Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, July 9, 2013

Chính trị - kinh tế: chiếc cầu đã gẫy


 

Chính trị - kinh tế: chiếc cầu đã gẫy


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-07-02

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này



000_Hkg8665215-305.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) tại lễ khai mạc Diễn đàn Kinh tế Thế giới Đông Nam Á tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Myanmar ở Naypyidaw hôm 06/6/2013

AFP photo

 

Việt Nam luôn bảo lưu quan điểm chính trị và kinh tế không cần thiết phải song hành trong khi khái niệm này được thế giới chứng minh ngược lại. Điều gì đang xảy ra trong nền kinh tế và chính trị không thể đồng hành ấy? Mặc Lâm phỏng vấn Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng để tìm câu trả lời.

Nhiều tướng lĩnh lên tiếng

Mặc Lâm: Thưa ông, kinh tế và chính trị đối với các nước không cộng sản là cặp phạm trù tương quan không thể tách rời. Đối với Việt Nam phải chăng hậu quả đang xảy ra xung đột trên cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị?

TS. Phạm Chí Dũng: Câu hỏi của anh không chỉ có tính triết học mà còn cả về “thần học”. Vật chất và ý thức thượng tầng luôn đi đôi và dính liền với nhau. Nhưng cái mà tôi muốn đề cập là hình như đang có một thế lực “thần quyền” nào đó ở Việt Nam, đang dụng tâm lấy ý thức và trên hết là ý thức hệ để làm mờ nhạt những xung đột xã hội có nguy cơ sắp bùng nổ.

Hãy tự hỏi, sau 38 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, dù rằng GDP và đời sống người dân luôn được báo cáo là “năm sau tăng cao hơn năm trước”, nhưng nạn tham nhũng và mức sống dân tình vẫn tỷ lệ nghịch với nhau như thể theo cấp số nhân.

Chưa bao giờ nhóm lợi ích và chủ nghĩa thân hữu lại bộc lộ nanh vuốt của chúng một cách lộ liễu, bài bản và thủ đoạn như hiện nay – như một hình ảnh mà người phương Tây đã đúc kết là “chủ nghĩa tư bản dã man”. Cũng chưa bao giờ hố phân cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội lại lớn đến như thế này.

Thế thì cứ mãi “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” để làm gì? Điều gì sẽ có ích từ lời dạy của tiền nhân nếu không được nhập tâm tới nơi tới chốn đối với lớp hậu bối để trở thành “công bộc” xứng đáng?

Xung đột giai cấp cũng từ đó mà khơi nguồn. Xung đột tư tưởng và những gì thuộc về thượng tầng cũng bắt nguồn từ xung đột giai cấp. Hậu quả cho đến nay của kinh tế và nền chính trị mà anh hỏi cũng là một cặp phạm trù mang tính hệ lụy tất yếu.

Chúng ta hãy quay trở lại với biểu đồ “suy thoái tư tưởng” của nền kinh tế từ những năm 2005-2006 đến nay. Cách đây 7-8 năm, tình hình kinh tế vẫn còn trong sức chịu đựng của người dân, tham nhũng lộ diện nhưng chưa hoành hành lộ thiên như bây giờ. Còn hiện nay, dường như mọi việc đang mất kiểm soát, không ai đứng ra trị tham nhũng, không ai dám chịu trách nhiệm về một nền kinh tế lụn bại và bị lũng đoạn từ trong ra ngoài.

Nhiều tướng lĩnh về hưu và cách mạng lão thành đã phải thốt lên là chưa bao giờ Đảng bị phân hóa như hiện nay, chưa bao giờ mầm mống xung đột trong Đảng xuất hiện dày đặc đến thế...
- TS. Phạm Chí Dũng

Thế thì chính trị đi xuống cũng là tất yếu thôi. Hệ lụy ấy - một người dân bình thường cũng có thể nhìn thấy còn rõ hơn đêm giữa ban ngày. Ở vỉa hè, người dân công khai nói về những mâu thuẫn trong nội bộ đảng, không chỉ về một đồng chí X nào đó mà còn cả về các nhóm và phe phái đang đấu tranh với nhau, nhưng không phải là cuộc tranh đấu để có hạnh phúc giai cấp như Mác nói, mà là vì động cơ cá nhân.

Mặc Lâm: Có phải xuất phát từ những điều như ông vừa nói làm cho sự lên tiếng ngày càng nhiều của những tướng lãnh đã về hưu hay các nhà cách mạng lão thành trong thời gian gần đây?

TS. Phạm Chí Dũng: Nhiều tướng lĩnh về hưu và cách mạng lão thành đã phải thốt lên là chưa bao giờ Đảng bị phân hóa như hiện nay, chưa bao giờ mầm mống xung đột trong Đảng xuất hiện dày đặc đến thế trong bối cảnh chân đứng chính trị của Đảng đang trở nên mong manh hơn lúc nào hết.

Những vị tướng lĩnh lão thành như Nguyễn Quốc Thước và Nguyễn Trọng Vĩnh đều là nhân chứng sống động cho rạng bình minh đã lướt qua và ráng hoàng hôn đang ập đến.

Đó là cái gì, nếu không phải là một dạng đồng pha giữa đồ thị lao dốc của kinh tế với biểu đồ suy thoái của chính trị? Nhưng ở một thái cực ngược lại, chưa bao giờ kinh tế và chính trị, hay nói chính xác hơn là chính trị với kinh tế, lại bị lại tách rời đến thế này. Dường như chính khách chỉ là chính khách mà quên bẵng mình là “công bộc”, và người ta lo lắng đến chức phận của mình hơn hẳn chuyện cơm no áo ấm của nhân dân.

