn kết dân tộc, xóa đi hận thù, xóa đi những rào cản từ quá khứ chiến tranh. Nguyên nhân tôi cho là do cả hai phía. Từ thực tế ấy đòi hỏi phía Nhà nước cần tiếp tục có những quyết sách hợp lý đem lại sự tin tưởng cho dân nói chung. Tức là cần có những chính sách đem lại lợi ích thiết thực cho kiều bào như các chính sách về quốc tịch, xuất nhập cảnh, hồi hương rồi các vấn đề liên quan đến chuyện kiều bào về đầu tư trong nước.”

Nhưng những thứ  được ông Sơn cho  là “lợi ích thiết thực” của “kiều bào”, thiết tưởng không quan trọng và tác động mạnh khiến  kiều bào phải xa lánh Việt Nam bằng những hành động  kỳ thị, bóc lột và đàn áp người dân của nhà nước trong các vụ cướp đất trằng trợn ở  Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Định) và  ở Tiên Lãng (Hải Phòng) đối với gia đình hai anh em ông Đòan Văn Vươn và Đòan Văn Qúy.

Hình ảnh từ các vụ này và những cuộc biểu tình, khiếu kiện đông người khác của người  dân đi đòi công bằng, chống bất công và tố cáo cán bộ, đảng viên tham nhũng đang xẩy ra từ Tỉnh, Thành lên đến Trung ương ở Việt Nam đã cho kiều bào thấy rõ  ở Việt Nam không có  một “Nhà nước pháp quyền” như đảng tuyên truyền.

Ngòai ra việc các “chủ qủan của các dự án kinh tế và  xây dựng đô thị”, như Ecopark (Hưng Yên) không chỉ có  “các nhóm lợi ích” thế lực  và  có tiền  được nhà nước ưu đãi mà còn có thể cấu kết với chính quyền để  sử dụng quân đội, công an và côn đồ để cưỡng chế mà không hề bị truy tố thì kiều bào chỉ thấy đó là một chính quyền đã bị băng đảng chi phối !

Nếu cần phải liệt kê thêm những việc Việt kiều rất sợ về Việt Nam để “hòa hợp” với nhà nước thì các vụ người dân biểu tình bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chống chủ trương lấn chiếm biển đảo Việt Nam của Trung Cộng ở Biển Đông trong hai năm 1011 và 2012, từ Sài Gòn ra Hà Nội, đã bị công an đàn áp dã man, bắt bỏ tù là một bằng chứng khác.

Vì vậy khi ông Sơn nói rằng : “38 năm nay mình vẫn nói là thống nhất đất nước. Nhưng thống nhất đất nước mà chưa thống nhất được lòng người bởi lẽ còn một bộ phận người VN ở nước ngoài vẫn đang tiếp tục có những hành động đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc” là ông muốn quanh co, tránh né  sự thật là đảng CSVN từ khi có Nghị  quyết 36 ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, chưa bao giờ thật lòng muốn “hòa giải” với người Việt Nam ở nước ngòai mà chỉ muốn người bỏ nước ra đi quay về “hòa hợp” vào với guồng máy cai trị độc tài của đảng để xây dựng đất nước theo chỉ thị và ý muốn của chính quyền.

LÝ DO VIỆT KIỀU LÃNH ĐẠM

Nhưng thế nào là “lợi ích chung của dân tộc”, theo định nghĩa của nhà nước Việt Nam ? Phải chăng đó là khi người Việt ở nước ngòai không còn chống Việt Nam vi phạm các quyền con người, không lên án và tố cáo trước dư luận thế giới mỗi khi công an bắt người vô cớ, bỏ tù tùy tiện và xử án bất công những công dân dám can đảm đấu tranh cho dân chủ và đòi quyền được tự do ngôn luận, và chấm dứt các cuộc biểu tình lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền và nhu nhược trước đe dọa xâm lăng của Trung Cộng  ?

Những vụ án xử bất công đối với Linh mục Nguyễn Văn Lý, Ông Vi Đức Hồi, Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ, Kỹ sư tin học Trần Hùynh Duy Thức, các Nhà báo tự do Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần v.v…đã chứng minh cho lý do tại sao đảng CSVN đã không thể “hòa hợp” hay “hòa giải” được với “Việt kiều” vì đảng vẫn  tiếp tục đàn áp các công dân  muốn thực thi các quyền tự do đã được Hiến pháp công nhận.

