Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, July 13, 2013

Việt cộng đã hiện nguyên hình hài.... sau tuyên bố chung Việt Trung ngày 21/6/13





Cộng Sãn Việt Nam, sẽ bị sụp đỗ trong những ngày tháng năm gần nhứt .....Vì độc đảng và tham nhũng, người Dân trong nước đang chờ đợi ngày sụp đỗ của chế độ nầy ~

Nếu có ai đó ~ can đảm và dám làm nên lịch sử, để chịu hy sinh , tự thiêu hoặc dùng vũ khí đánh bom tự sát tại trong nước liên tục ~ thì đồng bào trong nước sẽ đứng lên nổi dậy và chế độ độc tài Cộng Sản sụp đỗ tức khắc ~

Đừng nghe những gì bọn phở bò nói ( Hèn ~ Tay Sai Việt Cộng )

Hãy nhìn kỷ những gì bọn phở bò làm ~ ( Bất Bạo Động )

Chúng ta muốn Dân Tộc VN được Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền , phải can đảm hành động hy sinh cho Dân Tộc ~

Trân trọng.

Đạo Diễn Hoài Phong

Nguen Tran ( Hoai Phong Director & Production )




 

 

 



From: Vie^.t Si~ <vietsi2002@yahoo.com>
To:
Sent: Tuesday, July 9, 2013 11:39 PM
Subject: [Chinh Luan] Việt cộng đã hiện nguyên hình hài.... sau tuyên bố chung Việt Trung ngày 21/6/13

 

 

 

 

From: San Le D.

Subject: Việt cộng đã hiện nguyên hình hài.... sau tuyên bố chung Việt Trung ngày 21/6/13

KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC) MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC) MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)


From: Dan Khuongtu
Sent: Tuesday, July 9, 2013 6:51 PM
Subject: 
Việt cộng đã hiện nguyên hình hài.... sau tuyên bố chung Việt Trung ngày 21/6/13

 

 

 

Xin tự do phổ biến tùy nghi.  KTD

 

Việt cộng đã hiện nguyên hình hài.... sau tuyên bố chung Việt Trung ngày 21/6/13

Khương Tử Dân

 

Quan hệ chính trị của Việt Cộng với Tầu cộng khắng khít, kết họp làm cầu nối được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai hóa họp từ ngày Hồ Chí Minh mang danh xưng là Lý Thụy kết nghĩa phu thê với Tăng Tuyết Minh. Cuộc hôn nhân này làm cầu nối để  Hồ Chí Minh đời đời làm nô lệ cho Tầu cộng. Quan hệ Tầu Việt cộng như có chất keo hóa học, dính liền kết nối với nhau, như sông liền sông, núi liền núi, tình  đồng chí, nghĩa thiên tử chư hầu như đã được khẳng định từ thời Mao Trạch Đông, tiếp nối đến Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, cho đến thái tử Tập Cận Bình.....Cái nguyên lý ấy như đã khắc sâu vào đầu óc của các tên gian ác đầu não Tầu Việt cộng, sẽ không bao giờ thay đổi từ khi đảng Cộng sản Việt nam được thành lập năm 1930. Do đó tất cả các lãnh đạo chóp bu đảng Việt cộng trong chức vụ Tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch đảng, có quyền lực nhất từ thời Trần Phú, Lê Hồng Phong...  Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang.... phải lần lược thăm viếng, triều cống thiên triều Tầu cộng để nhận mệnh lệnh, chỉ đạo của tân chủ tịch Tập Cận Bình theo nghi thức của một nước chư hầu.

 

Hệ thống tuyên truyền của Việt cộng loan tin là chủ tịch Trương Tấn Sang bị triệu tập là để “hội đàm” với tổng bí thư, chủ tịch Tập Cận Bình cho có vẻ phong thái tư cách của một chủ tịch nước Việt cộng. Trên thực tế, Trương Tấn Sang không được hội đàm với Tập Cận Bình mà chỉ được hội đàm với Lý Khắc Cường, thủ tướng. Văn bản tuyên bố chung, bao gồm những thỏa thuận về biên giới lãnh thổ ở phương Bắc với Tầu cộng, và về lãnh hải trong Vịnh Bắc Việt. Tầu cộng không đề cập tới các việc tranh chấp ở Biển Đông, nhất là về chủ quyền của hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tầu cộng đã tự xem công hàm của Phạm văn Đồng ký năm 1958 đã đương nhiên thừa nhận chủ quyền của Tầu cộng trên Biển Đông và hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trương Tấn Sang  cũng không đề cập đặt câu hỏi về vấn đề này, vì đã không có trong chương trình nghị sự cho ba ngày thăm viếng của chủ tịch Trương Tấn Sang. Tại sao Trương Tấn Sang lại lếu láo với quần chúng trong nước trước ngày lên đường đi triều cống thiên triều Tầu cộng? Chắc không ngoài mục đích năng nổ, lừa bịp, lường gạt dư luận theo bản chất, truyền thống của Việt cộng?

 

Mở đầu bản tuyên bố chung, Tầu cộng đã đem ý nghĩa về 16 chữ vàng, và 4 tốt để nhắc nhở Trương Tấn Sang cùng phái đoàn gia nô, và đảng bán nước buôn dân Việt cộng ghi tâm khắc cốt: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”  trong tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Tầu cộng đã cố tình nhắc nhở Việt cộng đến bài học mà Đặng Tiểu Bình đã dạy cho Việt cộng, và những giáo điều Giang Trạch Dân đã đề ra. Đâylà thái độ trịch thượng của Tầu cộng đối với một nước chư hầu.

Theo tuyên truyền báo lề phải của Việt cộng thì cuộc chiến với Tầu cộng năm 1979 chỉ xảy ra ngắn hạn vì Tầu cộng đã tổn thất nặng nề, phải rút quân. Việt cộng đã chiến thắng. Tuy tuyên bố là chiến thắng, nhưng Việt cộng lại phải cắt đất ở biên giới, mất Bản Giốc, Aỉ Nam Quan và mất cả đảo Trường Sa năm 1988. Báo chí ngoại quốc đã thông tin là trận chiến ờ biên giới Bắc Việt cộng đã tiếp diễn đến cuối năm 1989. Như vậy cuộc chiến với Tầu Cộng đã kéo dài ít nhất 10 năm, không phải ngắn hạn.  Chiến tranh Tầu Việt cộng trong quan hệ tình đồng chí nghĩa đồng đô, quyền lợi  biên giới, lãnh hải  đã giết hại hàng trăm ngàn dân lành vô tội, không ngoài mục đích độc tài cướp của, chiếm đoạt tài sản của dân, của đất nước. Đảng Việt cộng đã hành động không khác gì những tên cướp của một đảng cướp tàn nhẫn, dã man. Cả hai đảng Việt Tầu cộng đều gian ác, tàn nhẫn như nhau. Họ muốn cầm quyền, cai trị, bất chấp thủ đoạn để tồn tại trên xương máu, xác chết của dân.

Bản văn tuyên bố chung Việt Trung đã phơi bày sự thật về những quan hệ , quyền lợi tranh đoạt, cưỡng chiếm của loài súc sinh Việt Tầu cộng. Việt cộng đã tự biểu lộ bản chất gian ác, tàn nhẫn, mưu đồ bán nước buôn dân trong suốt hơn tám thập niên qua, để tận diệt những ai đối kháng, chống đối với đảng và nhà nước bất chấp họ là công nhân viên, nông dân hay thành phần “trí phú, địa, hào”. Dưới chế độ cộng sản chỉ có đảng viên Việt cộng, đồng hành dưới lá cờ máu, có cùng bản chất tàn nhẫn, gian manh thì sống còn, cùng xây dựng một giai cập tư bản đỏ độc tôn, độc tài, vô thần, vô tôn giáo, vô gia đình. Người Việt tự do chắc chắc đã dứt khoát, khẳng định sẽ không bao giờ hoà giải, hòa họp, đoàn kết với bọn người tàn nhẫn, khát máu, vô nhân tính.

 

Dĩ nhiên là bọn Việt cộng không bao giờ quên được cuộc chiến với Tầu cộng năm 1979 mà Đặng Tiểu Bình đã dạy cho Việt cộng một bài học đích đáng. Bài học này đã kéo dài hơn ba thập niên, chừ phải ký kết bản tuyên bố chung, phơi bày sự thật , để lộ nguyên dạng hình hài cẩu nô khuyển mã, bán nước buôn dân để cầu vinh. Kịch bản chư hầu, cẩu nô, tay sai khuyển mã của đảng Việt cộng sẽ không thay đổi trong vai trò chó săn để được tiếp tục bốc lột, đánh cướp dân lành địa phương như hơn tám thập niên qua, để duy trì quyền lực đảng, tài sản của giai cấp tư bản đỏ đã đánh cướp, cưỡng chiếm được từ sau ngày quốc hận 30/4/75.  Đảng Việt cộng, không có sự chọn lựa nào khác để giữ đảng, ngoài hình thức bán nước mà PhạmVăn Đồng và Hồ Chí Minh đã làm. Toàn văn bản tuyên bố chung đã ký kết với Tầu cộng  ngày 21/6/13 đã phơi bày vai trò chư hầu, cẩu nô của Việt cộng. Tất cả những văn kiện về kinh tế, tài chánh, nông nghiệp, chính trị, văn hóa, giáo dục, quân đội, công an, cảnh sát... trong bản tuyên bố chung là những bản an chung thân khỗ sai cho toàn đảng viên lớn nhỏ của đảng Việt cộng bán nước buôn dân. Đảng Việt cộng đã để lại một kịch bản tàn nhẫn, gian ác nhất trong lịch sử bán nước buôn dân. Giặc nội xâm Việt cộng Hanội đã hoàn toàn lệ thuộc giặc ngoại xâm Tầu cộng dưới mọi hình thức. Đấy là một điều ô nhục cho đảng Việt cộng, đã phải bán vịnh, bán biển, bán đảo, bán lãnh thỗ, chịu ô nhục, quỳ lạy Tầu cộng để giữ đảng, dù phải làm tay sai, khuyển mã, cẩu nô cho Tâ`u cộng.

 

Sau khi nhắc nhở cho Việt cộng Hà nội biết rõ về quan hệ, lệ thuộc qua 16 chữ vàng và 4 tốt, bản tuyên bố đã đi sâu vào vấn đề đã được ký kết để khẳng định đường ranh giới lãnh thổ qua các tỉnh miền Bắc liền biên giới Tầu cộng. Đấy là hậu quả thảm bại trong cuộc chiến 1979-1989 với Tầu cộng mà Việt cộng đã chấp nhận  để giữ đảng. Việt cộng lúc đó ôm chân Liên Sô, bỏ Tầu theo Liên sô, nhưng không ngờ Liên sô cũng tan rả, Việt cộng lại trở về với Tầu, quỳ lạy xin làm chư hầu trong mưu đồ tiếp tục cai trị toàn dân, toàn lãnh thổ Việt Nam. Cái nhục nhã đó đã biều hiện rõ trong các văn bản đã ký kết trong tuyên bố chung với lãnh đạo Tầu cộng. Như công trình xây dựng xa lộ cao tốc, đường sắt cao tốc  từ Lào Cai và tử Lạng Sơn dẫn tới Hà Nội, hải Phong, Quãng Ninh theo đúng chỉ đạo về  tiến trình, qui hoạch của Tầu cộng đề xuất. Thực hiện tam giác Côn Minh, Nam Ninh và Quãng Ninh qua trục Côn minh- Hà Nội, Hài Phòng thành một vùng tam giác kinh tế Việt Trung toàn khu vực rộng lớn. Nhưng thực tế Tầu cộng chỉ muốn tập trung tại các tỉnh thành quan trọng đông dân cư như Hà nội, Hải phòng, và Quãng ninh nên đã đề xuất ra một khu vực kinh tế mới Việt Trung, được mệnh danh là “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung” đối diện với Vịnh Bắc và đảo Hải Nam. Các đảng viên thuộc giai cắp tp bản đỏ đã vui mừng mở cờ trong bụng vì đấy là cơ hội để cưỡng đoạt đất đai, ruộng vườn của dân lành để bán lại cho các tập đoàn lợi ích tư bản đỏ có các dự án đầu tư vào lãnh vực địa ốc, khách sạn, lầu xanh, lầu hồng.....Loài súc vật khi sinh sống không bao giờ biết suy tưởng đến vấn đề giáo dục, không khác gì lãnh đạo Việt Tầu cộng. Trong quy hoạch họ không bao giờ đề cập tới nhu cầu, vấn đề giáo dục cho cho con em, học sinh và sinh viên....  trong một khu vực, vành đai kinh tế bao gôm nhiều thành phố lớn, nhiều tỉnh như vậy. Thật đáng tiếc, và tội nghiệp cho loài súc sinh Việt cộng vô cùng. Có thể vì đó là bản chất súc sinh, tàn nhẩn, gian ác vô nhân tính của người cộng sản?