Hãy trở lại câu hỏi của anh, trong đó nêu rằng ở các nước phát triển, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là không thể tách rời. Còn nếu sự tách rời đó đang và sẽ xảy ra ở Việt Nam thì sự thể sẽ như thế nào?

Hiển nhiên, ai cũng thấy là một nền chính trị sẽ không thể giữ được chân đứng vững chắc nếu nó tách rời cơ sở hạ tầng kinh tế, thoát ly cái chức trách lo lắng cho đồng bào của mình.

Làm sao để thay đổi?

000_Hkg7408985-250.jpg

Một người chạy xe ôm đang chờ khách ở Sài Gòn bên ngoài buồng rút tiền ATM. AFP photo

Mặc Lâm: Ông dự đoán thế nào nếu ông Thống đốc ra đi? Một nền kinh tế tươi mới hơn hay cần thời gian chuyển tiếp chờ đợi người kế vị rửa sạch những gì mà ông Bình để lại?

TS. Phạm Chí Dũng: Thành thật mà nói, tôi cũng không dám hy vọng rằng bỏ đi một nhân vật như Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể làm cho tình hình kinh tế tốt hơn, nhất là với bệnh trạng các huyết mạch tài chính đã xơ vữa cùng tắc nghẽn, luôn chực chờ một sang chấn bùng vỡ.

Tôi hiểu câu hỏi của anh và tâm tư của những người mà tôi có thể đồng cảm. Không phải vì những người này không quá chán ngán não trạng và cung cách của giới quan chức lợi ích và những người theo chủ nghĩa thân hữu, mà có thể họ chưa tìm được một lối ra nào từ thực trạng mà họ coi là “đánh bùn sang ao”. Thay kẻ này thì sẽ có ngay một kẻ khác trám vào, có khi còn tệ hơn nữa - họ nghĩ thế.

Nhưng bài toán đang thắt nút tại điểm sinh tử của nó: nếu những lãnh đạo vô trách nhiệm không ra đi thì ai sẽ phải đi ra? Người dân chăng? Mà nhân dân thì còn nơi nào để mà đi khi mọi nơi đều là quan chức, và hơn thế, mọi nơi đều vang lên tiếng chuông báo động về nạn quan chức lộng hành nhũng nhiễu.

Sự thay đổi tối thiểu, khả dĩ nhất và an toàn nhất đối với Đảng và Chính phủ là cần từ bỏ chế độc quyền kinh doanh và độc quyền quản lý tài chính – điều mà chính Quốc hội cũng đã một số lần phải lên tiếng. Nhưng sự lên tiếng này vẫn còn quá nhỏ nhẹ trong thời buổi âm thanh lũng đoạn ồn ã hơn rất nhiều.

Sự thay đổi tối thiểu, khả dĩ nhất và an toàn nhất đối với Đảng và Chính phủ là cần từ bỏ chế độc quyền kinh doanh và độc quyền quản lý tài chính – điều mà chính Quốc hội cũng đã một số lần phải lên tiếng.
- TS. Phạm Chí Dũng

Nhưng nói gì thì nói, hãy nên bắt đầu từ việc nhỏ với những kết quả nhỏ, bởi những người muốn có một sự thay đổi mang tính cải tổ ngay lập tức sẽ phải rước lấy nỗi thất vọng tức thì. Trong bối cảnh chính trị “đồng hành” với kinh tế như thế này, thật khó có thể xảy ra một biến đổi nào đủ lớn để thỏa mãn một phần nhỏ yêu cầu dân quyền và dân sinh, ít ra cho đến năm 2015.

Mặc Lâm: Ông có chờ đợi một thay đổi chính trị nào từ phía chính phủ để kích hoạt nền kinh tế hiện nay?

TS. Phạm Chí Dũng: Một thay đổi nào đó, nếu có, theo tôi chỉ có thể xảy đến từ Chính phủ. Nếu 2008 là thời điểm khởi đầu cho chu kỳ lao dốc của đường biểu diễn kinh tế quốc gia, thì biểu đồ suy thoái niềm tin công dân đối với Chính phủ cũng song hành không kém thua về khía cạnh bĩ cực.

Chưa bao giờ trong lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam lại có một chính phủ, với một bộ máy công quyền đậm dấu ấn tư quyền và quá tươi hồng trong công tác tham mưu, bị sói mòn niềm tin xã hội đến như thế.

Uy tín cá nhân thủ tướng cũng vì thế bị “giảm sút nghiêm trọng” – như tổng kết của không ít nhà phân tích chính trị trong nước và quốc tế. Nhưng tôi cho rằng tính từ “nghiêm trọng” còn mang hàm ý khiêm tốn, nếu tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân thật sự công khai và minh bạch.

