Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, August 26, 2013

Nhu Cầu Dân Chủ Chân Chính Tại Việt Nam


 







Nhu Cầu Dân Chủ Chân Chính Tại Việt Nam






KHÁI NIỆM DÂN CHỦ  

Căn cứ vào các từ    ngữ Democracy(Anh), Démocratie (Pháp) và Hy Lạp δημοκρατία (demokratia), Dân Chủ có nghĩa là “dân” (δημος demos) + (κρατειν kratein) “cai trị”.  Vậy Dân Chủ là một hình thức chấp chính mà người dân có chủ quyền trong việc cai trị đất nước, một cách trực tiếp[1] hoặc gián tiếp, qua hình thức ủy nhiệm,[2] bằng những cuộc bầu cử tự do, sáng suốt của người dân.

Theo hình thức chấp chính này, toàn dân sử dụng quyền lực chính trị và quyền lợi xã hội để bầu cử và kiểm soát chính phủ.  Do đó, chính phủ dân chủ có khuynh hướng và bổn phận thi hành việc nước theo ý dân, phục vụ qua sự ủy thác của dân: nhà cầm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp được dân chúng chọn để ủy thác quyền chấp chính, gián tiếp đôn đốc, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của người dân. 

Thông thường thì một xã hội dân chủ chọn lựa một chính phủ dân chủ.  Ngược lại một chính phủ dân chủ (được hình thành qua các cuộc bầu cử) chưa chắc đã đôn đốc và tổ chức đất nước thành một xã hội dân chủ, chưa chắc đã thực sự thực hiện những chương trình, những biện pháp dân chủ, thuận lợi cho người dân, thực sự tôn trọng quyền lực và quyền lợi của người dân.  Bầu bán, ủy nhiệm chủ quyền là hình thức, là thể cách chọn lựa một chính phủ dân chủ.  Nhưng bảo trọng quyền lực và quyền lợi của người dân mới là nội dung cốt tủy, là cứu cánh và mục đích chính yếu của nền dân chủ.

Về hình thức, dân chủ khác với các chế độ quân chủ,[3] quý tộc thống trị[4]và chế độ quyền phiệt phát xít[5] vì quyền thế trực tiếp trong tay vua chúa, quân đội, nhóm đảng thống trị.  Nhưng về nội dung cốt tủy, dân chủ chân chính cũng khác với các tập đoàn chuyên chính,[6] độc đoán, tài phiệt,[7]khác với chế độ cộng sản[8] theo xã hội chủ nghĩa chuyên chính,[9] vì những chế độ dân chủ giả mạo này, tuy về hình thức có mang danh hiệu “dân chủ”, nhưng khi ứng dụng những thành tố và mục đích căn bản dân chủ (bảo trọng quyền lực và quyền lợi của người dân) lại có tính cách “phản dân chủ”, vì dùng bạo lực chuyên chính vô sản để đàn áp dân chúng, đi ngược lại ý dân và quyền lợi của họ. 

Trong những chế độ dân chủ chuyên chính,[10] dân chủ giả mạo, người dân, quá nhỏ bé, xa lạ với cái hư danh “làm chủ” của họ, đã hoàn toàn bị tước đoạt chủ quyền, tước đoạt quyền lực, tước đoạt quyền lợi.   

VIỆT NAM VÀ KHÁI NIỆM DÂN CHỦ

Theo định nghĩa trên, chúng ta có thể xác nhận rằng dưới Thời Pháp Thuộc,Việt Nam không hề có dân chủ, khi đất nước đã bị tước đoạt, xâm chiếm, dưới hình thức Thuộc Địa Pháp[11] tại Miền Nam và Chế độ Bảo Hộ[12] tại Miền Bắc và Miền Trung.  Nhà Vua và triều đình đã mất hết chủ quyền quốc gia trước áp lực của lực lượng quân phiệt, hành chính viễn chinh Đế Quốc Pháp, dùng để khai thác Việt Nam, dưới hình thức thị trường cung cấp nhu yều phẩm (lúa gạo, cao-xu, quặng, mỏ) và nguồn nhân lực rẻ mạt như nhân công thợ thuyền không chuyên môn.  Đương nhiên dân Việt Nam lúc đó không thể có quyền lợi, quyền lực gì đáng kể trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.  Với tư cách người dân bị thống trị, họ phải chấp nhận thân phận tiêu cực và bổn phận cưỡng ép, hoàn toàn lệ thuộc vào chính sách cai trị độc đoán và nhu cầu lẫn hạch sách của Đế Quốc Pháp lúc bấy giờ.  Dân chủ từ hình thức tới nội dung đã vắng mặt trên lãnh thổ Việt Nam, trong lòng và các sinh hoạt người dân bản xứ hơn 80 năm, cho tới khi Viện Cơ Mật Triều Đình Huế tuyên bố hủy bỏ (11.03.1945) Hiệp Ước Bảo Hộ năm Nhâm Tuất 1884 với Pháp, để khôi phục chủ quyền cho Việt Nam. 

Sau thời gian Cựu Hoàng Bảo Đại chính thức lập Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam (1949-54) và sau Hiệp Định Genève (1954) chấm dứt sự hiện diện của Quân Đội Viễn Chinh Pháp[13] tại Việt Nam, trong suốt giai đoạn hai nền Cộng Hoà (1955-1975) của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, chủ quyền quốc gia thu gọn phía Nam vĩ tuyến 17, nên hình thức dân chủ cũng bị hạn hẹp theo vận mệnh đất nước.  Dưới nguy cơ nội chiến Nam-Bắc và nhất là dưới áp lực của cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng, người dân tại Miền Nam tạm thời trì hoãn thực hành quyền lợi và quyền lực của mình để thi hành nghĩa vụ công dân của một nước lâm chiến, bất ổn, bất an.  Chiến tranh cho phép nhà cầm quyền hạn chế quyền tự do dân chủ.  Trong những giai đoạn này, cơ cấu dân chủ được thực hiện, nhưng về thực chất, chỉ mang tính cách tương đối hay tượng trưng.  Những chính sách lập ấp chiến lược, bình định, xây dựng nông thônbắt lính quân dịch, nhân dân tự vệ, thiết quân luật, bế môn toả cảng dưới nhiều hình thức, đều là những ưu tiên cấp bách, có hiệu lực hạn chế quyền tự do dân chủ.

Như vậy, về mặt hiến định và pháp chế, người quốc gia đã biết tới một số quyền lợi và quyền lực căn bản, có đi bầu bán, hội họp, biểu tình, có thủ tục tố tụng, có tổ chức pháp đình phân minh.  Nhưng vì thời cuộc không cho phép, nên mức độ và phạm vi ứng dụng các nguyên tắc dân chủ không mấy vẹn toàn, nếu không muốn nói là phiếm diện.

Đương nhiên với chế độ chuyên chính vô sản theo xã hội chủ nghĩa, áp đặt tại Miền Bắc từ sau tháng bảy năm 1954, rồi trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ cuối tháng 4 năm 1975 tới bây giờ, Cộng Sản Việt Nam [CSVN] một mặt dùng bạo lực để trấn át mọi ý nguyện, lựa chọn, mọi quyền lợi của dân, mặt khác bao che, biệt đãi các đồng chí, đảng viên, thì làm sao có dân chủ thực sự, có tự do, hạnh phúc cho người dân khi họ bị lợi dụng, phế thải, tước đoạt tài sản, quyền hành?  Khẩu hiệu dân chủ chuyên chính vô sản theo xã hội chủ nghĩa trên toàn cõi lãnh thổ Việt Nam ngày hôm nay chỉ có giá trị lộng ngôn lừa bịp dân ngu, cán dốt, lừa bịp chính bản thân kẻ lừa lọc, khôn vặt.  Họ xảo quyệt bẻ cong chữ nghĩa bằng tà thuật ma giáo vụn vặt, mà không biết lúc nào chữ nghĩa sẽ phản lại họ, mở mắt họ. 

NHU CẦU DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH TẠI VIỆT NAM

Dưới chế độ cộng sản, độc tài chuyên chính, đa số người dân đã bị uốn nắn, nhồi xọ bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch, vô nghĩa, xảo trá.  Người dân còn bị đe doạ, khủng bố, cưỡng ép, nên họ nhịn đắng nuốt cay, rồi căn cứ vào linh tính phòng thủ theo “văn hoá chìm”, họ đã cam chịu cảnh bịt mắt, che tai, đã lẩn trốn để bớt tai hoạ, đã hoá trang tinh thần để tự vệ, để sinh tồn. 

Chả lẽ cái đức tính khiêm nhường “chín bỏ làm mười”, cái thuật ẩn núp sử dụng hơn nửa thế kỷ trên mảnh Đất Bắc, hơn ba mươi tám năm trên toàn lãnh thổ Việt Nam, lại trở thành một “nhân cách thứ hai”, vĩnh viễn ngược lại nhân bản gốc?  Chả lẽ người dân mãi mãi ẩn dật, an bài trong cuộc mất trí nhớ tập thể, quên nói đúng, làm hay; quên những đức tính cao thượng, hùng tráng, cương trực của ông cha, của các thế hệ tiền bối?

Người dân Việt ngày hôm nay cần thức tỉnh, cần đứng thẳng dậy, tận tay dành lại quyền lợi tư hữu và quyền lực chính đáng của người công dân sáng suốt, đã quá lâu bị lấn át bởi chế độ bạo quyền chuyên chính CSVN.  Nhưng sự thật vẫn là sự thật, và hiện tượng dân chủ chân chính vẫn là một yêu sách bất diệt, bất biến, vì nó có tính cách nhân từ, tự nhiên, như một nhu yếu bẩm sinh đã có sẵn trong lòng người Việt chúng ta, từ lúc lập quốc quân bình Bách Việt, cộng sinh, cộng hưởng, từ cách thức cai trị nhân đạo Thời Lý-Trần, từ những phương thức căn bản “Phép Vua thua lệ làng”, “ý dân là ý trời”.