   

Hành lang thứ nhất bắt đầu từ Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam, xuyên qua các tỉnh như: Côn Minh- Lào Cai- Hà Nội - Hải Phòng - Quãng Ninh ; hành lang thứ hai gồm các tỉnh: Nam NinhLạng Sơn-  Hà nội -Hải Phòng-Quãng Ninh. Côn Minh là một thành phố lớn của tỉnh Vân Nam, kết nghĩa với Lào Cai; còn Nam Ninh cũng là thành phố lớn của Quãng Tây, kết nghĩa với Quãng Ninh. Hành lang Côn Minh- Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quãng Ninh gồm có 4 thành phố của tỉnh Vân Nam là Côn Minh, Ngọc Khuê, Hồng Hà và Văn Sơn; phía Việt cộng gồm có 8 thành phố tham gia là Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, và Quãng Ninh.

 

Hành lang Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà nội-Hải Phòng-Quãng Ninh gồm có 3 thành phố của tỉnh Quảng Tây là Nam Ninh, Sùng Tà và Băng Tường tham gia cùng với 8 thành phố  của Việt cộng là Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà nội, Hưng Yên, Hải dương, Hải Phòng và Quãng Ninh. Như vậy tuyến đường sắt cao tốc, và xa lộ cao tốc sẽ nối liền từ Côn Minh qua Lào Cai xuống Hà nội, Hải Phòng và Quãng Ninh. Một tuyến khác sẽ  nối liền Nam Ninh xuống Lạng Sơn, Hà nội, Hải Phòng và Quãng Ninh. Nhìn chung, qui hoạch vành đai kinh tế Việt Trung sẽ tập trung về các tỉnh thành nằm kề cạnh ngay trên bờ vịnh Bắc Việt, Vịnh Hạ Long và đối diện với đảo Hải Nam của Trung cộng. Chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế trên vịnh Bắc Việt thật hấp dẫn vô cùng về cả ba mặt kinh tế thương mại và quân sự cho Tầu cộng như tuyên bố chung do hai đảng Tầu Việt Cộng đã chỉ đạo rất minh bạch là:

 

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác giữa các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quãng Ninh với 4 tỉnh (khu tự trị) của Trung Quốc gồm Quãng Đông, Quãng Tây, Hải Nam, Vân Nam; phát huy vai trò của cơ chế hợp tác liên quan giữa địa phương hai nước; tập trung thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại, cơ sở hạ tầng giao thông, khoa học, giáo dục, văn hóa, y tế… thúc đẩy các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước cùng phát triển.

 

Nếu nhìn lại quan hệ Tàu Việt cộng, có thể nói Đặng Tiểu Bình đã có ý đồ này từ lâu, cho đến khi Giang Trạch Dân lên thay thế vị trí Tổng bí thư, chủ tịch nước, đảng cộng sản Tầu. Chính Giang Trạch Dân đã dùng mỹ nhân kế để đưa Lê Khả Phiêu, tổng bí thư đảng CSVN vào mê hồn trận tình dục, có con với gái điếm ở Bắc Kinh và áp đặt Lê Khả Phiêu phải bán vịnh Bắc Việt cho Tàu cộng với giá 2 tỷ mỹ kim. Kết cục của sự kiện chính trị trong quan hệ Việt Tầu cộng được hình thành qua tình đồng chí khắng khít dưới hình thức “hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt-Tầu cộng”, và đã được ghi nhớ trong bản văn kiện tuyên bố chung của Trương Tấn Sang với Tầu cộng. Trên thực tế qui hoạch hai hành lang, một vành đai kinh tế  Việt Tầu cộng đã được Tàu cộng móm cho nguyên thủ tướng Phan Văn Khải thực hiện từ năm 2004, đảng Việt cộng đã mua thời gian, kéo dài đến thời Nguỹên Tấn Dũng, vì có thể đảng VC đã không còn thời gian nữa để giữ đảng, ngoài phương cách ký nhận và thực hiện theo chỉ đạo của Tập Cận Bình. Chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tể Việt Trung  ở vinh Bắc Việt vô hình chung đã vô hiệu chiến lược cờ vây của Obama đối với Trung cộng.  Chịn lược hai hanh lang, một vành đai kinh tế ờ Vịnh Bắc Bộ sẽ là căn cứ điểm, làm cầu nối để Trung cộng  giao thương với các nước ASEAN, Úc, Ấn Độ, Nhật Hàn,... và cả thế giới. Bộ mặt thật bán nước buôn dân, làm gia nô, khuyển mã của mấy tên lãnh đạo Việt cộng đã để lộ nguyên hình hài chồn cáo.

 

Khi đề cập tới chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung  ngay vị trí Vịnh Bắc Việt đã vô tình để lộ ngày suy vong, tàn lụi của đảng Việt cộng, đồng thời Tầu cộng đã biểu lộ nanh vuốt, mưu đồ cưỡng chiếm lãnh thổ Việt cộng qua chiến lược kinh tế, thương mại, di dân để đồng hóa, tiệm tiến theo chiến thuật vết dầu loan. Chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung chỉ là chiếc áo khoác làm mờ mắt kẻ ham danh, ham tiền, ham lợi, nhưng tiềm ẩn, che giấu một mưu đồ, dã tâm để đối kháng với chiến lược cờ vây của Mỹ.  Qua vị trị địa chính của chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung ở Vịnh Bắc Vịệt, Tầu cộng có thêm vạn lần thuận lợi về các mặt như kinh tế, thương mại quân sự nói chung. Ngoài ra, các mặt văn hóa, các khu vực tự trị về kinh tế, thương mại, tài chính, nông nghiệp, ngư nghiệp, doanh nghiệp, công nghiệp, khoáng sản, năng lượng, di dân.... Tầu cộng sẽ thực hiện theo chiến thuật vết dầu loan để biến đảng viên Việt cộng lớn nhỏ thành những tên cẩu nô, Việt gian tàn nhẫn gian ác hơn để cai trị toàn dân, toàn lãnh thổ.

 

Qua chiến lược ‘hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung” ở Vịnh Bắc Việt trước hết là nắm đầu được toàn bộ phận đầu não Việt cộng ở Hà nội. Nếu có biến động , từ Tầu cộng sẽ dễ dàng đổ quân nhanh chống sử dụng quân lực để đàn áp. Nhưng nếu không có một lực đề kháng nào của Việt cộng, thì chiến lược hai hành lang, một vành đai  kinh tế  Việt Trung sẽ là cơ sở, căn cứ điểm quân sự, kinh tế, thương mại, nông nghiệp, văn hóa... đầu tiên để Tầu cộng tổ chức xây dựng, hoàn chỉnh. Sau đó sẽ tổ chức xây dựng điểm thứ hai cho chiến lược mới “hai hành lang, một vành đai kinh tế khác cho Đà Nẵng, Nha Trang, Kuntum , Saigon Vũng Tàu,Cần Thơ, Hà Tiên.... Dưới chiến lượct hai hành lang, một vành đai kinh tế tương tự này, thế giới bên ngoài không thể can thiệp, và sức phản kháng, đối đầu cũng sẽ không có địa thế thuận lợi, không đủ lực để làm một cuộc nổi dậy thành công. Trong tương lai ngắn, cả nước Việt cộng sẽ được hình thành dưới dạng “hai hanh lang một vành đai kinh tế” dưới sự chỉ đạo của Tầu cộng.

Tại sao Tầu cộng lại chọn Vịnh Bắc Việt làm căn cứ đầu tiên để xây dựng chiến thuật hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung? Thứ nhất là Lào Cai và Quãng ninh đã được Tầu cộng xây dựng, thiết đặt nội gíán, để Lào Cai kết nghĩa với Côn Minh, và Quãng Ninh kết nghĩa với Nam Ninh. Vịnh Bắc Việt đã được Giang Trạch Dân và Đặng Tiểu Bình có mưu đồ từ lâu. Trước hết là có hải cảng Hải Phòng, tiếp liền với thủ đô Hà nội rất thuận tiện cho trục lộ vận chuyển từ các tỉnh từ Vân Nam, Quãng Tây tới vành đai kinh tế ngay Vịnh Bắc Việt. Chỉ dân số hai tỉnh Vân Nam và Quãng Tây cũng đã hơn trội toàn dân nước Việt cộng, nhưng tổng sản lượng GDP của hai tỉnh này lại gấp ba, gấp bốn lần hơn Việt cộng. Điều quan trọng hơn cả là Vịnh Bắc Việt có thềm địa tầng , chất chứa vật liệu hữu cơ thiên niên thoái hóa từ hơn 37 triệu năm do sông Hồng thải ra. Do đó dưới đáy vịnh Bấc Việt tiểm ẩn một trữ lượng khí đốt, và dầu hỏa rất đáng kể, tuy không khổng lồ như trữ lượng khí đốt và dầu hỏa ở thềm lục địa Biển Đông, tức Biển Hoa Nam do vật liệu hữu cơ thiên nhiên, sinh hóa hình thành.

 

Có thể nói, đó là một trữ lượng năng lượng quí giá đối với nhu cầu công nghiệp cho Tầu cộng. Trên thực tế, đất nước Tầu cộng còn có nhiều con sông lớn khác đổ ra biển Hoàng hải, và bỉển Hoa Đông. Thiết tưởng chuyên viên về địa chất, dầu hỏa của Tầu cộng đã thừa biết vấn đề này, nhưng đảng Tầu cộng có thể chưa muốn sử dụng tới. Những sự tranh chấp gần đây giữa Tầu Cộng và Nhật bàn vể quần đảo Senkaku không người ở, cũng không ngoài khối dầu khí và dầu hỏa tiềm ẩn dưới thềm biển Hoa Đông do cửa sông Dương Tử thải ra. Hóa trình, diễn tiến xâm nhập quần đảo Senkaku của Tầu cộng cũng sẽ tương tự như đã diễn tiến chiếm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu Nhật bản không hành động sớm, chiếm đảo Senkaku thì có thể sẽ mất đảo, mất cả nguồn năng lượng dự trữ ở phía Tây và Tây Bắc của đảo Senkaku. Tầu cộng chắc chắn sớm muộn gì cũng sẽ thiết đặt giàn khoan dầu trong vùng đó, như đã diễn ra ở Biển Hoa Nam, tức Biển Đông của Việt nam trước đây.