Thật quá rõ, một bộ máy tham mưu như các bộ ngành hiện thời là quá khó cho bất cứ thủ tướng nào trên thế giới để lấy lại những gì đã mất.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

 

 

Tàu, Trung Quốc, Địa Danh, Địa Thế Chánh Trị và Việt NAM


 

Kính Gởi Quí Vị thuộc giới truyền thông, Quí Vị Lãnh Đạo tinh thần , Quí Vị Nhơn Sĩ, Quí bạn hữu,

 

 Tôi mong mỏi được Quí Vị vui lòng chấp nhận một ý kiến nhỏ của tôi trong công cuộc tranh đấu chống cộng sản Việt, hầu đem nền dân chủ về cho dân tộc, trong các cuộc thảo luận và bài viết về :

 

Tàu,  Trung Quốc,  Địa Danh,  Địa Thế Chánh Trị  và  Việt NAM

 

Nếu tôi có sơ sót, Quí Vị vui lòng thứ lỗi. Trước hết, Quí Vị cho phép tôi tự giới thiệu. Năm 1958, tôi tốt nghiệp kỹ sư trường quốc gia khoa học địa dư của Pháp, khác nhiều với cử nhơn sử địa của đại học. 1963, tôi về nước làm công chức VNCH. Sau khi ra khỏi tù cộng sản, 1978-2001, tôi phục vụ Viện Địa Dư Quốc Gia Pháp. Một trong các nghề của tôi là vẽ bản đồ, trong đó địa danh rất quan trọng và người Tàu rành sõi nhứt từ ngàn xưa.

 

Vấn đề địa danh rất quan trọng mà giới hữu trách Việt không hề lưu ý.

Thày dạy địa danh và địa thế chánh trị của tôi là giáo sư ở trường khoa học chánh trị, các trường sĩ quan cao cấp của Pháp, và nhứt là viện lịch sử quân sự thuộc đại học Montpellier. Ta nên dùng danh từ ´địa thế`, ´thế` trong nghĩa ´cán cân tiềm năng, potentiel`̣, Danh từ ´địa thế chánh trị` đã được VNCH dùng khi Nga bắn Spouknik lên không gian. Còn danh từ ´địa lý` đang thường được dùng lại rất đúng ý nghĩa trong ca dao ´thày địa lý té giếng ; có thày địa lý đi đường, ngó nam ngó bắc bốn phương ngó cùng, ...` Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

 

Danh từ ´Trung Quốc`, mà Âu Mỹ dịch là ´Empire du Milieu`, xuất hiện từ trong những năm 1122-770 trước tây lịch, đời nhà Chu, còn gọi là ´Tây Chu` của các vua sau Vua Trụ/Đắc Kỹ, đồng thời với ´Hệ Thống Ba Vòng Đai`(Système des Trois Couronnes). Vòng tròn giữa là nước của thiên tử. Vòng đai thứ nhứt gồm các nước của vua chư hầu trung thành bảo vệ thiên tử. Vòng đai thứ hai là gì, tôi đã quên mất. Vòng đai thứ ba là thuộc địa, hay thuộc quốc, sau này có Tây Tạng, Tân Cương  , Singkiang, Mông Cổ, Mãn Châu, Triều Tiên và … nước của dân tộc Việt chúng ta. Ngoài ba vòng đai là dân rợ phải phòng ngừa và đánh trị. Lúc bấy giờ, khoa học và kỹ thuật của Tàu nổi bậc phát triển, sắt, tơ lụa, mộc của vua, đường hoàng đạo của mặt trời, écliptique….

Lối giữa thời Mãn Thanh, Tàu bỏ lần hồi danh từ Trung Quốc. Nhưng, từ khi thống tướng Tưởng giới Thạch chỉ huy trường võ bị Hoàng Phố, Ông tái dùng danh từ này một cách mãnh liệt. Ông vẽ bản đồ xứ Tàu gồm một phần Ấn Độ và Hồi Quốc chạy sâu xuống phía Nam để bao gồm cả Tích Lan, bên bờ biển phía đông thì Tàu chạy dài từ Đông Dương xuống Mã Lai và Nam Dương …. Đô đốc Decoux, toàn quyền Đông Dương, biết vậy nên tổ chức lũy phòng thủ Hà Nội, nhưng năm 1945 đồng minh lại rướt tướng Lư  Hán vào không tốn một viên đạn. Mặt khác Ông Decoux và hải quân đaị tá Ducroy khuyến khích các bài ca chống Tàu như Hai Bà Trưng, Bạch Đằng Giang … Đa số tướng tá Trung Cộng là do Ông Tưởng Giới Thạch đào tạo với tư tưởng đó và họ sẽ áp dụng về sau khi họ thờ chúa khác.

Cộng sản Hà Nội cố ý giải thích Trung Quốc là rút ngắn của Cộng Hoà Trung Hoa Dân Quốc, nhưng tại sao lại không rút ngắn thành Cộng Quốc ?

Danh từ ´Trung Hoa` không phải chánh thức trong chánh quyền, mà chỉ là do một số sĩ phu muốn nói nước Tàu là ´trung tâm tinh hoa` của nhơn loại, tôi đã quên tiếng Pháp dịch ra là gì.

 

Danh từ ´Tàu` được tổ tiên ta dùng từ lúc nào, tôi không rõ. Tuy nhiên, danh từ ´Chine` được Pháp dùng trước nhứt ở Âu Mỹ, là phiên âm từ tên Tàu ´Ts`in` chỉ định nước Tàu, Nếu trí nhớ tôi còn tốt thì tên Pháp của vua Tàu lúc bấy giờ là ´Tcheng`, Vua đó vừa dẹp xong Chiến Quốc, Tề, Tấn, Tần, Tống, Sở, Ngô, Việt, lấy tên của triều đại mình ´Ts´in`, mà đặt cho xứ sở  thống nhứt. Và nếu tôi có thể lầm, vì có nhà sử học người Pháp đã dùng tên của triều đại ´XIA` , trước nhà Thương/Vua Trụ, nhưng tôi không nghĩ vậy.  

