Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, August 4, 2013

Làm sao Trung Cộng có bom nguyên tử ?


 

 

 

 

                                    

 

              Làm sao Trung Cộng có bom nguyên tử ?

                                                                                                      Ls Lê Đức Minh

Trong chiến lược thu tóm thế giới của mình, Stalin không muốn thành lập một chi bộ cộng sản tại Á châu vì lo rằng Trung cộng  sẽ trở thành lãnh tụ của khối này. Không có chi bộ cộng sản  Á châu, Trung cộng  cũng như bất cứ quốc gia cộng sản nào khác, dù muốn hay không cũng phải coi Stalin là lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Stalin biết rằng Trung cộng dưới sự cai trị của Mao là một quốc gia cộng sản cuồng tín và có một nguồn nhân lực vô tận.

 

Năm 1949 lãnh tụ cộng sản Bắc Hàn Kim Nhật Thành sang Liên xô cầu xin Stalin giúp ông ta tấn công miền Nam và thống nhất đất nước. Stalin từ chối thẳng thừng vì sợ đụng độ với Hoa kỳ.

Thất vọng, họ Kim chạy sang cầu viện Mao. Mao đồng ý ngay lập tức. Hơn ai hết Mao thừa biết Stalin rất muốn thấy Hoa kỳ đại bại tại Triều Tiên nhưng không dám trực diện gây chiến với Hoa kỳ. Trong thời gian qua Liên xô bệ kiến Stalin, Mao quyết định Trung quốc sẽ trực diện đối đầu với Hoa kỳ tại Triều Tiên.  Theo Mao, cuộc chiến tại  Triều Tiên sẽ cho ông ta một cơ hội vàng để hiện đại hóa bộ máy chiến tranh của  Trung cộng . Hồng quân Trung cộng  sẽ đánh Mỹ cho Stalin tại Triều Tiên và đổi lại Liên Xô sẽ cung cấp cho Trung cộng  phương tiện và kỹ thuật để sản xuất vũ khí hiện đại.

 

Tuy nhiên khi Kim Nhật Thành tỏ ý rằng ông ta sẽ hoàn toàn đứng dưới trướng của Trung cộng  nếu Stalin vẫn một mực từ chối giúp đỡ, Stalin bắt đầu suy xét lại và cuối cùng ngày 30/01/1950 Liên xô gửi cho Kim một mật điện đồng ý hỗ trợ Bắc Hàn, với điều kiện Trung cộng  trực tiếp tham chiến tại Triều Tiên.

 

Việc Trung cộng và Bắc Hàn đánh Mỹ tạo cho Liên  Xô một cơ hội có một không hai để thử nghiệm những vũ khí mới của mình, đặc biệt là các máy bay Mig và đánh giá các vũ khí của Hoa kỳ cũng như thăm dò quyết tâm của Hoa kỳ trong cuộc chiến chống cộng sản.

Theo Stalin, Trung cộng và Bắc Hàn đều phụ thuộc hầu như toàn bộ vào vũ khí của Liên  Xô cho nên Stalin có thể điều khiển tiến triển của cuộc chiến Triều Tiên theo ý của ông ta.

 

Ngày 1/7/1950, một tuần sau Hồng quân Trung cộng trong quân phục của quân đội Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn. Thủ tướng Chu Ân Lai nhắn với Stalin thông qua đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh rằng nay đã đến lúc Trung cộng cần có không quân và cả hải quân để tham chiến tại Triều Tiên.

 

Ngày 01/03/1951 Mao thông báo với Stalin rằng ông ta sẽ kéo dài cuộc chiến Triều Tiên vài năm để giết cho được vài trăm ngàn  binh sĩ Hoa kỳ. Mao cho Stalin biết rằng ông ta không quan tâm đến số lượng Hồng quân sẽ hy sinh tại Triều Tiên để giúp Stalin tiêu  hao sinh lực của Hoa kỳ nhưng đổi lại  Stalin phải giúp  Trung quốc xây dựng một quân đội và một nền công nghiệp sản xuất vũ khí hiện đại.

 

Mao đòi Stalin viện trợ 147 nhà máy vũ khí hạng nặng bao gồm những nhà máy sản xuất máy bay quân sự, tàu chiến; 1000 xe tăng hạng nhẹ mỗi năm và một nhà máy sản xuất tăng hạng vừa trong năm năm tới.

 

Stalin luôn luôn lo sợ rằng khi có vũ khí hiện đại, Trung cộng sẽ trở thành đối thủ của mình. Tuy nhiên khi cuộc chiến Triều tiên tiếp diễn, nhu cầu vũ khí quá lớn khiến Liên xô tin rằng cung cấp cho Trung cộng nhà máy và kỹ thuật để sản xuất vũ khí có lợi hơn là bắt dân Liên  Xô phải sản xuất vũ khí cho Trung cộng và Bắc Hàn dùng.

Kết quả là các chuyên gia Liên  Xô đã sang Trung cộng giúp xây dựng những nhà máy  và chuyển giao kỹ thuật sản xuất từ súng tiểu liên AK cho đến xe cơ giới, xe tăng, các công xưởng lắp ráp Mig, tàu chiến. Tuy nhiên Stalin ra lệnh không chuyển giao những công nghệ vũ khí tinh vi ví dụ như kỹ thuật sản xuất động cơ phản lực.

 

Lúc chiến tranh Triều tiên kết thúc Trung cộng đã có phương tiện để sản xuất tất cả vũ khí từng được dùng trong cuộc chiến này. Là một quốc gia rất nghèo, Trung cộng lúc bấy giờ đã có lực lượng không quân đứng hàng thứ 3 trên thế giới với hơn 3000 chiếc Mig. Các nhà máy của Trung cộng có thể sản xuất tối đa 3600 chiến đấu cơ một năm!

 

Để có được nền công nghệ vũ khí như trên, theo tài liệu của Liên  Xô, khoảng 1 triệu Hồng quân Trung cộng đã bỏ mạng trong cuộc chiến Triều  Tiên. Tuy nhiên Mao không coi con số này là quan trọng vì trong hơn 3 triệu quân Trung cộng tham chiến tại Triều Tiên có hơn 2/3 là các binh sĩ của chế độ Tưởng Giới Thạch bị mắc kẹt ở Đại Lục sau năm 1949 và bị Mao lùa sang tham chiến ở Triều Tiên dưới tên gọi “chí nguyện quân”. Hơn 20 ngàn tù binh Hồng quân sau chiến tranh khi được trao trả đã từ chối về đại lục và đã chọn sang sinh sống tại Đài Loan.

 

Sự thật là khi Stalin muốn có quan hệ nhẹ nhàng hơn với Hoa kỳ và quyết định chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, Mao vẫn kiên quyết tiếp tục cuộc chiến với ý đồ rằng ông ta sẽ chưa chấm dứt chiến tranh Triều Tiên chừng nào Liên Xô chưa giúp Trung cộng có được nền công nghiệp vũ khí mà Mao yêu cầu.

Bản thân Kim Nhật Thành cũng không muốn cai trị một Bắc Hàn chỉ còn là đống gạch vụn yêu cầu Mao chấm dứt chiến tranh nhưng Mao không nghe.  Cuối cùng  Stalin bảo với Mao rằng nếu Mao hợp tác và chấm dứt chiến tranh thì Liên  Xô sẽ thõa mãn yêu cầu của Mao. Thế là cuối cùng Stalin đã giúp Mao có được 91 nhà máy trong tổng số 147 nhà máy mà Mao yêu  cầu.

