Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, June 22, 2013

Mỹ tiếp tục quan ngại về nạn buôn người tại Việt Nam




Thứ sáu 21 Tháng Sáu 2013

Mỹ tiếp tục quan ngại về nạn buôn người tại Việt Nam


Ngoại Trưởng John Kerry tại buổi công bố bản phúc trình về nạn buôn người, ngày 19/06/2013 (ảnh BPSOS)

Ngoại Trưởng John Kerry tại buổi công bố bản phúc trình về nạn buôn người, ngày 19/06/2013 (ảnh BPSOS)

Trọng Nghĩa


Trong bản báo cáo thường niên về tình trạng buôn người trên thế giới 2013 được Bộ Ngoại Giao Mỹ công bố hôm qua, 19/06/2013, Việt Nam tiếp tục bị xếp vào Bậc 2 (Tier 2), tức là các quốc gia có vấn đề trong địa hạt buôn người, nhưng chưa phải là thuộc diện tệ hại nhất (Tier 3). Theo bản phúc trình, cho dù đã có nhiều nỗ lực đáng kể, nhưng chính quyền Việt Nam chưa tuân thủ hoàn toàn các chuẩn mực tối thiểu về bài trừ tệ nạn buôn người.

Trong phần nói về Việt Nam, dài gần 6 trang, bộ Ngoại giao Mỹ nêu bật tình trạng Việt Nam là xuất phát điểm, và trong một chừng mực ít hơn, cũng là mục tiêu của tệ nạn buôn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, bị đẩy vào các hoạt động mãi dâm và bị cưỡng bức lao động.

Việt Nam cũng là nơi xuất phát của những lao động nam nữ phải ra nước ngoài làm việc, một cách cá nhân hay thông qua các công ty xuất khẩu lao động của nhà nước, tư nhân hay công tư hỗn hợp. Nhiều người trong số này đã phải làm việc trong những điều kiện khổ sai.

Báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng nêu lên tình trạng phụ nữ và trẻ em Việt Nam thường bị bán cho các đường dây mãi dâm xuyên suốt châu Á, bị lừa gạt với các lời hứa hẹn là sẽ có công ăn việc làm tốt, nhưng rốt cuộc bị bán vào các ổ mãi dâm ở vùng biên giới Cam Bốt, Lào và Trung Quốc, hay đưa qua các nước khác như Thái Lan và Malaysia.

Bản phúc trình còn nhắc đến tình trạng nhiều phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị ép buộc hành nghề mại dâm ở các nước Hàn Quốc, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Nga.

Một tệ nạn đáng buồn đã được báo cáo Mỹ nêu lên : Đó là chính các công ty xuất khẩu lao động của Việt Nam lại thường buộc những người muốn ra ngoại quốc lao động là phải trả các chi phí quá cao, khiến những người này - khi ra nước ngoài - bị nợ nần và dễ bị cưỡng bức lao động.

Xin nhắc lại là trong bảng xếp hạng của bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam được liệt vào Bậc 2 vào năm ngoái. Trước đó, thứ hạng của Việt Nam tệ hơn, vì thuộc Bậc 2 “cần theo dõi”. Quốc gia nào nằm trong danh sách này quá 2 năm sẽ lập tức bị giáng xuống Bậc 3, tức là diện tồi tệ nhất, bao gồm những nước vừa không đạt tiêu chuẩn tối thiểu, vừa không cố gắng phòng chống nạn buôn người.




  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Manila nghiền nát 5 tấn ngà voi để xây tượng đài kỷ niệm voi bị thảm sát


 

Thứ sáu 21 Tháng Sáu 2013

Manila nghiền nát 5 tấn ngà voi để xây tượng đài kỷ niệm voi bị thảm sát


Cơ quan bảo vệ thiên nhiên Philippines cho nghiền nát 5 tấn ngà voi (© Capture d'écran YouTube)

Cơ quan bảo vệ thiên nhiên Philippines cho nghiền nát 5 tấn ngà voi (© Capture d'écran YouTube)

Thụy My


Chính quyền Philippines đã cho nghiền nát năm tấn ngà voi, trong buổi lễ công khai tổ chức tại Manila hôm nay 21/06/2013. Chính phủ muốn chứng tỏ quyết tâm chống lại nạn buôn lậu đang hoành hành trong những năm gần đây, khiến Philippines mang tiếng là nước trung chuyển ngà voi từ châu Phi.

Philippines là quốc gia châu Á đầu tiên tự nguyện tiêu hủy một phần số ngà tịch thu được. Từ Manila, thông tín viên Gabriel Kahn của RFI tường thuật:

“Hàng trăm chiếc ngà voi bị nghiền nát dưới bánh xe hủ lô sáng nay tại Manila. Những mảnh vụn được trộn với xi măng để chuẩn bị xây dựng một đài kỷ niệm dành cho những con voi bị thảm sát để lấy ngà. Theo giám đốc cơ quan phụ trách về dã thú và hệ thực vật, bà Theresa Mundita Lim, thì “hành động này nhằm chứng tỏ rằng Philippines chống lại việc buôn lậu ngà voi và việc sát hại không thương tiếc loài voi”.

Những chiếc ngà bị tiêu hủy sáng nay chỉ là một phần trong số 13 tấn ngà voi nhập khẩu từ Tanzania, bị tịch thu từ năm 2005 và lưu giữ trong kho chính phủ. Khoảng một trăm người đã đến chứng kiện sự kiện mang tính biểu tượng này. Nhưng các nhà bảo vệ súc vật không tin là hành động trên sẽ chấm dứt được nạn buôn lậu.