 

Qua bản tuyên bố chung của thiên triều Tầu cộng và nước chu hầu Việt cộng, chúng ta đã thấy rõ là Tầu cộng không cần thiết phải đổ quân đàn áp Việt cộng, mà họ sẽ sử dụng lá  bài WTO, và các hiệp định ASEAN, TPP... để quậy phá, làm suy yếu tiềm năng kinh tế của toàn thế giới. Chắc chắn Tầu cộng sẽ không gây chiến với Việt cộng trong tình thế hiện tại. Việt cộng đã gia nhập WTO từ đầu năm 2007, nay đã trên 6 năm, những ưu đãi mà WTO danh cho thành viên mới gia nhập sau năm năm đã vượt qua giới hạn. Việt cộng sẽ gặp nhiều khó khăn vô cùng về sự cạnh tranh, về luật chơi, nhất là về kỹ thuật sản xuất, tài chính về giá cả. So với hàng của Tầu cộng sẽ tràng ngập thị trường Việt Cộng, nhất là qua tuyên bố chung ngày 21/6/13  giữa hai đảng cộng sản Việt Trung. Hiệp thương quốc tế WTO  qua các luật chơi giao thương, phẩm chất hàng hóa, ngân hàng  và giá cả, chắc chắn Việt cộng sẽ suy sụp thảm hại vì thiếu tiêu chuẩn, thiếu kỹ thuật,  sử dụng luật rừng rú. Nguồn ngoại tệ chính của Việt cộng là từ xuất cảng sản phẩm thô, sản phẩm gia công như  ngủ cốc, cao su, ca phê, tiêu, va kháng sản, hải sản, nhưng sẽ bị Tầu cộng cạnh tranh. Tầu cộng sẽ thuê đất ở Việt nam để trồng đủ loại ngủ cộng qui mô hơn, có kỹ thuật khoa học hơn, do đó giá thành sẽ rẻ hơn, năng xuất cao hơn. Trong lãnh vực tài chính, ngân hàng, theo qui luật WTO, nhiều ngân hàng ngoại quốc sẽ đổ vào với vốn 100%.

 

Những chiêu bài “Chống Tầu, đuổi Việt cộng, cứu quê hương”, những chiêu bài tháo gở độc tài của đảng cướp Vịêt Tân, những chiêu bài hòa giải, hòa họp, và những chiêu bài đoàn kết với Việt cộng của tên ma đầu bịp bợm Nguyễn Chính Kết của khối 8406, đã hiện nguyên hình hài gian manh, lừa bịp, lường gạt cộng đồng người Mỹ gốc Việt và các cộng đồng người Việt tự do toàn cầu. Thật ô nhục cho tập đoàn lãnh đạo cao niên, bịnh hoạn, gian manh lâm thời vừa mới hình thành gian manh, lừa bịp, tự dàn dựng, bầu bán gian manh, chẳng làm được trò hề gì. Ô nhục nhất là ban lãnh đạo lâm thời của giáo viên tiến sĩ giả hình Nguỹên Ngọc Bích vừa mới tượng hình, đã bị chết lâm sàng. Làm chính trị mà gian trá, lưu manh ngay từ bước đầu tiên coi như đã tự sát, tự thiêu, tự hũy, tự diệt, tự biến mất. Thật là một điều vô sỉ, ô nhục cho những chính trị dza xôi thịt, xu thời côn đồ, lưu manh, họ tự dàn dựng ra các buổi họp, tự dàn dựng ra qui tắc hội họp bầu cử, tự viết tuyên cáo quái thai, nghị quyết dị dạng, khuyết tật, tự nhảy ra làm trò hề, múa rối trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, để rồi họ tự ôm ô nhục để tự hũy, tự diệt. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt sau gần bốn thập niên, họ đã trãi nghiệm về những vụ lừa bịp, bị lường gạt quá nhiều, họ có thêm kinh nghiệm, được gíáo dục nhiều hơn, có trình độ kiến thức cao hơn, về chính trị, về xã hội thật khó mà lừa bịp, lường gạt được họ.

Văn bản tuyên bố chung của Tầu Việt cộng, với những hình ảnh trên internet, truyền thông đã làm dơ bộ mặt thật của một số chính trị dza xôi thịt già, quá tuổi cao niên. Thật là ô nhục cho những kẻ ham danh, ham lợi, ham tiền trong cáu tuổi bạc đầu, gần đất xa trời 80+/-. Trương Tấn Sang đã tuyên bố lếu láo trước ngày lên đường đi triều cống Tầu cộng, là sẽ đề cập đến dữ kiện Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông với Tập Cận Bình. Chỉ đáng tiếc là Trương Tấn Sang không được có vị trí hội đàm với Tập Cận Bình để nghe lời dạy bảo. Trương Tấn Sang chỉ được Lý Khắc Cường dạy bảo như hình ảnh báo chí ngoại quốc đã đăng tải.

 

Thế cờ vây của Obama bày ra trước đây gần hai năm, tưởng chừng như Tầu cộng đã ở vào thế bị động, bị bao vây tứ bề, không có lối thoát. Nhưng gần đây, Tập Cận Bình đã đi những nước cờ mới rất ngoạn mục, xem chừng chiến lược của Obama ở Đông Nam Á đối với Tàu cộng đã được Tập Cận Bình tháo gở, hóa giải và làm cho chiến thuật bao vây Tầu cộng của Obama bị vô hiệu hóa. Quan hệ hữu nghị của Nga Tầu đã khác xưa, sau khi Tập Cận Bình và Putin hội kiến, trao đổi về mối quan hệ của hai nước. Cả hai nhà lãnh đạo này đã thỏa thuận để tập đoàn dầu khí Rosneft của Nga cung cấp dầu thô dài hạn cho Tầu trong 25 năm, trong giai đoạn đầu tiên là 270 tỷ mỹ kim. Ngoài ra Nga-Tầu đã có kế hoạch, lập ống dẫn dầu từ Nga thẳng qua Tầu, như vậy về vấn nạn năng lượng, nhiên liệu cho công nghiệp Tầu, Tập Cận Bình đã giải quyết được một phần lớn, qua thế cờ vây của Obama qua đường Biển Ấn Độ, và eo bỉển Malacca ở Singapore-Malaysia-Indonesia. Chiến lược ngoại giao của Tập Cận Bình đã cho thấy rõ là Tầu cộng chưa muốn có chiến tranh, mà đang tìm thế địa chính ngoại giao với Nga để  vừa làm lực cân bằng đối kháng với Mỹ. Đồng thởi vừa áp đặt Việt cộng để duy trì thế mạnh ở Đông Nam Á, vừa dựa vào chiến lược “hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Trung ở ngay Vịnh Bắc Việt làm căn cứ điểm để ra Biển Đông, giao thương với toàn thế giới. Theo vị trị địa chính, chắc chắn Tập Cận Bình sẽ chỉ đạo cho khu vực kinh tế tự trị của hai tỉnh Quãng Đông, và Hải Nam tham gia vào chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung. Về phía Việt cộng sẽ có chỉ thị phát triển vành đai kinh tế kéo dài xuống tận Quãng Trị.

Nhưng mộng làm bá chủ độc chiếm Biển Đông của Tầu cộng trong chiến lược đàm phán song phương của Tàu cộng sẽ thảm bại, vì không bao giờ Tầu cộng thuyết phục được các quốc gia khác đang sử dụng eo biển Malacca và Biển Đông như Nhật Đại Hàn, Ấn Độ, Mỹ, Úc, Philippines, Malaysia, Anh, Singapore, ..... Như đã chứng nghiệm,  trong chuyến công du đầu tiên trong vụ Thủ tướng, Lý Khắc Cường đã thất bại thuyết phuc Ấn Đô.  Ấn Độ đã không tán đồng chiến thuật đàm phán song  phương của Tầu phương để thảo luận về các qui luật quốc tế ở Biển Đông.

 

Tầu cộng lập chiến lược “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Trung” ở cận đông bắc Việt nam, tiếp giáp với hai tỉnh Vân Nam và Quãng Tây Trung cộng để làm bàn đạp, căn cứ điểm cho các hiệp thương ASEAN và TPP. Hành lang Côn Minh-Lào Cai- Hà nội-Haỉ Phòng-Quãng Ninh và hành lang Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà nội-Hải Phòng-Quãng Ninh hình thành một vành  đai kinh tế lớn để hàng hóa của Tầu cộng ra biển lớn, tràng ngập thị trường thế giới. Điều này ai cũng biết là giới tư bản đỏ Việt cộng sẽ bị thua thịêt nặng nề, vì thiếu vốn đầu tư, thiếu kỹ thuật, thiếu ngoại tệ, thiếu thị trường so với Tẩu cộng. Giới tư bản Tầu cộng còn có nguồn tài trợ khổng lồ của đảng Tầu cộng để loại trừ các tay tư bản đồng chí có mối quan hệ tương đồng hay các nhà tư bản ngoại quốc khác.

 

Việt cộng sẽ trở thành lá bài, công cụ, con rối chính trị  cho Tầu cộng, và sẽ trở thành căn cứ, cơ sở thương mại của Tầu cộng, để từ đó các khu kinh tế doanh công nghiệp, nông nghiệp sẽ  được thành lập mở rộng ra theo vết dầu loan xuống miền nam Việt nam, không những chỉ cho hàng hóa, mà cho công dân Tầu  tự do qua lại các cửa khẩu ở biên giới Tầu Việt cộng. Người Tầu sẽ tự do giao thương, du hành qua lại các cửa khẩu đã được ủy ban chỉ đạo song phương do Tầu cộng lập ra. Việt cộng  cũng đang có qui luật mới cho thuê đất đai tại những tỉnh thành  đã gia nhập vùng có qui hoạch “hai hành lang, một vành đai kinh tế”, sẽ được thuê dài hạn chẳng những chỉ có 30, 60, mà là 120 năm. Trong tuyên cáo chung của hai đảng Tầu Việt cộng đã ghi rõ là đảng và nhà nước sẽ phải hổ trợ về cả hai mặt an ninh và tài chánh cho các nhà đầu tư của hai đảng từ bên này sang bên kia để đầu tư. Thợ thuyền, công nhân, các nhà đầu tư, chuyên viên, tiến sĩ sẽ được miễn thuế dài hạn. Tuyến đường sắt, xa lộ cao tốc, cầu Bắc Luân II sẽ được ưu tiên thi công hoàn chỉnh sớm để nối liền với các tuyến xa lộ, tuyến đường sắt cao tốc của Tầu từ Côn Minh xuống Lào Cai, và từ Nam Ninh xuống Lạng Sơn. Các phi trường, hải càng trong các thành phô tham gia vào tổ chứ chiến lước hai hành lang, một vành đai kinh tế, sẽ tùy nhu cầu, sẽ được tái thiết tân tiến hơn. Nhà nước Việt cộng sẽ vay tiền của Tầu cộng để thực hiện các dự án, theo đúng quy hoạch và quy trình mà tuyên bố chung đã đề cập, ghi nhận và ký kết.

 

Trong văn bản tuyên bố chung của hai đảng Tầu Việt cộng, Tầu còn áp đặt Việt cộng phải đứng về cùng phe với Tầu cộng, không được thừa nhận Taiwan như là một quốc gia độc lập, và không được phát triển với Taiwan trong bất cứ quan hệ chính thức nào. Nói cách khác, từ  quân đội, công an, cảnh sát, văn hóa, giáo dục, kinh tế, tài chánh, nông nghiệp, ngư nghiệp và các khu vực kinh tế ở Việt cộng, từ đây về sau sẽ bị Tầu Cộng chi phối, chỉ đạo. Theo tuyên cáo chung giữa hai đảng cộng sản Tầu Việt cộng, Tầu cộng sẽ thiết lập nhiều trung tâm văn hóa Tầu  cộng tại Hà nội và nhiều tỉnh thành khác, bên cạnh các khu kinh tế nông công nghiệp khác. Chiến lược hai hành lang, một vành đai kinh tế  Việt Trung sẽ làm suy thoái, soi mòn chế độ Việt cộng. Đảng Việt cộng tuy không bị giải thể, nhưng coi như sẽ tự hũy, tự diệt trong ô nhục.

KTD

 

Friday, July 12, 2013

Tội ác chồng chất của Cộng sản Việt Nam


 

 

Tội ác chồng chất của Cộng sản Việt Nam


 

Tội ác của NCQ CSVN từ thập niên 1930 tới nay, có lẽ không cá nhân nào vạch trần được hết. Nhưng cho dù họ có thủ đoạn lừa dối dư luận trong và ngoài nước bằng  những chiêu bài ngoạn mục, thì bộ mặt thật qua những việc làm CSVN đã và đang tiến hành đối với người dân vẫn hiển hiện trước mắt, đó là sự  tàn bạo, độc ác, dã man!