Sau khi  Stalin qua đời, các lãnh tụ Sô Viết tin rằng một nước Trung cộng có vũ khí hiện đại có lợi cho phong trào cộng sản toàn thế giới. Sự thay đổi này đã giúp cho Trung cộng nhanh chóng thực  hiện được tham vọng có vũ khí nguyên tử.

 

Ngày 2/2/1953, tổng thống Mỹ Eisenhower đề nghị dùng bom nguyên tử tấn công Trung cộng. Khi nghe lời đe dọa này, Mao vui mừng khôn xiết vì biết rằng ông ta đã có cớ để yêu cầu Liên  Xô giúp sản xuất bom nguyên tử.

 

Theo lời một nhân vật thân cận của Mao là Bo Yi-bo thì từ khi hai trái bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima và Nagasaki, Mao cực kỳ lo sợ và ông ta hầu như lúc nào cũng nhắc đi  nhắc lại rằng Trung quốc chưa có bom nguyên tử. Tuy thế ngoài mặt Mao lúc nào cũng tuyên bố rằng bom nguyên tử chỉ là “con hổ giấy” và sức mạnh thực sự nằm ở nhân dân. Ý Mao muốn nói rằng không có  bom nguyên tử nào có thể giết hết người  Trung cộng được.

Ngay sau khi có lời tuyên bố của Eisenhower, khoa học gia nguyên tử hàng đầu của Trung cộng là  Qian San-qiang được Mao phái sang Liên Xô.  Thông điệp của Mao rất rõ ràng “hãy cho chúng tôi bom nguyên tử và quý vị sẽ không bao giờ phải có chiến tranh nguyên tử với Hoa kỳ”.

 

Qian San-qiang nỗ lực vận động Liên Xô chuyển giao công nghệ nguyên tử cho Trung cộng nhiều lần, nhưng lần nào cũng bị từ chối. Cuối cùng biết không đòi hỏi gì được vào lúc đó, Mao cho rút đoàn chuyên gia nguyên tử của  Trung cộng  về nước và chuyên tâm vào các công nghệ chế tạo vũ khí cổ điển mà Liên Xô vừa chuyển giao.

 

Cuối cùng cơ hội của Mao đã đến.  Tháng 6/1957 một nhóm đảng viên cao cấp trung thành với chủ nghĩa Stalin đã làm đảo chánh lật đổ Khrushchev. Tuy cuộc đảo chính không thành nhưng vị trí của Khrushchev bị lung lay tận gốc. Ông ta cần có sự ủng hộ của các quốc gia cộng sản khác, đặc biệt là Trung cộng  để củng cố vị trí của mình.

 

Trong khi các nước cộng sản khác gửi công hàm ủng hộ Khrushchev, Mao vẫn làm thinh coi như không có ý kiến gì. Khrushchev liền gửi đặc sứ của mình là Mikoyan sang Trung quốc gặp Mao, lúc đó đang nghỉ mát tại Hàng Châu. Mao để cho tay đặc sứ nói suốt đêm. Gần sáng Mao mới cho người đem công hàm đã chuẩn bị sẳn từ trước ra.  Dĩ nhiên Mao ủng hộ Khrushchev làm ông chủ điện Kremlin nhưng dĩ nhiên Khrushchev phải tỏ ra biết điều. Mao chỉ cần Khrushchev chuyển giao công nghệ nguyên tử.

 

Mạc Tư Khoa tỏ ra  biết điều. Khrushchev ra lệnh chuyển giao công  nghệ nguyên tử cho Trung cộng  cùng với công nghệ sản xuất hỏa tiễn, và một số công nghệ sản xuất Mig đời mới.

Đại hội quốc tế cộng sản được dự trù khai mạc vào ngày 7/11/1957 để kỷ niệm 40 năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga. Khrushchev muốn Mao phải có mặt để bày tỏ sự ủng hộ cho ông ta.

Mao khai thác sự kiện này triệt để. Mao cho biết ông ta chỉ tham dự đại hội với điều kiện Liên Xô phải ký với Trung cộng một cam kết chuyển giao toàn bộ kỹ thuật nguyên tử và giúp Trung quốc chế tạo thành công bom nguyên tử.

 

Ngày 15/10/1957, ba tuần trước ngày đại hội, Liên  Xô ký một cam kết có tính chất định mệnh và trao cho Trung cộng  một trái bom nguyên tử mẫu.  Đồng thời các cơ quan  nguyên tử của Liên  Xô được lệnh cung cấp cho Trung cộng  bất cứ thứ gì để họ có thể chế được một trái bom nguyên tử đầu tiên.

Sau đó nhiều chuyên viên về hỏa tiển của Liên  Xô được lệnh sang làm việc tại  Trung cộng  đến mức độ nhiều chương trình hỏa tiển của Liên Xô bị đình trệ. Với sự giúp đỡ của Liên Xô trong giai đoạn này, số khoa học gia nguyên tử của  Trung cộng  từ 60 tăng lên đến 6000!

 

Theo ước tính của các chuyên viên phương Tây, chi phí Trung cộng  dùng để chế tạo trái bom đầu tiên lên đến 4.7 tỷ đô la thời giá 1957.  Đa số chi phí này được chi trả bằng cách bán nông sản.

Ngày 4/10/1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên lên không gian. Liên Xô đã qua mặt các nước phương Tây trong lĩnh vực không gian. Ngay lập tức Mao tuyên bố ông ta phải có vệ tinh nhân tạo ngay.

 

Vệ tinh Sputnik của Liên Xô nặng 83.6 kg. Năm 1958 Hoa kỳ phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên nặng 8.22 ký. Tháng 8/1958 Mao tuyên bố vệ tinh của Hoa kỳ chỉ là một quả trứng vịt. Ông ta tuyên bố rằng Trung cộng  phải phóng một vệ tinh nhân tạo nặng hơn vệ tinh của Liên Xô và Hoa kỳ vào năm 1960!

 

Cứ như thế Trung cộng  đã thâu tóm được kỹ thuật khoa học không gian của Liên Xô, dẫn đến việc ngày nay Trung cộng là một trong ba quốc gia có kỹ thuật khoa học không gian hàng đầu thế giới.

Khi đề cập đến việc này, các chuyên gia Nga luôn luôn khẳng định rằng họ chính là cha đẻ của bom nguyên tử và cả phi thuyền vũ trụ của Trung cộng.