 

Giới địa thế chánh trị Pháp đã tiếc dùng danh từ ´Viễn Đông`, Far East, dịch từ tiếng Anh. Danh từ đó có nghĩa là ´phần lãnh thổ của hoàng gia Anh ở biệt mù xa xôi phía đông Luân Đôn`. Lúc bấy giờ, Pháp có ´Hòn ngọc Viễn Đông/SàiGòn, nhượng địa Viễn Đông ở bên Tàu … Giới này âm thầm từ từ xoá bỏ danh từ đó. Pháp có thể gọi một nước là Grande Bretagne không hề gì, vì Pháp có vùng Bretagne.

Khi chúng ta gọi ´Đại Hàn` để chỉ định Nam Triều Tiên hay Nam Cao Ly, chúng ta khúm núm tự cho nước mình là tiểu quốc.

Khi chúng ta gọi Xiêm La là ´Thái Lan`, mặc nhiên ta nhìn nhận một vùng da beo không nhỏ của Bắc Việt có những đốm cư ngụ của người Thái thuộc nước Xiêm La như thống chế Phibul Songram đã đòi trong đệ nhị thế chiến với sự hổ trợ của Nhựt Bổn. Không có một sách lịch sử Việt và Pháp nào nhắc đến việc đó. Lúc bấy giờ, Xiêm La đánh phá ranh giới phía tây Đông Dương với khí giới Nhựt Bổn tối tân hơn của Pháp. Xiêm La lại nhận chiến hạm tối tân của Nhựt Bổn và của Y Pha Nho vì tướng Franco thân Đức, với lịnh thay mặt Nhựt Bổn tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Pháp. Đô đốc Decoux, toàn quyền Đông Dương ra lịnh cho hải quân đại tá Béranger ra tay trước khi thuỷ thủ đoàn của Xiêm La được huấn luyện thuần thục. Soái hạm củ kỹlỗi thời là La Motte Piquet, tên hiện nay của một trạm métro Paris. 1943, nhờ bất ngờ, chiến thuật cao kỳ và nhứt là pháo binh xuất sắc, trong vài giờ đồng hồ, vài chiếc tàu cũ kỹ của Pháp đã đưa xuống đáy biển Kok Chang toàn hạm đội Xiêm La. Nhựt Bổn nhảy vô can thiệp, chia trái quít làm đôi, Pháp đành nhượng hữu ngạn sông Cửu Long bên Lào và hai tỉnh của Cao Miên cho Xiêm La và được giữ lại đất Thái của Bắc Việt. Xiêm La thua trận giặc mà lại thắng lãnh thổ, lạ kỳ. Vua Luang Brabang buồn bỏ ngôi, Ông Decoux phải gom ba vương quốc Luang Brabang, Vientiane, Paksé và phần Cánh Đồng Chum của nước Việt lại để tặng và giữ vua Luang Brabang trên ngôi.

Tuy nhiên, cả thế giới phớt lờ vấn đề tên Xiêm La/Thái Lan. Cá nhơn tôi được biết chuyện đó. Lối năm 1960, tôi đã tốt nghiệp trường địa dư, tôi xin yết kiến đô đốc Decoux, người đã bị tướng De Gaulle nhốt tù vì Đông Dương. Ông bận du lịch ngoại quốc với Bà Decoux 2, và Sở Lịch Sử Quân Đội gởi tôi đến núi Alpes, gia đình Bà Decoux 1, rất tiếc không có mặt Bà vì Bà đã mất ở Việt Nam, có một số tướng tá thân cận lục và hải quân vui mừng niềm nở tiếp đón nuôi tôi trong một tuần lễ. Họ mong tôi mang về Việt Nam cuộc nói chuyện với họ. Xin nhắc lại Bà Decoux 1 đã chết tai nạn trên đường Sài Gòn Đà Lạt khi đi can gián ghen tương Hoàng Hậu Nam Phương với Hoàng Đế Bảo Đại.

 

Trở lại địa danh của nước Việt yêu dấu. Rất nhiều địa danh của ta chứng tõ ta không hiếu chiến mà cần cù, làm ăn, yêu hoà bình … như : Thái Bình, Hoà Bình, Bình Định, Gia Định, Bình Hoà …. Tuy nhiên, khi ai cũng biết dân tộc ta xưa kia ở phía Bắc xa xôi, bị xua đuổi lần về phía Nam, mà tên nước ta lại mang thêm chữ ´NAM` như An NAM, Việt NAM thì ta hãy suy nghĩ Vua ta mong muốn gì ? Hãy xem lại danh từ ´Viễn Đông`, và ´Thái Lan` kể ở trên. Càng tự đặt mình tham chiếu vị trí kẽ khác là càng tự lệ thuộc, cho nên người Tàu cứ xem như ta tự tình nguyện chấp nhận đô hộ của họ.

Khi người Anh đến làm bản đồ Biển Đông cho tàu bè lưu thông, họ xin Vua ta biệt phái một thông ngôn, tôi không còn nhớ Vua nào. Vua ta từ chối, nghĩ rằng Anh muốn xâm chiếm đất nước. Vì thế, Bà Vua Tàu, tôi đã quên tên, cho họ một thông ngôn. Tên này mới cho người Anh tên Nam Hải /Mer de Chine du Sud thay vì Biển Đông và nhiều tên Tàu cho các cù lao của ta để người Anh phiên âm.

