Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, September 25, 2013

Tiếng trống đồng Đông Sơn ở Indonesia


 

Tiếng trống đồng Đông Sơn ở Indonesia



Nguyễn Giang

bbcvietnamese.com

Cập nhật: 10:08 GMT - thứ ba, 24 tháng 9, 2013



Hai năm trước, khi đến thăm Bảo tàng Quốc gia Malaysia ở Kualar Lumpur, tôi đã thấy nhà rông, cồng chiêng và cột nhà mồ như ở Tây Nguyên, Việt Nam và hiểu rằng văn minh Đông Nam Á cổ đã trải rộng thế nào ở châu Á lục địa.

Nhưng tuần qua, khi vào Bảo tàng Quốc gia Indonesia giữa thủ đô Jakarta thì tôi khá ngạc nhiên khi thấy bốn chiếc trống đồng Đông Sơn (Dongson kettledrum) trưng bày ở đó trong phần về di sản văn hóa nước này.

Với các hình mặt trời và cả chim Lạc giống hệt như ở trống ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội, trống đồng tại Indonesia, mà họ gọi là gendang, đã được tìm thấy ở các đảo xa ngoài Thái Bình Dương.

Một trong số đảo đó là East Nusa Tengarah (cách TPHCM 2600 km đường chim bay), nơi người ta tìm được một chiếc trống đồng năm 1828.

Nhưng ngoài ba trống đồng có hình người chèo thuyền, chim và thú như trống ở Việt Nam, chiếc thứ tư có hoa văn dạng khác hẳn, cho thấy một sự dịch chuyển, biến đổi về văn hóa trống đồng.

Ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng, hàng trăm chiếc trống thuộc nhiều giai đoạn khác nhau đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan, và tất nhiên là ở các hải đảo.

Ở đây tôi không muốn đi vào câu chuyện của giới khảo cổ rằng trống đồng đã có ở đâu, ai làm ra...mà chỉ muốn chia sẻ một chút cảm nghĩ về thái độ nhìn lịch sử của người Indonesia.

Giống và khác



Gốm sứ Việt Nam đã đến Indonesia qua nhiều thế kỷ và đóng góp vào văn hóa ở đây

Như câu chuyện trống đồng Indonesia cho thấy, hiện còn rõ dấu tích của một nền văn minh bản địa đã trải rộng từ vùng lục địa Đông Nam Á sang các hải đảo, trước khi hai dòng văn minh lớn khác là Trung Hoa và Hồi giáo ập đến.

Tại Bảo tàng Quốc gia Indonesia, người ta viết rõ rằng quốc gia mà nay có gần 250 triệu dân, là do người chủng Mongoloid từ châu Á lục địa ra và các nhóm Melanesian và Austronesian từ vùng hải đảo tới mà thành.

Sự giao lưu, hòa trộn này có trùng hợp với truyền thuyết '50 con lên rừng, 50 con xuống biển' ở Việt Nam?

Lời thuyết minh cũng nói chừng 6000 năm trước, các nhóm từ lục địa bắt đầu thống lĩnh các đảo mà người Indonesia gọi chung là Nusantara, lập ra các quốc gia sau đó theo Ấn giáo và Phật giáo, trước khi đạo Hồi tràn đến.

Ở thời kỳ tiền Hồi giáo tại Indonesia hay trước Khổng giáo ở Việt Nam, hẳn các tộc người bản địa có trao đổi văn hóa mạnh mẽ, liên tục, nếu không nói là cùng chung nhiều yếu tố từ ngôn ngữ, ăn mặc đến thờ cúng mà các hình trên trống đồng chỉ là một biểu hiện còn thấy được.

Và cứ thể mà suy ra thì nhóm Việt (Kinh) ở Việt Nam hiện nay không phải nhóm thừa kế duy nhất về văn hóa từ đại gia đình Đông Nam Á đó.

Nhưng người Việt vì ở tuyến đầu chống lại sức ép từ Phương Bắc, dù giữ được độc lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán sâu rộng hơn hẳn các dân tộc Đông Nam Á khác và phần nào tiếp nhận cả tư duy độc tôn kiểu Hán.

Trái lại, tác động của Trung Quốc đến các đảo Indonesia xa xôi chưa bao giờ mạnh như ở Đông Dương mà chỉ là một trong nhiều dòng văn hóa du nhập vào đây.