Ls Lê Đức Minh

~~~~~~~~~~~~~~
Tài liệu tham khảo:


 

Chuyển Động Ngoại Giao Dồn Dập Ở Đông Nam Á


 

Chuyển Động Ngoại Giao Dồn Dập Ở Đông Nam Á


                                                                               Đào Văn Bình


Thế giới mà chúng ta đang sống phát triển bởi tham-dục và hủy diệt bởi tham-dục, không đứng yên một chỗ mà luôn luôn biến đổi. Theo Dịch Lý của Đông Phương sự thay đổi đó vận hành theo nguyên lý: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng; Tứ Tượng Sinh Bát Quái và Bát Quái sinh… Tùm Lum. Khi cái “Tùm Lum” ra đời thì thiên hạ đại loạn. Lúc đó thế nào cũng có một quốc gia mới nổi lên, gồm thâu thiên hạ và chu kỳ Thái Cực lại bắt đầu.

Kể từ khi Liên Bang Xô-viết xụp đổ vào năm 1991, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành siêu cường “Độc Cô Cầu Bại” thế Lưỡng Cực tan biến và thế giới hình hành thế Thái Cực hay Đơn Cực. Mỹ giống như thiên tử nhà Chu cách đây khoảng 1000 năm trước Tây Lịch, bá chủ thiên hạ, chư hầu răm rắp tuân lệnh. Thế nhưng theo lẽ tự nhiên của trời đất, con cháu nhà Chu do bất tài, nhu nhược hoặc hoang dâm vô độ, nhà Chu dần dần suy yếu.Khi thiên tử suy yếu – bây giờ gọi là suy thoái, chư hầu lợi dụng xưng Bá, thôn tính các nước nhỏ, kéo theo một thời kỳ chiến tranh kéo dài hơn 200 năm, từ năm 403 trước Tây Lịch gọi là Xuân Thu Chiến Quốc và chấm dứt vào năm 221 trước Tây Lịch khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc chấm dứt thế loạn “ Tùm Lum”.
 
Dĩ nhiên trong 200 năm đó, thiên hạ điêu linh, dân tình khốn khổ, “ đống xương vô định đã cao bằng đầu”. Thế nhưng bao nhiêu học thuyết về ngoại giao, chính trị, quân sự, kể cả những chiến lược mà nước nhỏ dùng để giữ nước, các gương sáng ngời về lòng yêu nước như Phạm Lãi của nước Việt, các thiên tài ngoại giao, quân sự, trị quốc như Quản Trọng, Tô Tần, Trương Nghi, Nhạc Nghị và tư tưởng như “Bách Gia Chư Tử” cũng đều sản sinh trong thời kỳ này. Các nhân vật gần như huyền thoại đó vẫn sống mãi trong tâm tưởng mọi người và các học thuyết đó vẫn còn là kim chỉ nam cho chính sách ngoại giao, quân sự, trị quốc cho nhân loại ngày hôm nay.

Vào năm 1972, do nhu cầu chia rẽ Khối Cộng Sản và làm suy yếu Liên Bang Xô-viết, cặp bài trùng Nixon- Kissinger đã “chơi con bài Hoa Lục” bằng cách đá người đàn em chống cộng lừng lẫy là Tưởng Giới Thạch ra khỏi Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và rước Mao Trạch Đông ngồi vào đó, kể cả việc làm ngơ để Hoa Lục cưỡng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam để chứng tỏ “thành tâm thiện chí” với ông bạn mới. Khác với Mao Trạch Đông còn do dự và “bế quan tỏa cảng”, Ô. Đặng Tiểu Bình nhìn xa trông rộng, tương kế tựu kế, theo kế sách “nhập nô xuất chủ”. Năm 1979 ông qua Mỹ để bình thường hóa ngoại giao với Hoa Kỳ và “mở tung cánh cửa”.
 
 Thế giới, nhất là Hoa Kỳ khen ngợi Ô. Đặng Tiểu Bình hết mình. Tiếp theo đó tư bản Mỹ, kỹ thuật Mỹ, công ty Mỹ ào ào đổ vào để khai thác tài nguyên thiên nhiên, biến khối 1.3 tỉ người thành thị trường công nhân rẻ mạt chế hàng cho Mỹ, vừa làm giàu cho chính quốc vừa đem về cho dân Mỹ xài chơi cho sướng. Ước mơ của Hoa Kỳ và Tây Phương kể như thành tựu. Liên Xô xụp đổ, Hoa Lục “gia nhập cộng đồng thế giới” rồi đây thiên hạ thái bình, còn lo gì nữa? Ô. Bill Clinton là người sung sướng nhất, được hưởng cái khoái cảm “Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng”. Giống như Ngô Phù Sai năm xưa ngất ngưởng với Tây Thi ở Cô Tô Đài, ông “tình tứ” với Cô Monica Lewinsky ngay tại Phòng Bầu Dục – nơi ban bố những quyết định liên quan đến vận mệnh của thế giới. Còn Ô. Bush Con tự coi mình là “võ lâm chí tôn” không cần mạng lệnh của Liên Hiệp Quốc, với Anh Quốc, sau này thêm NATO đem quân vào Iraq và Afghanistan và như thế lao vào hai cuộc chiến vô cùng tốn kém về nhân mạng và của cải, kéo dài đã hơn 12 năm mà Ô. Obama gỡ chưa ra.
 
Nước Mỹ đâu có ngờ trong khi Hoa Kỳ tự thị (dưới thời Ô. Clinton), sa lầy trong hai cuộc chiến (dưới thời Ô. Bush Con), Đặng Tiểu Bình và các người kế vị là Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào đã âm thầm luyện thành công môn “Hấp Tinh Đại Pháp”. Cái độc địa của môn võ công này là thu hết nội lực của đối phương để biến thành nội lực của chính mình, đến một lúc nào đó đối thủ bủn rủn cả chân tay rồi thành phế nhân. Hàng Made in China rẻ rề được các công ty bán lẻ khổng lồ của Mỹ như Wal Mart, Target, Best Buy, Costco v.v… đem về bán cho dân xài lại khiến công ty Mỹ phá sản.
 
Dân Mỹ có thói quen thấy hàng rẻ thì ùn ùn kéo đến mua, nhiều khi dẫm đạp lên nhau mà chết – chẳng hạn như trong ngày Black Friday, không kể tự ái dân tộc hay quyền lợi quốc gia gì cả. Trong khi họ than thiền về nạn thất nghiệp nhưng lại không biết đâu là nguyên do của thất nghiệp. Ông Tàu chứ còn ai nữa? Thế cho nên một số nhà bình luận nói rằng “Kẻ thù của nước Mỹ chính là tư bản Mỹ”. Hiện nay giới tư bản Mỹ chỉ chiếm 1% nhưng thâu tóm 90% tài sản đất nước.

Hệ thống truyền thông Mỹ, phim ảnh Mỹ, chính trị gia Mỹ lúc nào cũng nhồi vào đầu óc người dân, “Mỹ Number One”, “Mỹ lãnh đạo thế giới”. Chuyện hàng Made in China có tràn ngập thị trường Mỹ chỉ là “ba cái lẻ tẻ”, nhằm nhò gì, ”think tank” của Mỹ tính hết cả rồi. Lợi dụng quan hệ hợp tác chiến lược với Mỹ, Hoa Lục học hỏi, kể cả ăn cắp lẫn sao chép siêu kỹ thuật để chế tạo vũ khí hiện đại xuất cảng và chống Mỹ. Tiền lời bán vũ khí, tiền lời bán hàng do công ty Mỹ sản xuất tại Hoa Lục đem cho Hoa Kỳ vay, rồi mua công khố phiếu rồi trở thành chủ nợ của Hoa Kỳ. Thật trớ trêu! Sách lược vĩ đại hay “diệu kế” của Nixon-Kissinger 40 năm sau trở thành”Con Ngựa Thành Troie”!