Nếu ông Thứ trưởng Ngọai giao chuyên trách về người Việt Nam ở nước ngòai Nguyễn Thanh Sơn vẫn  chưa hiểu tại sao, sau 38 năm “đất nước đã quy về một mối”mà nhà nước CSVN chưa được 400,000 trí thức Việt kiều về giúp nước thì nên hỏi thẳng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xem có cần phải “vạch áo cho người xem lưng” nữa không ?

Việc nổi bất nhất cần nói cho “bàn dân thiên hạ” biết về tính siêu việt bôi bác của đảng là chuyện thời sự phản dân chủ của  bản Hiến pháp 1992 sửa đổi sẽ được thảo luận tại Quốc hội trong 2 ngày 10 và 11/06/2013, sau khi đem ra “trình làng” với Bộ Chính trị và Hội nghị Trung ương đảng kỳ 7.

Dù không có điều nào trong 5 Hiến pháp từ 1946,1958,1980,1992 và 1992 (sửa đổi) cho phép Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương được “làm, sửa đổi và thảo luận Hiến pháp” nhưng đảng vẫn tiếm quyền không coi pháp luật ra gì thì làm sao mà dân có thể chấp nhận được, nói chi đến hàng ngũ Việt kiều, những người sống và hiểu biết các chế độ dân chủ tại các nước sở tại hơn ai hết ?

Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban sọan thảo Hiến pháp sửa đổi Nguyễn Sinh Hùng khoe có đến 26 triệu, nhưng có báo nói đã vượt lên 28 triệu lượt người góp ý và đa số tán thành nội dung mới, trong đó không ai dám đụng tới Điều 4 dành độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” cho đảng mà không cần có  bầu cử !

Đảng cũng không chịu để cho dân có quyền quyết định tối hậu sau khi Hiến phápo dự thảo được 2/3 tổng số 500 Đại biểu Quốc hội chấp thuận, dự trù vào tháng 11 năm 2013.

Đã có ý kiến của Chính phủ đề nghị viết điều “quyền lập Hiến thuộc về tòan dân” và dân có quyền bỏ phiếu tán thành hay bác bỏ Hiến pháp trong một cuộc Trưng cầu ý dân, sau khi Quốc hội đồng ý.

Nhưng vì hiện nay chưa có Luật Trưng cầu Ý dân nên Hiến pháp năm 2013 sẽ “không có trưng cầu ý dân” sau cuộc bỏ phiếu sau cùng của Quốc hội.

Việc này đã gặp chống đối ở trong nước và đã có nhiều ý kiến muốn Bộ Chính trị hãy bình tâm suy nghĩ lại vì đây là dịp bằng vàng để người dân Việt Nam thực thi quyền dân chủ của mình để thay đổi vận nước.

Tuy nhiên, cứ theo như ngôn ngữ phát ra từ miệng lưỡi một số Lãnh đạo, đứng đầu từ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì đề nghị này sẽ không được chấp thuận với lý do Quốc hội chưa chuẩn bị kịp để  làm Luật Trưng cầu ý dân !

Bằng chứng đảng áp đặt Quốc hội “phải làm Hiến pháp theo ý đảng”  đã được ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng  xác nhận trong diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 ngày 02/05 (2013).

Ông nói : “Bộ Chính trị cũng đã thảo luận, có ý kiến chỉ đạo định hướng cho việc tiếp thu, giải trình. Đề nghị các đồng chí Trung ương bám sát Cương lĩnh của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 2 và Hội nghị Trung ương 5 về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nghiên cứu thật kỹ, thảo luận thật sâu các nội dung Báo cáo giải trình, tiếp thu và bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mà Ủy ban sửa đổi Hiến pháp trình, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng. Tinh thần chung là phải chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu tối đa những ý kiến hợp lý; kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và Nhà nước ta, tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.”