Bản chất thông minh, tự trọng của người dân Việt, già cũng như trẻ, quyết liệt sinh tồn theo đà cải tiến tư tưởng và kiến thức trên khắp thế giới, chắc sẽ không cho phép nhà cầm quyền cộng sản mãi mãi duy trì áp lực tăm tối, bất công của một chế độ độc tài, độc tôn, ngu dân, lật lọng.  Khi cơ hội tới, toàn dân sẽ giành lại tự do chọn lựa, và chắc chắn họ sẽ mạnh dạn khước từ chế độ cộng sản như trút bỏ một gánh nặng quá đáng, lỗi thời, vô giá trị. 

Nhưng, với kích thước nhỏ bé, non nớt của nước Việt Nam hậu cộng sản, đang cố gắng đầu tư vào dòng thịnh vượng toàn cầu, một hình thức dân chủ tài phiệt tập trung quyền lợi kinh tế vào thiểu số giầu có ưu đãi, vẫn không phải là cách tổ chức lý tưởng cho một xã hội cần toàn năng, cần sinh sống hài hoà.  Chỉ có chế độ dân chủ chân chính, kết sinh, cởi mở mới là giải pháp ưu việt nhằm xây dựng lại quốc gia trong thể hội nhập toàn diện, bằng cách trả lại giá trị nhân bản, quyền lợi và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.

DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH BAO GỒM:

1. một chế độ dân chủ tự do, cởi mở,[15] theo đó người dân hưởng quyền tự do cá nhân, quyền tư hữu, đồng thời tôn trọng trách nhiệm công dân, ôn hoà, thượng tôn luật pháp;

2. một quốc tịch hay “tư cách thành viên” của từng cá nhân đối với quốc gia của họ. Liên hệ “hội nhập” quốc tịch với quốc gia/nhà nước có tính cách trực tiếp giữa cá nhân và tập thể, không cần có điều kiện, “đặc ân” nào khác.

3. Sự thuận tình, hoà hợp giữa quốc dân và chính phủ, vốn là cơ quan đại nhiệm chủ quyền quốc gia, thay thế quốc dân để thi hành việc nước, theo quyền lợi và ý muốn của người dân.

4. Ý dân được thi hành, qua các quyết định của dân, trực tiếp như trưng cầu dân ý[16] hoặc gián tiếp, qua phiếu chống hay thuận của các đại diện dân cử, do dân bầu ra.

5. Một chính sách được coi là chính thống[17] khi đó là những quyết định của chính phủ thi hành sứ mạng giao phó một cách vô tư, công bằng, trong tinh thần thượng tôn luật pháp, nhằm thực hiện quyền lợi của dân và triển vọng đất nước.

6. Dân tộc, quốc gia, nhà nước là một hiện tượng liên tục, thống nhấttrong mọi quyết định trực tiếp hay gián tiếp, theo đa số.  Thiểu số đối lập một cách hài hoà, xây dựng, không đưa tới cảnh huống chia rẽ, ly khai.

7. Quốc gia phải có chủ quyền tự quyết đối nội lẫn đối ngoại, không bị nội xâm bởi đảng phiệt và cũng không chịu áp lực thống trị của ngoại bang.

MUỐN HỮU HIỆU, MỘT CHÍNH THỂ DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH PHẢI HỘI ĐỦ CÁC THÀNH TỐ SAU: 

1. THỂ CHẾ PHÁP ĐỊNH

Thể chế pháp định[18] đặt căn bản trên cam kết xã hội[19] của người dân thượng tôn luật pháp, không những theo quyết định của đa số, mà còn căn cứ vào lẽ phải, trật tự và công lý, quy định trong Hiến Pháp, là luật tối cao trong Nước.

Thể chế pháp định dân chủ tự do gồm những quy tắc tổ chức chính quyền qua sự ủy nhiệm quyền lực bảo vệ lẽ phải, trật tự xã hội, đồng thời duy trì tự do và các quyền lợi căn bản, bất khả xâm phạm của toàn dân, như quyền sinh sống, quyền tư hữu, quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, thờ phụng v.v.

Hệ thống pháp định phục vụ lẽ phải, trật tự và công lý phải có uy lực với toàn dân, kể cả với giới chấp chính.  Một chính phủ dân chủ chân chính, được ủy nhiệm thi hành và bảo vệ luật pháp, phải tôn trọng căn bản luật pháp, vì quyền lợi chung, chứ không nhân danh luật pháp – lợi dụng và lạm dụng luật pháp để bảo vệ quyền lợi của giới cầm quyền, khi lạm quyền.

2. CHỦ QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC THUỘC TOÀN DÂN

Hiến Pháp, sau khi được soạn thảo, muốn trở thành luật tối cao trong Nước, cần được đa số toàn dân chuẩn chấp.  Việc này cho thấy chủ quyền cai trị không nằm trong tay chính phủ hoặc cá nhân, nhóm, đảng phiệt, mà thuộc toàn dân, khi họ sử dụng lá phiếu để cam kết và chấp nhận đạo luật tối cao này. Chính sách cai trị phải được toàn dân thuận nhận, yêu sách hay tùy nghi ủng hộ, chứ không thể vĩnh viễn áp đặt bởi lý thuyết hay ý thức hệ phe đảng.


Dù sau này người dân có uỷ nhiệm quyền hành của họ cho các giới chấp chính thay mặt họ thi hành và bảo vệ luật pháp, họ vẫn giữ quyền kiểm soát tối hậu bằng quyết định tái cử người đương nhiệm, hoặc chọn lựa người đại diện khác.  Như vậy, người dân vẫn gián tiếp giữ chủ quyền cai trị đất nước qua hình thức dân chủ ủy nhiệm.

3. TỰ DO ĐẦU PHIẾU

Sự chính thống của nhà cầm quyền tùy thuộc vào quyết định sáng suốt, minh bạch của người dân sử dụng lá phiếu.  Quyền đầu phiếu phải được thi hành tự do mới có giá trị. Mọi hình thức cưỡng ép đầu phiếu, bầu cử gian lận đều phải coi là bất hợp pháp, tức vô hiệu. 

Đồng thời, quyền đầu phiếu, có tính cách hiến định, bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt, nên phải được mở rộng cho mọi công dân thành niên, không kỳ thị, không phân biệt nam, nữ, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.  Mọi vi phạm, hạn hẹp, chế ngự quyền đầu phiếu của dân chúng sẽ giảm bớt tình trạng hợp lệ và sự chính thống của nhà cầm quyền. 

4. TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH

Chính quyền dân chủ chân chính về mặt cơ cấu cần được chia thành ba ngành, Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, để (a) phân quyền, phân nhiệm rõ rệt, tránh nạn chuyên chính, độc đoán; tuần tự (b) kiềm chế mọi dự tính lạm quyền, vi hiến của các ngành; đồng thời (c) kiểm nhận và bổ sung quyền hành lẫn nhau, căn cứ vào quyền lợi chung, vào lẽ phải, trật tự và công lý như sau:

(a) Nhà Lập Pháp có nhiệm vụ làm luật theo quyền lợi và nhu cầu của cử tri, của người dân ủy nhiệm quyền hành này qua lá phiếu.  Nếu không thi hành đúng sứ mạng giao phó, người đại diện dân cử có thể bị giải nhiệm (thất cử) trong cuộc bầu cử kế tiếp.

Ý nghĩa dân chủ chân chính trong ngành “lập pháp” không hẳn tùy thuộc vào môi trường lẫn kỹ thuật làm luật, mà thực sự có liên hệ mật thiết với trách nhiệm của người làm luật theo đúng ý muốn cuả dân.  

(b) Một hệ thống tư pháp độc lập sẽ duy trì được nền tảng dân chủ tự do, công minh, hữu hiệu, khi thẩm phán được dân bầu, song song với thành phần Tối Cao Pháp Viện, có nhiệm kỳ vĩnh viễn, bất khả truất, do nguyên thủ quốc gia/Tổng Thống đề cử và được Nhà Lập Pháp chuẩn chấp.

Thẩm phán địa hạt có thẩm quyền và bổn phận xét xử theo luật lệ hiện hành. Tối Cao Pháp Viện xét xử chung thẩm những bản án phúc thẩm và những tranh chấp quyền lực giữa các ngành chấp chính, căn cứ vào điều lệ căn bản của Hiến Pháp Quốc Gia, mà không bị áp lực của hai ngành Lập Pháp vá Hành Pháp.

(c) Quyền Hành Pháp trong tay nguyên thủ quốc gia/Tổng Thống nhằm thi hành luật lệ trong nước để duy tri trật tự công cộng, bảo toàn đời sống của người dân, phát triển đất nước theo đà thịnh vượng nhân loại, nâng cao văn hoá, văn minh dân tộc. 

Quyền hành cai tri trị đất nước (được dân ủy nhiệm qua lá phiếu) rất rộng rãi.  Nhưng quyền Hành Pháp vẫn có thể bị kiềm chế, kiểm soát bởi thế lực đối tác của hai ngành Lập Pháp vá Tư Pháp, đồng thời bởi “đệ tứ quyền” do các cơ quan ngôn luận nhiệm cách nhân danh quyền lợi của quần chúng.

Như vậy, chính phủ của nền dân chủ chân chính phải thượng tôn và ứng dụng luật pháp một cách quang minh, công bằng và thích đáng, để bảo vệ quyền lợi của toàn dân.  Họ là những công bộc, những ủy nhiệm viên đáng quý trọng của dân, chứ không phải là những bạo chủ, bạo chúa đáng ghê sợ.