Đảng cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Đảng Cộng sản Quốc Tế. Từ khi chủ nghĩa cộng sản được Hồ Chí Minh đưa về cho tới khi đạt được quyền thống trị hoàn toàn lãnh thổ, thì đảng cộng sản đã gây ra các cuộc tàn sát đẫm máu cho cả dân tộc Việt Nam: Người dân chết đói trong nạn đói năm 1945, cuộc tàn sát dã man từ 1953-1957 trong vụ đấu tố địa chủ của cái gọi là cải cách ruộng đất tại miền bắc đã gây nên hậu quả là hàng trăm ngàn người dân vô tội phải đầu rơi máu đổ, hàng ngàn thường dân vô tội bi thảm sát tập thể tại Huế trong chiến dịch xuân Mậu thân năm 1968, các cựu tù nhân của Việt Nam Cộng Hòa bị bắt bớ tù đày hành hạ thủ tiêu trong nhà tù Cộng sản sau ngày 30-4 năm 1975. Bên cạnh đó quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân bị chà đạp. Các tôn giáo bị đàn áp dã man. Nhà thờ chùa chiền bị tàn phá tan hoang, người dân Việt Nam sống trong sự khủng khiếp và kinh hoàng. Đảng cộng sản Việt Nam đã giết hại không biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc. Hậu quả cho đến hôm nay gần 90 triệu người dân đang sống trong sự đen tối.

Cho đến nay tình trạng đất nước Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản độc tài không có tiến triển gì tốt đẹp

1. Tham nhũng đã trở thành vấn nạn của đất nước.

Tất cả mọi nơi mọi lúc từ địa phương đến trung ương nhà cầm quyền tìm cách cấu kết thông đồng với nhau để bóc lột nhân dân. Tình cảnh người  dân Việt Nam  khốn khổ. đặc biệt là tầng lớp nông dân sống trong khốn cùng, bị phá nhà cướp đất. Khắp mọi miền đất nước dân oan đâu đâu cũng đầy rẫy. Người dân khiếu kiện khắp đất nước đâu đâu cũng tràng lan. Họ khiếu kiện từ thập niên này qua thập niên khác. Tư thế hệ này qua thế hệ khác, đó là hậu quả của nền cai trị độc tài cộng sản kéo dài trong nhiều năm qua. Cụ thể miền bắc 65 năm, miền nam là 35 năm.

2. Đạo đức xã hội bị dốc thê thảm, từ văn hóa đến giáo dục.

Một xã hội băng hoai và bệnh hoạn, Trong nhà trường các nữ sinh trở thành lệ nô lệ tình dục cho cán bộ có chức quyền, do thầy giáo quá lệ thuộc vào cán bộ cường quyền đã nảy sinh quan hệ bất chính; như vụ án gần đây là Hiệu trưởng Sầm Đức Xương một vụ án hy hữu bị phơi bày nhưng kết quả nhưng vẫn chưa lấy gì thỏa đáng, những nữ sinh là  nạn nhân của chế độ vẫn bị giam cầm. Trong nhà trường không phát huy được truyền thống, yêu nước của dân tộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải đất nước, vận mệnh của dân tộc bị ngoại bang nắm gọn. Học sinh chỉ biết có mục đính làm sao ra trường kiếm được công ăn việc làm, có chỗ đứng trong xã hội và cuối cùng họ lai trở thành những con sâu dân mọt nước, những thành phần suy đồi đạo đức.

Hôm nay dưới sự hèn mạt nhu nhược của nhà cần quyền cộng sản trước Trung cộng mà bao nhiêu thanh, thiếu niên với trang phục lộng lẫy được đưa đón ra tận Hà Nôi ca múa nhảy nhót chào mừng lễ quốc khánh Trung cộng dưới danh nghĩa “ Đại lễ 1000 năm Thăng Long???” Chắc chắn rằng không có ai đón chờ ngày 1-10-2010 ngày quốc khánh Trung cộng ??? Họ đang bị lừa đảo ép buộc đón chờ cuộc sống mới của đất nước Việt Nam được sát nhập làm một tỉnh lẻ cho trung cộng??? Chắc chắn rằng chẳng ai hân hoan đón chào một thời đại mới nô lệ cho ngoại bang, nô lệ cho bọn bành trướng phương bắc, kẻ thù không đội trời chung của dân tộc Việt Nam mình. Quả thật đau đớn, nhục nhã cho con dân đất Việt , cho tầng lớp nhân dân bao năm qua dưới sự giao dục vô bổ của hệ thống giáo dục trong nhà nước XHCN VN. Hậu quả sự lọc lừa man trá của nhà cầm quyền cộng sản đối với nhân dânViệt Nam gây ra quá nhục nhã cho dân tộc Việt Nam. Nếu là họ vui mừng đang hướng về lịch sử, hào hùng vẻ vang của dân tộc, ôn lại truyền thống chống giặc ngoại xâm thì tại sao Kỷ niệm 1000 năm Thăng lại khai mạc vào ngày quốc khánh Trung Cộng???

3. Quyền tự do tín ngưỡng của người dân bị tước đoạt.

Từ khi đảng cộng sản nắm quyền thì các giáo hội bị đàn áp. Chỉ kể từ năm 75 khi tôi còn bé đến nay tận mắt tôi thấy nhà cầm quyền cộng sản đã san bằng đi bao nhiêu chùa chiền, các di tích thiêng liêng, các nhà thờ một cách trắng trợn. Các tín hữu đạo Tín Lành, đạo Công giáo, đạo Phật muốn sinh hoạt đều phải được sự đồng ý của NCQCS nếu không thì đều bị bắt bớ, bị tù đày, đất đai của giáo hội bị cưỡng chiếm, có xác chết cũng chẳng đươc yên thân. Các vụ đàn áp mới đây tiêu biểu như: Đàn áp tôn giáo tại Thái Hà, Cồn Dầu,  Đồng Chiêm, Vinh, Cao Đài ở Ninh Thuận, Hòa Hảo ở An Giang. Bát Nhã…

4. Về lĩnh vực quốc phòng què quặt .

Nhà cầm quyền Cộng sản tàn bạo dày xéo lên đầu lên cổ nhân dân mình, nhưng lại nhu nhược với ngoại bang dâng đất đai lãnh thổ cho Trung cộng, bằng mọi cách cấu kết với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc để kéo dài sự sống của chế độ độc tài phản dân  hại nước. Thay vào các khẩu hiệu: “Độc lập, Tự do, Ấm no, Hạnh phúc”, “Nhà nước của dân, do dân, và vì dân”, “Mỗi đảng viên là đầy tớ trung thành của nhân dân”, thì nhà cầm quyền  cộng sản đã ngang nhiên chà đạp lên quyền sống, quyền con người, và quyền tự do dân chủ của dân. Nay rước Trung cộng về dày xéo dân tộc mình dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng. Nhà CQCS không hề để ý đến nỗi nhục mất nước cũng như quyền lợi nhu cầu chính đáng của nhân dân. Chúng làm sao để chế độ cộng sản tồn tại kéo dài để phục vụ nhu cầu lơi ích riêng của họ, cho dù cả dân tộc Việt Nam trở thành thuộc địa của Trung cộng. Chúng ta khó tưởng tưởng được rằng bao đời nay cha ông ta đã đổ bao xương máu để bảo vệ đất đai lãnh thổ bảo vệ Hoàng Sa-Trường Sa, bây giờ Trung Cộng xâm lược chiếm đóng, sát hại đồng bào mình trên mảnh đất của tổ tiên. Khi các học sinh sinh viên đứng ra biểu tình phản đối Trung cộng giết ngư dân, xâm phạm lãnh thổ đòi lại Hoàng Sa –Trường Sa từ tay Trung cộng thì bị bắt bớ đuổi học tù đày. Nhà cầm quyền cộng sản tìm mọi cách giết hại và làm tê liệt lòng yêu nước, ý chí của nhân dân, lệ thuộc vào ngoại bang để tồn tại.

5. Tiếp tục tiến hành bát bớ các công dân yêu nước

Coi thường nguyện vọng của nhân dân và dư luận quốc tế. Hàng trăm công dân đang mòn mỏi trong tù và chúng vẫn tiếp tục ngang nhiên bất bớ đàn áp, khủng bố những công nhân có lòng tự trọng yêu đất nước, yêu nhân dân. Bất cứ có ai dám lên tiếng bảo vệ lãnh thổ, cũng với chủ trương, nguyện vọng dân chủ đa nguyên, đa đảng đều bị bắt bớ, giam cầm. Còn nữa, chỉ bảo vệ che dấu bản chất lừa đảo trước công luận quốc tế, bảo vệ cho quốc khánh Trung Cộng trên đất nước mình tại thủ đô Hà Nội mà ngang nhiên bỏ tù những người dân khiếu kiện mang nhiều oan khuất.

Trước tình thế hiểm họa cho dân tộc, nguy cơ mất nước đang đến gần. Đã đến lúc toàn thể nhân dân Việt Nam phải đứng lên thể hiện tinh thần bất khuất, khí phách anh hùng của nòi giống Lạc Hồng. Nhân dân Việt Nam không thể gồng mình gánh chịu mãi các phi lý bất công do chế độ độc tài cộng sản áp đặt. Cần phải giải thể chế độ độc tài cộng sản trên đất nước Việt Nam thân yêu của mình đấu tranh đòi công lý, tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng trong tinh thần đoàn kết, hòa bình và bất bạo động. Đông đảo quần chúng nhân ta đã và đang làm. Để nói rằng trong chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản hôm nay mà đòi hỏi đến nhân quyền, tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng quả là khó khăn.  Nhưng trước tình cảnh nghiệt ngã mà nhà CQCS đối với nhân dân Việt Nam. Những gì NCQCS tước đoạt của nhân dân Việt Nam trong bao thập niên qua. Nhà cửa, đất đai, quyền tự do tín ngưỡng bị cưỡng đoạt, vùi dập. Sự đàn áp dân lành gia tăng, thì tinh thần đấu tranh trong nhân dân Việt Nam càng phải phát triển bùng nổ lan rộng. nhất định nhân dân Việt Nam phải đem CSVN ra xử tội chúng một ngày không xa!

Đảng cộng sản không chỉ là vô tránh nhiêm với nhân dân mà còn phản bội lại dân tộc. Chúng ta thấy rằng đảng cộng sản không còn đủ tư cách điều hành đất nước.

Nay với tư cách một công dân tôi thẳng thắn thiết tha kêu gọi những đảng viên Cộng sản còn lương tri hay từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng vô thần tàn bạo để trở về với dân tộc VN. Hãy mạnh dạn bước ra khỏi con đường nô lệ để cùng với nhân dân đánh đuổi xâm lăng và xua tan mây mù Cộng Sản.

© Hồ Thị Bích Khương

Xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An.

 

 

 

Phác họa Một Chính Sách Quốc Phòng cho VN tự do thế kỷ 21




 

 

Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đỗ ~ là do một số cường hào, ác bá và tham nhũng trước đây đã gây ra, mất lòng Dân.

Nên Chánh Phủ Hoa Kỳ không còn ủng hộ nữa ~ Một bài học để đời trong lịch sữ Dân Tộc Việt Nam .