Chữ Hán cũng xuất hiện trên các đồ tế tự nhập vào Indonesia bởi người gốc Hoa nhưng sắc dân này cũng thường bị đồng hóa vào các nhóm Phật giáo bản địa và ngôn ngữ Hán chưa bao giờ có vị trí gì cao, theo lời giới thiệu ở Bảo tàng Quốc gia Indonesia.

Bên cạnh dấu ấn từ Ấn Độ và thế giới Hồi giáo luôn rất mạnh và rõ rệt, Bảo tàng này cũng ghi nhận bốn dòng văn hóa ảnh hưởng đến nghệ thuật gốm sứ của họ: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Thái Lan.


Hình chim Lạc trên một chiếc trống đồng Indonesia

Điều này hẳn làm người Việt Nam cảm thấy tự hào nhưng cũng khiến bạn tự hỏi vì sao trong cách trình bày về lịch sử, trong người Việt luôn có xu hướng không rộng rãi và bao dung bằng người Indonesia.

Người Việt thường thích nhấn mạnh đến sự riêng biệt, độc tôn của mình mà làm nhẹ đi nguồn gốc chung với nhiều dân tộc khác dù trên thực tế văn hóa chỉ lớn được qua sự tiếp thu, hội nhập và giao lưu.

Không độc quyền


Sau khi giành độc lập, người Java đông nhất tại Indonesia (hiện có 100 triệu) tự nguyện không chọn tiếng Java mà chấp nhận dùng tiếng Bahasa Indonesia, gốc Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia để thống nhất 300 dân tộc khác nhau trên hàng nghìn hòn đảo.

Nhưng dù dùng chung Bahasa Indonesia, các nhóm sắc tộc Indonesia ngày nay vẫn có quyền học tiếng mẹ đẻ của mình ở trường đến hết tiểu học.

Còn ở Việt Nam, nước chính thức có trên 50 nhóm sắc tộc, tiếng Kinh chiếm ví trí độc tôn trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội và các ngôn ngữ thiểu số có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất trong tương lai.

Tính bao dung của Indonesia còn nổi bật lên khi nhìn vào báo chí và hệ thống chính trị.

Dù 86% dân số theo Hồi giáo, các đạo khác Phật, Thiên Chúa giáo...có vị trí được công nhận trong hiến pháp nước cộng hòa.


Các nhà báo Indonesia quan tâm nhiều đến Việt Nam

Hiện nay, đôi khi vẫn có va chạm giữa tín đồ Hồi giáo phái Sunni và thiểu số phái Shia nhưng đây không phải là đề tài cấm kỵ và báo chí nói đến nó liên tục.

Từ sau khi ông Suharto sụp đổ năm 1998, sau một thời 'tập sự dân chủ', nay Indonesia đã có một nền chính trị đa nguyên khá sôi động, và năm 2014 sẽ có kỳ bỏ phiếu khép lại hai nhiệm kỳ của Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono.

Đến Jakarta trước năm bầu cử cả quốc hội và tổng thống nên tôi được nghe các nhà báo ở đây bàn thảo rất nhiều về các ứng viên tiềm năng, các đảng khác nhau, về chuyện tham nhũng, chuyện kinh tế, giao lưu khu vực và cơ hội của Indonesia.

So với nhiều nơi khác ở châu Á, tôi thấy các nhà báo bạn không chỉ cởi mở, trẻ trung, thạo tiếng Anh mà còn rất quý Việt Nam.

Không ít biên tập viên, phóng viên đã từng sang Việt Nam dự các sự kiện thể thao, chính trị ASEAN, và trận đá bóng Cup AFF giữa Việt Nam và Thái Lan tuần rồi cũng trở thành chủ đề bàn tán của các đồng nghiệp trong văn phòng BBC Indonesia ở Jakarta vào sáng hôm sau.

Ngồi ăn bánh chưng chay với các bạn Indonesia, cũng thứ bánh bằng gạo nếp, nhân đỗ xanh, quấn lá chuối nhưng gói mỏng hơn bánh ở Việt Nam, tôi cảm được sự tương đồng văn hóa vẫn còn từ một thời kỳ xa xưa với xứ sở và con người ở đây.

Nhưng hai xã hội này có vẻ đang chọn hay con đường khác nhau.

Indonesia đã và đang thể hiện vai trò đàn anh trong ASEAN, là cầu nối giữa Thế giới Hồi giáo và các cường quốc Phương Tây và có tham vọng thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2030.