 

Địa danh là đầu cầu từ phong cảnh bề mặt im lìm bất động nhìn thấy bước qua địa thế chánh trị nghĩa là mặt trái đầy sôi động luân chuyển của tấm bản đồ. Người Tàu là bậc thầy từ ngàn xưa, trước SUN TZU ?. Địa thế chánh trị mà mỗi nước tự tìm áp dụng hiện nay chỉ là sự biến đổi cho hạp thời thế, võ khí mới, tâm lý mới , …, của ba địa thế chánh trị căn bản của ba vị tuy không địa vị cao, sống ẩn dật,  nhưng tài cán bậc thầy khiến các quốc trưởng phải theo, nhưng không đề cao họ. Hiểu biết sâu rộng nhứt của các Ông này là Địa Dư, hình thể, kinh tế, hầm mỏ, nhơn sự, tuy họ là quân nhơn. Ta phải biết rằng chính quân đội tìm ra địa dư và đã dạy từ lâu trước khi dạy lan rộng ra để phục vụ kinh tế quần chúng.

Người mà ta thường nghe nói nhứt, tưởng cao tay nhứt là tướng tài prussien Clausewitz năm 1800, Ông tổ chức quân đội Đức mà Nga bắt chước theo, thắng Pháp dễ dàng, viết nhiều sách chiến lược thực tiển. Clausewitz chưa tới hạng ba vị trên.

 Vị thứ nhứt là SUN TZU bên Tàu , thế kỷ thứ 5 trước tây lịch. Điểm mạnh của Ông này là tâm lý chiến trên địa thế chánh trị. Sách của Ông còn được dạy ở các trường quân sự Âu Mỹ ngày nay. Bài học của Ông được cộng sản áp dụng mãnh liệt, thời chiến nóng như thời chiến lạnh, ´ bất chiến tự nhiên thành`, đối thủ ´hồ hởi phấn khởi tự nạp mình vô rọ `. Người áp dụng xuất sắc nhứt là Khổng Minh thời Tam Quốc.

Vị thứ nhì là Đề Đốc Mac Mahan của Huê Kỳ. Ông chưa hề chỉ huy chiến hạm, chỉ dạy học ở trường cao cấp Hải Quân, viết sách trao đổi kinh tế trên thế giới. Ông chủ trương Huê kỳ phải làm giàu bằng chiến lược đường biển. Ông nghĩ ra và Chánh Phủ thực hiện bước đầu tiên là tiêu diệt hạm đội Y Pha Nho ở Cuba và ở Phi Luật Tân, mặc dầu hạm đội Y Pha Nho tối tân và mạnh hơn Huê Kỳ nhiều. Ngày nay, cả thế giới, Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Tàu ... đều áp dụng nguyên tắc địa thế chánh trị đường biển của Ông với vài thay đổi cho hạp vị trí mỗi đất nước.

Vị thứ ba là tướng Hausshofer của Đức. Ông ốm yếu không ra vẽ tướng này đã tìm ra địa thế chánh trị lục địa, áp dụng thứ nhứt là chiến lược ´TRỤC`, Đồng Minh gọi là ´Axe`, liên minh Đức, Nga, Nhựt Bổn, trước hết là để tìm được nguyên liệu để đánh giặc. Đồng minh rất sợ chiến lược của Ông và biết họ sẽ thắng trận khi Hitler nghe dèm pha, gởi đuổi Ông sang làm cố vấn cho quân đội Nhựt Bổn. Hitler bỏ Nga, bắt tay với Ý để trực tiếp tranh với người Anh bên Phi Châu. 1945, mặc dầu tướng Hausshofer không đáng là tội phạm chiến tranh, song đồng minh vẫn có lý do treo cổ Ông để tiệt hậu hoạ.

Chúng ta sống trên đất Pháp, chúng ta cũng nên biết người Pháp cũng có một vị Đô Đốc thông hiểu địa thế chánh trị cao, áp dụng trong chiến lược bảo vệ ranh giới phía Bắc lãnh thổ ta và đã anh dũng tử trận cho công cuộc đó. Sử Việt và cả Pháp không có viết. Đó là Đô Đốc COURBET. Tuy thuộc binh chủng hải quân, nhưng Ông đã thắng quân Cờ Đen huy hoàng trên đất liền, một chống mười, tại Tuyên Quang, ghi danh trong sử quân sự. Vua Tàu tiếp tục sai Cờ Đen phá khuấy mãi bằng du kích, Ông từ chức tư lịnh lục và hải quân ở Bắc Việt và xin được chức tư lịnh 2 sư đoàn hải quân qua phạt Vua Tàu. Ông đánh chìm tất cả chiến hạm và phá nát các hải quân công xưởng mà người Đức dài công cung cấp và xây dựng cho Tàu. Vua Tàu mới chấp thuận ký Hoà Ước Thiên Tân bảo đảm biên giới Bắc Việt. Vua Tàu bỏ Lưu Vĩnh Phước Cờ Đen chạy sang Đài Loan. Đô Đốc Courbet đuổi theo, đổ bộ lên đảo này, nhưng vì không biết địa dư và khí hậu địa phương, Ông tử trận năm 1885. Tôi xin kể thêm. Lưu Vĩnh Phước được thổ dân bầu làm Tổng Thống, vị Tổng Thống do dân bầu cử tự do đầu tiên ở Á Châu. 100 ngày sau, Nhựt Bổn đổ bộ, giết tất cả Cờ Đen, Nhựt xem dân bổn xứ Đài Loan ngang hàng dân Nhựt, và giữ đảo này đến 1945.  1949,Thống Tướng Tưởng Giới Thạch chiếm đảo và hành hạ trả đủa dân địa phương. Tôi xin phép kể thêm nữa, Trung Tướng SIMON, chủ tịch ANAI, Association Nationale des Amis de l`Indochine, có Ông Nội là một trong các sĩ quan địa dư đầu tiên, tiền thân của kỹ sư địa dư ngày nay, hơn 100 năm trước, đã cùng với sĩ quan Tàu cắm mốc ranh giới giữa hai nước theo Hoà Ước Thiên Tân.