5. BẢO TRỌNG QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN

Bản Hiến Pháp Quốc Gia phải hoàn tất căn bản bảo trọng quyền lợi toàn dân theo hình thể dân chủ tự do.  Những nguyên tắc căn bản bảo trọng quyền lợi bất khả xâm phạm của người dân gồm có: quyền bình đẳng trước luật pháp (trong việc thi hành tuân theo thủ tục hợp lệ, hợp hiến); được bảo vệ nhân phẩm, giáo dục, an ninh và an sinh xã hội; được bảo đảm các tự do chính trị, kinh tế, nghề nghiệp, tín ngưỡng, hội họp, sáng tạo; được bảo đảm quyền lợi công dân và các tự do cá nhân chính đáng trước áp lực của chính phủ và các đoàn thể quyền phiệt, tài phiệt.

Quyền tư hữu và tự do mậu dịch kinh doanh phải được pháp chế hoá một cách toàn diện, cân bằng, minh bạch, nhằm dung hoà phát triển kinh tế, bảo trọng nhân phẩm, hoàn tất an sinh xã hội.


Nhà hữu trách phải có viễn kiến bảo toàn nhân phẩm và quyền lợi của toàn dân trong mọi lãnh vực hành chính, tư pháp, chính trị, xã hội, giáo dục, nghề nghiệp, kinh doanh.

6. QUYỀN LÃNH HỘI, HIỂU BIẾT

Một chính thể dân chủ thực sự luôn luôn minh bạch, sinh hoạt công khai, không giấu giếm.  Dù nhiều quyết định Chính phủ không phải thông báo ngay, vì an ninh quốc phòng, bí mật quốc sự (chiến tranh, ngoại giao), nhưng bất cứ lúc nào, người dân vẫn có quyền tìm hiểu, chất vấn, nhất là khi quyết định của Chính phủ liên quan tới thủ tục tài chính, xử dụng công quỹ; quốc nạn tham nhũng, lạm dụng quyền hành và vi phạm luật pháp.

Quyền hạn lãnh hội, hiểu biết của người dân đặt căn bản trên nguyên tắc tự do thông tin và trách nhiệm quản trị minh bạch,[20] ứng dụng cho chính quyền và các tổ chức công cũng như tư, khi phục vụ quần chúng.

7. TỰ DO NGÔN LUẬN, THÔNG TIN, BÁO CHÍ

Chính Phủ có thể dùng các phương tiện thông tin, đài phát thanh, đài truyền hình công cộng để thông báo và bạch hoá một số tin tức mà dân chúng muốn biết.  Ngoài ra các cơ quan ngôn luận tư nhân (báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, các mạng lưới) cũng có thể tiếp tay với dân chúng, với các hiệp hội, để tìm hiểu, chất vấn những quyết định của Chính Phủ, những sinh hoạt của giới chức có thẩm quyền, kể cả những sinh hoạt của các tổ chức, hội đoàn cung cấp dịch vụ công cộng.  

Như vậy, tự do ngôn luận phải được ứng dụng một cách công khai, minh bạch và được tôn trọng bởi những nhân vật thi hành công vụ, có thế vị công cộng, có trách nhiệm với dân chúng. 

Tuy nhiên tự do ngôn luận phải được thi hành một cách trung thực, hợp pháp, đúng mức. Tự do ngôn luận cũng phải tôn trọng một số hạn chế có tính cách khẩn trương, đặc biệt về an ninh quốc phòng, bí mật quốc sự, hoặc có tính cách đối xứng, không vi phạm quyền lợi của người khác.  Ngôn luận khi lạm dụng, có tính cách vu khống, phỉ báng, vi phạm tiết hạnh, vô luân, vô nhân đạo sẽ không được Hiến Pháp bảo vệ.

Cấm đoán tự do ngôn luận, kiểm duyệt thông tin, sáng tác; gây khó khăn cho các công trình biên khảo, chất vấn đúng đắn, là những dấu hiểu của một chế độ chuyên chính, độc tài, đi ngược lại với chủ trương dân chủ tự do chính đáng.

8. BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÂN DÂN QUA TỔ CHỨC HIỆP HÔI

Ngày nay quyền lợi của người dân quá phức tạp, quá trừu tượng, nên xa lạ với chính họ.  Người dân lẻ loi, thất thế, thiếu kiến thức, dễ bị lợi dụng, rồi quên lãng và quyền lợi của họ cũng bị gạt bỏ ra ngoài các sinh hoạt chính thống.  Cần giúp họ học hỏi, hiểu biết thêm, giúp họ tổ chức tương trợ để bảo vệ quyền lợi chính đáng, một cách hữu hiệu.

Do đó, các tổ chức hiệp hội bất vụ lợi [21] trong nước và các tổ chức phi chính phủ [22] toàn cầu thường có nhiều khả năng chuyên môn và thế lực hỗ trợ nên rất hữu hiệu khi can thiệp hướng dẫn và đòi hỏi quyền lợi cho người dân thất thế, thiệt thòi.

9. ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ THỰC HIỆN VÀ BẢO TRỌNG DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH

Đảng phái chính trị trong hệ thống dân chủ tự do có thể định nghĩa là

  • sự hội họp tự do của các công dân; 
  • nhằm tham dự vào guồng máy chính quyền bằng cách đề cử ứng cử viên và tham dự các cuộc tranh cử tự do liên hệ; 
  • cũng như có khả năng chính đáng gây áp lực chính quyền với tư cách đảng đối lập trong một nền dân chủ đa nguyên nguyên, đa đảng.

Như vậy đảng phái chính trị được thành lập với những nguyên tắc và quyền hạn sau đây:

  • Đảng phái chính trị phải được tự do thành lập, không bị trở ngại, quấy rầy, không bị cấm đoán. Tiếng nói của đảng viên cũng phải được bảo vệ, không bị cấm đoán, hay hạn chế; 
  • Tính cách Chính trị Đa nguyên phải được coi là cần thiết cho môi trường sinh hoạt dân chủ tự do chân chính.  Chính trị đa nguyên là phương thức cung cấp cho người dân nhiều cơ hội so sánh để lựa chọn đúng đảng và đúng người chấp chính theo ý muốn của họ; 
  • Đảng phái chính trị khi tham chính, dù trong ngành lập pháp, hành pháp hay tư pháp, đều phải xác định lập trường trung trực, không thiên vị, thượng tôn luật pháp, bảo trọng công lý, quyền lợi chung của dân tộc, của đất nước.

10. BÁC BỎ KỲ THỊ TRONG MỌI LÃNH VỰC

Một nền dân chủ chân chính, dù tôn trọng quyết định chung của đa số, vẫn tìm cách bảo vệ thiểu số; xây dựng quốc gia trong thể hội nhập toàn diện; trả lại giá trị nhân bản, quyền lợi và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.

Giới thiểu số hay nhóm người thất thế vì chủng tộc, giới tính, tuổi tác, giáo dục, chính trị hay kém cỏi về mặt kinh tế, xã hội, cần được bảo vệ chính đáng để có đủ điều kiện hội nhập vào đời sống công bằng, nhân bản.

11. QUÂN ĐỘI, CẢNH SÁT DƯỚI QUYỀN LÃNH ĐẠO DÂN SỰ, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

Dân chủ chân chính phải là một chế độ dân chủ dân sự, vì phản ảnh thể cách, thế lực và quyền lợi của toàn dân, cốt cách là dân sự.

Quân đội phải thừa lệnh nhà cầm quyền dân sự phục vụ quyền lợi của toàn dân.  Sứ mạng của quân đội, cảnh sát là để bảo vệ người dân, chứ không để thống trị, uy hiếp họ.

Nếu làm sai sứ mạng này, hoặc lạm quyền giao phó, quân đội, cảnh sát sẽ hoặc đổi nền dân chủ tự do thành chế độ quân phiệt, chế độ công an, hoặc dùng vũ lực bất chính để củng cố một chế độ dân chủ chuyên chính, phản dân, hại nước.

12. HỆ THỐNG HOÁ QUYỀN LỰC NHÂN DÂN

Trên căn bản thuần lý, chính phủ dân chủ phải coi trọng người dân, duy trì thế lực và quyền lợi tối hậu của dân chúng.  Nhưng thực tế đã cho thấy nhà cầm quyền, dù được bầu lên bằng lá phiếu, vẫn phản bội sứ mạng ủy nhiệm để đổi thành thể chế chuyên chính, độc đoán, phản dân chủ, như trường hợp các chế độ phát-xít, các chế độ dân chủ trá hình theo xã hội chủ nghĩa, theo cộng sản; hoặc vì nghiêng theo thế lực của tập đoàn tài phiệt, tham lam, tham nhũng, nên cũng phương hại tới đa số dân chúng, nhất là giới trung lưu, nhiều bổn phận, ít quyền lợi.       

Vậy, hệ thống hoá quyền lực nhân dân là một thực tế cần thiết, do chính người dân phải ý thức và thực hiện qua một số dự án và chương trình điển hình như sau:

(a) kết hợp thực lực chính trị và kinh tế bằng cách tăng cơ hội bảo trì tự do, khả năng chọn lưa, tiêu thụ, sinh sống theo nhu cầu và ý muốn của người dân v.v;

(b) kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách cởi mở, rộng rãi, không kỳ thị, không ưu đãi phe nhóm;

(c) kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách thực tế, gần gũi với hoàn cảnh địa phương, khả năng và nhu cầu khu vực của người dân;

(d)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách nhân bản, tôn trọng cá nhân, cá thể;

(e)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách ôn hoà, cân nhắc quyền lợi cá nhân và bổn phận công dân của các đương sự.

13. GIẢI QUYẾT NẠN THAM NHŨNG

Muốn giải quyết nạn tham nhũng, cần tuần tự phối hợp một số biện pháp:


  • Hội Đồng Giám Sát định thời gian ân xá trong một thời kỳ hạn định [khoảng một năm], để các đương sự tự giác, hoàn trả công quỹ, tư quỹ; được phép giữ lại một số lợi tức tương xứng, sau khi chịu thuế phạt, giải chức, giải nghiệp, hoàn lương;
  • Sau thời gian ân xá, Chính Quyền áp dụng luật lệ, trừng phạt nghiêm chỉnh;
  • Áp dụng thủ tục hành chính và quản trị minh bạch;
  • Hội Đồng Giám Sát thi hành các chương trình khảo sát, đặc nhiệm khởi tố;
  • Cổ võ cơ quan ngôn luận, thông tin tư thi hành nghiệp vụ điều tra và thông tri những sai quấy, tham nhũng trong các ngành công và tư;
  • Đồng thời duy trì thăng bằng lợi tức lương bổng, quyền lợi tương xứng với chức vụ đảm nhận để tránh cảnh bất công, thiếu thốn, nghèo túng làm bậy.