Khi ông Trọng yêu cầu các đại biểu phải  “bám sát” Cương lĩnh Đảng và các  Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 2 và Trung ương 5 là ông muốn Ban Chấp hành phải kiên định hai điều cốt lõi : Đảng phải là lực lương duy nhất lãnh đạo đất nước và không bỏ Chủ nghĩa Cộng sản.

Thái độ bảo thủ, cực đoan và giáo điều của ông Trọng đã đi ngược lại đòi hỏi của một số đông Trí thức, đảng viên và người dân đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp dành độc quyền lãnh đạo cho đảng và chống việc bắt buộc người dân phải đi theo Chủ nghĩa lỗi thời  Cộng sản.

Như vậy  thì thử hỏi làm sao mà Việt kiều có thể “nhắm mắt” cho đảng “tự tung tự tác” được  mà nói tại sao hai bên chưa thể hòa hợp và hòa giải với nhau vì còn “nhiều vướng mắc do chiến tranh để lại”  ?

Trong khi ấy thì hiểm họa bị mất biển đảo vào tay Trung Cộng đã đến gần, không ai không nhận ra mà lãnh đạo thì cứ nhắm mắt tin vào anh hàng xóm “nói chưa bao giờ  đi đôi với việc làm” để mị dân “cần ổn định để phát triển”, không dám cho dân xuống đường biểu tình phản đối hay tố cáo mạnh mẽ trước Liên Hiệp Quốc và dư luận Thế giới ?

Thái độ qụy lụy đến nhu nhược trước Trung Cộng  của Lãnh đạo đảng CSVN đã bị nhiều giới Trí thức, người dân và đảng viên lên án nhưng đảng lại tăng cường lực lượng công an để theo dõi và khủng bố tinh thần những ai có thái độ bất thân thiện với Bắc Kinh thì làm sao mà 4 triệu người Việt Nam ở nước ngòai có thể yểm trợ cho Việt Nam khi bị Trung Cộng xâm lăng ?

TÂM TƯ 38 NĂM “GIẢI PHÓNG”

Vì tình trạng đất nước đang ở ngã ba đường cực kỳ nguy hiểm như thế nhưng nhà nước lại không lo tổ chức quần chúng để tạo sức mạnh đòan kết chống xâm lăng khi sơn hà nguy biến nên một số Nhà văn, Nhà báo trong nước đã giãi bầy tâm trạng lo âu và hoang mang của họ vào dịp 30-4.

Hãy đọc “Ba mươi tám năm nhìn lại “ của Đoàn Nam Sinh: “Hôm nay đi ngang qua trụ sở công quyền, câu khẩu hiệu mừng ngày thống nhất và giải phóng miền nam khiến mình nghĩ lại. Giang sơn liền một dải nhưng lãnh thổ đã vẹn toàn chưa ? Trăm họ cùng một Tổ nhưng đã đoàn kết thương yêu nhau chưa ? Quyền hiến định của toàn dân được công khai thống nhất ý chí xây dựng Hiến Pháp đã thực hành chưa ? Truyền thống văn hiến trong văn hóa giáo dục thống nhất chưa ? Còn rất nhiều câu hỏi căn bản mà có cùng câu trả lời là chưa thống nhất.”


Nếu giải phóng miền Nam với nghĩa là giúp miền nam thoát khỏi sự phủ trùm về kinh tế, văn hóa, chính trị,… của tư bản phương tây thì chắc không phải; hay là công nhân không bị giới chủ bóc lột, lại càng không phải. Vậy chắc giải phóng là gỡ ra khỏi sự ràng buộc, lệ thuộc vào Mỹ ? Thế thì đưa cả nước vào tròng nô dịch, lệ thuộc vào Trung Cộng là đúng chăng ? Hàng triệu người đang rên siết trong tăng ca, hàng chục vạn người đang phải bán sức lao động xứ người, làm nô lệ tình dục xứ người,… là nhờ ai giải phóng,… Rồi mai ai sẽ giải phóng ai ? (Trích từ mạng Quê Choa của Nhà văn Nguyễn Quang  Lập)

Đến phiên Nhà văn Bùi Công Tự thì ông cũng  giãi bày tâm tư của mình trong “Đôi Điều Suy Nghĩ về Hoà Hợp Dân Tộc” vào ngày 30-4 như thế này : “ Thế hệ những người như tôi sinh ra cùng Cách mạng tháng Tám, cùng nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Cả một thời lịch sử oanh liệt và bi thương đi qua mái tóc bạc cùng cả một đời mong mỏi. Thời kháng chiến 9 năm thì mong đến “Ngày Độc lập”, sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 thì lại mong đến “ngày Thống nhất”. Rồi ngày ấy cũng đến, ngày 30 tháng Tư năm 1975 được coi là ngày thống nhất đất nước.