Vết xe trước VNCH bị sụp đỗ ~ thì ngày nay ~

Vết xe sau : CHXHCN-VN ~ Cộng Sãn Việt Nam, cũng sẽ bị sụp đỗ trong những ngày tháng năm gần nhứt .....Vì độc đảng và tham nhũng, người Dân trong nước đang chờ đợi ngày sụp đỗ của chế độ nầy ~

 Nếu có ai đó ~ can đảm và dám làm nên lịch sử, để chịu hy sinh , tự thiêu hoặc dùng vũ khí đánh bom tự sát tại trong nước liên tục ~ thì đồng bào trong nước sẽ đứng lên nổi dậy và chế độ độc tài Cộng Sản sụp đỗ tức khắc ~

Đừng nghe những gì bọn phở bò nói ( Hèn ~ Tay Sai Việt Cộng )

Hãy nhìn kỷ những gì bọn phở bò làm ~ ( Bất Bạo Động )

Chúng ta muốn Dân Tộc VN được Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền .

 Phải can đảm hành động hy sinh cho Dân Tộc ~

 

Trân trọng.

Đạo Diễn Hoài Phong

Nguen Tran ( Hoai Phong Director & Production )


Website: http://www.facebook.com/hoaiphong.tran1


08/07/13 | Tác giả: Trần Bình Nam

Phác họa Một Chính Sách Quốc Phòng cho VN tự do thế kỷ 21


quandoinhandanvietnam1

Lời nói đầu:

1. Chính sách quốc phòng phác họa ở đây chỉ có thể áp dụng nếu đảng cộng sản Việt Nam quyết định dân chủ hóa đất nước một cách tiệm tiến, khởi đầu bằng hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp hiện hành.
2. Nền quốc phòng của Việt Nam không thể vững mạnh dưới một chế độ độc đảng như hiện nay.


***
Nhiệm vụ quốc phòng


Chính sách quốc phòng của một nước Việt Nam dưới một chế độ dân chủ cần hoàn thành 3 nhiệm vụ chính:
1. Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ
2. Bảo vệ tiềm năng kinh tế quốc gia.
3. Bảo vệ nhân dân


Bối cảnh thế giới của thế kỷ 21 là cuộc tranh chấp để giành thế siêu cường số 1 trên thế giới giữa Trung quốc và Hoa Kỳ. Mặt trận trước mắt là Biển Đông. Nền quốc phòng của Việt Nam đặt trong khung cảnh tranh chấp đó.

Về phía Hoa Kỳ : Hoa Kỳ đang thiết lập một vòng cung kềm chế Trung Quốc, kéo dài từ Ðông Á (Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðài Loan) xuống Ðông Nam Á (các quốc gia ASEAN), Nam Á (Úc Ðại Lợi), qua vùng Ấn Ðộ Dương (Ấn Ðộ, Pakistan, Afghanistan) đến tận các quốc gia Trung Á. Vòng cung này bao gồm mọi lãnh vực từ quân sự, đến chính trị, kinh tế và tài chánh.

Về phía Trung quốc : Vào đầu thập niên 80, do tình hình tại eo biển Đài Loan cũng như nhu cầu ngày càng tăng trong việc bảo vệ hải trình chở nhiên liệu và hàng hóa từ Trung Đông qua eo biển Malacca, Trung Quốc bắt đầu canh tân Hải Quân. Sự tan rã của Liên Bang Xô Viết vào cuối thập niên 80 và sự dính chân của Hoa Kỳ vào hai cuộc chiến Iraq, Afghanistan từ các năm 2001, 2003 giúp Trung Quốc có thì giờ phát triển kinh tế và quân sự đẩy nhanh giấc mộng siêu cường.

Mục tiêu dài hạn của Hải quân Trung quốc gồm ba mũi:

· Nâng cấp Hải Quân để thực hiện hai vòng đai phòng thủ:

Vòng đai thứ nhất (First islands chain) chạy từ Đài Loan qua quần đảo Trường Sa tới Singapore bọc bên trong một số đảo thuộc Nhật Bản, Philippines, Việt Nam và Brunei. Tham vọng của Bắc Kinh là kiểm soát vòng đai thứ nhất này vào năm 2010. Nhưng chưa thực hiện được vì phản ứng của Nhật Bản, Việt Nam và Phi Luật Tân.

· Phát triển Hạm đội nước sâu (Deep water Navy) trong 4 thập niên đầu của thế kỷ 21 để có thể mở rộng khả năng kiểm soát ra vòng đai thứ hai (Second islands chain) từ Ấn Độ Dương bọc Úc châu (trong đó có eo biển Malacca) chạy lên đến quần đảo Aleutian. Chương trình của Bắc Kinh là kiểm soát vòng đai thứ hai vào năm 2040.

· Kiện toàn Hải Quân thành một lực lượng mạnh nhất nhì trên thế giới, có khả năng đối chọi ngang ngữa với Hải Quân Hoa Kỳ. Tầm hoạt động là Ấn Ðộ Dương qua đến nửa phía Tây của Thái Bình Dương kéo dài đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Trung quốc dự trù hoàn tất giai đoạn 3 vào hậu bán thế kỷ 21.

Những chính sách cần thiết

Do vị trí địa lý, Việt Nam nằm giữa hai lằn đạn. Trong thế đó để hòan thành 3 nhiệm vụ quốc phòng trên Việt Nam cần có:

1. Một thể chế chính trị dân chủ
2. Một chính sách ngoại giao mềm dẽo
3. Một quân đội hùng mạnh


Chính trị dân chủ:

Kiện toàn chế độ chính trị đa đảng qua bầu cử tự do bằng cách tiệm tiến từ chế độ độc đảng hiện nay sang chế độ dân chủ đa đảng (đa đảng không có nghĩa càng nhiều đảng càng tốt). Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chính trị có quyền tham dự vào sinh hoạt quốc gia nếu tôn trọng luật chơi dân chủ .

Ngoại giao mềm dẻo:

- Thiết lập một quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ để cân bằng quan hệ với Trung Quốc. Quan hệ này đã được khởi đầu tốt qua sự tiếp nhận của Việt Nam đối với những lời tuyên bố của bà Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton tháng 7 năm 2010 tại Hà Nội. Tuy nhiên Việt Nam cần thận trọng trong mối quan hệ không thể thiếu đối với Trung quốc. Chính sách “3 Không” (không tham gia các liên minh quân sự hoặc là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam, và không dựa vào nước này để chống nước kia) là một hướng ngoại giao đúng đắn trong mối quan hệ tế nhị đối với Hoa Kỳ và Trung quốc hiện nay. Việt Nam cũng nên nghiên cứu mô hình ngoại giao của Nhật Bản và Ðại Hàn đối với Hoa Kỳ và Trung quốc để ưu tiên hóa những điều cần làm.

- Kết thân với thế giới, đặc biệt với Liên bang Nga, Cộng đồng Âu châu, Ấn Độ và Nhật Bản, Đại Hàn, Úc châu …
- Vươn lên chia sẽ trách nhiệm với Indonesia để giữ vai trò chủ chốt trong khối Asean.


Quân đội hùng mạnh:

Thứ nhất: Hải, Lục, Không Quân nhất là Hải Quân có khả năng bảo vệ đất, bảo vệ biển và bảo vệ vùng trời với sự trợ lực của Liên hiệp quốc qua quan hệ quốc tế.

Thứ hai: Trang bị vũ khí hiện đại quy ước và bất quy ước. Phát huy hiểu biết áp dụng hòa bình của nguyên tử lực như một chuẩn bị .

- Lục quân: Ngoài các sư đoàn chính quy, lục quân Việt Nam cần có: binh đoàn tổng trừ bị, binh chủng đặc công, lực lượng dân quân và phương tiện chuyên chở nhanh chóng để bộ binh có thể tham chiến trong mọi hoàn cảnh và thời tiết.

- Hải quân: Tập trung vào hai mặt: Phòng thủ cận duyên và Phòng thủ viễn duyên. Ngoài hạm đội quy ước, Hải quân Việt Nam cần có hạm đội Khinh tốc đỉnh, hạm đội Tàu ngầm, các Dàn trọng pháo và Hỏa tiễn phòng duyên, các đoàn Tàu đánh cá vũ trang và Hải không quân khi có khả năng. Nhiệm vụ của Hải quân là ngăn chận một cuộc đổ bộ vào ven bờ biển Việt Nam và bảo vệ sự tấn công lấn chiếm các hải đảo quan trọng tại Trường Sa (như năm 1988) đồng thời bảo vệ sự hành nghề hợp luật quốc tế của ngư dân Việt Nam trong vùng Đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone) và Thềm lục địa ngoại biên (Extended Continental Shelf) có đăng ký hợp lệ.

Hạm đội Khinh tốc đỉnh: Dùng trong chiến thuật đánh du kích biển trước một hải lực áp đảo. (Kamikaze của Nhật Bản trong những tháng cuối cùng của Thế chiến 2 là một hình thức đánh du kích)

Hạm đội tàu ngầm : Hạm đội tàu ngầm giúp tăng cường khả năng tuần thám, phòng thủ chống tàu ngầm địch, tiêu diệt tàu chiến của đối phương và bảo vệ các căn cứ quân sự trên bờ.

Trọng pháo và Hỏa tiễn phòng duyên: Chống đổ bộ và yểm trợ hạm đội cận duyên.

Tàu đánh cá vũ trang: Tự bảo vệ trước khi hạm đội có thể can thiệp. Các tàu đánh cá vũ trang này sẽ là đội quân tiên phong hy sinh trên tuyến đầu trong nhiệm vụ bảo vệ lãnh hải và bảo vệ ngư dân Việt Nam trong vùng đánh cá hợp pháp khi đụng đầu với một lực lượng mạnh hơn.

Hải Không quân : Nòng cốt của Hải Không quân là những mẫu hạm dùng làm sân bay nổi cho khu trục cơ cất cánh và đáp xuống. Một đơn vị Hải Không quân tấn công (Group Attack) gồm một số chiến hạm hoạt động chung quanh một mẫu hạm có khả năng vừa tấn công vừa tự bảo vệ và hoạt động xa bờ biển.

Tuy nhiên bờ biển Việt Nam chạy dài theo Biển Đông nên việc yểm trợ của Không quân cho Hải quân là một thuận lợi to lớn. Nếu Việt Nam chấp nhận một vị trí khiêm nhường đối với Hải quân Trung quốc và Hoa Kỳ thì Việt Nam không cần Hải Không quân cũng như không cần các chiến hạm khổng lồ (battleships).

- Không quân: Cần trang bị các phi đoàn phóng pháo, không chiến (dog fight), vận tải, tiếp tế trên không, tuần thám, tình báo, vận tải và cứu hộ.

Thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng

1. Bảo đảm sự vẹn toàn lãnh thổ : Đó là nhiệm vụ chính của các lực lượng vũ trang nhằm:

- Chống một cuộc tấn công của Trung quốc vào biên giới phía Bắc
- Bảo vệ vùng yết hầu (Thanh Hóa, Nghệ An) chống một cuộc đổ bộ từ biển vào cắt đôi Việt Nam và uy hiếp thủ đô Hà Nội từ phía nam.
- Chống một cuộc tấn công của Cambốt vào biên giới phía Nam
- Tham gia hợp tác quốc tế bảo vệ quyền lưu thông tự do trên Biển Đông.
- Đòi lại Hoàng Sa
- Bảo vệ Trường Sa chống sự xấm lấn của Trung quốc và của các nước trong khối Asean.
- Bảo vệ hải cảng Cam Ranh để duy trì tính trung lập của hải cảng Cam Ranh bằng mọi giá
- Bảo vệ vùng Đặc quyền kinh tế và bảo đảm quyền kinh tế trên Thềm lục địa ngoại biên theo Luật Biển 1982
Khả năng thiết yếu của quân đội là đủ sức ngăn chận một cuộc tấn công của Trung quốc qua biên giới vào Hà Nội hay một cuộc đổ bộ lên bờ bỉển miền Trung trong thời gian vừa đủ trước khi quốc tế kịp can thiệp.


2. Bảo vệ tiềm năng kinh tế quốc gia:

Tiềm năng lớn nhất của Việt Nam là con người. Người Việt cần cù, chịu khó và có khả năng trí tuệ cao. Người Việt Nam có kỹ luật nếu được làm gương và lãnh đạo tốt. Để khai thác tiềm năng này cần có một nền giáo dục khai phóng và tự do, một ý thức không ràng buộc bởi giáo điều nào.