Tại Philippines, ngà voi được bán với giá khoảng 2.000 đô la một ký trên thị trường chợ đen, đặc biệt được bán lén tại nhiều cửa hàng bán các mặt hàng thủ công dành cho tôn giáo. Người Philippines đặc biệt yêu thích các bức tượng chạm trổ hình Chúa Giêsu hay Đức Mẹ Maria. Phần lớn các ngà voi được bọn buôn lậu đưa sang Philippines và sau đó tái xuất sang các nước khác trong khu vực, chủ yếu là Trung Quốc và Thái Lan”.

Được biết ngoài 5 tấn ngà voi vừa bị tiêu hủy, 8 tấn còn lại đã biến mất trong kho, rất có thể là đã bị lấy trộm dần. Hầu hết lượng ngà voi bị thất thoát được giữ trong kho của Hải quan, cơ quan nổi tiếng là tham nhũng. Một viên chức của cơ quan bảo vệ thiên nhiên đã bỏ trốn sau khi ăn cắp 700 kg nguyên liệu quý giá bị cấm bán ra thị trường này.

Philippines nằm trong số tám nước hồi tháng Ba bị lên án là không quyết tâm đấu tranh chống nạn buôn lậu ngà voi, trong hội nghị ủy ban thường trực Công ước về thương mại quốc tế về các loài đang bị đe dọa (Cites). Đó là ba nước xuất xứ (Uganda, Tanzania, Kenya), ba nước trung chuyển (Việt Nam, Philippines, Malaysia) và hai nước tiêu thụ chính (Trung Quốc, Thái Lan).

Việc buôn bán ngà voi bị cấm kể từ năm 1989, nhưng các hoạt động này đã tăng gấp đôi từ năm 2007 và tăng gấp ba nếu tính từ 1998, theo một báo cáo của Cites và các cơ quan chuyên môn khác. Hiện nay tại châu Phi còn khoảng từ 420.000 đến 650.000 con voi.




 

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Xảo thuật của Truyền Thông CSVN Biến trắng thành đen


 

19/06/13 | Tác giả: Đỗ Thành Công

Xảo thuật của Truyền Thông CSVN


Biến trắng thành đen

Sự kiện đài truyền hình CSVN (VTV) hay các cơ quan tuyên truyền của Đảng, dựng chuyện để bôi bẩn các anh chị em hoạt động dân chủ, biến trắng thành đen, ngậm máu phun người v.v…là chuyện thường ngày ở huyện. Ai từng sống ở Việt Nam, hay kinh nghiệm là nạn nhân của bộ máy này thì không lạ lùng gì xảo thuật của họ. Dù vậy, cũng có những người nhẹ dạ, cả tin. Với bộ máy tuyên truyền đồ sộ và thêm lực lượng “công an mạng” làm địch vận, để kẻ tung, người hứng, liên tục tuyên truyền, nhằm thay đổi dư luận theo chiều hướng của Đảng, trong cũng như ngoài nước. Đảng CSVN đang cố tình “biến trắng thành đen”.

Tuyện truyền, lập đi lập lại một sự kiện không có thật cũng giống như chuyện thầy Tăng Sâm giết người, có kẻ chạy về nói với mẹ Thầy Tăng Sâm là con bà giết người, bà mẹ không tin. Có người thứ hai có người đến báo, mẹ Tăng Sâm bán tín bán nghi, đến khi có người thứ ba cũng nói vậy thì bà dù đang quay tơ cũng vứt cả thoi chỉ, hớt ha, hớt hải chạy đi tìm con.

Bậc thầy về tuyên truyền của Đức Quốc Xã, Paul Joseph Gobbels, Bộ truờng Bộ Thông tin từng nói, “Dân chúng sẽ tin vào sự bip bợm, dối trá nếu nó được nhồi nhét và lập đi lập lại nhiều lần”. Riệng Adolf Hitler, phát biểu “Tuyên truyền khôn khéo và liên tục, người ta có thể làm cho quần chúng nghĩ rằng địa ngục là thiên đường và ngược lại, thiên đường là địa ngục”.

Nêu sự kiện này để nói lên ảnh hưởng của thông tin lề phải, đảng nắm hết các luồng thông tin nên phải lập đi lập lại các sự kiện dối trá, tuyên truyền ngày đêm giống như chuyện vu cáo thầy Tăng Sâm giết người, đến nỗi bà mẹ của thầy Tăng Sâm cũng phải tin.

Tôi vừa về nhà sau 4 ngày đêm làm kẻ không nhà (home less) để tuyệt thực thể hiện tình liên đới với anh Hà Vũ và cảnh báo công luận về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Bốn đêm ngủ trong xe, bốn ngày đứng ngoài đường chịu nắng gió và lạnh thấu xương của khí hậu San Francisco và San Jose. Vì vậy, tôi cũng mệt. Nhiều người cùng tham dự đã ngã bệnh, nên tôi tính không viết gì cả. Nhưng thấy cơ quan tuyên truyền CSVN đang dựng chuyện thầy Tâng Sâm giết người nên phải gắng mà viết, vì tôi từng là nạn nhân của các trò bôi bẩn từ các mạng thông tin lề phải của CSVN.

VTV làm phóng sự bóp méo sự thật về Đỗ Thành Công (2006)

VTV làm phóng sự bóp méo sự thật về Đỗ Thành Công (2006)

Thủ đoạn bôi bẩn Tăng Sâm qua phóng sự về CHHV

Tôi tuyên bố tuyệt thực ngay ngày đầu tiên để phản đối việc CSVN giam giữ một cách bất hợp pháp. Bước đầu tôi đòi hỏi phải cho gặp lãnh sự Hoa Kỳ. Sau hơn hai tuần lễ, họ đã phải bằng lòng cho tôi gặp. Lý do chính họ không cho gặp vì không muốn lãnh sự Hoa Kỳ biết tôi tuyệt thực. Sau cuộc gặp, tiết lộ hết các thông tin cần báo ra ngoài cho đại diện của Hoa Kỳ tôi biết mình đạt được mục tiêu trước mắt. Họ nghĩ là điều kiện đã thoả mãn, chắc tôi ngưng tuyệt thực. Tuy nhiên, sau đó tôi vẫn tiếp tục tuyệt thực vì mục tiêu cuối cùng là phải trả tự do.