Báo chí ngày ấy nhắc đi nhắc lại câu: “Non sông đã thu về một mối”. Nhưng ít người để ý rằng “lòng người còn trăm mối ngổn ngang”. Người giải phóng trong cơn say chiến thắng cứ đinh ninh nghĩ rằng mình “chiến đấu và chiến thắng kẻ thù” mà có biết đâu là mình “chiến đấu và chiến thắng đồng bào của mình….

 

Băn khoăn như thế nên ông Bùi Cộng Tự thắc mắc : “Tôi cứ tự hỏi tại sao ngày ấy chúng ta phải giam giữ hàng vạn đồng bào (sỹ quan binh lính Việt Nam cộng hòa) khi họ đã buông súng đầu hàng? Những nhà tù được gọi là “trại cải tạo” ấy chẳng những không “cải tạo” được ai mà còn chuốc thêm thù oán. Tại sao chúng ta lại để cho hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi khiến ngôn ngữ loài người có thêm từ ngữ “thuyền nhân”? Tại sao chúng ta lại chiếm đoạt các nhà máy, cửa hàng… của các công dân trong cái gọi là “cải tạo tự bản tư doanh”?

Tại sao?

Lại nghĩ, nếu như lúc ấy trong tư thế người chiến thắng, chúng ta hành xử với các đồng bào của mình (những người ở phía bên kia) được như người Tây Đức đối đãi với người Đông Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì tình thế có lẽ đã khác biết bao? Nhưng chúng ta đã không đủ văn hóa để ứng xử văn minh như người Đức. Thực tế là chúng ta đã hành xử hà khắc nếu không muốn nói là vô luân. Và vì thế mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc càng thêm căng thẳng.”

Tác gỉa  Bùi Công Tự kết luận trên Quê Choa của Nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Tuy thế vấn đề hòa hợp dân tộc cũng đã được đặt ra. Nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện cho kiều bào đóng góp với quê hương đất nước. Nhưng những gì đã có là chưa đủ. Đâu đó vẫn còn những quy định, những phát ngôn, những việc làm chưa thấu suốt tinh thần hòa hợp

Sự hòa hợp dân tộc trong một quốc gia còn thể hiện ở chỗ đại bộ phận nhân dân ủng hộ chính quyền, ủng hộ người lãnh đạo mình.

 

Muốn đạt được như vậy thì chính quyền phải đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, không có cách hành xử chống lại nhân dân. Những vụ việc không tốt đẹp xảy ra ở Tiên Lãng, Văn Giang và nhiều nơi khác vừa qua đã làm cho lương tâm nổi giận, sẽ tiếp tục dẫn đến sự đối đầu trái với tinh thần hòa hợp dân tộc mà tất cả mọi người dân đều tha thiết.

 

Hòa hợp dân tộc chỉ có thể có được trong một chính thể cởi mở, có nhiều tổ chức xã hội quy tụ nhân dân. Chính quyền và nhân dân cùng phấn đấu cho một mục tiêu chung. Nó đòi hỏi phải có sự minh bạch để nhân dân tin tưởng là chính quyền trong sạch, tin tưởng sự đóng góp của mình là để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là để giúp đỡ cộng đồng chứ không phải để nuôi béo một nhóm người. Do đó hòa hợp dân tộc còn dựa trên tinh thần phản biện để tìm ra chân lý, tránh mê tín, sùng bái cá nhân hoặc tâm lý “đám đông”.”

Tất nhiên “thời thế, thế thời phải thế”, nhưng kinh nghiệm 38 năm sau ngày đất nước thống nhất, thực tế của giấc mơ  “hòa hợp dân tộc” hãy còn xa lắm.