Tiềm năng khác là đất đai và biển cả. Tiềm năng đất đai của Việt Nam rất to lớn. Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, sông Hồng là nơi sản xuất lúa gạo, thịt cá, rau có thể nuôi cả nước. Cao nguyên miền Trung đất đai thích hợp cho việc trồng cây kỹ nghệ. Sinh thái thích hợp cho viêc chăn nuôi.

Biển Việt Nam dài, nước ấm, nhiều cá, thích hợp cho việc đánh cá, một nguồn thực phẩm cần thiết rẽ và bổ dưỡng và là một tài nguyên xuất khẩu.

Hầm mỏ: Việt Nam còn nhiều hầm mỏ chưa khai thác vì chiến tranh. Mỏ bauxít trên cao nguyên miền Trung là một thí dụ. Cần bảo vệ khoáng sản. Không nên quá dễ dãi để nước ngoài khai thác với lý do mình chưa đủ khả năng kỹ thuật.

Dầu khí nơi Biển Đông: Theo ước lượng của các cuộc đo lường, Biển Đông có trữ lượng khoảng 213 tỉ thùng (barrel). Riêng trong vùng Trường Sa và Hoàng Sa trữ lượng có thể đến 105 tỉ thùng. Theo ước lượng của Trung quốc, vùng Trường Sa có khả năng sản xuất 1.9 triệu thùng mỗi ngày (nguồn Google).

Bảo về nguồn lợi kinh tế của Biển Đông là nhiệm vụ quốc phòng quan trọng nhất. Thất bại trong nhiệm vụ này Việt Nam sẽ mất tất cả và không tránh được suy vong trước tham vọng bành trướng của Trung quốc.

Trong bối cảnh tranh chấp với Trung quốc, chính sách khả dĩ hữu hiệu nhất là quốc tế hóa Biển Đông và biến Cam Ranh thành thương cảng quốc tế. Một khi Biển Đông và Cam Ranh được quốc tế hóa, Trung quốc khó thể thành công trong việc giành giựt Biển Đông. Việt Nam sẽ ít bị đe dọa hơn và triển vọng duy trì hòa bình trong vùng cũng cao hơn.

3. Bảo vệ nhân dân:

Chính sách quốc phòng tối hậu là bảo vệ nhân dân chống thiên tai bão lụt và khi có chiến tranh.

Người dân Việt Nam hằng năm bị đe doa bởi bão lụt, hạn hán và đã từng chịu đựng sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh nên rất sợ chiến tranh và thiên tai. Hòa bình đã trở lại, nhưng 38 năm qua phương tiện phòng chống thiên tai của đất nước vẫn còn rất thô sơ nên sinh ra tính “bầt cần” đến đâu hay đó. Tâm lý này cũng là tâm lý của đảng cầm quyền đứng trước đe dọa của thiên tai.
Cho nên nhiệm vụ của chính quyền là chuẩn bị phương tiện phòng chống và cứu trợ trước thiên tai bão lụt. Ưu tiên phòng chống là chuẩn bị phương tiện khoa học nhận tiên báo (đặc biệt tiên báo về sóng thần) và thông tin nhanh chóng đến cho dân chúng trong vùng bị đe dọa.


Bài học động đất và sóng thần tại Nhật Bản tháng 3/2011, trận bão Sandy đánh vào bang New Jersey, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2012, và cuồng phong tàn phá thị trấn Moore bang Oklahoma tháng 5/2013 cho thấy đứng trước “tính khí” bất thường của vỏ quả đất và thời tiết, sẽ không có sự chuẩn bị nào là đủ (Nhật Bản và Hoa Kỳ được trang bị phương tiện phòng chống đầy đủ và dân chúng được huấn luyện chống thiên tai cao nhất thế giới vẫn phải khoanh tay chịu đựng những thiệt hại vật chất và sinh mạng to lớn). Nhưng chuẩn bị trong khả năng là trách nhiệm quốc phòng của người cầm quyền.Cần tổ chức hệ thống tiếp tế thực phẩm dân sự gồm dự trữ, vận tải và nhân sự. Cần nhắm vào nhân sự dự trữ là quân đội.

Tổ chức ngăn chận mưu đồ lợi dụng tình hình để cướp bóc trấn lột. Công tác này đòi hỏi một chương trình giáo dục quần chúng tự lo tự quản, và huấn luyện nhân sự (không riêng lực lượng cảnh sát mà còn gồm công nhân viên nhà nước)

Sau cùng và trên hết Việt Nam chỉ được an ninh và duy trì được độc lập nếu:

(1) Có khả năng tự túc kinh tế,
(2) Có khả năng kỹ nghệ và sản xuất cơ giới quốc phòng,
(3) đoàn kết được toàn dân


• Tự túc kinh tế có nghĩa là sống và phát triển trong trường hợp không nhận được một sự trợ giúp nào của các nước bạn. Ít nhất là đủ thực phẩm căn bản không cần nhập cảng và vẫn ổn định được sinh họat xã hội như giáo dục, y tế, giao thông và sản xuất.
• Có khả năng kỹ nghệ và sản xuất cơ giới quốc phòng. Khả năng nầy giúp Việt Nam không lệ thuộc vào nước khác. Điều này không phải đơn giản trong một thế giới mà mọi sinh hoạt đều có tính toàn cầu. Tuy nhiên khả năng tự túc càng cao quốc gia càng ít bị áp lực.


• Đoàn kết được toàn dân: Lịch sự Việt Nam chứng tỏ rằng khi toàn dân đoàn kết một lòng dưới một sự lãnh đạo vững vàng nhân dân Việt Nam có một khả năng chống xâm lăng và bảo vệ độc lập vô biên. Vua Trần nhờ đoàn kết được toàn dân đã khích lệ tướng tài Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên. Và muốn toàn dân đoàn kết cần có tự do và dân chủ. Tự do và dân chủ là điều kiện thiết yếu của một nền quốc phòng vững mạnh./.

July, 2013

© Trần Bình Nam

© Đàn Chim Việt



  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Hồ Chí Minh cưỡng bức lao động trẻ em!


 


ủng hộ lời kêu gọi giải thể chế độ cộng sản Việt Nam của Linh mục Nguyễn Văn Lý

Hồ Chí Minh cưỡng bức lao động trẻ em!


Posted on Tháng Sáu 3, 2010

0

 


Lao động nhí khuân gạch ở An Giang

Quốc tế có “Ngày” gì thì phỉ quyền VC cũng có ngày đó: ngày Lao động, ngày Phụ nữ, ngày Thiếu nhi… Nếu như thế giới cố gắng nâng cao, cải thiện đời sống của công nhân lao động, quyền lợi bình đẳng cho người phụ nữ, bảo vệ và chăm sóc thiếu nhi, thì Bọn CS lấy những ngày đó để rêu rao, tuyên truyền lừa bịp , che đậy hành động cướp bóc, chà đạp người lao động kể cả phụ nữ và trẻ em. Không phải bây giờ mà ngay từ thời kỳ Việt Minh, tiền thân của CS Việt gian, đầu nậu Hồ Chí Minh  là kẻ khởi xướng và cổ vũ cho việc cưỡng bức lao động, nhất là lao động trẻ em.

Hằng năm, đến ngày Quốc tế Thiếu nhi, đảng lại chọn một đám trẻ em bụ bẫm, con cháu của những cán bộ đảng viên, tụ tập để cho Hồ Chí Minh trình diễn, ôm hôn “thắm thiết”, chụp hình, rùm beng trên các chiếc loa treo khắp phố phường, ngõ ngách.

Trong khi đó hàng hàng lớp lớp những trẻ em khác phải lao động cật lực, kể cả việc cầm súng, ôm mìn, tải đạn…

Thử đọc lại một bài viết trên Bee.net.vn (ngày 1/6/2010)

“Lời hứa với thiếu nhi của Bác 60 năm trước”


 Ngày 1/6/1950, báo “Sự Thật” đăng “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc” trong đó Bác viết: “Ngày 1/6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới… Vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người cướp của. Vì vậy người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến…”.

Và người lãnh đạo (Hồ tặc) cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”.

 “Sau này nhiều lần Bác viết về thiếu nhi với tình yêu và trách nhiệm dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Ngày 1/6/1969, nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi cuối cùng trong cuộc đời mình, Bác viết bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”

 “Ở miền Nam, có nhiều cháu rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội, làm giao liên, đánh du kích… nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ.”

Rõ ràng Hồ đã chỉ thị cho bọn CS nằm vùng là Mặt trận giải phóng miền Nam cưỡng bức và dụ dỗ nhiều thanh thiếu niên vào bưng để huấn luyện giết người, chúng đem những thần tượng Lê Văn Tám, Kim Đồng… để đẩy nhiều trẻ em vị thành niên vác súng đi bắn giết, đem mìn đi cài đặt, lận lựu đạn đi khủng bố để “trở thành dũng sĩ diệt Mỹ!”

“Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “Nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, cứu bạn khỏi chết đuối… ở nông thôn và nhiều nơi các cháu còn biết tổ chức giúp các hợp tác xã chăm sóc trâu bò béo khoẻ, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt.”

Những thiếu niên chưa đủ tuổi cầm súng để xua vào miền Nam đi bắn giết,  Hồ đã chỉ thi thuộc cấp cưỡng bức trẻ em lao động như chăn trâu bò, trồng cây, giúp việc cho những gia đình có người lớn bị đẩy vào chiến trường miền Nam, dưới những khẩu hiệu hoa mỹ: “thi đua Nghìn việc tốt!” Để được ăn “bánh vẽ”:

“Hàng trăm cháu đã được bác Hồ thưởng huy hiệu. hơn hai triệu cháu đã được bình bầu là cháu ngoan bác Hồ.”

Hàng triệu trẻ em đã phải vào khuôn như thế, nhưng Hồ cũng chưa hài lòng:

“Nhân dân ta rất tự hào có nhiều cháu ngoan như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng và tiến bộ hơn nữa.”

Dĩ nhiên con bọn đảng viên, cán bộ thì không được đi chăn trâu, đi lao động, vì vậy có nhiều người biết suy nghĩ, biết so sánh nên cũng không ngu gì mà hăng say bắt con cái họ làm loài thiêu thân, nên Hồ đã trách khéo :

“Song vẫn còn một số ít cháu chưa được ngoan vì các cháu đó chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn.”

 “Quan tâm đến trẻ em (với Bác Hồ!) là một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ năm 1941, khi Mặt trận Việt Minh mới thành lập, Bác đã coi trẻ em là một lực lượng của cách mạng.

Trên báo “Việt Nam Độc lập”, Bác đăng bài thơ “Trẻ con”, trong đó có đoạn:

“Trẻ em như búp trên cành

 Biết ăn biết ngủ, học hành là ngoan

 Chẳng may vận nước gian nan

 Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng…

 Vậy nên con trẻ nước ta:

 Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!

 Kẻ lớn cứu quốc đã đành

 Trẻ em cũng phải ra dành một vai

Bao giờ đánh đuổi Nhật Tây

Trẻ em ta sẽ là bày con cưng”

Năm 1942, Bác viết bài thơ “Trẻ chăn trâu” đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” (21/11/1942):

“…Chăn trâu mấy trẻ con con

 Cùng nhau hát xướng véo von trên gò

 Vì ai ta chẳng ấm no?

 Vì ai, ta đã phải lo cơ hàn?

 Vì ai, cha mẹ nghèo nàn?

 Vì ai, nhà cửa, giang san tan tành?

 Vì ai, ngăn cấm học hành?

 Vì ai, ta phải chịu vành dốt ngây?