Vào đầu thập niên 1990 khi Hoa Lục đã xây dựng xong hệ thống quân sự khổng lồ tại Đảo Hải Nam, trên biển cũng như dưới lòng đất, Hoa Kỳ vẫn còn đắm chìm trong “giấc mơ vàng” hợp tác chiến lược với Tàu. Lúc đó nếu có nhà bình luận nào nói rằng Hoa Lục sẽ là đối thủ hoặc xa hơn là kẻ thù của Hoa Kỳ thì lập tức bị gán cho nhãn hiệu bảo thủ và thiển cận. Chỉ tới năm 2009 khi Hoa Lục trình Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ Đường Lưỡi Bò gom hết Biển Đông vào lãnh thổ của mình thì Hoa Kỳ mới giật mình, hối hả rút quân khỏi Iraq, Afghanistan trong kế hoạch gọi là “Xoay Trục”, tức tái phối trí lực lượng tại nơi mà Hoa Kỳ đã bỏ lại khi tháo chạy khỏi Việt Nam năm 1975.

Để đối phó với kế hoạch “Xoay Trục” của Mỹ, về mặt ngoại giao Hoa Lục tung tiền “mua” Thái Lan, Kampuchea, trung lập hóa Miến Điện khiến khối ASEAN rạn nứt. Về mặt quân sự cho tàu hải giám, tàu ngư chính tiếp tục uy hiếp Việt Nam, Phi Luật Tân trên biển. Hành động nguy hiểm nhất của Hoa Lục mà cả thế giới đều thấy rõ là biến Hoàng Sa (ngụy danh Tam Sa) thành bộ chỉ huy quân sự kiểm soát Biển Đông, ban bố lệnh kiểm tra, lục soát các tàu qua lại trên vùng biển này, cho in bản đồ có hình Lưỡi Bò trên sổ xuât cảnh, công bố bản đồ trong đó toàn bộ Biển Đông khoanh vùng bởi Đường Lưỡi Bò thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời mở mặt trận thứ hai tại Biển Hoa Đông, uy hiếp Nhật Bản.
 
Phong trào bài Nhật mới đầu tưởng chỉ là thủ đoạn hù dọa nay trở thành “vũ khí kinh tế” chống Nhật và chiến tranh Trung-Nhật có nguy cơ bùng nổ. Nhật sợ quá vội vã lên kế hoạch phòng thủ và cũng “xoay trục” như Mỹ. Trong cuộc phỏng vấn với tờ New York Times trước khi từ nhiệm, Bà Hilary Clinton nói rằng Trung Quốc thật sự tạo ra một mối lo (cho Hoa Kỳ và thế giới). Một siêu cường như Hoa Kỳ, giống như thiên tử Nhà Chu mà phải “lo ngại” sức mạnh của Hoa Lục thì đó không phải là chuyện đùa rỡn.

Sự “xoay trục” của Nhật giống như Liên Minh Lục Quốc chống Tần năm xưa. Các chiến lược gia Nhật Bản nhận thấy việc đối đầu với Hoa Lục là chuyện dài “ngàn năm” cho đến khi nào Hoa Lục thay đối chính sách và dù có thay đổi chính sách thì Hoa Lục vẫn chơi lá bài “nước lớn” tức “kẻ cả”.
 
Dù liên minh Mỹ-Nhật có đó nhưng nó chưa đủ sức để chống Tàu. Nếu Hoa Lục khống chế được Đông Nam Á, chắc chắn Nhật Bản phải đầu hàng hoặc liên minh với Mỹ để mở cuộc chiến tranh tổng lực để tìm sinh lộ. Kế sách tối hảo vừa lợi vừa ít gây tổn hại cho Nhật là liên kết với Đông Nam Á và làm cho các nước này mạnh lên. Khi họ mạnh lên về quân sự và kinh tế, với tinh thần độc lập tự chủ, chính Đông Nam Á sẽ là “ràng rào tự nhiên” ngăn chặn Hoa Lục. Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, Úc Châu, Ấn Độ và cả thế giới thấy rõ điều này.

Về chiến lược ngăn chặn Trung Quốc – nói Đông Nam Á là nói về “diện” còn “trọng điểm” chính là Việt Nam chứ không phải Phi Luật Tân. Chỉ cần mất phần còn lại của Trường Sa, dù Phi Luật Tân còn đó, Đông Nam Á coi như thuộc về Hoa Lục. Lúc đó Hoa Kỳ phải lui về cố thủ ở Guam và như thế chiến tranh đã sát nách lãnh thổ Hoa Kỳ, đó là cơn ác mộng của Ngũ Giác Đài. Chính vì thế mà chỉ hơn tháng vừa qua, người ta đã chứng kiến những chuyển động ngoại giao dồn dập đổ về Đông Nam Á:

-Ngày 10/1/2013 Bộ Trưởng Quốc Phòng Ý Đại Lợi thăm và hội đàm với Tướng Phùng Quang Thanh. Hai bên cam kết hợp tác trong lãnh vực đóng tàu, đào tạo và tiếp đón sĩ quan Việt Nam tu nghiệp tại Ý.

-Ngày 6/1/2013 Tân Bộ Trưởng Nhật Ô. Fumio Kishida họp với Ngoại Trưởng Phi Luật Tân trong chuyến công du đầu tiên bàn về hợp tác an ninh hàng hải trên Biển Đông và cung cấp cho Phi 10 tàu tuần duyên.

-Ngày 15/1/2013 Phó Tổng Thống Ấn Độ Hamid Ansari thăm Việt Nam đồng thời kết thúc Lễ Kỷ Niệm Năm Hữu Nghị Ấn-Việt. Cuộc viếng thăm cho thấy Ấn Độ muốn thắt chặt thêm quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

-Ngày 16/1/2013 Chủ Tịch Quốc Hội Nam Hàn thăm Việt Nam. Theo thống kê trong nước, cho tới ngày hôm nay, Hàn Quốc là nhà tài trợ cho Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Nhật Bản.

-Ngày 16/1/2013 Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe chọn Việt Nam để thực hiện chuyến công du đầu tiên khi ông vừa nhậm chức chưa đầy một tháng, tình hình trong nước vẫn còn bề bộn, Senkaku vẫn sôi động. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ô. Abe tập trung vào viện trợ và an ninh Biển Đông. Còn chuyến viếng thăm Thái Lan và Nam Dương sau đó chỉ tập trung vào thương mại, đầu tư. Tưởng nên nhắc lại đây, vào ngày 29/12/2012 ngay khi được tin Ô. Abe được chọn làm thủ tướng, Ô. Nguyễn Tấn Dũng- Thủ Tướng Việt Nam đã gọi điện thoại chúc mừng và đàm đạo điều này cho thấy Việt Nam đánh giá cao quan hệ hợp tác chiến lược với Nhật và nhất là lập trường cương quyết không tương nhượng Hoa Lục trong cuộc đối đầu tại Senkaku của Ô. Abe.
 
 Nhân định về chuyến viếng của Ô. Abe, Báo điện tử Người Lao Đông viết như sau, “Việc Thủ tướng Shinzo Abe chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tiên trong chuyến công du đã thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận quốc tế. Đài BBC dẫn lời giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cho rằng trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam có lẽ là nước có quan hệ an ninh thân cận nhất với Nhật Bản. Trong tám đối tác chiến lược đã được thiết lập của Việt Nam thì Nhật Bản đứng thứ hai chỉ sau Nga. Ngoài ra, Nhật Bản là nước tài trợ ODA (Official Development Assistance) lớn nhất của Việt Nam, nhà đầu tư Số 1 tại Việt Nam và là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam”.