Trong một xã hội cân bằng và công bằng, đầy đủ tiện nghi, có văn hoá nhân bản thượng tôn luật pháp, thì nạn tham nhũng sẽ giảm thiểu tối đa.

14. XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

Nhiều thống kê đã cho thấy, mức độ tăng trưởng về dân chủ chân chính đưa tới tình trạng gia tăng lợi tức quốc gia và sẽ gia giảm cảnh nghèo khó trong xã hội đó. Đương nhiên, ”xoá đói giảm nghèo” không thể thực hiện bằng chính sách a tòng tài phiệt ngoại bang bóc lột nhân công, xuất khẩu lao động, bán dâu ngoại quốc. 

Ngoài các yếu tố tư bản và kỹ thuật tân trang, phương thức đầu tư nhận sự một cách thiết thực, lâu bền, cùng thể thức tôn trọng pháp luật, bảo trọng quyền tư hữu và tự do mậu dịch vẫn là những thành tố của một môi trường hữu hiệu trong việc xoá đói giảm nghèo.  Phối hợp viễn kiến quốc gia với lòng bác ái nhân từ của thế lực đa phương cũng sẽ giúp đa số người dân vượt thoát cảnh túng thiếu, chậm tiến.

ĐỂ TẠM KẾT


Chúng ta có thể khẳng định rằng chỉ có chế độ dân chủ chân chính, cởi mở, tự chủ, tự phát mới là giải pháp ưu việt nhằm xây dựng lại quốc gia, dân tộc, trong thể hội nhập toàn diện, bằng cách trả lại nhân phẩm, quyền lợi, tự do và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.

Và chỉ trong thế hội nhập của toàn dân kết sinh thực thi dân chủ, Việt Nam mới có chính nghĩa và đủ nội lực bảo vệ đất nước khỏi nạn ngoại xâm, uy hiếp, diệt chủng.  

Vậy, đã tới lúc toàn dân đứng lên thiết lập dân chủ chân chính để cứu lấy mình, để cứu lấy nước.

TS-LS LƯU NGUYỄN ĐẠT

Sunday, August 25, 2013

KHI NGƯỜI GIAN MẮC NẠN!


 

 

 

KHI NGƯỜI GIAN MẮC NẠN!

 

Date: Sat, 24 Aug 2013 14:25:13 -0700
From: quetringuyen
Subject: KHI NGƯỜI GIAN MẮC NẠN! ** LÃO MÓC

 

        LÃO MÓC

          -Người gian mắc nạn thứ nhất mà bài viết này đề cập là ông tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn. Sau ông tiến sĩ Trần Chung Ngọc thì ông Trần Kiêm Đoàn cũng rất xứng đáng để được gọi là “tiến sĩ Bác Hồ” vì, cũng như Trần Chung Ngọc, ông này ra mặt bênh vực Việt Cộng và bọn tay sai VC còn hơn cả chúng nó bênh vực chúng nó. 

          Năm 2005, khi:

          Sư ông áo gấm về làng

          Sư bà, đệ tử hai hàng bước theo

          Sư ông mặc cả kỳ kèo

          Đòi đảng Việt Cộng làm theo ý mình

          Đảng bèn… đánh đu với tinh

          Cho phép tổ chức linh đình đón đưa

          Huyền Quang hoà thượng làm ngơ

          Hoà thượng Quảng Độ cũng vô tịnh phòng

          Sư ông ôm lấy… chân không

          Lọng vàng, hoa đỏ - sắc, không mịt mờ

          Ôi chân tu! Ôi giả tu

          Chúng sinh bá ngọ thứ đồ sư gian!

thì ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn đã viết bài bênh vực thiền sư Nhất Hạnh và công kích Khu hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Sacramento đã dám phạm thượng nói đến chuyện:

          Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn

          Ới mảnh thiền y đã lấm bùn

          Ới Nhất Hạnh ăn chay, ngủ mặn

          Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn!

của ông sư “ngày ăn chay, đêm ngủ mặn” này. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” đã lập luận để bênh vực cho Giáo chủ phái Tiếp Hiện như sau: “Quan hệ tình dục hầu hết là hành động riêng tư và thường không có chứng cớ! Như vậy, những vụ vi phạm tình dục dù ở con người phàm tục hay tu hành, thông thường thế nhân không biết và kết luận được, vì đó là một bí mật tuyệt đối và riêng tư của hai đương sự, thế nhân chỉ đoán dè chừng mà thôi.”

          Đúng là Vua chưa lên tiếng mà Thái giám đã nóng mặt! 

          Gần đây, ông tiến sĩ này chắc là muốn được “nổi nang” nên đã làm chuyện “sát Phật thành Phật” viết bài lên giọng kẻ cả với ôngLiên Thành, tác giả quyển sách “Biến Động Miền Trung” khi ông này đến Sacramento ra mắt sách, bị ông này đề nghị đối chất thì ông “tiến sĩ Bác Hồ” bèn đánh bài tẩu mã. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” chơi kiểu này đúng là chơi chạy! 

          Sở dĩ nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này mắc nạn là vì trên các diễn đàn điện tử có một người cũng ở Huế xưng tên là Nguyễn Phi tố cáo ông Trần Kiêm Đoàn là “Việt Cộng nhưng bị vắt chanh bỏ vỏ nên chạy mà thôi”. Không thấy ông “tiến sĩ Bác Hồ” này trả lời, trả vốn gì cả. Trong khi ông Liên Thành viết sách tố cáo các Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Quang là Việt Cộng thì ông “tiến sĩ Bác Hồ” đưa ra đủ thứ lập luận để bênh vực hai vị này. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đúng là kẻ: 

          “Chân mình thì lấm lê mê

          Lại cầm bó đuốc mà rê chân người!” 

          Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này cũng đã từng viết bài bênh vực “tên nhạc sĩ màu da cam” Trịnh Công Sơn và trong vụ nhà văn Nguyễn Quang (ở trong nước) bị nhóm Cội Nguồn của ông Song Nhị ở San José quỵt tiền và hăm dọa đốt sách “Biển Đỏ”, ông tiến sĩ này có viết thư cho nhà văn Nguyễn Quang và khoe là đã được nhà xuất bản Trẻ và Thuận Hóa ở trong nước xuất bản 4 quyển sách, được công ty Phương Nam và Sahara in và phát hành, được hưởng 10% tiền nhuận bút, chứ không như ở Mỹ xuất bản sách không được đồng nào với mục đích bênh vực việc làm đốn mạt của Song Nhị và nhóm Cội Nguồn. Xem ra ông tiến sĩ này “bảnh” hơn mấy ông nhà văn đã được VC in sách và phổ biến ở trong nước như Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Bùi Vĩnh Phúc… nhiều. 

          Năm ngoái, qua sách “Bên Thắng Cuộc” có đề cập đến chuyện ông “tiến sĩ Bác Hồ” TKĐ chỉ huy vụ đổi tiền của VC, điều này càng chứng tỏ lời tố cáo của ông Nguyễn Phi là chính xác. 

          Xin mời độc giả nghe ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn làm thơ con cóc “Về Nguồn” “ca tụng” “hai anh già không nên nết”Phạm Duy, Trần Văn Khê như sau: 

          “Người về nguồn

          Mang tâm hồn mình theo

          Trái tim là chiếc đũa thần

          Hoàn cảnh là nắng gió.

 

          Phạm Duy đi trên phố Bolsa

          Gặp một người Mỹ già

          Gật đầu chào nhau

          Như với một gã Tàu xa lạ.

 

          Phạm Duy đi trên đường Hà Nội

          Chợ Xuân đào và gió Xuân ca

          Người hàng xóm nửa thế kỷ xưa

          Nhận ra nhau và chào:

          -Ông đã về và đã tới!

 

          Trần Văn Khê đi trên phố Paris

          Gặp một bà đầm già:

          -Chào người châu Á

          Sông Seine xanh bóng người xa lạ.

 

          Trần Văn Khê đi giữa phố Sàigòn

          Khô nai, khô cá thiều và chợ Tết rất đông

          Gặp ông Bảy đờn cò

          -Chào Thầy! Nhạc Việt trời Tây thuở nọ

          Hai cụ dắt nhau đi tới phố Huế

          Vô tư, tóc trắng, da mồi

          Gặp chị Bộ đội và bà Bán Xôi

          Cũng vô tư, da mồi, tóc trắng.

          Ai hỏi trong nửa lời câm lặng:

          Khi hết tuần trăng,

          Bóng tối lại về!

          Nghe nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đã về Việt Nam nhiều lần và trong đại hội Việt kiều sắp tới cũng có mặt ông “tiến sĩ Bác Hồ” này. 

          Hy vọng ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn sẽ không có ngày “bỏ của chạy lấy người” như ông (cố) giáo sư Phó Bá Long về dự đại hội Việt kiều năm 1992, làm thơ con cóc: 

          “Mười tám năm rồi các bạn ơi

          Xa quê lòng dạ rất bồi hồi…” 

          Sau đó ông này thút tha, thút thít xin cố Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt “ban” cho Việt kiều một cái luật đại xá. May mà Võ Văn Kiệt chưa có ban luật đại xá thì ông giáo sư tiến sĩ nhưng lại vô liêm sỉ này đã bỏ chạy về Mỹ và chết già tại đây!  

          Ai đó đã vô cùng chí lý khi đưa ra nhận xét: “Bằng cấp không làm nên nhân cách!”