Ba ngày tuyệt thực đầu tiên, họ đem cháo lòng nóng hổi ra trước mặt tôi. Lúc đó, họ chưa đưa tôi về trại giam số 4 Phan Đăng Lưu mà tạm giam ở nhà khách của Bộ Công An. Cán bộ giam chạy qua, chạy lại xum xoe nói “Anh Thành ăn đị, có sức mà làm việc, tội gì phải nhịn”. Họ kêu tôi là Thành vì nhầm lẫn giữa tên lót và tên. Hình trên, mặc áo tù, cầm viết là do VTV tung ra để bôi nhọ sau khi họ thả tôi ra. Phim này quay trong khoảng 30 ngày tuyệt thực, ốm và hốc hác thấy rỏ nên không thể tuyên truyền là ông Thành được đối xử tốt trong tù, ông Thành không có tuyệt thực. Tuy nhiên họ lại tuyên truyền theo dụng ý khác.

Kỷ thuật cắt dán thông tin của CSVN

Diễn tiến của sự kiện này như sau. Buối sáng họ đưa tôi ra khỏi phòng giam nơi tôi đang biệt giam với một tù hình sự. Ngay khi vào phòng làm việc tôi đã thấy họ dàn dựng trước một hệ thống camera với cả chục nhân viên an ninh mặc thường phục. Tôi biết ngay là họ đang chuẩn bị phương án để bôi nhọ hay đánh gục tôi về nhiều lãnh vực.

Trên bàn là tập hồ sơ, sau khi ngồi vào bàn một công an lấy ra hồ sơ và nói “đây là bản báo cáo vụ án của anh, anh đọc lại rồi ký tên.” Cũng cần nhắc lại là tôi chỉ viết một lần trong suốt 38 ngày ở tù khi vào trại giam lúc họ đưa câu hỏi để tôi trả lời gồm ông Đỗ Công Thành lập Đảng Dân chủ Nhân dân để làm gì, từ khi nào. Lý do chủ trương huỷ bỏ điều 4 hiến pháp, ông vào Việt Nam từ lúc nào, làm gì v.v… Tôi viết vì điều này tôi nhận định chỉ là sự kiện, không phải là thú tội. Hơn nữa tôi nghĩ đây cũng là lúc để giải thích cho họ biết các chủ trương của Đảng Dân Chủ Nhân Dân. Vì vậy tôi viết, và chỉ viết một lần. Các lần sau tôi từ chối viết. Tôi nói, có nhu cầu thi các anh viết, hỏi tôi nói những gì cần thiết, các anh muốn thì cứ viết.

Tập hồ sơ là bản tóm lược sự kiện của tôi do an ninh đúc kết, họ kêu tôi xem qua, đọc lên rồi ký tên xác nhận đúng là sư kiện. Tôi nhận định ngay đây là cái bẫy vì họ đã dàn dựng dàn camera và muốn tôi đọc để thu giọng. Tôi tuyên bố, tôi không đọc gì hết và yêu cầu đem cái camera ra ngoài. Nếu quay phim không có sự chấp thuận tức vi phạm quyền riêng tư của tôi. Sau nhiều lần giằng co, họ phải triệu tập một cán bộ lãnh đạo cấp Tướng vào giải quyết và cuối cùng thì họ phải đem cái máy camera đó đi, tuy nhiên dù phản đối vậy, cán bộ công an chìm nổi hiện diện cũng lén chụp hình, quay phim bằng máy khác. Điều họ không thể làm được là có giọng nói của tôi, vì tôi cương quyết không đọc, chỉ coi và ký tên để xác nhận bản báo cáo này viết đúng. Nếu hôm đó không cảnh giác và đọc bản báo cáo vô thưởng vô phạt thì VTV chỉ cần thâu giọng nói, cắt xén, và tung ra, tuyên truyền là ông Đỗ Thành Công đọc bản thú tội, xin nhà nước khoan hồng, thì hậu quả khó lường. Nó giống như kỷ thuật mà Hitler nói “biến trắng thành đen, biến đen thành trắng”.

Từ sự kiện đó, sau khi về lại Mỹ, VTV tung ra hình ảnh trên. Thứ nhất họ không thể phủ nhận việc tôi tuyệt thực vì nhìn hình là biết ngay vì quay sau khi hơn 30 ngày tuyệt thực. Tuy nhiên họ nói, đây là hình ảnh ông Đỗ Công Thành ký tên “thành khẩn nhận tội”, mặc dù không có âm thanh. Sau này tôi thách thức họ đưa bằng chứng ông Đỗ Công Thành nhận tội thì họ làm ngơ. Tuy nhiên, có rất nhiều người ở trong nước và ngoài nước khi xem đọan video nói trên cũng bán tin bán nghi. Chắc là ông Thành nhận tội rồi, vì nếu không thì tại sao có hình ông cầm viết. Chuyện này, không riêng gì ở VN mà ngay cả hải ngoại, có người quen tại San Jose cũng nói với tôi là có thông tin anh nhận tội, và thái độ họ bắt đầu tỏ ý nghi ngờ. Tóm lại, guồng máy truyền thông của đảng CSVN đã thành công phần nào trong việc khai dụng các kỷ thuật tuyên truyền.