-Cũng trong thời gian này, BBC tiếng Việt đưa tin, “ Trong lúc tân thủ tướng Nhật Bản, ông Shinzo Abe chuẩn bị cho chuyến thăm Đông Nam Á, bắt đầu bằng Việt Nam tuần này, Hoa Kỳ cũng gửi một phái đoàn quân sự và an ninh cao cấp sang Đông Bắc Á trong mối lo ngại về tình hình khu vực. Cùng lúc, khối ASEAN tiếp tục đề cao quy tắc ứng xử cho khu vực Biển Đông và tiếp tục đối thoại với Trung Quốc. Chuyến thăm của các quan chức Mỹ, gồm Thứ trưởng Ngoại giao Kurt Campbell và Thứ trưởng Quốc phòng Mark Lippert cùng giám đốc châu Á trong Hội đồng An ninh Quốc gia Daniel Russell sang Tokyo và Seoul là để bàn với tân nữ tổng thống Hàn Quốc và tân thủ tướng Nhật Bản về an ninh vùng.”

-Ngày 17/1/2013 Ô. Nguyễn Phú Trọng-Tổng Bí Thư Đảng CSVN lên đường thăm Vương Quốc Bỉ, Liên Hiệp Âu Châu, hội kiến với Thủ Tướng Ý Đại Lợi và sau đó thăm Anh Quốc hội kiến với Thủ Tướng Cameron. Theo báo chí trong nước, tại Bỉ, hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác trao đổi thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực Bỉ có thế mạnh như phát triển hải cảng, tiếp vận, giao thông vận tải, công nghệ xanh, công nghệ cao, kỹ nghệ hàng không- không gian, công nghiệp nặng và y tế. Ô. Nguyễn Phú Trọng cũng đã chứng kiến lễ ký một số văn kiện hợp tác Việt-Bỉ, như hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu, mở rộng khu công nghiệp và Hải Cảng Vũ Đình (Hải Phòng), hợp tác giữa Việt Nam với vùng Flanders. Tại Ý Ô. Nguyễn Phú Trọng đã hội kiến với Thủ Tướng Monti.
 
Hai bên đã ra Tuyên Bố Chung thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, Bản Ghi Nhớ giữa hai Bộ Quốc Phòng; Bản Ghi Nhớ về hợp tác và tương trợ hành chính trong lĩnh vực quan thuế; Bản Ghi Nhớ về hợp tác giữa Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam và Tập Đoàn Dầu Khí Italia; Trao giấy chứng nhận đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí cho Tập Đoàn Dầu Khí Italia các Lô 114, lô 120 và lô 105-110/04 ngoài khơi Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Nam. Tại Anh Quốc, Thủ Tướng Cameron và Ô. Nguyễn Phú Trọng đã thảo luận và nhất trí về các biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước, nhất là trên các lĩnh vực thương mại, hàng hải, tài chính ngân hàng, giáo dục… phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai nước lên 4 tỷ USD trong năm nay. Anh Quốc cũng mong muốn Việt Nam đóng vai trò mạnh mẽ và xây dựng hơn trong khu vực cũng như trên thế giới và Anh Quốc sẽ hỗ trợ Việt Nam hoàn thành trách nhiệm này giống như lời tuyên bố của Ô. Panetta – Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ trước đây. Do đó người ta dự đoán có thể quân đội Việt Nam sẽ tham gia lực lượng LHQ gìn giữ hòa bình trong tương lai.
 
Dù đề tài nhân quyền được nêu ra tại Nghị Viện Anh, việc Âu Châu nồng nhiệt tiếp đón Ô. Nguyễn Phú Trọng – đã đi cùng nhịp với lời kêu gọi “Âu Châu cũng phải tăng cường hợp tác với Mỹ để bảo đảm ổn định tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đây cũng là lợi ích của Châu Âu” (RFI) của Phó Tổng Thống Joe Biden trong Hội Nghị An Ninh Munich ngày 2/2/2013.

-Ngày 18/1/2013 Bà Cristina – nữ Tổng Thống Argentina thăm Việt Nam. Cuộc thăm viếng chỉ giới hạn trong khuôn khổ thương mại, đầu tư và liên kết ngoại giao.

-Ngày 23/1/2013 tại Nam Vang, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Trung Quốc, Tướng Thích Kiến Quốc, ký một thỏa thuận giúp huấn luyện lực lượng vũ trang Campuchea với Bộ Trưởng Quốc Phòng Tea Banh, đồng thời bàn giao 12 chiếc trực thăng đa năng Zhi-9 do Trung Quốc sản xuất trong đó có 4 trực thăng chiến đấu. Kampuchea đã dùng khoản viện trợ 195 triệu đô-la từ Trung Quốc để mua số trực thăng vũ trang này. Cũng có tin Trung Quốc cho không để lôi kéo Kampuchea vào quỹ đạo của mình. Cộng thêm với việc mua sắm 100 xe tăng, 40 xe bọc thép mới đây, những chuyển động về mặt quân sự của Kamphuchea đã khiến Thái Lan lo ngại. Xong Việt Nam cũng phải dè chừng Trung Quốc lại chơi “lá bài Khờ Me Đỏ” để thọc vào biên giới phía nam Việt Nam.

-Ngày 4/2/2013 nhân dịp tham dự lễ hỏa thiêu Cựu Hoàng Norodom Sihanouk tại Nam Vang, Ô. Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc hội đàm với Thủ Tướng Pháp Jean Marc Ayrault. Ô. Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Pháp, một đối tác ưu tiên của Việt Nam tại châu Âu.

-Trong khi những chuyển động ngoại giao tập trung vào Việt Nam và Phi Luật Tân như thế thì vào ngày 4/2/2013 BBC đưa tin, “Tân Hoa Xã cho hay ba khu trục hạm đã rời Cảng Thanh Đảo ở phía đông tỉnh Sơn Đông hôm thứ Ba 29/1 để tham gia các hoạt động tập trận ở Nam Hải (Biển Đông) và Tây Thái Bình Dương. Hãng tin nhà nước Trung Quốc cho biết thêm rằng các hoạt động trên sẽ diễn ra ở Hoàng Hải, Biển Hoa Đông, Biển Đông, Eo Biển Miyako, Kênh Bashi và vùng biển phía đông Đài Loan.” điều đó cho thấy lò lửa Đông Nam Á đang âm ỉ lại mỗi lúc được đổ thêm dầu. Cả thế giới đang căng thẳng chờ đợi một biến cố có tầm vóc “thể kỷ” chưa biết nổ ra lúc nào. Quốc Hội Mỹ chưa bao giờ phải họp để bàn tới “Vấn Đề Trung Quốc” nay trong cuộc điều trần để chuẩn nhận tân ngoại trưởng, Ô. John Kerry đã phải xác định sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong những ngày tháng tới như sau “ Tiếp tục tái cân bằng và củng cố quan hệ với Trung Quốc cũng như tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” sang Châu Á Thái Bình Dương.”