Nói tóm lại, khi ta khúm núm gọi Tàu là Trung Quốc, ta muốn cho mọi nước khác biết rằng ta nhìn nước Tàu là mẫu quốc, và nước Việt là thuộc địa, colonie, hoặc thuộc quốc, territoire, của Tàu, tương tự như territoire outre mer của Pháp.

Tôi viết vài trang giấy trên để dâng lên cho tất cả Quí Vị thuộc giới truyền thông, Quí Vị Lãnh Đạo tinh thần, Quí Vị Nhơn Sĩ, Quí bạn hữu, với lời cầu xin lưu ý chiến tranh ngậm giấm của người Tàu. Họ vẫn còn áp dụng tâm lý chiến của SUN TZU. Ngoài ra, tôi xin Quí Vị vui lòng phổ biến.

 

Trần Văn Thu

Ngoại trưởng Úc đặt vấn đề nhân quyền với chính phủ Việt Nam


 

Thứ ba, 02/07/2013

Nghe

Xem

Tin tức / Việt Nam


Ngoại trưởng Úc đặt vấn đề nhân quyền với chính phủ Việt Nam



Bộ trưởng Ngoại giao Australia Bob Carr.

Bộ trưởng Ngoại giao Australia Bob Carr.

  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ



Hình ảnh/Video



Video

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 29/6/2013



Video

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 28/6/2013


CỠ CHỮ 

02.07.2013

Ngoại trưởng Australia Bob Carr yêu cầu chính phủ Việt Nam phóng thích 3 nhân vật hoạt động cho quyền của người lao động đã bị giam cầm trong 3 năm qua.

SBS, Hệ thống phát thanh đặc biệt của Australia, trích tin của hãng tin AAP hôm nay tường trình rằng Ngoại trưởng Australia Bob Carr đã yêu cầu Hà Nội phóng thích 3 nhà hoạt động bênh vực quyền của người lao động Việt Nam ra khỏi nhà tù.

Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh đã bị kết án hồi năm 2010 vì vai trò của họ trong một cuộc đình công tại một xưởng sản xuất giầy dép tại Việt Nam.

Trong một thông báo, Bộ trưởng Ngoại giao Úc phát biểu:

“Chúng tôi nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tự do lập hội, và quyền tự do thành lập công đoàn. Hôm nay tôi đã yêu cầu Việt Nam trả tự do cho những cá nhân này.”

Hồi đầu tháng 6 vừa rồi, cả ba nhà hoạt động trẻ tuổi này đã được nêu tên trên trang mạng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, khi Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao Động Daniel Baer nhắc tới 120 tù nhân chính trị bị giam cầm tại Việt Nam chỉ vì đã hành sử quyền tự do ngôn luận.

Theo tin của AAP, Ngoại Trưởng Carr đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Brunei.

Nguồn tin cũng cho hay trong dịp này ông Bob Carr còn nêu lên trường hợp của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Luật sư  Lê Quốc Quân, người sẽ ra tòa về tội trốn thuế vào ngày 6 tháng 7 sắp tới.

Ngoại trưởng Carr thuật lại rằng Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cho biết ông sẽ yêu cầu điều tra 5 trường hợp đã được Ngoại trưởng Carr nêu ra.

Nguồn: AAP, Bloomberg, Vnexpress

 

Sự dối trá bao trùm xã hội


 

 

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi9nkCHmAGlHfNyH1WWLW8Xwb-mX64SonIt-2xCSbsw3zxW3wVXYRnOz2-UbZSB6ucI9Bdc3YYavh6MUbaxZAQ3LZumI04qvKOFXh_pl4D67j4x4yOoQRN3_o1qM27U7hXDzeMuQW7fq5LR/s1600/hienphap-cuadang-Danlambao.jpg