Nhận định video VTV tung ra về Luật sư Cù Huy Hà Vũ

Các hình ảnh VTV tung ra về anh Hà Vũ cho thấy họ khai dung kỷ thuật tuyên truyền giống như ở trường hợp tôi. Tuy nhiên có một số điều nhận xét ở đây. Hình khám bệnh, không xác nhận ngày nào, lúc trước khi tuyệt thực hay sau khi tuyệt thực, hay mới bắt đầu tuyệt thực v.v.. Cái giọng nói “audio” thì rất tồi cho thấy có vần đề không minh bạch. Cảnh quay các thức ăn trong phòng giam, cảnh cho tù nhân cùng phòng phát biểu về đồ ăn trong tù, “ăn cơm thịt đầy đủ, ăn không hết” chỉ là trò bịp bợm.

Nếu thực sự họ muốn chứng tỏ anh Vũ khoẻ mạnh, muốn cho dư luận biết anh Vũ không tuyệt thực thì cứ quay phim lúc anh Vũ gặp chị Hà sau hơn 20 ngày tuyệt thực thì xác định ngay anh Vũ có tuyệt thực hay không? Đâu cần mập mờ “biến đen thành trắng”.

Nếu ở tù cơm thịt ăn không hết thì cán bộ cộng sản đói ở ngoàỉ đời vào tù ăn no đi. Suốt thời gian ở tù, tù nhân cùng phòng tôi ăn cơm và thức ăn rất tồi, chỉ có ít rau muống lỏng bỏng, vài lát cá kho gần như bị thiêu. Tôi cũng nhận các phần ăn như vậy mỗi ngày nhưng tôi không ăn, chỉ uống nước hay pha nước chanh, thỉnh thoảng có nước bột nếu mua được. Dù vậy họ cứ đem phần ăn, hai lẫn mỗi ngày và bắt tôi ký nhận, ông “Thành từ chối ăn cơm”. Do đó, nếu ông có chết là vì ông từ chối cơm chứ đảng và nhà nước không bỏ đói ông. Tôi nghĩ là hiện nay anh Vũ cũng phải làm giống như tôi, ký nhận từ chối ăn cơm để nếu anh có chết thì CS có đường mà chạy tội.

Suốt thời gian tuyệt thực, họ khuyên nhủ, thuyết phục, năn nỉ ăn trở lại để họ khỏi bị áp lực. Vì nếu một tù nhân có tiếng bị chết, ban quản lý trại có thể bị khiển trách. Ban quản lý trại nói với tôi “chuyện anh làm tôi không có ý kiên, ở đây tôi chỉ có trách nhiệm quản lý anh. Anh Thành muốn ăn cháo tôi nấu cháo cho ăn”. Tóm lại, quản lý trại giam các tù nhân có vấn đề, họ rất ngại những va chạm, trừ khi có chủ trương phải triệt. Vì nếu tin tức “phức tạp” đã lên đến Trung ương rồi, khi một tù nhân có tiếng bị chết vì tuyệt thực, thì cả đám quản lý trại cũng phải lãnh đạn.

Tù nhân nếu muốn không bị đói đều phải có tiếp tế của thân nhân để ăn thêm, để bồi dưởng. Tù cùng phòng tôi có thịt kho, ruốc, thịt chà bông, v.v…do gia đình cung cấp. Để tù nhân không phải đói, công an trại cho phép tù nhân được đăng ký mua thêm đồ ăn ở ngoài nếu có tiền, và các đồ dung cá nhân linh tinh mỗi tuần một lần. Nhờ vậy, tôi đã có thể mua cái bót đánh răng, đôi dép, chiếc chiếu mới, dao cao râu v.v..( Ở tù tuyệt đối không dung chung dao cạo râu để tránh nhiễm bệnh HIV và các thứ bệnh khác). Cuối tuần nếu có tiền, tù có thể ghi tên mua trước, phở, cà phê, cơm tấm v.v ăn gì có nấy. Cán bộ là người mua bán, mua cho tù nhân một, họ bán ra mười. Và đó là cách họ làm tiền để sống. Nói cách khác hệ thống trại giam CSVN gồm các cán bộ, quản lý trại v.v..sống bám vào tù nhân và gia đình tù nhân để làm ăn, buôn bán và kiếm sống vì đồng lương chết đói của họ.

Sự kiện đài VTV liên tục “biến trắng thành đen” tạo dựng hiện trường xạo, nói anh Vũ ăn không có tuyệt thực là để tạm tránh bị áp lực của dư luận trong và ngoài nước. Nếu anh Vũ liên tục tuyệt thực và dư luận lo sợ anh Vũ có thể chết bất cứ lúc nào thì sẽ là một đại hoạ cho CSVN. Cứ tưởng tượng chừng vài chục người tập trung trước trại giam số 5 Thanh Hoá, tuyệt thực cùng anh Vũ cho đến khi nào anh Vũ xác nhận ngưng tuyệt thực thì diễn biến thế nào? Thử tượng tượng có tin anh Vũ đã chết vì tuyệt thực thì hàng trăm người xông vào trại giam để đòi xác thì có trời mà biết chế độ CSVN đi về đâu. Lúc đó, vấn đề đã không còn việc Cù Huy Hà Vũ chết vì tuyệt thực nữa mà là làm sao để cứu vãn chế độ trước sự phẫn nộ của nhân dân.

Tôi không thể lường được phản ứng của nhân dân từ Nam ra Bắc và cả ở hải ngoại sẽ diễn ra thế nào?. Ngày 17 tháng 12 năm 2010, anh sinh viên bán hàng rong ở Tunisia, Mohamed Bouazizi tự thiêu chết tại công viên đã làm quần chúng phẩn nộ, cơn đại hồng thủy của ức chế và phẩn uất quá lâu bùng nổ, đã xoá xổ không những chế độ độc tài Tunisia mà nhiều nước độc tài khác ở Trung Đông.