Nguyên do thì nhiều, nhưng cốt lõi của vấn đề là không ít Lãnh đạo đảng chưa thật lòng muốn người Việt ở nước ngòai trở về quê hương để xây dựng đất nước vì đảng “không dám bỏ Chủ nghĩa Cộng sản khi chưa có thay đổi bên Trung Quốc” và cũng “không muốn chia chác quyền lực” cho bất cứ ai không phải là người của đảng Cộng sản!

 

Nhưng người nhiều người Cộng sản cuồng tín không biết rằng Chủ nghĩa Cộng sản đã lỗi thời nhưng dân tộc Việt Nam thì đã văn minh và ai cũng tin thời gian rồi sẽ đào thải số người lãnh đạo lạc hậu này.

 

Họ chính là những người đang kêu gọi đòan kết tòan dân để tạo sức mạnh dân tộc bảo vệ Tổ quốc, nhưng cũng lại là những kẻ cực kỳ chia rẽ, phản động và yếu hèn trước giặc hơn ai hết.

Bằng chứng không khó tìm. Hãy lục lại đống Văn kiện đảng đã công khai thì sẽ thấy sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc từ 1990 đến 2012 đã kéo mũi đảng CSVN đi đâu, ấy là chưa kể bản “Kỷ yếu hội nghị” bí mật đã được ký tại Thành Đô (Tứ Xuyên) giữa Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch nhà nước Trung Cộng Giang Trạch Dân năm 1990 .

 

Đó là lý do tại sao tuy đất nước đã thống nhất mà lòng dân thì không./-


Phạm Trần

(05/013)

 




Tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam


 

                 Tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam

 

                                                                      Đỗ Thái Nhiên

      

(Cụ Phan Châu Trinh)

Đối diện với mỗi tình huống của đời sống, con người đều có những suy nghĩ riêng nhằm giúp cho xã hội có được những ứng xử thích nghi. Đó là mối liên hệ giữa tư tưởng và hiện tình của đời sống. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam.

 

Tư tưởng Phan Châu Trinh đã chỉ ra rằng: bất cứ xã hội nào cũng có ba khối vấn đề căn bản: dân sinh, dân trí, dân khí.

 

Dân sinh Việt Nam.

 

Dân sinh là hoạt động của guồng máy kinh tế ở mỗi quốc gia. Hoạt động này làm cho đời sống thể chất của người dân đạt mức cân bằng. Như vậy phục vụ người dân là mục tiêu hàng đầu của kinh tế. Thế nhưng trong thực tế, một số tư nhân đã nhân danh “quyền tự do kinh doanh” của cá nhân để sản sinh ra chế độ tư bản tư nhân.  Chế độ này mở đường cho tệ trạng cá lớn nuốt cá bé trên lãnh vực sản xuất và tiêu thụ. Dĩ nhiên đây là một hình thức hoạt động kinh tế phản nhân quyền.

Đảng CSVN đã nhân danh “quyền làm chủ tập thể” của quần chúng nhân dân để thâu tóm toàn bộ tài nguyên quốc gia vào guồng máy kinh tế độc quyền của đảng. Từ đó, chế độ tư bản nhà nước ra đời. Tư bản nhà nước kiểu Cộng SảnViệt Nam độc hại hơn tư bản tư nhân vạn phần ở điểm  đảng viên Cộng Sản Việt Nam hành sử quyền ưu tiên trong kinh doanh với sự hổ trợ tích cực của hệ thống quyền bính do đảng CS tổ chức và điều động. Vụ Vinashin 2006 và các năm kế tiếp gây thiệt hại cho ngân quỹ quốc gia khoảng 4 tỷ Mỹ Kim. Mới đây, 01/2013, qua những tranh cãi giữa Thanh Tra Chính Phủ và ông Văn Hữu Chiến Chủ Tich UBND TP Đà Nẵng, dư luận được biết TP Đà Nẵng và các tỉnh, thành khác thông qua tác vụ “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đã tham nhũng số tiền nhiều tỷ Mỹ Kim( Báo Thanh Niên 19/01/2013).  Hai vụ tham nhũng vừa nêu chỉ là hai giọt nước trong biển tham ô tại Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản.  Tham ô là ác quỷ của dân sinh. Vì vậy , một trong những mục tiêu hàng đầu của tư tưởng Phan Châu Trinh là lời dặn dò: mọi người Việt Nam hãy quyết tâm xây dựng cho người dân một đời sống sung mãn trong no và ấm: HÂỤ DÂN SINH.  Muốn có được hậu dân sinh, người dân Viêt Nam phải đấu tranh đòi hỏi CSVN, một tập thể độc tài và tham ô, phải trả lại quyền điều hành guồng máy quốc gia vốn của nhân dân, về lại với nhân dân.