 Ấy là vì Nhật vì Tây…

 Cùng nhau đánh đuổi Nhât Tây

 Anh em ta mới có ngày vinh hoa

 “Nhi đồng Cứu quốc” hội ta

 Ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh

 Ấy là bộ phận Việt Minh

Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”

”Ngày 15/5/1961, Bác viết thư gửi thiếu niên và nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong với câu kết luận: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Đúng như dự liệu của Hồ, Đội thiếu niên Tiền phong do Hồ sáng lập nay đã trở thành những “người cán bộ tốt” như Tày gian Nông Đức Mạnh, Việt gian Nguyễn Tấn Dũng…Đã và đang thi nhau bán nước, bán dân làm nô lệ ra nước ngoài hay ngay tại VN!

Mục tiêu của Hồ đã được những thế hệ kế tiếp thực hiện ngày càng được nâng cao, mỗi năm có hàng trăm ngàn trẻ em bỏ học, nhiều nhất là các vùng cao nguyên, đồng bào các sắc tộc, các vùng đồng bằng sông Cửu Long…

Gần đến ngày Quốc tế thiếu nhi, nhiều bài phóng sự trong nước đã nêu thành tích mà đảng đã thực hiện được theo “lời hứa 60 năm” của Hồ:

1/“Dân du mục làm thuê và cuộc sống trong rừng thẳm”

Cứ đến mùa thu hoạch nông sản là họ lại về đây, mang theo cả con cái, nồi niêu rồi dựng lên những căn lều tạm bợ, lang bạt trong những cánh rừng, nương rẫy. Chúng tôi gọi họ là dân du mục làm thuê.

Những cảnh đời lang bạt

Giữa những ngày nắng nóng như đổ lửa, cách trung tâm huyện miền núi Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) khoảng hơn 30 km đường rừng, nằm sâu dưới chân núi Trà Ô là những túp lều được dựng tạm bợ bằng bạt rải dọc theo triền suối Lạnh. Nó không giống như những căn lều tạm bợ riêng lẻ của những người đi rừng mà tập trung đông đúc như một xóm làng, mà người dân vẫn quen gọi là xóm du mục.

Ở xóm du mục không chỉ có người lớn mà còn có cả trẻ con, người già, cả phụ nữ và em bé mới sinh. Họ nói nhiều thứ tiếng khác nhau, đến từ nhiều nơi khác nhau, người Châu Đốc – An Giang, kẻ Đồng Tháp, Bạc Liêu và đông nhất là Tân Phú – Đồng Nai… Họ đến đây để chặt mía thuê, đào sắn và phát rẫy thuê.

Trong căn lều trống trơn bên suối Lạnh, một em bé mới sinh chưa đầy 3 tháng tuổi đang yên giấc. Chị Hoàng Thị Ngọc Diễm, mẹ cháu bé, năm nay mới 20 tuổi, trông gầy yếu xanh xao, dấu tích của người phụ sau sinh chưa lâu đã phải đi làm. Con chưa đầy 3 tháng nhưng người mẹ trẻ này đã đi làm hơn 1 tháng nay vì không có gì để ăn.

“Nhà nghèo lại không có đất đai nên phải đi lang bạt thế này, chồng đâu thì vợ đó, cực khổ cũng ráng mà chịu. Con nhỏ ở trong rừng sâu khi trái gió trở trời cũng sợ lắm, nhưng lạnh thì che chắn, nóng thì đưa cháu đến các bóng cây che mát chứ biết làm sao bây giờ…”, Diễm thở dài cho biết:

Trên chiếc võng treo dưới tán cây rừng chưa che hết những bóng nắng xuyên qua kẽ lá, cháu bé chỉ bằng cái bắp chuối rừng nằm ngủ, bên cạnh là những đứa trẻ khác từ 5 đến 10 tuổi cũng đang nằm ngửa nghiêng chờ cha mẹ chúng về dưới cái nắng như thiêu đốt.

Cứ mỗi xóm làm thuê có hơn 10 cháu bé từ mới sinh cho đến tuổi tiểu học được cha mẹ chúng mang theo. Đa phần các em không được cắp sách đến trường bởi từ lúc lọt lòng chúng đã phải theo cha mẹ đi làm thuê hết cánh rừng này đến ngọn núi nọ và gắn bó cuộc sống trên những vạt rừng như thế.

Võ Kim Lợi là đứa lớn nhất trong nhóm, năm nay Lợi 14 tuổi nhưng dáng người quắt queo, nhỏ thó. Em cho biết: “Năm nay em 14 tuổi, lên đây chặt mía 2 tháng rồi. Nếu không theo mẹ đi chặt mía thì nay em đã học lớp 6, nhưng nhà nghèo, mẹ đi chặt mía, các anh chị cũng đi, em không thể ở nhà một mình được nên bỏ học theo mẹ đi chặt mía kiếm tiền”.

Với sức vóc nhỏ bé nhưng mỗi ngày Lợi cũng chặt được tầm 40-50 bó mía, mỗi bó được trả công 450 đồng. Như thế, mỗi ngày em cũng kiếm được 20 nghìn đồng phụ giúp mẹ.

Trong số 35 hộ gia đình du mục dưới chân núi Trà Ô có bà Trần Thị Kim Liên. Chồng bỏ đi biệt tích vì không chịu được cảnh nghèo, bà cùng 5 đứa con lang thang làm thuê kiếm sống. Các con bà cũng thất học vì nghèo; chúng lại lấy vợ, lấy chồng cùng kiếp lang thang làm thuê và sinh ra những đứa cháu trên những vạt rừng, chịu chung cảnh thất học.

Bà Liên nói: “Nhà không có rẫy bãi gì hết trơn, đi một đợt thế này được chừng triệu bạc. Còn mấy nhỏ cha mẹ chúng nó khổ nên cũng dẫn theo đó, ở nhà ai coi. Mà học cũng đâu thêm được đồng nào đâu”.

Con gái bà là chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, mẹ của 2 đứa con 10 tuổi và 7 tuổi, xót xa: “Mấy tháng trước em làm ở Đồng Nai nay hết việc rồi lên tận đây. Mỗi ngày giỏi làm cũng chỉ được 70 nghìn. Nhà khổ quá phải chịu thế này, mấy nhỏ thất học hết tội lắm nhưng ngoại thì cũng đi lang thang, nội ở tận Đồng Tháp, không ai trông coi phải mang chúng theo, cũng chẳng biết phải làm sao bây giờ, mai mốt chúng lại làm thuê như cha mẹ thế này!”.

Sống sâu trong rừng, bữa ăn của họ cũng rất đạm bạc. Rau là rau rừng mọc dọc theo các triền suối, hốc núi hay trên những trang trại xa được các cháu đi xin hoặc nhặt về; cá khô mua từ các chợ thị trấn trong hành trình di chuyển từ nơi này đến nơi khác và nhiều nhất vẫn là muối. Trên rừng, nước uống từ người già đến trẻ con đều là nước suối.

Du mục làm thuê, họ là ai?

Tại Phú Yên trong ngày mùa có ít nhất 10 nhóm làm thuê như vậy. Họ sống rải rác trong rừng thuộc 3 huyện Sông Hinh, Sơn Hoà và Đồng Xuân.

Việc hình thành những tốp người làm thuê như thế này xuất phát từ việc nhiều địa phương, nhiều hộ đã bán ruộng hoặc cho thuê. Nhà nông không có mảnh ruộng, công đất trong tay, lại không có nghề nghiệp, nhiều người phải chọn cách làm thuê kiếm sống.

Nếu như ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, những nhóm người làm thuê thế này thường làm cho những chủ trang trại điều, cao su, hay làm công ở các vựa trái cây. Còn về các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên thì họ làm cho các trang trại để chặt mía và đào sắn, thu hoạch cà phê…

Các hộ thường đi theo từng nhóm từ 40 đến 100 hộ. Thông thường mỗi nơi họ ở lại tầm 2-3 tháng, có khi lâu hơn, miễn là nơi đó cần người lao động tay chân.

Đầu công là người đi tìm việc và nhận khoán với chủ, sau đó gom những người không có đất đai, nhà nghèo, cần việc làm ở các nơi thành từng nhóm và đưa họ đến nơi làm.

Ông Nguyễn Văn Tư, đầu công có thâm niên hơn 10 năm nay làm ở khắp các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận nói: “Năm nào cũng vậy, cứ tới mùa là tôi lại dẫn công đi. Công miền Tây nhiều lắm. Chặt mía thế này, hết mùa mía lại về làm trái cây”.

Theo ông Tư, cứ đến mùa mía là ông lại đi gom công. Thường là nửa tháng 9 cho đến Tết thì làm mía ở Đồng Nai, sau Tết ra ngoài miền Trung. Hết mía thì nghỉ, ở nhà chừng 1 tháng rồi dẫn công đi làm tiếp. Hết mùa đến tháng 4, bà con ai kẹt tiền thì mình cho mượn 2-3 triệu đồng gì đó, tới mùa bà con lại đi với mình. Ở trong kia ra đây mình phải cất chòi trại thế này ở, dãi nắng dầm mưa nằm ở ngoài trời. Mấy đứa nhỏ hoàn cảnh cha mẹ nghèo chúng phải chịu cảnh thất học thôi.

Rõ ràng sự hình thành những nhóm người làm thuê và sống theo kiểu du mục đã giúp giải quyết tình trạng khan hiếm lao động trong ngày mùa ở các địa phương. Tuy nhiên nhìn những đứa trẻ thất học, lang thang trên những cánh rừng cùng sống kiếp làm thuê; nhìn những phận đời cùng cực, nheo nhóc, lang thang trên khắp núi rừng, mấy ai không khỏi xót xa? Có bao nhiêu cảnh đời như thế? Trên hành trình làm thuê của mình, khi sức cùng lực kiệt, không thể chống chọi được với rừng thiêng, nước độc, họ sẽ ra sao?

(Dân trí, 26/5/2010)

2/Trẻ em nghèo mưu sinh

Ở ĐBSCL, rất nhiều trẻ em đang phải lao động nặng nhọc để nuôi bản thân và gia đình. Các nỗ lực giúp đỡ lao động trẻ em chưa có kết quả như kỳ vọng.

Đổ máu, oằn lưng

Ngô Thái Hoàng Em, 16 tuổi, học sinh lớp 9 ở xã Nhơn Phú (Măng Thít, Vĩnh Long), đã bị cụt hai tay gần sát nách. Hoàng Em là học sinh giỏi, nhà quá nghèo, nghỉ hè xin vào làm ở lò gạch của anh Nguyễn Văn Linh cùng xã để kiếm tiền giúp mẹ. Khi đang nhào đất bằng máy thì tay của Hoàng Em bị cuốn vào máy, bị cụt hai tay từ đó, nhà nghèo càng thêm kiệt quệ.

Ông Thi Công Dựng, Chủ tịch UBND xã Nhơn Phú, cho biết: “Hoàng Em chỉ là một trong nhiều nạn nhân của máy ép gạch thủ công. Lò gạch máy móc thô sơ, sử dụng lao động trẻ em, thiếu bảo hộ lao động và tai nạn ở các lò gạch là một thực trạng nhức nhối địa phương nhiều năm qua”. Xã Nhơn Phú có hơn 500 cơ sở làm gạch sử dụng hàng ngàn lao động chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.  

Trần Văn Lý 15 tuổi và hai em 13, 12 tuổi đang cùng mẹ bốc gạch cho lò gạch ngói của ông Nguyễn Văn Chiến tại thị trấn An Châu (Châu Thành, An Giang). Lý kể, em bỏ học để làm ở lò gạch ngói đã 3 năm. Trước đây, chỉ cha mẹ Lý làm việc ở lò gạch ngói, còn anh em Lý được đi học.

 Theo số liệu của Ủy ban Dân số – Gia đình và Trẻ em An Giang, toàn tỉnh hiện có hơn 12.000 trẻ lao động trước tuổi. Rất nhiều trẻ phải làm những việc nặng nhọc như khuân gạch, đẽo đá…

“Cha đổ bệnh nan y mấy năm trước, mẹ bốc gạch không đủ sống, tụi em bỏ học theo mẹ” – Lý cho biết. Ba anh em Lý gầy teo, chân tay nhằng nhịt sẹo. Mỗi ngày, mẹ con Lý mỗi người được 20.000 đồng, lo thuốc thang cho cha xong, còn lại vừa đủ sống qua bữa. Mơ ước của anh em Lý là “không bị bệnh” và mơ ước này đang trở nên khó thực hiện vì “làm ở đây cực lắm, nhiều lúc cõng gạch nặng muốn ngã xuống”.