Các thủ đoạn “Bịp Bợm” Khác

Sau hơn hai tuần tuyệt thực đòi gặp lãnh sự Mỹ, trong buổi làm viêc vài ngày trước khi cuộc gặp diễn ra. Cán bộ trại giam răn đe và giở trò “láo” trước. Vì lo sợ tôi tiết lộ với lãnh sự Mỹ tôi đang tuyệt thực thì sự việc khó lường. Họ nói, anh không được nói với lãnh sự Mỹ cái gì hết ngoài trừ những gì họ hỏi anh. Công an trại đánh phủ đầu, chúng tôi có đặt máy quay phim ở trong phòng giam rồi nên biết rỏ anh không có tuyệt thực gì hết, vì vậy đừng nói với họ là anh tuyệt thực.

Tôi cho biết là nếu có máy quay phim tôi ăn trong trại thì cứ tung ra, không cần doạ dẫm làm gì. Tôi cũng không nói cho họ biết sẽ trình bày với lãnh sự Mỹ thế nào. Trước đó công an báo với lãnh sự Mỹ là ông Thành không có tuyệt thực gì đâu, sức khỏe tốt và chúng tôi có bằng chứng ông còn ăn “phó mát” nửa. Lãnh sự Mỹ cũng bán tín bán nghi nên báo về cho vợ tôi (Jane Dobui) là họ nói ông Thành ăn cheese, giống như bây giờ công an nói với chị Dương Hà là anh Vũ đang ăn, không có tuyệt thực gì cả.

Thực tế, đêm đêm công an phòng giam lén lấy thùng rác của chúng tôi để lục xem trong ngày tôi ăn gì. Họ tìm thấy vỏ giấy bơ đầu bò nên họ nghi là tôi ăn. Họ không biết, tù nhân hình sự cùng phòng đã mua “phó mát” này để ăn, vì tôi cho anh ấy tiền để mua đồ nên anh ấy ăn hơi sang.

Ngay trong buổi gặp lãnh sự Mỹ, sau khi hỏi ông Thành có gì nói nữa không thì tôi bắt ngay cơ hội và trình bày rất nhanh một số điều quan trong cần tiết lộ gồm tôi là ai? tại sao tôi bị bắt, có ai bị bắt với tôi và tôi đã tuyệt thực kể từ ngày bị bắt đến nay. Tôi cho biết là một ngày trước khi gặp ông tôi có ăn bánh cracker để lấy sức cho buổi gặp hôm nay, vì sức khỏe tôi yếu rồi. Tuy nhiên tôi sẽ tiếp tục tuyệt thực cho đến khi nào họ trả tự do cho tôi. Sau lời tiết lộ đó, cán bộ trại bị bất ngờ không phản ứng kịp và yêu cầu chấm dứt ngay cuộc gặp. Điều này cho thấy là cả hai sự kiện tuyệt thực của tôi và của anh Vũ đều giống nhau qua cách ứng phó của CSVN, đó là dùng các phương tiện truyền thông, tuyên truyền và thủ đoạn nhằm mọi cách bưng bít không cho lọt ra ngoài thông tin anh Vũ đang tuyệt thực.

Trở lại với trường hợp khác của anh Vũ cũng vậy. Các clip quay video cho thấy thức ăn, sữa hộp ở trong phòng giam chỉ nhằm đánh lừa dư luận, tạo ra vẻ anh Vũ đang dư thừa đồ ăn, cán bộ trại không cấm anh đem đồ ăn v.v…từ đó dẫn đến kết luận anh không bị ngược đãi, không có tuyệt thực. Phòng giam của tôi cũng đầy đồ ăn như vậy nhưng không phải của tôi mà là của người tù hình sự giam chung. Vài ngày trước khi họ trả tự do cho tôi, họ cũng tiến hành khám bệnh giống như anh Vũ. Tuy nhiên họ không thể sử dụng cho mục đích tuyên truyền là “tôi không tuyệt thực” vì thời gian quay phim là lúc tôi đã tuyệt thực quá lâu, nếu có sử dụng thì chỉ thuyết phục là tôi còn sống chứ không chết, nếu có sự cố xảy ra cho tôi. Tôi bị mất 20 cân khi tuyệt thực 38 ngày, do đó không thể dùng cho mục tiêu biến “đen thành trắng” được.

Video của VTV bị lật tẩy

Về video quay anh Vũ, tôi nhận định phim quay có thể trước thời gian tuyệt thực hay chỉ mới vừa tuyệt thực nên họ khai dụng cho mục tiêu là không có tuyệt thực,và biến “trằng thành đen”. Cũng có thể đây là hình ảnh lặp ráp của nhiều lân quay, không phải quay lúc anh Vũ đã tuyệt thực sau 20 ngày. Kinh nghiệm ở trong tù và trường hợp tôi với Anh Vũ rất giống nên tôi nghi là video này quay trước thời gian anh tuyệt thực và lắp ráp thêm các sự kiện gần đây, để tạo ra một kịch bản là phim mới vừa quay, chứng minh với dư luận, việc Anh Vũ không tuyệt thực.

Tôi tìm mọi cách để truy lung cái header của video này, vì nếu VTV khôn mà không ngoan thì sẽ để lại cái đuôi. Thực vậy, tin mới nhất tôi nhận được là anh em chuyên viên mạng đã lật tẩy VTV và tìm đưọc cái header để biết được ngày quay video này là ngày 25 tháng 1 năm 2012 vào lúc 3 giờ 41 phút. Tóm lại cái tẩy xạo của VTV tìm cách “biến trắng thành đen”, cố chứng minh anh Vũ không tuyệt thực đã bị lật tẩy.