*

          Người gian mắc nạn thứ hai trong bài viết này là ông Nguyễn Văn Tánh (NVT). Ông này bị tác giả Phúc Lâm viết bài tố cáo “NVT là Việt gian tay sai Cộng sản gây chia rẽ cộng đồng làm suy yếu tiềm năng phục quốc”. 

          Cách đây 2 năm, NVT đã về San José bày mưu tính kế với ông Đào Văn Bình, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị để thành lập cơ cấu quốc gia tại hải ngoại (?) nhưng bất thành. Sau đó, NVT len lỏi vào Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ (CĐNVQGHK) và nắm chức Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu CĐNVQGHK mà ông Nguyễn Văn Tần là Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành. Sau đó, NVT đã bị CĐNVQGHK ra thông cáo bất tín nhiệm. Tháng 9 năm 2012, NVT đã kết hợp với “cánh tay nối dài của VC” là Hoàng Duy Hùng cùng với em của ông này là bà Teresa Hoàng, Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Houston và vùng phụ cận thành lập Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia LIÊN BANG Hoa Kỳ với các ông Đỗ Văn Hội (Chủ Tịch HĐĐB), Võ Đình Hữu (Chủ Tịch HĐĐH), Phạm Văn Thanh (CTHĐGS) là những người có liên hệ với đảng Việt Tân. Và ông NVT trong vai trò Cố vấn bên cạnh các ông Trần Văn Nhựt, bác sĩ Trương Ngọc Tích, một ông bác sĩ già nhưng rất háo danh.   

          Điều cần biết, NVT trước đây là Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Hải ngoại của Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, và sau đó, NVT và HDH đã viết “Bạch Thư” vạch mặt ông Thủ Tướng “Bịp” Nguyễn Hữu Chánh. 

          Những việc làm của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia LIÊN BANG Hoa Kỳ cũng giống như những việc làm của đảng Việt Tân như việc Cộng Đồng này đã ra thông cáo kêu gọi ủng hộ việc biến “Ngày Quốc hận 30-4” thành “Ngày Nam Việt Nam” của ông “Tổng Thống Bể Dâu” Nguyễn Ngọc Bích

*

          Người gian mắc nạn thứ 3 trong bài viết này ông ông cựu “Tướng Tình báo Lắc Léo” Nguyễn Khắc Bình (NKB). Phiếm luận gia Kiêm Ái và Lão Móc đã có nhiều bài viết về ông cựu Tướng “ném đá không cần giấu tay” này. 

          Thành tích lẫy lừng nhất; nhưng cũng rất là ô nhục là ông “Tướng Bình Vôi” này đã không cần giấu mặt khi đứng ra tổ chức lễ giỗ cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại trụ sở của Liên Đoàn Cử Tri là nơi mà tên Thomas Nguyễn Cao Tuấn là Phó Chủ Tịch. Tên này mới đây đã lòi mặt mẹt là một tên “broken English” khi “đi kiện ăn vạ” các ông Nguyễn Ngọc Tiên, Nguyễn Hữu Nhân, Phan Quang Nghiệp, David Mạc và đã bị thua kiện! Chuyện khôi hài là cách đây mấy năm tên này lại ra ứng cử Thị Trưởng thành phố San Jose. Sau đó, ông cựu Tướng này lại phối hợp với ông Mai Khuyên, Chủ Tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị/BC “giành” tổ chức lễ Tướng niệm cố TT Ngô Đình Diệm mà ông Nguyễn Ngọc Tiên và Ban Đại Diện CĐVN/Bắc Cali đã làm trong nhiều năm qua. Kế đó, “thừa thắng xông lên” ông “cựu Tướng Tình báo Lắc Léo” bèn mở mặt trận tổng tấn công vào Cộng Đồng Việt Nam /BC bằng cách chỉ thị cho nhà thơ” lão nhưng không thành” Trường Giang tức cựu Trung Tá Đặng Văn Triêm thành lập Ủy ban Bầu Cử Ban Đại Diện CĐ nhiệm kỳ 6. Sau đó, Ủy Ban bầu cử này cũng giống như con tắc kè lại đổi màu thành Ủy Ban Bầu Cử Cộng Đồng VN/BC nhiệm kỳ 2013-2017. 

          Cuối cùng, trong cái gọi là trình diễn “Dòng Nhạc Tuổi Trẻ Yêu Nước” tại tiền đình quận hạt Santa Clara vào ngày 18-5 năm 2013 nhằm ngày 19 tháng 5 tại VN là ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh có sự hiện diện của nữ ca sĩ Thu Sương, một đảng viên Việt Tân từ Pháp qua. Ủy Ban Bầu Cử của ông nhà thơ “lão” những mà chưa “thành” Trường Giang đã đặt thùng bầu cử tại đây. Ông Tướng Bình Vôi đã đi bầu và trao đuốc cho “hậu duệ” Hồ Vũ. 

          Ngày 4 tháng 8 năm 2013, Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt QUỐC GIA Bắc California với Chủ Tịch Trương Thành Minh, (một cựu SVSQ Võ Bị Đà Lạt, người tổ chức Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 2012 đã dẹp bỏ bàn thờ Tổ quốc thay vào đó là chiếc xe tăng chỉa họng súng vào lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ) ra mắt và làm lễ tuyên thệ “dưới sự chứng giám” của Võ Đình Hữu và Nguyễn Văn Tánh của CĐNVQG LIÊN BANG Hoa Kỳ.

*

          Trước đây nhiều năm, Mặt Trận tức đảng Việt Tân hiện nay có hệ thống Phở Hoà khắp nơi.

          Mấy năm gần đây, không biết có lien hệ gì mà người ta thấy lại “hệ thống” các Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ra đời với tổ chức cao nhất là Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia LIÊN BANG Hoa Kỳ. Tất cả đều thoát thai từ các Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam theo “thủ đoạn tu hú”, tức là nằm vùng trong các Ban Đại Diện Cộng Đồng để lèo lái, lũng đoạn. Nếu không được thì thành lập Ban Đại Diện Cộng Đồng khác. Như trường hợp Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia LIÊN BANG Hoa Kỳ và Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt QUỐC GIA Bắc California! 

          Mới đây, khi Lực Lượng Sĩ Quan Liên Trường tổ chức lễ kỷ niệm 2 năm, ông cựu Tướng NKB có phân trần với Lão Móc đại khái là:

          “Toa” thấy không, “moa” rút lui rồi. “Moa” đâu có đi dự lễ ra mắt và tuyên thệ của tụi nó. 

          LM cười:

          “Chính việc niên trưởng không đi tham dự lễ ra mắt của “tụi nó” lại càng chứng tỏ là niên trưởng là người đã lèo lái và thành lập… tụi nó. Nhưng thôi, dù sao thì cũng là chuyện đã rồi!”. 

          Sau đó, lại thấy ông cựu Tướng Bình Vôi lại phân trần với ông Kiêm Ái. Nhưng, hình như ông Kiêm Ái không đồng ý với cách giả thích của ông cựu “Tướng Tình Báo Lắc Léo”! 

          Thiệt đúng là những người gian mắc nạn! 

        LÃO MÓC

          tieng-dan-we ekly.blogspot.com

 

Truyen hay va cam dong

 

 

 


 

Tôi tên là Đào Duy Kỳ, dòng dõi Đào Duy Từ, là một trung úy trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp trường Võ Bị Thủ Đức, ra đơn vị tác chiến khoảng hai năm thì ngày 30-4-1975 xảy đến. Cũng như mọi sĩ quan Việt Nam cộng hòa, tôi đã bị giải ra Bắc và ngồi tù qua các trại Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn. . .

Tôi vốn sinh trưởng trên sông nước Cửu Long giang, khí hậu an lành và trong mát cho nên khi ra Bắc, tôi rất khốn khổ. Tại Lạng Sơn, Thái Nguyên, mùa hè nóng ghê gớm, đến nỗi ban ngày không dám nằm giường chiếu hoặc dựa cột, ngồi ghế hay gốc cây. Mùa hè, dân nơi đây phải chui xuống gậm giường mà nằm. Mùa đông thì rét như cắt thịt, nhất là cơn gió bấc và mưa phùn đã cộng tác chặt chẽ làm tội chúng tôi, những tù nhân thiếu áo, thiếu cơm. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, tôi cũng đã quen thuộc với khí hậu Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Những ngày ra Bắc đầu tiên, chúng tôi rất khổ sở. Chúng tôi bị bọn công an ngu dốt chửi mắng, đánh dập và hành hạ. Chúng dốt nhưng lại có nhiều tự hào. Tư hào chiến thắng. Tự hào yêu nước. Tự hào thông minh và tự hào giàu mạnh. Chúng thực thà tin rằng chúng là người trí tuệ, còn tất cả nhân dân miền Nam là ngu dốt nên đã theo Mỹ và thất bại. Chúng tự hào là chúng yêu nước nhất còn phe quốc gia là bán nước cho nên chúng đề cao khẩu hiệu " Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa", hàm ý chỉ có người cộng sản là yêu nước. Chúng không biết Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đàn em sau này của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã ký tên bán Việt Nam cho Trung Quốc . Họ khinh người Nam ngu dốt, không có tình yêu quê hương, tổ quốc cho nên khi có người xuất cảnh, họ mở nhạc cho nghe bài " Quê hương là chùm khế ngọt" để dạy người xuất ngoại lòng yêu nước. Họ không biết những người bỏ nước ra đi cũng rất yêu nước, yêu nhà, yêu mẹ già, em dại và yêu tự do nhưng vì cộng sản tàn ác nên phải bỏ tất cả mà ra đi! Họ coi họ là bậc thầy, còn chúng tôi là kẻ ngu dốt phải nhờ họ dạy dỗ cho nên người. Danh từ " học tập cải tạo" ý nghĩa là thế! Dưới mắt cộng sản, nhân dân miền Nam là cầm thú, chỉ có cộng sản là con người, con người trí tuệ, bách chiến bách thắng! Sự khinh bỉ cộng với lòng căm thù cho nên một số người Bắc đã chạy sang Hongkong mà còn làm lễ mừng chiến thắng 30-4 và đánh đập người Nam tại đây!Bọn công an, bộ đội đa số nhiễm độc cộng sản, học đường lối tàn ác từ Liên Xô, Trung Quốc,lại muốn tỏ ra hăng hái tích cực để lập công cho nên chúng đày đọa chúng tôi đủ điều. Hể một tù nhân có lỗi gì là cả lũ công an, bộ đội xúm lại đánh hôi. Đánh hội chợ coi như là một đặc tính của con người xã hội chủ nghĩa. Nếu không xúm vào mà cứ đứng trơ mắt nhìn, có lẽ họ sẽ bị phê bình là không có tinh thần đồng đội, không có ý thức căm thù quân địch. Chúng lại dùng khí hậu khắc nghiệt, và cái đói và rét để đọa đày chúng tôi. Chúng bắt chúng tôi lao động cực nhọc để trả thù chúng tôi. Nhất là những ngày đầu tiên ra đất Bắc, chúng tôi thường bị dân chúng, nhất là đàn bà và trẻ con ném đá, ném đất và chửi bới thô bỉ nặng nề. Có khi họ đã tập trung đông đảo trên đường chúng tôi đi lao động để ném đá, hô đả đảo và chửi bới. Có thể là do dân chúng đã bị nhiễm nọc độc cộng sản. Có thể địa phượng bắt dân đả đảo để trấn áp chúng tôi, mong lập thành tích kia nọ. Có đôi khi chúng tôi đột nhiên gặp vài đồng bào thì họ ngại ngùng, tránh né. Có lẽ họ sợ liên lụy, sợ bị công an bắt bỏ tù vì liên lạc với tù nhân!Sống trong chế độ ác ôn, con người phải đeo mặt nạ, nếu không thì dễ bị quỷ tha, ma bắt.Tất cả đều là nạn nhân!