Sự dối trá bao trùm xã hội

Thính giả gửi RFA
2013-07-02
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Del353914-305.jpg
Tòa án Nhân dân TPHCM, ảnh minh họa.
AFP photo
Chưa bao giờ chất lượng giá trị của cuộc sống lại xuống thấp như hiện nay ở Việt Nam, vì xã hội đã coi sự dối trá là một việc bình thường, niềm tin giữa con người với nhau đã bị lung lay, đi tới đâu ta cũng nghe bàn tán tới sự lừa đảo giựt dọc nhau, trong làm ăn, trong giao tiếp, trong mua bán với nhau ngoài xã hội, đọc báo chí ta cũng biết đầy rẫy sự lừa đảo nhau ở mọi cấp độ trong xã hội, ở đây người viết không thể thống kê lên hết những lừa đảo dối trá của xã hội với nhau, nhưng người viết xin được đưa ra những nhận định về các nguyên nhân đã gây ra sự xuống cấp này.
Do nhiều nguyên nhân
Ai cũng biết sở dĩ con người dối trá với nhau có rất nhiều nguyên nhân, như vì sợ hãi người ta bắt buộc phải dối trá để che giấu tội lỗi của mình, như vì tham lam, tham danh, tham sắc, tham tiền, người ta phải dối trá để thỏa mãn lòng ham muốn của mình, tóm lại có rất nhiều nguyên nhân thiên hình vạn trạng mà bất cứ ai, bất cứ xã hội nào cũng có thể phạm phải, nhưng đó cũng chẳng phải là trọng tâm mà người viết muốn nói tới, điều quan trọng người viết muốn nói ra đây bởi vì nó là nguyên nhân nguy hiểm gấp vạn lần, đó chính là do cơ chế của chính quyền đã tạo cho người dân bắt buộc phải dối trá để tồn tại.
Người viết xin đơn cử một trường hợp gần đây khi chính quyền nhà nước phát động phong trào lấy ý kiến của người dân về việc sửa đổi hiến pháp, chính quyền họ cấp phát cho mỗi hộ gia đình một bộ tài liệu của bản sửa đổi hiến pháp 1992 do nhà nước đã quy định và một tờ giấy để người dân trong mỗi hộ góp ý kiến về nội dung của bản sửa đổi hiến pháp đó.
Thú thật khi nhận bộ tài liệu đó không những cá nhân tôi mà những người thân thuộc cũng không quan tâm gì mấy, chỉ biết cười trừ, cảm giác giống như gặp vấn đề gì đó quá quen thuộc và không có gì đáng bận tâm cả, mặc dù đây là lần đầu tiên tôi gặp phải vấn đề này, và phải đợi hơn nửa tháng sau khi tổ dân phố đến thu lại tờ góp ý kiến đó tôi mới vội đặt bút phê lên vài dòng chử là “gia đình tôi đồng ý với bản sửa đổi hiến pháp mà nhà nước đã quy định” dù trong thâm tâm tôi lúc đó lại nghĩ khác, nhưng vì bản năng sinh tồn muốn cầu an nên tôi không còn có cách nào khác.
Nhưng cách đây vài ngày khi lên mạng vô tình tôi đã đọc được danh sách của cả 72 nhân sĩ trí thức góp ý kiến và bản dự thảo về việc sửa đổi hiến pháp trong đó có yêu cầu xóa bỏ điều 4 hiến pháp, phải nói tôi cảm thấy thẹn với lòng mình thật nhiều. Những bậc nhân sĩ này đa số họ đều đã lớn tuổi có một quá trình phục vụ lâu dài cho chế độ không chừng họ vẫn còn hưởng bổng lộc của nhà nước, và con cái thân nhân họ còn có người đang làm việc cho chế độ, ấy vậy mà họ vẫn can đảm công bố tên thật địa chỉ thật họ một cách rõ ràng lên trang báo.
Đồng thời một trường hợp nữa là của TS Cù Huy Hà Vũ, ông ấy đã dám đánh đố mạng sống của mình đối với chế độ khi đã dám tuyên bố tuyệt thực đến khi nào chính quyền giải quyết theo đơn khiếu kiện của ông, đây cũng phải nói là một sự thách đố đối với chế độ mà chỉ những người có thần kinh thép mới dám làm, tôi xin thật lòng nghiêng mình bái phục vì nhân cách can đảm có một không hai của họ, phải nói con người giả thật là ở chỗ khi đụng chạm tới quyền lợi trực tiếp của bản thân mà họ vẫn xem thường quyền lợi và tính mạng mình thì không phải ai cũng dễ dàng làm được, tôi xin được vinh danh họ.
Mặc dù con đường tiến lên dân chủ còn nhiều gian nan nhưng nếu sau này phòng trào dân chủ có thành công thì đừng bao giờ quên công lao khai sơn phá thạch đầu tiên của những người này và bao nhiêu đó cũng xứng đáng để ta đề cử nên có được những con đường mang tên các vị này.
Bản thân tôi chỉ là thành phần hạ tiện vô danh tiểu tốt trong xã hội, từ khi còn tuổi thiếu niên tôi đã chứng kiến cảnh cha tôi đã bị chế độ cộng sản giết chết lầm lẫn và oan ức một cách dã man trong thời kỳ gọi là “phong trào giết lầm hơn tha lầm” nên phải nói đầu óc của tôi luôn mang nặng ấn tượng về cái tính cách cai trị giả dối, áp đặt, xem thường mạng sống người dân của chế độ hiện tại, nên tôi rất nhạy cảm với mọi động thái của chế độ và của các viên chức an ninh ở địa phương, vì họ biết gia đình tôi thuộc loại có ác cảm đối với chế độ và cũng nhờ có chút ít kiến thức về lịch sử, nên tôi cũng biết chế độ cộng sản này rất độc đoán và ác độc từ xưa với mọi người dân trong cách cai trị của họ nên tôi vẫn luôn dè chừng và phòng xa mọi trường hợp có thể xảy ra cho bản thân mình và gia đình, vì