Nguy hiểm của tuyệt thực

Không riêng gì trường hợp Cù Huy Hà Vũ, nhiều anh chị em đấu tranh cho tự do, dân chủ cũng đã thường xuyên chọn phương án tuyệt thực trong tù để bảo vệ mình, từng dùng mạng sống để đánh đổi lấy sự tự trọng và niềm tin. Tuy nhiên, về mức độ chịu đựng, tùy theo cơ thể và tình trạng sức khỏe, có người có thể kéo dài thời gian tuyệt thực, có người bị thiệt mạng sớm. Mập hay ốm không là vấn đề, vì cơ thể mỗi ngày đều cần một số lượng chất đạm để duy trì sự sống cho các tế bào, cơ phận. Mất đi nguồn cung cấp căn bản này, bất kể cơ thể ốm hay mập đều có nguy cơ bị chết. Gần đây trên báo Việt Nam có đăng tin một người theo phương cách nhịn ăn để trị bệnh, tuy nhiên sau khi tuyệt thực 3 ngày thì đưa vào cấp cứu và đã tử vong. Tháng 1, năm 2012, nhà dân chủ ở Cuba, Wilmar Villar Mendoza, 31 tuổi, tuyệt thực 59 ngày trong tù sau khi bị chế độ độc tài tuyên án 4 năm tù, cuối cùng ông đã bỏ mạng vì thận ngưng hoạt động.

Khi tuyệt thực, ngoài các mối nguy hiểm trên, điều lo sợ nhất chính là khi cơ thể đã suy yếu, chất kháng thể không còn nên tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập, tấn công. Nhà tù là ổ vi trùng ghê gớm nhất. Do đó, suốt thời gian tuyệt thực, tôi lo ngại nhất là bị bệnh vì nhiễm trùng do kháng sinh đã bị suy yếu từ hậu quả tuyệt thực, tôi không lo nhiều vì đói. Anh Vũ đã tuyệt thực hơn 22 ngày, đây là giai đoạn vô cùng nguy hiễm mà nếu đảng CSVN không có hướng giải quyết, thì hậu quả khó lường.

Ngày 18 tháng 6 năm 2013

© Đỗ Thành Công

© Đàn Chim Việt



 

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Buồn vui thời điêu linh ở V.N: Đổi tiền


From: "johnluc95@
Sent: Saturday, 22 June 2013 4:48 AM
Subject: Buồn vui thời điêu linh ở V.N: Đổi tiền

 