 

 

Dân trí Việt Nam

 

Có ý kiến cho rằng “hiểu biết là sức mạnh”. Thật vậy, muốn có sức mạnh để diệt trừ tham ô và để xây dựng cuộc dân sinh hạnh phúc, dân trí ( hiểu biết của người dân ) phải được nâng cao. Dân trí gồm hai mặt:

 

1)Giáo dục đời sống thể chất: Giúp con người có nghề nghiệp để sinh sống tự lập. Đồng thời, nuôi sống gia đình, tiếp tay xây dựng xã hội.

 

2)Giáo dục đời sống tinh thần: Giúp con người hiểu biết quyền và nghĩa vụ làm người. Đây là lãnh vực giáo dục dân trí mà nhà ái quốc Phan Châu Trinh nhấn mạnh là KHAI DÂN TRÍ . Từ nhiều thập niên qua, do gian ý bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị đất nước để tự do tham ô và củng cố quyền hành, chế độ CSVN áp dụng chính sách giáo dục hai mặt:

 

                  Một là giáo dục học đường: sinh viên học sinh được nhồi sọ là phải trung với đảng, hiếu với dân. “Hiếu với dân” chỉ là lời dạy sáo ngữ. Trung với đảng là đảng nói sao, phải nghe vậy, mọi phản biện đối với đảng đồng nghĩa với  đaị phản động.

 

                 Hai là giáo dục xã hội: CSVN ngấm ngầm truyền bá loại văn hoá cá nhân hưởng thụ, tiền bạc là trên hết, dối gạt là thông minh. Từ đó con người sống trong xã hội chẳng khác gì con vật sống với bầy, đàn động vật: chỉ biết “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”, tương lai của đất nước đã có đảng lo.  Một cách căn bản, đảng có hai điều lo: lo tham ô và lo hạ cánh an toàn.

 

Dân trí Việt Nam ngày nay là “dân trí bỏ rơi việc nước”. Đối diện với “dân trí ngu dân” kia. Tư tưởng Phan Châu Trinh hô hào “ Khai dân trí ”.  Khai ở đây là mở trí cho người dân để họ hiểu rằng lương tâm làm dân đòi hỏi người dân có bổn phận tích cực tham dự việc nước thông qua cấu trúc chính trị dân chủ đa nguyên.

 

Dân Khí  Việt Nam

 

Dân gian thường nói: “ Có thực mới vực được Đạo”.  Đạo ở đây là đạo yêu nước. Thực là dân sinh. Thấy và hiểu được Đạo là dân trí.  Có đủ sức và đủ can trường để “Vực Đạo” hay không, đó là vấn đề dân khí. Làm thế nào để củng cố và tăng cường dân khí, để chấn dân khí? Những hành động của Phan Châu Trinh trong đấu tranh chánh trị để phục vụ tổ quốc là lời giải đáp cho câu hỏi vừa nêu.

 

Tại Quảng Nam, mùa hè năm 1906 cùng với hai nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,  trong một lần vận động cho tư tưởng Duy Tân, Phan Châu Trinh đã kêu gọi quần chúng Việt Nam hãy “Tự lực khai hoá”. Lời kêu gọi vừa kể hàm ý: chỉ có người Việt mới yêu thương người Việt, chỉ có người Việt mới có khả năng bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam.