có con làm lao công trong một công ty kinh tế nhỏ của nhà nước, lương mỗi tháng dù chẳng bao nhiêu, nhưng đó là tất cả những gì chúng tôi có để sinh sống hàng ngày, bản thân tôi lớn tuổi thất nghiệp sống kiếp chùm gửi vào con, vì sợ con bị đuổi việc thì chắc chắn tai họa sẽ tức thì đến với bản thân và gia đình nên chúng tôi chẳng bao giờ dám nói ra sự thật lòng mình dù đó là những điều chúng tôi nghĩ là bản hiến pháp mới nên bỏ điều 4 để tạo cơ hội cho đất nước tiến lên dân chủ, vì chỉ có con đường đó thì đất nước mới có cơ hội trở nên cường thịnh và công bằng xã hội được, nhưng vì bản chất hèn hạ cầu an, từ nhỏ luôn sợ hãi mặc cảm với chế độ mà tôi đã đánh mất cơ hội để góp tay xây dựng nền dân chủ cho đất nước.
Vấn đề Tôn giáo
Trở lại vấn đề xuống cấp về đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay, theo tôi nghĩ, cái chính là thể chế cộng sản hiện nay dù gọi là đã đổi mới gần 30 năm nay, nhưng vì vẫn cố tình giữ vị thế chính trị độc đảng nên bản chất của đảng đối với tôn giáo vẫn không thay đổi mấy.
Dù bên ngoài họ không cấm đoán người dân tu hành hoặc đến chùa chiền, nhưng bên trong họ vẫn luôn kiểm soát mọi hoạt động của tôn giáo, họ luôn nghi ngờ những giáo sĩ có tinh thần độc lập, chính những điều này đã làm mất tính tự nhiên tự chủ của giáo sĩ và tạo sự nghi ngờ quấy rối nhau trong nội bộ.
Thử hỏi một giáo sĩ luôn bị theo dõi, hoặc luôn bị quấy rối về tinh thần thì họ có thể yên tâm tu hành không, chưa kể những bài giảng nếu vô tình phạm úy thì coi như tiêu đời, họ không có quyền nói ra những sự thật của xã hội, cho nên trong tôn giáo người ta cũng phải dối trá với nhau để tồn tại, giáo điều của cộng sản họ không bao giờ tin vào khía cạnh tâm linh, cho nên họ bất chấp và xem thường tất cả mọi khía cạnh của tâm linh, cái gì có lợi cho đảng thì họ làm, ta thấy các vụ xử án đối với các blogger vừa rồi là một bằng chứng, họ hoàn toàn độc tài trong cách xử tù người khác.
Chính vì thế mà niềm tin của người dân đối với chính thể bị lung lay, dù không phải xử chính họ nhưng người dân cảm thấy bất an, bị hoang mang và cảm thấy không lúc nào được an toàn, ý thức sinh tồn khiến các đức tính phải nghi ngờ, phải che giấu và phải dối trá với nhau là một phản ứng tự nhiên dây chuyền trong xã hội.
Chính quyền họ dùng hình ảnh và nhân cách của HCM như là một đối tượng để người dân tôn thờ, họ luôn thổi phồng và cố thêu dệt về một nhân vật xuất chúng, không vợ con suốt cuộc đời luôn lo cho nước cho dân, nhưng với hệ thống internet hiện nay, mọi thông tin đều được minh bạch và giải mã, nên phương pháp này mất hết tác dụng và nhiều khi gây hậu quả ngược lại, nhất là đối với giới trí thức thì khó mà lừa họ được, chỉ những người dân sống dốt thông tin và những người sống dựa vào chế độ thì có thể họ chấp nhận.
Nhưng theo người viết thấy cái gì thiếu chân thật, không chân chính thì dù chúng ta có cố sơn phết, tô hồng cách nào đi nữa thì với thời gian lịch sử sẽ phơi bày tất cả. Và khi đó thì họ sẽ sẵn sàng quăng tất cả vào sọt rác mà không có gì nuối tiếc. Các xã hội dân chủ văn minh vì cái cơ chế của họ, bắt buộc mọi người cả quan chức lãnh đạo chính quyền và người dân nếu muốn tồn tại và được tôn trọng là phải minh bạch thông tin, không được dối trá, nên người dân trong xã hội luôn ý thức vấn đề quan trọng đó vì vậy nhân cách của họ mỗi ngày thêm cao đẹp, và hạnh phúc của họ luôn bền vững, còn những người dân và quan chức chính quyền sống trong các nước công sản như Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta biết xã hội của hai nước này đầy sự dối trá về mọi lãnh vực, không thể kể ra hết. Người tốt khi vào làm việc cho chế độ rồi thì cũng sẽ trở thành xấu, vì nền giáo dục của họ chỉ đặt trọng tâm vào bác vào đảng, mà không bao giờ coi trọng vào giá trị nhân cách của bản thân và đồng loại mình.
Tóm lại trong xã hội Việt Nam hiện nay, dù còn rất nhiều vấn đề cần phải nói, nhưng chúng ta rất mừng vì trước mắt chúng ta còn có 72 bông sen, và những nhà tranh đấu cho dân chủ như Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung...vv..., cùng tất cả các blogger đang thọ nạn trong lao tù cộng sản họ chính là những bông sen, sống trong lao tù của chế độ mà họ không bao giờ nhiễm phải bùn nhơ của chế độ, nên xem họ như là các bậc bồ tát các vị thánh tương lai của đất nước, họ đang thọ nạn thế cho chúng ta và với tính chất cương định của mình, họ như một mũi khoang kim cương sẽ lần lượt đục thủng và loại trừ tất cả những gì gọi là dối trá và bất chánh của đất nước.

Tin, bài liên quan



Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link