  Buồn vui thời điêu linh ở V.N: Đổi tiền
Đồng tiền nối liền khúc ruột cho nên mọi sự thay đổi về tiền tệ từ phía chính quyền trong bất kỳ thời kỳ nào cũng có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân sống trong tầm chi phối của nhà cầm quyền đó. Tính từ năm 1975, lịch sử Việt Nam đã có đến 3 lần đổi tiền: các năm 1975, 1978 và 1985.
Vào thời điểm cuối tháng 4/1975, lượng tiền mặt tại miền Nam do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành và lưu trữ trong ngân khố VNCH được tính khoảng hơn 1.000 tỷ đồng, tương đương hơn 2 tỷ USD. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng tiền mặt trong lưu thông trên thị trường niền Nam vào lúc đó chiếm khoảng 615 tỷ đồng.
Tại Sài Gòn, ngay chiều 30/4/1975, hầu hết các Ngân hàng của VNCH ở khu vực Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn đều đã được niêm phong, bộ đội tiếp quản toàn bộ kho tiền và các ngân hàng. Sáng 1/5, Uỷ Ban Quân quản của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra lệnh quốc hữu hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng cũ.
Mặt trước giấy bạc 100đ, phát hành tại miền Nam năm 1955
Mặt sau giấy bạc 100đ, phát hành tại miền Nam năm 1955
Tại miền Nam, từ năm 1953, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã lưu hành đồng tiền được sử dụng trên toàn cõi Việt Nam Cộng hòa. Đặc điểm dễ nhận nhất của các loại tiền giấy phát hành tại miền Nam trước năm 1975 là trên đồng tiền luôn luôn có câu “Hình luật phạt khổ sai những kẻ nào làm giả mạo giấy bạc do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát ra”.
Trên các giấy bạc còn có 2 chữ ký của Tổng kiểm tra và Thủ quỹ Trung ương. Đến năm 1968, đổi là chữ ký của Tổng kiểm soát và Giám đốc Sở phát hành; đến năm 1970, đổi sang chữ ký của Tổng kiểm soát và Thống đốc; năm 1971 đổi là chữ ký của Một quản trị viên và Giám đốc Phát hành.
Trong năm 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam in giấy bạc 5.000 và 10.000 đồng với chữ ký củaTổng kiểm soát và Thống đốc. Tuy nhiên, 2 loại giấy bạc này chưa được phát hành trên thị trường thì đã đến ngày miền Nam thất thủ.
Mặt trước giấy bạc 5.000 đồng của VNCH
in năm 1975 nhưng chưa kịp phát hành
Mặt sau giấy bạc 5.000 đồng của VNCH
in năm 1975 nhưng chưa kịp phát hành
Mặt trước giấy bạc 10.000 đồng của VNCH
in năm 1975 nhưng chưa kịp phát hành
Mặt sau giấy bạc 10.000 đồng của VNCH
in năm 1975 nhưng chưa kịp phát hành
Sau khi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ hoàn toàn và được thay thế bằng chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, qua danh nghĩa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đã tổ chức đổi tiền trên qui mô toàn miền Nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân hàng Việt Nam" (còn gọi là tiền ‘giải phóng’). Tiền này được sử dụng tại miền Nam cho đến khi đổi tiền năm 1978 nhằm thống nhất tiền tệ hai miền Nam Bắc.
Ngày 6/6/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời đã ra Nghị định số 04/PCT-75 về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc. Thông qua danh nghĩa là cơ quan đại diện chính thức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, ngân hàng này thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH trong các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB).
Cũng chiếu theo Nghị định 04, đến ngày 22/9/1975 thì tiền VNCH có mệnh giá trên 50 đồng bị cấm lưu hành tại miền Nam và phải đổi sang tiền mới của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tiền mới được in tại Tiệp Khắc từ năm 1966 (!), không mang chữ ký, gồm 8 mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 50 đồng. Tỉ giá hối đoái vào thời điểm ban hành Nghị định 04 là 1 USD tương đương với 1,51đ Cộng hòa Miền Nam.
Điều đáng nói là giá trị chuyển đổi của đồng tiền mới không thống nhất về mặt địa lý mà thay đổi theo từng vùng theo Nghị định 04:
- Từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở xuống miền Nam, giá trị tiền đổi được tính theo tỉ lệ 500đ VNCH tương đương với 1đ tiền mới.
- Từ Thừa Thiên Huế trở lên miền Bắc, tỉ lệ đổi tiền là 1.000đ VNCH tương đương với 3đ tiền mới.
Việc thu đổi tiền VNCH được bắt đầu lúc 6g sáng ngày 22/9/1975 và chấm dứt vào lúc 6g chiều cùng ngày tại Sài Gòn. Riêng tại các tỉnh xa xôi thuộc phía Nam, việc đổi tiền có hạn chót là ngày 30/9/1975. Định mức đổi tối đa không quá 100.000đ tiền VNCH cho nhu cầu sinh hoạt của mỗi gia đình; các hộ kinh doanh được phép đổi từ 200.000đ đến 1.000.000đ tiền VNCH sang tiền mới.
Đối với người dân miền Nam, việc đổi tiền năm 1975 là cú xốc đầu tiên mà chính quyền mới dành cho vùng đất. Còn đang bàng hoàng trước những thay đổi về thể chế chính trị từ ngày 30/4/1975, chỉ chưa đầy 2 tháng sau là một sự kiện kinh tế-tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày tại miền Nam.
Xét về mặt quản lý kinh tế-tài chính, việc đổi tiền là một điều tất yếu đối với một đất nước vừa được thống nhất trong đó lưu hành 2 thứ tiền: tiền VNCH và tiền miền Bắc. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách đó như thế nào là cả một vấn nạn đáng mổ xẻ. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và cho đến bây giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Người dân miền Nam chỉ thấy sau khi Nghị định 04 được ban hành, túi tiền của họ bỗng trở nên teo tóp một cách đáng kể.
Giấy bạc miền Bắc, phát hành năm 1965
(Có in cả chữ Hán)
Giấy bạc miền Bắc, phát hành năm 1973
===
Cuộc đổi tiền lần thứ hai được diễn ra vào năm 1978. Ngoài mục đích thống nhất tiền tệ giữa hai miền Nam Bắc, đổi tiền lần thứ hai được coi là một trong những phương thức tiến hành cuộc cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam Việt Nam. Với quyết tâm xóa bỏ hình thức kinh tế tư bản hiện hữu tại miềnNam, chính quyền mới đã thực thi mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa trên cả nước.
Theo nghị quyết khóa III, nhà nước chủ trương xóa bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng hợp tác xã, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ. Đổi tiền là một bước trong quá trình đó. Hiện tượng này trong quá khứ đã từng được thực hiện một cách bất ngờ ở các nước cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên nhằm tịch thu tài sản và giảm thiểu nền kinh tế chợ đen.