Trong bối cảnh “Xuân Thu Chiến Quốc” ngày hôm nay – Việt Nam, do rất nhiều yếu tố như: địa lý chính trị, lịch sử và trật tự thế giới mới, đã chủ trương hợp tác cũng như hợp tác chiến lược với tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng “không liên minh với ai để chống ai” khác hẳn với Phi Luật Tân. Phi Luât Tân, do truyền thống và lịch sử đã vạch một chiến tuyến rõ ràng, nương tựa vào sức mạnh Hoa Kỳ là chính và không cần hợp tác chiến lược với Nga, Ấn Độ, Úc, Âu Châu. Trong khi Phi Luật Tân có “trụ Mỹ” để bám, còn Việt Nam thì “không bám” vào trụ nào. Chính vì thế mà một số người cho rằng Việt Nam đã “Lăng Ba Vi Bộ” tức chính sách ngoại giao và quốc phòng chênh vênh, không rõ ràng.
 
Thế nhưng theo Wikipedia tiếng Việt, “Lăng Ba Vi Bộ là cách di chuyển bộ cước tạo ra một ảnh ảo khiến đối phương chỉ tấn công vào ảnh ảo, nên đương sự luôn dễ dàng thoát hiểm.” Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm nhờ học được bí kíp này mà sống sót. “Lăng Ba Vi Bộ” trong sách lược ngoại giao chính là thế ngoại giao “động”. Vì chuyển động giống như “đu dây” nên “ảo”, vì ảo nên “thấy vậy mà không phải vậy”. Nõi rõ hơn ““Lăng Ba Vi Bộ” là liên kết với nhiều nước khiến kẻ thù phân tâm vì phải đối phó với nhiều mặt trận – giống như đứng giữa nhìn chiếc đèn cù chạy chung quanh mình. Thực tế, nhìn vào chính trường quốc tế bây giờ, các nước lớn cũng thi triển bí kíp “Lăng Ba Vi Bộ”. Hoa Kỳ buổi sáng bay qua Bắc Kinh họp “hợp tác chiến lược” với Hoa Lục, buổi tối quay về Ngũ Giác Đài bàn kế hoạch “xoay trục” hợp tác chiến lược với Úc Châu, Nhật Bản, Ấn Độ, nay thêm Âu Châu để “đốn ngã” ông bạn “hợp tác chiến lược” của mình.
 
Nhật Bản vẫn coi mối quan hệ với Trung Quốc là trọng yếu nhưng liên kết với Hoa Kỳ, Anh Quốc, Ấn Độ và ngày nay với Việt Nam, Phi Luật Tân để đối phó với Trung Quốc. Ấn Độ cũng hợp tác chiến lược với Hoa Lục nhưng hối hả liên minh với Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam để ngăn ông “Con Trời”. Còn Âu Châu, tuy nương tựa vào Hoa Lục để tồn tại kinh tế, cũng bắt đầu nhòm ngó xuống Đông Nam Á để tiếp tay với Hoa Kỳ trong kế hoạch “xoay trục”. Còn Thái Lan thì “sớm nắng chiều mưa”, “Lăng Ba Vi Bộ” còn hơn Việt Nam nữa, vừa đưa Ô. Obama cửa trước đã rước Ô. Ôn Gia Bảo cửa sau. Tất cả đều tung hỏa mù, để tạo ra một “không gian ảo” nói khác đi một “mê hồn trận” để tự vệ, để sinh tồn, để bao vây hoặc đánh lừa đối thủ.

Khi một nước lớn nuôi tham vọng bất chính, chẳng hạn như nước Tần năm xưa thì thiên hạ đại loạn. Ngày nay các cường quốc đang tìm cách ngăn chặn một thứ “Tần Thủy Hoàng mới” bằng chiến lược ngoại giao giống như Thời Xuân Thu Chiến Quốc. Chuyện Hoa Lục “trỗi dậy” không một ai cản được mà chỉ là làm sao ngăn chặn những hậu quả thảm khốc của nó – trước mắt cho Đông Nam Á rồi cho cả thế giới. Những biến chuyển ngoại giao và quân sự dồn dập trong thời gian qua chỉ phản ảnh cái thế loạn “Tùm Lum”. Phải chăng đây là chu kỳ biến dịch của Trời Đất? “Mười phần chết bảy còn ba. Chết hai còn một mới ra thái bình”?

Trong cơn lốc kinh hoàng này, trong cái thế “ngàn cân treo sợi tóc” này, các nước nhỏ muốn tồn tại cần có những nhân tài kiệt xuất như Quản Trọng, Phạm Lãi, Nhạc Nghị, Tô Tần, Trương Nghi…phải lấy sức mình là chính cùng sách lược ngoại giao linh động. Nghi ngờ quá thì không làm được chuyện gì, mà cả tin quá thì chết. Phải “biết” như Lão Tử nói, “biết thì sống”.
Đào Văn Bình
Nguồn:  http://www.hennhausaigon2015.com/

VN! MỘT DÂN TỘC ĐIÊU TÀN MẠT VẬN!


From: Ts Hồng Lĩnh <
To:
Sent: Wednesday, 10 July 2013 2:00 PM
Subject:  VN! MỘT DÂN TỘC ĐIÊU TÀN MẠT VẬN!

 

 

 

Nhân loại đã chứng kiến nhiều chế độ hung tàn, nhưng chưa có một thứ giặc nào tàn ác  hủy hoại con người bằng giặc CS, nhất là giặc CSVN.
 
Chúng tàn phá cả một dân tộc trên mội khía cạnh và đã để lại một xã hội hoang tàn điêu linh rã rời cả về tinh thần lẫn thể xác, những người dân đen đang phải sống một cuộc đời trong điạ ngục XHCN Việt Nam không còn nước mắt để khóc, vậy mà có những kẻ khốn nạn đang nhởn nhơ vui cười, no cơm ấm cật lại đi bảo vệ chế độ hung tàn vc .

 

 Khi xưa bọn người đi chiếm thuộc địa  chỉ nhắm vào vấn đề lợi nhuận kinh tế , đi tìm thị truờng buôn bán, khai thác khoáng sản , nhưng không hề chủ trương huỷ hoại con người. Cho nên sự phá hoại về mặt con người rất giới hạn và sự đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm vẫn nguyên vẹn.
 
Nhờ thế nhiều thuộc điạ đã đứng lên lấy lại nền độc lập có khi không cần phải tốn xương máu không  như  ở  VN. Cho nên chiêu bài chống ngoại xâm của CSVN chỉ là một cú lừa để xích hoá gông cùm cộng sản mác xít lên nhân dân VN chứ không phải là để giải phóng dân tộc thoát khỏi nô lệ.

 

Ngày nay tuy nhiều người đã bị việt cộng nện cho vở mặt với CSVN, nhưng họ đã quên và chỉ biết thủ lợi cho bản thân bỏ ma75c số phận cuả dân tộc và còn biết bao người Việt vẫn u mê như không hề thấy gì cả !. 

 

Chính vì thế Việt Nam hôm nay đã trở thành một dân tộc điêu tàn mạt vận, thật khốn khổ cho dân tôi, không biết đến bao giờ mới thoát khỏi cùm gông mác xít.

 

 

Hồng Lĩnh 

 

 

2013/7/10 ich nguyen tan <

 

              

         CỌNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                          ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

                     ĐƠN KHIẾU TỐ

                                       -------------------0*-----------------------

 

Kính gởi 

-----------

            - UB Hành Động thuộc Hội Đồng Nhân Quyền Liên  Hiệp Quốc .

              -Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng 

              -Linh Mục Đinh Hữu Thoại Trưởng Văn Phòng công Lý và Hòa Bình Dòng Chúa Cứu Thế  .

          Kính thưa quý cấp và quý cha  :

Tôi tên GiuSe Nguyễn Tấn Ích : Hiện ngụ tại  số nhà 360 tổ 8 , ấp Long Phú ,xã Phước Thái,  long Thành , Đồng Nai  . Là giáo dân thuộc giáo xứ Hiền Hòa xã Phước Thái , Long Thành Đồng Nai  .

   Là một dân oan xin kính nhờ quý cấp và quý cha giúp đỡ cho tôi một việc sau đây :