Ban đầu thì chúng tôi chao động, có người sợ hãi, nhưng rồi thì cũng quen đi vì mình đã ngồi xuống đất đen thì còn gì để mất và để sợ hãi. Chúng tôi cho rằng cuộc đời chúng tôi đã chấm dứt vì ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam trước đây, những tù binh hay phản động là ngồi tù rục xương mà thôi. Chúng tôi im lặng để mặc cho họ ném đá và chửi bới. Nếu ai bị thưong thì chúng tôi săn sóc, băng bó. Nếu dân chúng quá dữ tợn thì chúng tôi dừng lại, để quản giáo giải quyết rồi mới tiếp tục đi. Tôi hiểu dân chúng miền Bắc đa số tin theo lời tuyên truyền xuyên tạc của cộng sản, và tin những lời cộng sản nói. Họ tin vào ông Hồ, họ cất giấu cán bộ, và góp lương thực ủng hộ cộng sản. Nhiều bà bảo rằng đảng lúc nào cũng đúng. Công an không bắt oan ai bao giờ. Con cháu bà nếu bị giam giữ thì bà bảo chúng nó cố gắng hoc tập tốt để sớm trở về. Nhiều ông bố thấy con ngỗ ngáo, bèn đem con cho bộ đội hay giao con cho công an để họ giáo dục thành người tốt. Ngay tại miền Nam trước 1975, nhiều người tin Nguyễn Hữu Thọ là người quốc gia, không phải cộng sản. Ông Hồ là người yêu nước, là bậc đạị nhân, đại nghĩa. Khi dân Bắc di cư vào Nam, đồng bào Nam kỳ thắc mắc:" Ngoài Bắc đã độc lập tự do, sao còn bỏ xứ mà đi?" Tất cả đã nhiễm độc quá nặng nên tôi cũng không oán trách họ. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, tôi nhận thấy có sự biến đổi trong dân chúng. Mấy năm sau, họ không chửi bới hay ném đá, ném đất vào chúng tôi nữa. Trái lại , có những đôi mắt lặng nhìn chúng tôi như biểu lộ một niềm thông cảm.

Sau ngày 30-4-1975, nhiều đồng bào và cán bộ miền Bắc đã vào Nam. Khi vào thì họ ốm yếu xanh xao, khi trở ra thì béo tốt, áo quần sang trọng, lại mang cả vải vóc, xe đạp, xe Honda, TV, tủ lạnh, radio, casette là những thứ mà chỉ có cán bộ cao cấp đi Liên Xô là có thể mua về được. Họ cũng nghe những câu chuyện về Miền Nam thanh bình thịnh vương, khác với hình ảnh ghê tởm, hãi hùng do cán bộ nhà nước đã tuyên truyền trước đây như lính ngụy “xé xác, uống máu, moi gan quân thù”. Họ nhìn kỹ những tù nhân thì thấy những tù nhân này tuy bị đày đọa khổ sở nhưng vẫn toát ra sự thông minh, hiền lành. Họ nghe nói sĩ quan miền Nam phần lớn có bằng đại học, it nhất cũng tốt nghiệp trung học phổ thông chứ không phải là hạng cán bộ ị tờ như ở miền Bắc sau cuộc Cải cách ruộng đất.

Khoảng 1980, tù nhân đã được gia đình thăm nuôi. Lúc này thì dân chúng miền Bắc đã tới gần dân chúng miền Nam hơn khi họ gặp những bà mẹ, người vợ sĩ quan miền Nam ra thăm nuôi. Họ thấy miền Nam nhiều tình cảm, đầy tình chồng nghĩa vợ, và có tài nguyên phong phú mà thăm nuôi chồng con trong bao nhiêu năm. Vì thế, họ thấy miền Nam có một cái gì đó khác với miền Bắc nghèo khổ, cằn cỗi về vật chất và tinh thần. Những sĩ quan miền Nam trung hậu đã trở thành đầu đề cho các câu chuyện đầu môi của dân Bắc.

Một hôm, ông giáo Thào qua sông Gianh, là một sông rất rộng ở miền Trung. Trên đò chật ních người. Thuyền chở nặng không đi nổi. Ông giáo Thào thường qua lại sông Gianh cho nên quen biết ông lái đò. Ông lái đò kêu to lên: “Ông giáo ơi, xin giúp một tay”. Ông giáo Thào bèn đứng dậy cầm chèo. Mấy bà đi chợ cười to mà nói:
“Ông giáo giỏi quá!

Lúc bấy giờ trên đò có mấy người trẻ, to cao, mập mạp nhưng đen đúa đồng loạt đứng dậy nói với ông giáo:

“Thầy để chúng em chèo cho!”.

Việc này làm cho dân Bắc vĩ tuyến đã hiểu biết đôi phần về tinh thần “tôn sư trọng đạo”, và “ nhân nghĩa lễ trí tín” của sĩ quan miền Nam trong khi miền Bắc đã mất hẳn từ khi cờ đỏ xuất hiện trên thủ đô Hà Nội!.

Kỷ luật trại giam rất khắc nghiệt và tàn bạo. Tù nhân không được hái trộm khoai, sắn, rau trong trại. Tù nhân nam không được liên hệ tình dục với nữ phái, nếu bị bắt quả tang thì bị biệt giam ở hầm kín. Ai trốn trại thì bị giết chết không tha. . . Ngoài ra còn nhiều điều lệ lạ lùng khác nữa. Giữa trại tù thực dân và cộng sản có nhiều khác biệt, nhưng điều khác biệt rõ nhất là cái đói.Trong trại tù cộng sản, tù nhân luôn luôn đói. Lúc đi lao động, lúc nằm ngủ, chúng tôi đếu bị cái đói dày vò. Chúng tôi đa số không vi phạm điều thứ nhất là vì lúc nào cộng sản cũng canh chừng tù nhân rất ngặt. Ban đêm chúng khóa cửa lại, không ai ra ngoài để đào khoai, nhổ sắn. Chúng tôi có thể giải quyết vấn đề dạ dày bằng nhiều cách.Khi đi lao động, chúng tôi có thể hái rau rừng, đào khoai rừng, hoặc bắt những con vật như rắn, cắc kè, kỳ nhông, hay đào bắt bò cạp, và những côn trùng trong lòng đất. Đôi khi chúng tôi cũng giăng bẫy bắt chồn cáo, mễn và thỏ rừng. Chúng tôi vừa lao động vừa nấu ăn rất nhanh và rất gọn cho nên cũng đỡ đói it nhiều. Điều chẳng may là không phải lúc nào chúng tôi cũng thu hoạch kết quả vì tù nhân thì quá đông. Không những tù nhân mà bọn bộ đội, công an cũng đói phải kiếm thêm lương thực. Tuy nhiên, từ khi được gia đình tiếp tế, đời sống vật chất của chúng tôi tạm đủ. Điều khoản thứ hai thì miễn bàn, vì trại tù của chúng tôi giam toàn đàn ông, Cán bộ, công an, văn phòng và y tế cũng đều là nam nhân, không có một bóng nữ. Còn việc trốn trại thì cũng hiếm.

Trong trại tôi có hai công an trẻ, tên là Hoạt và Liêm rất hiền lành. Hai anh thường dẫn chúng tôi đi lao động. Các anh rất dễ dãi, không quát nạt, bắt khoan, bắt nhặt như các công an khác. Hai anh hỏi tôi nhiều điều:

-Nghe nói sĩ quan các anh đều tốt nghiệp đại học Sài Gòn?

-Đa số sĩ quan tốt nghiệp đại học, là giáo sư, kỹ sư, bác sĩ. Một số là sinh viên. Như tôi là sinh viên khoa học phải đi lính vì lệnh động viên. 

-Trong Nam phải chăng con nhà giàu và quyền thế tay sai Mỹ ngụy mới được học đại học phải không?