Lò gạch ngói của ông Nguyễn Văn Chiến đang sử dụng 30 lao động, một nửa trong đó là trẻ em, lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 11 tuổi. “Làm nghề này không có nam giới trưởng thành, chỉ có phụ nữ và trẻ em vì thu nhập thấp”, ông Chiến cho biết. Lò gạch nằm trên bãi đất trống, khói bụi mù mịt. Hàng chục lao động tay chân trần giữa bùn đất, người mang áo kẻ cởi trần hì hục dưới nắng đổ lửa.

Biết sai nhưng không can thiệp được

Tỉnh An Giang có trên 600 cơ sở sản xuất gạch ngói và làm đá thường xuyên sử dụng nhiều lao động trẻ em. Chỉ riêng huyện Châu Thành đã có 478 trẻ bỏ học để lao động sớm. Còn theo số liệu của Ủy ban Dân số- Gia đình và Trẻ em An Giang, toàn tỉnh hiện có hơn 12.000 trẻ lao động trước tuổi. Rất nhiều trẻ phải làm những việc nặng nhọc như khuân gạch, đẽo đá…

Ông Phan Văn Tuấn, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh An Giang, cho biết, An Giang có số lượng trẻ em lao động sớm cao nhất ĐBSCL. Việc sử dụng lao động của các chủ cơ sở gạch ngói là sai luật nhưng rất khó can thiệp. “Tỉnh có nhiều trẻ em hộ nghèo tạo nên một lực lượng lao động trẻ em hùng hậu. Vậy nên các cơ sở sản xuất kinh doanh thường chọn các em vì giá thuê rẻ lại không cần phải quan tâm tới các chế độ lao động”, ông Tuấn phân tích.

 Tỉnh Bến Tre cũng có 465 lao động trẻ em, hầu hết trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trong đó, trẻ có độ tuổi 14 – 16 chiếm gần 70% và 54% là nữ. Công việc chủ yếu mà trẻ em đảm nhận là đi biển, phụ hồ, phục vụ quán ăn, giúp việc gia đình, lượm phế liệu.

Khâu quản lý việc sử dụng lao động trẻ em gần như bị bỏ ngỏ. Trong khi đó, các lớp nghề và đào tạo dài hạn không thu hút được các em. Từ năm 2009 đến nay, Sở LĐ-TB&XH tỉnh An Giang mở 8 lớp dạy nghề, chỉ giải quyết việc làm được cho 205 em.

Ông Tuấn nói: “Hoàn cảnh nghèo là nguyên nhân khiến lao động trẻ em chấp nhận những công việc nặng nhọc nguy hiểm để mưu sinh. Vấn đề lao động trẻ em vẫn nhức nhối, chưa giải quyết được”.

Tại Vĩnh Long, báo cáo của Sở LĐ-BT&XH tỉnh, hiện có trên 1.200 trẻ em phải lao động nặng nhọc tại các lò gạch, phụ hồ. Đó là chưa kể số trẻ em lao động theo mùa vụ ở vùng nông thôn như làm cỏ lúa, thu hoạch. Tỉnh Vĩnh Long đang thực hiện đề án hạn chế số trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, năm 2009, các lớp dạy nghề do Sở tổ chức chỉ có 60 em theo học.

Một lãnh đạo Sở LĐ-BT&XH tỉnh Vĩnh Long thừa nhận: “Các lớp dạy nghề chưa thu hút được trẻ em”.  (Tiền Phong, 26/5/2010)

3/Người lớn ơi, xin một lần lắng nghe trẻ em nói…


Tác giả: Khương Duy

01/06/2010

Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp.

Suốt bao nhiêu năm nay, việc chăm lo cho trẻ em luôn được coi là ưu tiên hàng đầu bởi ai cũng thuộc lòng khẩu hiệu “Trẻ em là tương lai của đất nước”. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta đều nghe thấy lời khẳng định: xã hội phải dành những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng thực sự, sau những ngôn từ hoa mĩ ấy, chúng ta đã dành cho trẻ em những gì?

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi năm nay, cùng những bài diễn văn ca ngợi thành tích chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang vang khắp các hội trường, xin được góp vài lời để phần nào giải đáp câu hỏi này.

Đầu tiên, xin thưa rằng người lớn chúng ta ảo tưởng nhiều lắm về sự sung sướng của trẻ em. Khi những đứa trẻ đòi hỏi điều này hay điều kia, người lớn chúng ta thường mắng chúng vòi vĩnh và đem sự nghèo khổ của ông bà, bố mẹ xưa kia ra so sánh. Xét về nhiều mặt, trẻ em hôm nay sung sướng hơn thế hệ đi trước rất nhiều với hàng trăm hàng ngàn loại trò chơi, đồ ăn thức uống mà chúng ta ngày trước có mơ cũng không bao giờ dám nghĩ tới.

Nhưng trẻ em có sung sướng không khi bị đe dọa từng miếng ăn, giấc ngủ vì từ rau, đậu, thịt, cá đến món đồ chơi ưa thích, thứ gì cũng có nguy cơ nhiễm độc? Trẻ em hạnh phúc không khi ra đường, muốn bỏ khẩu trang ra để thở cũng không được vì khói bụi, muốn tung tăng bay nhảy trên phố cũng phải lấm lét canh chừng những “anh hùng xa lộ” sẵn sàng cán người rồi bỏ chạy?

Khi còn nhỏ, ai trong số những người lớn chúng ta phải sống trong những nỗi sợ hãi giống như trẻ em hôm nay?

Người lớn luôn tự khen mình đã dành tất cả những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng có một thứ trẻ em còn rất thiếu: người lớn không cho các em quyền được tin. Chúng ta muốn trẻ em tin những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta chỉ cho chúng thấy những điều nham nhở, xấu xí.

Làm sao trẻ em có thể tin rằng xã hội đang chung tay bảo vệ môi trường khi có những quan chức vào tù vì rút tiền ngân sách dành cho môi trường để tư lợi? Làm sao trẻ em có thể tin vào lời khuyên “cây ngay không sợ chết đứng” khi những người dám nói thẳng, nói thật như thầy Đỗ Việt Khoa trở thành “cây ngay” cô độc giữa rừng cây xiêu vẹo, cực chẳng đã đành phải bỏ nghề?

Làm sao trẻ em có có thể tin mình được xã hội nâng niu khi chứng kiến những đứa trẻ cùng trang lứa như bé Hào Anh bị người lớn đánh đập dã man trước sự thờ ơ của chính quyền sở tại? Những đứa trẻ lớn lên thiếu hành trang niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ phải hoàn toàn do lỗi của người lớn chúng ta.

Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp. Trẻ em còn lúc nào để bay bổng và ước mơ khi lịch học chính, học phụ dày đặc đã chiếm hết thời gian từ lúc các em bước vào lớp một?

Trẻ em sao có thể mở rộng tâm hồn với thế giới bên ngoài khi bị người lớn khóa kín trong những căn nhà kín cổng cao tường hoặc phải sống chen chúc trong những ngõ sâu chật hẹp, “chỉ chính ngọ mới thấy mặt trời”.

Vài chục năm nữa, liệu trẻ em có còn được chiêm ngưỡng cảnh làng quê yên bình với cánh đồng xanh mướt, đàn cò bay thẳng cánh, đàn trâu nhẩn nha gặm cỏ – những cảnh trí đã dung dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt Nam – khi những dự án sân golf, biệt thự, bãi đào vàng đang được người lớn bật đèn xanh không ngơi tay?

Người lớn chẳng những không cho trẻ em cuộc sống an toàn, không cho chúng niềm tin, không cho trẻ em một tuổi thơ theo đúng nghĩa mà còn “ăn vèn” cả vào tương lai của trẻ em. Khi những đứa trẻ lớn lên, chúng ta sẽ trả lời các em ra sao về hàng triệu, hàng tỷ tấn khoáng sản đã bị thế hệ trước khai thác, sử dụng hoang phí và bán với giá rẻ mạt cho nước ngoài để thỏa mãn những nhu cầu không đáy?

Cuốn sách địa lý của thế hệ tương lai sẽ viết về nguồn tài nguyên của đất nước ra sao khi những mỏ vàng, bạc, dầu thô, than đá chẳng còn gì ngoài những hố sâu thăm thẳm và môi trường sinh thái bị tàn phá nặng nề?

Hãy tự hỏi chúng ta chia cho trẻ thơ được bao nhiêu từ món tiền thu được từ việc bán tống bán tháo tài nguyên, khoáng sản hôm nay. Phần chúng ta dành cho các em có phải là những ngôi trường dột nát ở vùng cao? Hay đó là những sợi cáp mắc qua sông như ở Đắk Nông để các em trượt từ bờ bên này qua bờ bên kia tới trường ngay trên đầu sóng dữ?

Và chao ôi, những gì chúng ta dành cho chúng liệu có xứng đáng với những món nợ hàng trăm tỷ đô-la chúng ta đang vay nợ nước ngoài để đầu tư cho những dự án trên trời dưới biển. Chúng ta hỉ hả khi năm sau vay được nhiều hơn năm trước, chúng ta giận lẫy vài hôm khi có vị quan chức nọ xà xẻo vốn ODA nhưng rồi cũng tặc lưỡi bỏ qua. Chúng ta an ủi nhau rằng trẻ em ngày sau sẽ tài giỏi hơn thế hệ hôm nay và sẽ trả hết những gì chúng ta đang vay mượn để vung tay quá trán và thả sức cho rơi rớt dọc đường.

Vâng, tôi tin lắm vào tài năng, trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Chúng ta có những thần đồng toán học, âm nhạc, thể thao ngang tầm quốc tế; chúng ta có những đôi bàn tay tài hoa ngay ở tuổi thiếu thời. Nhưng có tủi cho trẻ em không khi cha ông chúng trông vào những bàn tay khối óc ấy để trả những món nợ xuyên thế kỷ?

Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em bằng một thứ tội tổ tông truyền.

Vậy đấy, hành trang cho trẻ em vào tương lai tưởng như rất đầy mà thực ra lại rất vơi. Chúng ta chẳng cho trẻ em được bao nhiêu so với những gì chúng ta lấy đi của trẻ em. Những người lớn ích kỷ chỉ biết nhắm mắt và tưởng tượng ra những điều vĩ đại đã làm cho con trẻ, nhưng nếu mở mắt ra chúng ta sẽ bàng hoàng khi trẻ em đang trở thành nạn nhân của thói tham lam, mù quáng và ích kỷ của chúng ta.

Xin được mượn câu hát của Trịnh Công Sơn để gọi tên nỗi niềm tôi dành cho những đứa trẻ trong ngày trọng đại này:

Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi

Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người…

(Tuần Việt Nam 1/6/2010)

(Em Em Hào Anh được chủ trại nuôi tôm Cà Mâu chăm sóc bằng roi vọt. Em Lê Xuân Dũng ở Thanh Hóa đã được công an bảo vệ bằng một viên đạn: Trẻ em, ai cũng được chăm sóc sức khoẻ, được bảo vệ tính mạng!)

Bài viết của ký giả Khương Duy đầy tâm huyết, nhưng đã đi ngược lại chủ trương của Hồ Chí Minh và đảng CS, nên đã bị xóa bỏ! Xóa bỏ là phải!

3/6/2010

nguyễn duy ân
http://cachmanghoalai.wordpress.com/2010/06/03/h%E1%BB%93-chi-minh-c%C6%B0%E1%BB%A1ng-b%E1%BB%A9c-lao-d%E1%BB%99ng-tr%E1%BA%BB-em/

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link