        Vào ngày 17 và 18/ 8 / 1982 xã Phước Thái và huyện  Long Thành do ông Nguyễn Hồng Việt chủ tịch huyện,  và ông Dương Ngọc Ut bí thư xã Phước Thái  cho xe ủi , tù binh , du kích , công an ủi sạch nhà vườn tôi và 9 hộ dân đang sống trên khu đất 10 ha sát quốc lộ 51 để  bán và chia cho cán bộ người từ 2 đến 5 lô mà gia đình tôi 8 khẩu chỉ cấp 1 lô 84 m2 và 3. 000000 đ  ba triệu để di dời . Giấy bán  đất bí thư xã ông Dương Ngọc Út  ký , điều này chứng tỏ chủ trương của Đảng  lấy đất dân cấp cho cán bộ  ( tôi có đủ chứng từ ). Họ đánh  vợ tôi nằm trước xe ủi nay bị tim mất sức , còn bắt con tôi mới 12 tuổi xiềng ở UBND xã Phước Thái .  Từ ấy gia đình tôi khốn khổ , con tôi thất học vợ tôi lâm trọng bệnh , nhưng hai mươi năm khiếu kiện đành vô vọng như thế làm sao không đấy dân oan về Hà Nội khiếu kiện cho  được . Chính tôi cũng nằm sương gối đất đói khổ như họ nên  mong nhờ quý câp giúp đỡ  can thiệp dùm cho , để nhà nước thấy nỗi oan khuất của người nông dân . Vụ này trước khi  họ ủi giải tỏa , tôi đã thắng kiện lò gạch có bản án số 85 /HGT do ông  chánh án Nguyễn Hải Quỳ ký ngày 14/12/1988. Vì UBND xã cấu kết với tư nhân  chiếm một lần rồi nhưng thua kiện  và gia đình tôi đã sống ổn định trên đất này .

Điều này chứng tỏ luật pháp của XHCN  không răng đe cán bộ mà chỉ áp bức dân  lành gây oan khuất cho họ .

Ngoài ra  cán bộ  còn dỡ bàn thờ Chúa làm củi chụm , chứng tỏ họ vi phạm tôn giáo một cách trắng trợn  , và xâm phạm vị thành niên khi bắt còng tay con tôi mới 12 tuổi ( tôi có đủ chứng từ )

      Trong số 10 ha đất này tôi chỉ có 1ha2 còn của bà con khác , nhưng giấy tờ hiện tôi quản lý vì tôi là tổ phó lò gạch chịu trách nhiệm ở hiện trường và chính tôi động viên bà con  khai phá  đất này  .Cũng nên nói thêm rằng vụ đất này , tôi đã  mời  toàn bộ báo 6 , 7 tờ báo  viết  về khu chợ Phước Thái nhưng chẳng làm gì họ . Đơn từ và đã ra Trung Ương ba lần nhưng trên đưa về tỉnh , tỉnh không làm chẳng ai nói gì , chúng tỏ họ coi dân  không khác gì cỏ rác  . Đất 20 năm vẫn cò hơn một nửa bỏ hoang .

Tôi có đủ các loại giấy tờ  chứng minh là chính quyền Long Thành và Phước Thái cướp đất dân được bao che bởi chính  quyền tỉnh và ai đó ở trung ương nên Tổng Cục Địa chính trả lời thư tôi mà lại quan liêu gửi ông Trần Tấn Ích

 Với 10 ha đất đô thị đâu phải là ít tiền bởi thế  họ bao che cho nhau .

       Kính thưa quý cấp và quý cha . Tôi chỉ mong gởi đơn này lên quý cấp quý cha can thiệp để tôi được bồi thường xứng đáng về công của cũng như sức khỏe  và tinh thần của gia đình tôi  mấy chục năm nay .

             Trước khi dừng bút tôi thành kính gởi đến quý cấp và quý cha lời biết ơn trước và cầu xin Thiên Chúa tuôn đổ tràn đầy hồng ân cho quý  vị

                    Kính Đơn 

                                         Long Phú ngày 10/7/2013

              Nguyễn Tấn Ích ( Mặc  Hàn Vi)  ĐC : 360 tổ 8 ấp Long Phú , xã Phước Thái , Long Thành , Đồng Nai  ĐT:

Email : machanvi

   

 

Toi Ac cua Dang Cong San Viet Nam


Saturday, August 3, 2013

Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam?


Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam? 

 

Ngô Nhân Dụng

Các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta, sau khi viết về thời Bắc thuộc ai cũng muốn giải thích tại sao dân Việt Nam không bị Hán hóa sau một ngàn năm bị đô hộ.
 
Trần Trọng Kim viết chương “Kết quả của thời Bắc Thuộc” trong Việt Nam Sử Lược nhấn mạnh đến ý chí của tổ tiên: “Hết thời Bắc thuộc rồi thì người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với người Tàu.” Sử gia Lê Thành Khôi trong Histoire du Việt Nam giải thích rằng hiện tượng người Việt bảo tồn được tiếng nói là một sức mạnh đề kháng bền bỉ nhất.
 
Sử gia Keith Taylor, trong cuốn The Birth of Vietnam, đồng ý về yếu tố ngôn ngữ; ông ghi nhận thêm sự phát triển của Phật Giáo trong thời Bắc thuộc là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự hình thành nước Việt Nam. Trong cuốn Nhìn Lại Sử Việt (tập I) Lê Mạnh Hùng nêu thêm các yếu tố kinh tế, xã hội.
 
Ông nhắc tới tình trạng tập trung dân số rất đông ở vùng Ðồng Bằng Sông Hồng, với nền tảng kinh tế vững chắc; dựa trên hai lợi thế đó, tổ tiên chúng ta bảo vệ được một nền văn minh cổ truyền trong hai thế kỷ đầu tiếp xúc với người Hán; nhờ thế về sau khả năng đề kháng càng vững mạnh hơn.
 
Tất cả những ý kiến trên đều có lý. Nhưng người Việt học sử dân tộc vẫn còn tò mò muốn biết rõ hơn. “Cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” mà Trần Trọng Kim nói, thực ra đó là gì, nhờ đâu tổ tiên chúng ta có được, và đã được thể hiện như thế nào?

Yếu tố quan trọng nhất giúp tổ tiên người Việt không bị Hán hóa có lẽ là, trước khi người Hán tới, dân Việt đã có sẵn một nền nếp trong cuộc sống chung, gọi là văn minh. Tổ tiên chúng ta đã có bản sắc văn hóa đủ vững chắc, nhiều đời trước khi bị chiếm đóng rồi bị đô hộ trực tiếp. Tổ tiên người Việt đã xây dựng một đời sống xã hội đủ chặt chẽ để họ có thể tự hào về chính mình. Nhờ thế họ không bị hấp dẫn, không bị cuốn chìm vào lối sống mà người phương Bắc đem tới, bắt phải theo.
 
 Ngoài những yếu tố chủ quan, như ngôn ngữ, chủng tộc, phong tục riêng, tinh thần bất khuất, vân vân, chúng ta còn thấy những điều kiện khách quan cũng thuận lợi cho ý thức dân tộc thành hình và phát triển.
 
Có nhiều yếu tố bên ngoài hỗ trợ dân tộc Việt Nam. Vị trí nước ta ở ngã ba Châu Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương giúp cho dân Việt tiếp nhận nhiều nguồn văn minh trước khi gặp người Hán; cho nên bản sắc thêm vững chắc và bền bỉ đủ để tự vệ. Nhiều biến cố chính trị, kinh tế vào mỗi thời, ở Trung Quốc hay trong vùng Ðông Nam Á, cũng tình cờ tạo cơ duyên thuận lợi cho các cố gắng giành tự chủ của người Việt. Các điều kiện địa dư, khí hậu do thiên nhiên cống hiến góp thêm những hàng rào ngăn cản khiến người Hán bành trướng xuống tới biên giới nước Việt thì bị ngăn lại.