Theo Sắc lệnh của Thủ tướng Chính phủ mang số 88 CP, ký ngày 25/4/1978 thì lệnh đổi tiền được giữ kín cho đến ngày 3/5/1978 là thời điểm công bố trên toàn quốc. Sắc lệnh quy định tiền tệ cũ của cả hai miền Nam Bắc bị cấm lưu hành, những ai sở hữu tiền cũ thì phải đem đổi lấy tiền mới.
Ở miền Bắc, một đồng mới trị giá bằng một đồng cũ, loại tiền này được phát hành từ năm 1958. Riêng ở trong Nam, một đồng mới đổi được 0,80 đồng cũ (8 hào) phát hành năm 1975 qua đợt đổi tiền lần thứ nhất.
Dân thị thành được đổi tối đa 100 đồng cho mỗi hộ 1 người; 200 đồng cho mỗi hộ 2 người; hộ trên 2 người thì từ người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người. Hạn mức tối đa cho các hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng mỗi hộ.
Dân vùng quê được phép đổi theo hạn ngạch 100 đồng cho mỗi hộ 2 người (50 đồng mỗi người); hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người. Tối đa cho mọi hộ vùng quê, bất kể số người, là 300 đồng.
Số tiền sở hữu trên mức tối đa phải khai báo và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng thì tiền đó có thể rút ra nếu… có lý do chính đáng. Một điều kiện nữa là người dân phải chứng minh rằng số tiền trên mức tối đa là tiền kiếm được bằng ‘lao động cá nhân’ chân chính chứ không phải tiền trục lợi qua lao động của người khác.
Cũng như lần đổi tiền năm 1975, cuộc đổi tiền năm 1978 đã phá giá đồng tiền của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đang lưu hành tại miền Nam. Tuy nhiên, tại miền Bắc, giá trị của đồng tiền vẫn giữ nguyên.
Tại miền Nam, dù đã qua một lần đổi tiền vào năm 1975 nhưng đa số người dân vẫn bị bất ngờ vì lệnh đổi tiền lập lại 3 năm sau đó. Chính sách đổi tiền lần này chủ yếu nhắm vào giới tư sản miền Nam, nhưng trên thực tế, cuộc sống của mọi người, nhất là những người sinh sống tại miền Nam, đều bị ảnh hưởng.
Năm 1978 nhà nước vẫn duy trì chính sách quản lý người dân bằng hộ khẩu, nói một cách khác, hộ khẩu kiểm soát lương thực qua chế độ tem phiếu. Đến khi đổi tiền, hộ khẩu quyết định tiêu chuẩn định mức tiền được đổi nên bi thảm nhất là những gia đình bỏ về từ những vùng kinh tế mới. Họ không còn hộ khẩu tại thành phố nên cũng không đủ tiêu chuẩn để đổi tiền, cuộc sống hàng ngày vốn đã khốn khổ phải tạm trú nơi mái hiên, gầm cầu đến lúc đổi tiền lại không có giấy tờ hợp pháp.  
Vào thời điểm 1978, mức sống của dân miền Nam vẫn còn cao hơn miền Bắc nên tỷ lệ sở hữu tiền tiết kiệm của từng gia đình tại Sài Gòn, nói chung, vẫn cao hơn tại Hà Nội. Biện pháp ‘đổi tiền có giới hạn’ chính là một hình thức ‘cào bằng’ giữa hai miền. Tuy nhiên, đa số người miền Nam vẫn có thói quen mua vàng hoặc đô la thay vì giữ tiền mặt dù việc mua bán vàng và ngoại tệ vẫn bị nhà nước nghiêm cấm vào thời điểm đó.
Số lượng vàng còn lại tại miền Nam sau 1975 vẫn còn là một ẩn số nhưng qua các vụ vượt biên người ta có thể nói ‘tiềm lực vàng’ của người miền Nam vẫn còn rất mạnh. Trung bình một người vượt biên phải trả cho chủ tầu khoảng 3 ‘cây’ (một danh từ phổ biến để chỉ 1 lạng vàng), nếu làm một con tính nhẩm với gần nửa triệu người đến được bến bờ tự do hoặc bỏ thây ngoài biển cả ta sẽ thấy một số vàng khổng lồ có trị giá hàng tỷ Mỹ kim mà người miền Nam đã đổ vào các cuộc vượt biên. Có người còn vượt biên nhiều lần, điều này chứng tỏ ‘tiềm lực vàng’ của người dân miền Nam là rất lớn. 
Sự kiện ‘nạn kiều’ của người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức bằng đường bộ và đường thủy năm 1979 với giá trên 10 cây vàng một đầu người cũng là một minh chứng việc ‘đánh tư sản’ không đạt được kết quả như mong muốn. Trong Chợ Lớn không thiếu gì những trường hợp người buôn bán nhỏ lẻ, thậm chí hành nghề ve chai, bán dạo vẫn có vàng để trả cho các chuyến vượt biên bán chính thức.
Giấy bạc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(Phát hành năm 1984)
===      
Lần đổi tiền thứ ba diễn ra vào ngày 4/9/1985 với việc phát hành tiền mới có mệnh giá 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng. Như vậy, trong vòng 10 năm (1975-1985) Việt Nam đã có ba lần đổi tiền. Điểm nổi bật của lần đổi tiền năm 1985 là 10 đồng tiền cũ đổi được 1 đồng tiền mới. Người dân bình thường nhận thấy tiền của họ khi đổi sang tiền mới chỉ cần bớt một con số không. Chẳng hạn, một tô phở trước khi đổi tiền có giá 1.000đ nay chỉ còn 100đ tiền mới.
Tuy nhiên, đối với những chuyên gia kinh tế, thực tế phức tạp hơn những gì người bình thường suy nghĩ. Cuộc đổi tiền năm 1985 đã khiến đồng tiền lưu hành tại Việt Nam vào thời điểm đó bị giảm đi 10% trong khi đồng Việt Nam vẫn chưa ‘có khả năng chuyển đổi’ (transferable) trên thị trường hối đoái quốc tế. Đồng tiền Việt Nam vẫn là tiền ‘có khả năng tự do chuyển đổi thấp’, chưa trở thành đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế.
Giấy bạc mệnh giá 500 đồng được phát hành năm 1987
Tháng 11/2009, Chính phủ Việt Nam quyết định phá giá 5% đồng tiền Việt Nam, đồng thời tăng lãi suất lên 8%. Chính sách này được xem như là hành động làm căng thẳng thị trường tài chính Châu Á, vì các nền kinh tế trong vùng đang tranh nhau tạo ưu thế với thị trường Âu Mỹ.
Ngày 11/2/2010, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam định lại mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa tiền đồng Việt Nam và đôla Mỹ, qua đó, một đôla Mỹ ăn 18.544 đồng. Nếu so với mức tỷ giá 17.941 đồng một ngày trước đó, đồng tiền Việt Nam bị giảm giá 3,4% so với đôla Mỹ. Ngày 28/2/2010, mức tỷ giá ở thị trường chợ đen là 19.500 đồng.
Ngày 18/08/2010 Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932 đồng/USD (tương đương tăng 388 đồng). Ngày 11/02/2011 Ngân hàng Nhà nước công bố quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND, từ 18.932 VND lên 20.693 VND (tăng 9,3%), cùng với đó là thu hẹp biên độ áp dụng cho tỷ giá của các ngân hàng thương mại từ +/- 3% xuống còn +/- 1%. Tuy nhiên, đến ngày 19/02/2011 tỷ giá USD ở thị trường chợ đen là 22.300 đồng.
Những diễn biến vừa nêu trên cho thấy sự bất ổn của đồng tiền Việt Nam. Đồng tiền hiện đang lưu hành trên thị trường Việt Nam có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng, nhiều người nghĩ một ngày nào đó sẽ xuất hiện tờ giấy bạc 1.000.000 đồng nhưng không ai nghĩ Việt Nam sẽ soán ngôi ‘đơn vị tiền tệ thấp giá nhất’ của Zimbabwe với mệnh giá 100 nghìn tỷ đô la.
Kỷ lục thế giới: giấy bạc 100 nghìn tỷ đô la của Zimbabwe
Về phần những người bi quan, họ lại nghĩ ngay đến cuộc đổi tiền lần thứ 4 tại Việt Nam trong tương lai!
 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link