-Trong Nam ai cũng được học. Con cái của Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Trương Như Tảng. . . theo cộng sản nhưng chính phủ miền Nam vẫn cho con cái họ học hành, không ngăn cấm, bắt bớ, giam cầm và trả thù vợ con họ. Mọi người đều được học trung học, đại học nếu có học lực khá. . .Học trung học xong thì các học sinh có thể xin học các đại học. Có hai loại đại học tại miền Nam: Một là học tự do nghĩa là vào học khỏi cần thi tuyển như Y khoa, Duợc khoa, Văn Khoa, Luật khoa. Một loại là phải thi vào là đại học Sư Phạm, Đại học Hành chánh. . . Nói chung là ai học giỏi đều có thể học đại học. Có nhiều bà buôn thúng bán mẹt cũng nuôi con học kỹ sư, bác sĩ.

Sau đó, cả hai công an xin tôi dạy Anh ngữ, riêng anh Liêm còn xin học nhạc với đại úy Thêm. Tôi nói:

Chúng tôi rất sẵn sàng giúp các anh học hành, nhưng không biết cấp trên có chấp thuận, và việc này có trái nội quy trại hay không.

Hai anh cho biết việc này đã được cấp trên thông qua. Sau hai năm chúng tôi chuyển trại thì việc học của hai anh công an trẻ tạm ngưng. Có lẽ các anh sẽ tìm thầy khác. Trong xã hội cộng sản, ngay cả tại Trung Quốc lục địa, hầu hết cán bộ không thich học tiếng Nga, mà thích học tiếng Anh để mong có cơ hội làm việc tại các nước tư bản. Có lẽ hai anh công an kia có dự tính xin chuyển sang ngành ngoại giao hay xin đi lao động xã hội chủ nghĩa, hay hoạt động gián điệp tại các nước tư bản. Tại Sài gòn, sau 1975, con em đảng đua nhau học tiếng Anh, còn con em “ngụy” yếu thế nên bị bắt học tiếng Nga. Sự đời tréo cẳng ngỗng là thế!

Tôi vốn là một sinh viên trường Đại Học Khoa học Sài gòn, bị động viên mà vào trường võ bị Thủ Đức. Tôi có người yêu là Bạch Yến, người Huế, sinh viên Dược Khoa, dòng giõi tôn thất. Hai chúng tôi gặp nhau tại một “bal de famille” nhân sinh nhật của một người bạn, và từ đó chúng tôi thường gặp nhau rồi yêu nhau. Những khi rảnh rỗi tôi thường đến nhà nàng. Ba nàng đi làm việc ở bộ Giáo dục, còn mẹ nàng lo việc buôn bán ở chợ Bến Thành, chị nàng dạy học ở trường tiểu học Bàn Cờ. Tôi thường đến thăm nàng vào trưa thứ năm vì ngày đó, thời khắc biểu của hai chúng tôi đều trống. Thỉnh thoảng chúng tôi đi xem ciné với nhau. Khi tôi đến thăm nảng tại nhà hay khi chúng tôi đi xem ciné, nàng thường mang hai ba lớp quần, nhất là nàng thường mang quần tây, hay quần jean để bảo vệ an toàn cá nhân. Và khi tôi đến thăm nàng, nàng cẩn thận đóng các cửa sổ lại kẻo xóm giềng xoi mói mà sinh ra điều nọ, tiếng kia. Tôi được phép cầm tay nàng, ôm nàng và hôn nàng mà thôi. Nàng hay khóc. Mỗi khi xúc động thì nàng chạy vào buồng khóc và lau nước mắt sau đó mới trở ra chuyện trò với tôi. Cuộc tình duyên của tôi đứt đoạn vì tôi phải đi động viên, rồi ra tiền đồn. Rồi biến cố 30-4-1975, tôi đi tù còn nàng thì đã theo gia đình ra đi trong ngày 29-4-1975 và chúng tôi xa nhau mà không một lời từ giã. Và cũng từ đó về sau, tôi không được tin tức gì về nàng và gia đình nàng.

Khoảng năm 1983, chúng tôi bị chuyển trại về Vĩnh Phú. Một hôm nhóm tôi gồm 20 người đi đốn cây trong rừng. Buổi trưa là giờ ăn, tôi bèn đi sâu vào rừng để tìm chuối rừng hay rau rừng để cải thiện. Bổng nhiên tôi thấy có một cánh tay phụ nữ trắng trẻo giơ lên vẫy tôi. Tôi nhìn quanh rồi bước lại thì một người con gái hiện ra ôm lấy tôi và kéo tôi vào một cái hang ở dưới một gốc cây. Nàng ôm tôi và nói bằng tiếng Việt rất rõ ràng, rành mạch :

“Em yêu anh! Anh hãy yêu em đi”

Tôi không kịp phân biệt, như một cái máy, tôi ôm nàng và cởi y phục nàng. Tôi không suy nghĩ, do dự. Tôi như con hổ đói vồ mồi. Tôi như con trai mới lớn lần đầu yêu một cô gái trắng trinh. Nàng còn là một con gái và thân thể thơm mùi con gái. Tôi như đi vào một thế giới mới mẻ đầy cảm xúc tuyệt vời. Xong việc, nàng ngồi dậy, hôn tôi và bảo tôi:

“Anh hãy đi nhanh đi. Em tên là Mỹ Lan”.

Tôi vội chỉnh đốn y phục và nói:

"Cảm ơn em đã đến, đã cho anh những giây phút tuyệt vời".

Tôi ôm nàng nhưng không nói tên tôi vì tôi không mong được gặp lại nàng lần thứ hai trong đời vì việc này rất khó đối với một tù nhân giữa núi rừng âm u! Hơn nữa, tôi sợ câu chuyện có thể bị vỡ lỡ mà mang tai họa.

Trước khi ra khỏi hang, tôi nhìn ngược nhìn xuôi lỹ lưỡng. Thấy không có ai theo dõi,tôi nhanh nhẹn bước ra rồi tiếp tục công việc như chẳng có việc gì xảy ra. Mấy hôm sau, khi đi đốn cây rừng, tôi cố ý trở lại nơi này, nhưng không hề thấy bóng dáng nàng hay một vết tích nào của nàng. Tôi cố ý lắng nghe trong trại có tin tức gì một người con gái nào bị bắt ở gần trại không, nhưng tuyệt nhiên không nghe ai nói gì cả. Tôi mừng nàng được an toàn. Tôi phục nàng can dảm, dám xông pha hiểm nguy. Nếu chuyện vỡ lỡ, nàng có thể bị bắt về nhiều tội. 

Nàng có thể mang tội gián điệp và bị tù mãn kiếp, héo úa một đời xuân. Tôi bị tù đã đành, nhưng nàng tại sao lại mạo hiểm? Ngoài đời thiếu gì trai tơ? Thiếu gì đàn ông? Tôi không thể hiểu nguyên do nào mà nàng hành động như thế! Nàng là con gái miền núi, đâu phải ngưởi Tây phương mà có lối " yêu cuồng sống vội" như vậy? Quả thật tội không hiểu. Dẫu nàng thế nào đi nữa, tôi vẫn yêu nàng, trân quý nàng. Nàng là một vị tiên đã hiện đến trong đời tôi. Nàng đến một lần và chỉ ban ân sũng một lần thôi!Tôi nhớ nhung nàng. 

Tôi nhớ làn da trắng ngà của nàng, hương thơm trên thân thể nàng, nhất là nốt ruồi bên mép trái, đặc biệt là một nốt ruồi son giữa ngực của nàng. Nàng chợt đến rồi chợt đi như con bướm vàng trong giấc mộng. Thỉnh thoảng tôi nhớ đến nàng. Trong giấc mơ, tôi thấy nàng cùng tôi âu yếm.Tôi thắc mắc không hiểu nàng là ai. Nàng là một cô gái Mường hay cô gái Kinh? Nàng là một sơn nữ hay một cán bộ ở trong vùng? Nàng lãng mạn muốn tìm của lạ miền Nam hay nàng là một cô gái bụi đời? Dẫu sao, đối với tôi, nàng là một vưu vật!

Tuần sau, chúng tôi được lệnh chuyển trại về Sơn La. Việc di chuyển này làm cho lòng tôi thêm chua xót.Thế là tôi xa cách Vĩnh Phú, không còn cơ hội gặp lại Mỹ Lan.

Năm 1985, tôi được phóng thích. 

Trước đây, tôi nghe nói một số sĩ quan cộng hòa bị giải ra Bắc bằng xe lửa thì bị dân chúng ngoài Bắc ném đá.NHưng lần này từ Hà nội đến Quảng Bình , chúng tôi không thấy có trở ngại nào. Khi về Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, chúng tôi bước xuống tàu cho giản gân cốt, thì đồng bào bu lại hỏi han, nắm tay, sờ đầu, kẻ cười, người khóc làm cho chúng tôi rất xúc động. Khi chúng tôi lên tàu, đồng bào ném quà bánh cho chúng tôi rất nhiều. Tình cảm quê hương miền Nam rất nồng thắm với những đứa con bất hạnh như chúng tôi!

Sang năm 1986, tôi cùng anh chị em trong gia đình tổ chức vượt biên và may mắn đến Poulo Bidong, sau đó, năm 1987, tôi được định cư tại Hoa Kỳ. Tại Houston, tôi vừa đi làm vừa ghi tên vào đại học. Sau mấy năm, tôi đỗ bằng kỹ sư điện toán và làm việc cho hãng Corel. Sau tôi gặp Mai Linh người Mỹ Tho và chúng tôi kết hôn. Thỉnh thoảng tôi nhớ đến kỷ niệm Vĩnh Phú, nàng đã đến rồi đi như giấc mộng Liêu Trai. Tôi nghĩ giờ nàng có lẽ đã lấy chồng, hằng ngày vợ chồng mang gùi vào núi bẻ măng, đào khoai sọ, nhổ sắn như hình ảnh những người dân thiểu số mà tôi thường thấy khi đi Đà Lạt chơi. Tôi thấy bóng nàng ẩn hiện trong núi rừng Vĩnh Phú và lòng tôi cảm thấy luyến tiếc bâng khuâng. Tôi nghĩ cuộc đời nàng sẽ héo úa trong chốn rừng sâu. Giỏi lắm thì nàng sẽ thành một cán bộ thương nghiệp hay Hợp tác xã trong bản làng, tay dắt con lớn,vai địu con nhỏ, ngực teo, mặt mũi xanh xao như bao cô nàng Thổ Mán nơi thượng du miền Bắc.Hay cao hơn nữa là một nữ đảng viên cấp xã, cấp huyện, mang áo bộ đội bỏ ngoài quần, đội nón cối, đi dép râu, vai mang săc-cốt, tay đeo đồng hồ,thân gầy ốm, dáng lom khom bước trong cơ quan. Những hình ảnh của nàng, lúc ẩn lúc hiện trong tâm trí tôi làm thành một kho kỷ vật êm đềm.