Chúng ta càng thấy rõ sức đề kháng mạnh tiềm ẩn trong dân tộc Việt khi hiểu những “sức mạnh mềm,” với chữ viết và các định chế chính trị, luân lý, tư tưởng của nền văn minh Trung Hoa mà họ dùng để đồng hóa sau khi chinh phục. Họ đã Hán hóa bao nhiêu sắc dân khác sống ở phía Nam Trường Giang, còn gọi là sông Dương Tử; vùng đất trước đời Tần còn đứng ngoài Trung Quốc. Khác với tổ tiên người Việt, các nhóm dân cư miền Hoa Nam nay đã hoàn toàn hòa nhập vào một quốc gia với khối người Hán từ phương Bắc.
 
Con cháu họ bây giờ tự nhận là người Hán, hãnh diện là thành phần của một quốc gia đông dân nhất thế giới, với một nền văn minh cổ và tồn tại liên tục nhất trong lịch sử nhân loại. Còn người Việt Nam thì nuôi niềm hãnh diện khác: Họ giữ được một quốc gia độc lập không chịu biến thành người Hán. Có người sẽ hỏi: Giữa hai con đường này, làm dân một nước nhỏ độc lập, hay làm dân của một nước lớn như Trung Quốc, con đường nào tốt hơn, nghĩa là giúp cho người dân sống yên lành, hạnh phúc hơn?
 
Tổ tiên người Việt Nam chọn con đường độc lập vì đã gây nên ý thức dân tộc và quyết tâm tự chủ. Lựa chọn đó có thể gọi là “phúc ấm” do tổ tiên để lại, cho chúng ta bây giờ hãnh diện nhận mình vẫn là dân Việt.

Việc tìm hiểu các nhân duyên khiến dân tộc Việt Nam vẫn còn độc lập sẽ giúp chúng ta hiểu công trình của bao nhiêu thế hệ trước, sẽ biết ơn tổ tiên và tin tưởng ở tương lai dân tộc. Nếu sau một ngàn năm Bắc thuộc dân Việt vẫn tồn tại, thì bây giờ cũng không lo sẽ mất. Ðã không bị đồng hóa thành người Hán, tổ tiên chúng ta còn thu hút được các di dân từ miền Bắc tới học sống theo mình, trở thành người Việt.
 
Chúng ta sẽ thấy biến chuyển quan trọng nhất trong thời Bắc thuộc không phải là hiện tượng người Việt chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Các nước khác ở Á Ðông không bị đô hộ ngày nào mà cũng vẫn tự nguyện tìm học những điều hay của nền văn minh đó. Ảnh hưởng Khổng Giáo trên nước ta không phải là một điều đáng ngạc nhiên.
 
Nếu nước Việt Nam không bao giờ bị lệ thuộc người Hán thì chắc chắn tổ tiên chúng ta cũng vẫn tìm học; không khác gì các dân tộc Triều Tiên và Nhật Bản. Khổng Giáo chỉ được triều đình nhà Lê đề cao từ những thế kỷ 15.

Hiện tượng đáng kể nhất trong một ngàn năm Bắc thuộc là quá trình chuyển hóa các di dân người Trung Hoa sang nước ta, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, họ đã dần dần hòa nhập vào khối người Việt ở địa phương; chính họ cũng góp phần bảo vệ và xây dựng nước Việt.
 
Lâm Ngữ Ðường từng công nhận chính các di dân thuộc các sắc tộc “Rợ Hồ” từ phương Bắc tràn xuống vùng sông Hoàng Hà trong nhiều thế kỷ đã “góp máu,” giúp cho dân tộc Trung Hoa cường tráng, hùng mạnh gấp đôi. Người Hoa di dân sang nước ta trong một ngàn năm cũng đóng góp cho dân tộc Việt nhiều như vậy.

Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm người dân Việt, tiếp tục bảo vệ một nước Việt Nam?

Tìm hiểu niềm bí nhiệm đó, chúng ta càng thông được “cái nghị lực riêng và tính chất riêng” của tổ tiên mình, như Trần Trọng Kim nhận xét. Tổ tiên không những để lại một mảnh đất và một nền nếp văn hóa để chúng ta sống với nhau; mà còn để lại cả cái nghị lực và tính cách riêng mà họ đã nung nấu suốt ngàn năm Bắc thuộc.

Ngẫm nghĩ về lịch sử thời Bắc thuộc thì phải tin là nước Việt sẽ không bao giờ mất được. Ngàn năm trước đã không mất thì ngàn năm sau chắc chắn sẽ không mất. Ngàn năm trước, tổ tiên từng chịu đựng những áp lực lớn, nghĩ đã thấy rợn mình. Thế mà vẫn đứng vững. Bây giờ dân mình đông hơn, ý thức dân tộc vững chắc hơn, kinh nghiệm dày dạn hơn. Loài người bây giờ cũng văn minh hơn và liên đới chặt chẽ với nhau hơn, không để cho nước lớn hiếp nước nhỏ.

Hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa có thể sống bên nhau trong hòa bình và lòng tôn kính nếu nước Việt Nam vẫn giữ được chủ quyền của mình, không quá tùy thuộc vào Trung Quốc. Khi hai quốc gia đều sống trong dân chủ tự do thì những xung đột biên giới, biển, đảo, cũng sẽ được giải quyết một cách ôn hòa. Trên thế giới, chưa thấy hai quốc gia tự do dân chủ gây chiến tranh với nhau bao giờ. Vì khi người dân nắm quyền quyết định những việc quan trọng, thì bình thường họ sẽ thấy gây chiến tranh chỉ có hại, bên nào cũng bị thiệt.
 
Trên quan điểm kinh tế, chiến tranh không bao giờ đạt được những lợi ích đủ lớn để bù lại những phí tổn phải chịu đựng. Hiện nay, bên cạnh nước Việt Nam cũng không phải chỉ có một cường quốc duy nhất, như thời Bà Trưng hay thời Ngô Quyền. Trên thế giới sẽ không còn nước lớn nào đi chiếm các nước nhỏ mà các nước khác đứng ngoài coi; vì quyền lợi kinh tế đều dính líu đến nhau.

Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất. Ðiều đáng lo không phải chỉ là mình còn được độc lập hay không. Ðáng lo hơn nữa là nước mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh.
 
Ðáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không đuổi kịp các nước trên thế giới về kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên; để dân mình được sống tự do; để nền nếp đạo lý trong xã hội không tiếp tục suy đồi; để nước mình có thể so sánh ít nhất cũng ngang hàng với các nước đã phát triển vùng Á Ðông?

Nghiền ngẫm lại lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chúng ta càng thấy rõ bổn phận của mình đối với các thế hệ tương lai.

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link