 

Phan Bội Châu sanh năm 1867. Phan Châu Trinh sanh năm 1872. Cả hai nhà chí sĩ này đều chống Pháp dứt khoát.  Phan Bôi Châu chủ trương chống Pháp bằng hoả lực quân sự.  Phan Châu Trinh chủ trương chống Pháp bằng cách vừa tự lực khai hoá quần  chúng ( hậu dân sinh, khai dân trí, chấn dân khí ) vừa vận dụng mọi tác động của mặt trận văn hoá, chính trị, quốc nội, quốc tế để từng bước một lấy lại độc lập cho Viêt Nam. Mặc dầu khác đường lối đấu tranh nhưng hai chí sĩ họ Phan vẫn giữ lòng thân mến và tương kính, giữa hai người không hề có một tranh cãi phủ định đối phương.  Dị biệt tư tưởng nhưng vẫn chấp nhận lẫn nhau trên lý tưởng độc lập dân tộc.  Đó là chân ý nghĩa của dân chủ đa nguyên.

 

Phan Châu Trinh vừa chống thực dân Pháp vừa chống những phong tục tập quán tệ hại trong xã hội Việt Nam hồi bấy giờ. Ông chống kiểu học từ chương, chống mê tín, dị đoan.  Ông kêu gọi học quốc ngữ, cắt tóc ngắn, cắt móng tay… Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đấu tranh cho một xã hội Việt Nam văn minh nhân bản.  Phương pháp đấu tranh của Ông có tính can trường, dứt khoát, bền bỉ nhưng tuyệt đối tránh quá khích, tránh vơ đũa cả nắm.

 

Những suy nghĩ và hành động của Phan Châu Trinh trong nỗ lực chống thực dân Pháp đã cô đọng lại thành lời minh xác rằng: muốn tổ quốc Việt Nam trường tồn và thịnh vượng mỗi cá nhân công dân cần tu học nhiệt tình yêu nước, toàn bộ dân tộc phải bền bỉ xây dựng và phát triển nội lực dân tộc trên nền tảng đoàn kết và tương nhượng của tư tưởng dân chủ đa nguyên.  Đó là dân khí.  Mức độ dân khí tại Việt Nam ngày nay được thẩm định thông qua hai sự kiện:

 

Một là thái độ “bỏ rơi việc nước” của một thành phần quần chúng. Thái độ này là hậu quả của chủ trương “dân trí ngu dân” của nhà cầm quyền CSVN.

 

Hai là chính sách “ ác với dân, hèn với giặc” của giới đương quyền Hà Nội.

Các sự kiện nêu trên vừa đẩy dân khí của quần chúng Việt Nam xuống tới mức thấp nhất vừa làm cho đại hoạ Bắc xâm ngày càng tiến gần tới quả tim Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, chấn dân khí là xuất phát điểm tiên khởi của con đường cứu nước. 

 

Lịch sử loài người đã cho thấy: giới tu sĩ phải mất biết bao công lao và thời giờ cho công cuộc truyền bá một đạo giáo. Dân khí cần được xem trọng như tôn giáo. Mỗi người Việt Nam hãy là một giáo sĩ của đạo DÂN KHí.  Có như vậy dân khí mới thực sự có cơ hội được chấn hưng.

 

Tóm lại,

Dân sinh Việt Nam hiện bị đè bẹp dưới ách kinh tế quốc doanh tham ô và bóc lột. Guồng máy kinh tế phi nhân này được nguỵ danh dưới tên gọi “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

 

Dân trí Việt Nam hiện bị hôn mê trong văn hoá bầy đàn của động vật:  mỗi con vật chỉ biết và chỉ có khả năng “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”. Cha đẻ của loại văn hoá động vật kia chính là đảng CSVN.

 

Dân khí Viêt Nam hiện đang bị hai tảng đá dân sinh và dân trí như vừa mô tả kéo tuột dốc theo tốc độ ngựa phi.

 

Làm thế nào người Việt Nam có thể biến phương châm “Hậu dân sinh, Khai dân trí, Chấn dân khí” trở thành hành động sống cụ thể của xã hội?  Câu trả lời nằm ở lương tri ái quốc của mỗi người Việt Nam và ở kho tàng tư tưởng cách mạng của Chí Sĩ Phan Châu Trinh./.

 

Đỗ Thái Nhiên  (03/2013)

 

 

__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link