Cuộc hôn nhân của chúng tôi rất hạnh phúc. Chúng tôi sống bên nhau được ba năm thì Mai Linh bị bệnh ung thư rồi mất. Tôi buồn rầu mấy năm trời. Hình ảnh Mỹ Lan lại hiện đến trong tôi rất ngọt ngào và thần bí. Hương thơm của thân thể nàng như còn vương vấn trong mũi tôi và thân thể tôi. Tôi có ý định về Việt Nam du lịch, thăm lại Vĩnh Phú, mối tình tôi. Nhưng tôi lại không dám vì cuộc đời như nước chảy mây trôi, thuyền trôi mà bến bờ cũng đổi thay, quá khứ e đã tan vỡ như xác pháo mùa Xuân, không thể nào tìm lại được. Nếu đào bới quá khứ,chỉ thêm đau lòng như Lưu Nguyễn khi trở lại quê xưa!

Các bạn bè khuyên tôi nên đi du lịch một chuyến để quên sầu. Tôi mua vé máy bay đi du lịch Đức, Pháp, và Ý vì Tây phương đối với tôi có nhiều quyến rủ. Hơn nữa, tôi có bà chị họ định cư tại Tây Đức. Chị tôi có con du học tại Tây Đức trước 1975, đỗ tiến sĩ, sau 1975 xin ở lại, rồi bảo lãnh gia đình qua đây. Khi tôi đến Tây Đức, gặp anh chị và các cháu, tôi vui mừng hết sức. Các cháu lái xe đưa tôi đi la cà trong thành phố . Một hôm các cháu đưa tôi đi ăn phở của người Việt nổi tiếng là ngon nhất tại đây. Khi bà chủ tiến tới chào hỏi chúng tôi thì tôi ngạc nhiên hết sức, vì nàng là Mỹ Lan, người tình một khắc mà tôi ghi nhớ ngàn đời. Bên môi trái của nàng vẫn in rõ một nốt ruồi duyên. Tôi liền đứng dậy, kéo nàng ra một bên, rồi hỏi nhỏ:

-Phải chăng em là Mỹ Lan? Chúng ta đã gặp nhau tại trại tù Vĩnh Phú?

Sau một phút ngỡ ngàng, nàng cũng nhận ra tôi. Tôi hỏi nàng và kể lể mọi sự. Chúng tôi ôm nhau mà khóc. Nàng giao công việc cho người nhà rồi đưa tôi về nhà nàng. Còn tôi, tôi quay lại bảo các cháu tôi:

-Bà chủ nhà hàng là bạn quen của cậu ở Việt Nam. Bà ấy mời cậu lại nhà. Các cháu về trước, cậu sẽ về sau" . Dặn dò các cháu xong, tôi theo nàng ra xe.

Nhà nàng ở tại một khu yên tĩnh trong thành phố. Nàng ở một mình với con trai. Các anh em thì đã có nhà riêng. Người thì đi làm các hãng tư, người thì phụ giúp nàng trông coi tiệm phở. Khi còn hai chúng tôi, nàng kể lể sự tình. Quê nàng ở Sơn Tây, tổ tiên đỗ cử nhân, tiến sĩ, làm chức quan nhỏ ở triều Lê, triều Nguyễn. Năm 1954, cộng sản về Hà Nội, mở cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, gia đình nàng bị quy là địa chủ. Mẹ nàng và anh em nàng thu vén tài sản trong tay nải, bỏ trốn lên mạn ngược. Ban đầu, gia đình nàng giả làm thương gia lên buôn bán để tìm hiểu, sau đó làm nhà cửa gần bản Mường, lán Thổ tại Vĩnh Phú. 

Gia đình nàng ăn mặc, nói năng và sinh hoạt đều theo phong tục bản Mường, Mán. Nhờ khéo giao thiệp, gia đỉnh nàng được cảm tình dân chúng nơi đây, dược họ giúp đỡ và che chở. Nàng nghe tin các sĩ quan miền Nam bị đưa ra giam giữ tại Vĩnh Phú, là một nơi gần bản Mường của nàng. Tuy chưa gặp những người miền Nam, nhưng lòng nàng chan chứa cảm tình với các tù nhân miền Nam vì họ với nàng là cùng chung cảnh ngộ, là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nàng quyết gặp một sĩ quan miền Nam và sẵn sàng hiến thân cho chàng ta để giữ lấy dòng máu trong sạch của người quốc gia. Nàng cam tâm mang tiếng “ không chồng mà chữa” còn hơn ở góa trong rừng thẳm, hoặc phải lấy anh Mán, anh Thổ hay anh cộng sản làm chồng! Nàng đã nghiên cứu địa hình địa vật, và đã đào hang ẩn náu đưới một gốc cây trong rừng, nơi tù cải tạo thường tới lao động. Nàng đã chờ đợi vài ngày đêm; cuối cùng nàng đã gặp tôi, và đã toại nguyện.

Sau buổi gặp gỡ đầu tiên, nàng đã có thai. Lúc này, mẹ nàng đã mất, anh em nàng chung sống với nhau. Hằng ngày, anh em nàng phải tô mặt cho đen thêm một chút để tránh cặp mặt cú vọ của cộng sản, mặc dầu nơi đây hoang vắng, người kinh it khi lên đây Gia đình nàng cũng theo nếp “ du canh” của người thiểu số mà di chuyển nơi này nơi nọ. Cứ vài năm là một lần di chuyển, như vậy cũng có lợi là tránh được sự theo dõi của công an. Nhân dịp người Hoa bị đánh đuổi trong vụ nạn kiều, anh em nàng theo họ sang Hoa Lục, rồi sang Hongkong. 

Tại đây, chính phủ Hongkong bắt anh em nàng vào trại tập trung. Sau một thời gian, gia đình nàng được phái đoàn Tây Đức nhận định cư tại Tây Đức. Anh em nàng lúc đầu xin làm công nhân cho các hãng xưởng, sau cả nhà quyết định góp vốn mở hàng phở, và anh em nàng đã thành công. Khách hàng vào ra nườm nượp, người Việt Nam đã đành mà người Đức, Pháp, Mỹ cũng thích dùng phở của nhà nàng. Con trai nàng nay đã lớn, được mười tuổi, đang theo học trung học và nàng thì vẫn phòng không chiếc bóng. Còn tôi, tôi cũng kể đời tôi từ nhỏ cho đến nay, qua bao chuổi ngày sóng gió và đau thương.

Chúng tôi ngồi nói chuyện một hồi thì nàng rủ tôi theo nàng đón con đi học về. Chúng tôi ra xe do nàng lái, và chờ đợi ở cổng trường. Vài phút sau thì học sinh tan học. Con nàng ra xe. Nàng giới thiệu tôi với con nàng:

-Hưng, đây là bố ruột của con từ Mỹ sang và gặp mẹ.

Tôi nhìn thấy Hưng giống tôi nhưng cao to hơn, và trắng trẻo hơn. Tôi ôm con tôi và con tôi cũng ôm tôi trong xúc động. Tôi rất mừng vì bất chợt mà tôi đã có một đứa con trai khôn lớn. 

Tối hôm đó, chúng tôi sống trong đêm tân hôn. Đêm đó cũng là đêm thứ hai tôi thấy lại bộ ngực trần trắng như ngọc với một nốt ruồi son nằm ở giữa hai gò bồng đảo rất xinh đẹp. 

Tôi ngỏ lời xin cưới nàng làm vợ, nàng sung sướng cười trong hàng nước mắt. Tôi hỏi nàng muốn sang Mỹ hay ở lại Đức, nàng trả lời nàng muốn sang Mỹ cùng tôi chung sống. Mấy tháng sau, chúng tôi tiến hành thủ tục hôn nhân và bảo lãnh. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức đơn giản tại Đức, gồm anh chị họ và các cháu của tôi, cùng anh em nhà nàng với bạn bè. Sau đó, vợ chồng và con chúng tôi về Mỹ và sống một đời tự do và hạnh phúc. 

Sơn Trung

Chuyện bực mình


Trên đường về nhà, bạn dừng xe lại cho một cô gái thật đẹp quá giang.

Đang lái xe, thình lình cô ta bất tỉnh nhân sự trên xe của bạn.

Bạn đành phải chở cô ta vào bịnh viện. Bực thật!

Tại bịnh viện bác sĩ chẩn bịnh và cho biết cô ta đang có bầu! Họ nồng nhiệt chúc mừng bạn sắp được làm cha. Bạn cãi là bạn không biết cô gái và bạn không phải là cha đứa bé. Nhưng cô gái lại khăng khăng nói bạn là cha đứa bé! Cái nầy thiệt là quá bực!

Bạn tức quá đòi họ thử máu kiểm lại ADN để chứng minh là bạn nói thật.

Họ thử máu bạn và cho biết bạn bị bịnh hiếm muộn không thể nào có con nối dõi. Bịnh nầy bẩm sinh từ lúc bạn mới lọt lòng! 

Bạn cảm thấy hết sức bực nhưng vui mừng vì được thoát nạn.

Trên đường về bạn sực nghĩ về 3 đứa con của mình... 

Bây giờ mới đúng lúc bực mình tối đa...

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link