Việt Nam cũng đang nỗ lực đóng một vai trò quan trọng về an ninh vùng nhưng còn thiếu tham vọng ở tầm khu vực cho xứng đáng với số dân và khao khát của giới trẻ.

Trở lại chuyện trống đồng, người Indonesia đang tự hào rằng trên đảo Selayar của họ hiện có chiếc trống đồng Đông Sơn, cũng thuộc loại Heger I, 'to nhất thế giới'.


Indonesia coi trọng quan niệm di sản văn hóa mở

Tranh cãi ai kế thừa cái gì ở thời kỳ chưa hình thành quốc gia dân tộc, như cuộc tranh luận Việt - Trung rằng đâu là cái nôi của trống đồng, dễ trở nên vô nghĩa nếu ta tiếp thu tinh thần vươn ra biển xa của các chủ nhân trống đồng hàng nghìn năm trước.

To lớn nhưng vẫn bao dung trong đa dạng là tinh thần Indonesia ngày nay.

Có thể vì thái độ với quá khứ hẹp hơn các quốc gia hải đảo nên Việt Nam chưa thể 'lướt sóng' ngoài đại dương được?

 

 

Tiếng trống đồng Đông Sơn ở Indonesia


 

Tiếng trống đồng Đông Sơn ở Indonesia



Nguyễn Giang

bbcvietnamese.com

Cập nhật: 10:08 GMT - thứ ba, 24 tháng 9, 2013



Hai năm trước, khi đến thăm Bảo tàng Quốc gia Malaysia ở Kualar Lumpur, tôi đã thấy nhà rông, cồng chiêng và cột nhà mồ như ở Tây Nguyên, Việt Nam và hiểu rằng văn minh Đông Nam Á cổ đã trải rộng thế nào ở châu Á lục địa.

Nhưng tuần qua, khi vào Bảo tàng Quốc gia Indonesia giữa thủ đô Jakarta thì tôi khá ngạc nhiên khi thấy bốn chiếc trống đồng Đông Sơn (Dongson kettledrum) trưng bày ở đó trong phần về di sản văn hóa nước này.

Với các hình mặt trời và cả chim Lạc giống hệt như ở trống ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội, trống đồng tại Indonesia, mà họ gọi là gendang, đã được tìm thấy ở các đảo xa ngoài Thái Bình Dương.

Một trong số đảo đó là East Nusa Tengarah (cách TPHCM 2600 km đường chim bay), nơi người ta tìm được một chiếc trống đồng năm 1828.

Nhưng ngoài ba trống đồng có hình người chèo thuyền, chim và thú như trống ở Việt Nam, chiếc thứ tư có hoa văn dạng khác hẳn, cho thấy một sự dịch chuyển, biến đổi về văn hóa trống đồng.

Ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng, hàng trăm chiếc trống thuộc nhiều giai đoạn khác nhau đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan, và tất nhiên là ở các hải đảo.

Ở đây tôi không muốn đi vào câu chuyện của giới khảo cổ rằng trống đồng đã có ở đâu, ai làm ra...mà chỉ muốn chia sẻ một chút cảm nghĩ về thái độ nhìn lịch sử của người Indonesia.

Giống và khác



Gốm sứ Việt Nam đã đến Indonesia qua nhiều thế kỷ và đóng góp vào văn hóa ở đây

Như câu chuyện trống đồng Indonesia cho thấy, hiện còn rõ dấu tích của một nền văn minh bản địa đã trải rộng từ vùng lục địa Đông Nam Á sang các hải đảo, trước khi hai dòng văn minh lớn khác là Trung Hoa và Hồi giáo ập đến.

Tại Bảo tàng Quốc gia Indonesia, người ta viết rõ rằng quốc gia mà nay có gần 250 triệu dân, là do người chủng Mongoloid từ châu Á lục địa ra và các nhóm Melanesian và Austronesian từ vùng hải đảo tới mà thành.

Sự giao lưu, hòa trộn này có trùng hợp với truyền thuyết '50 con lên rừng, 50 con xuống biển' ở Việt Nam?

Lời thuyết minh cũng nói chừng 6000 năm trước, các nhóm từ lục địa bắt đầu thống lĩnh các đảo mà người Indonesia gọi chung là Nusantara, lập ra các quốc gia sau đó theo Ấn giáo và Phật giáo, trước khi đạo Hồi tràn đến.

Ở thời kỳ tiền Hồi giáo tại Indonesia hay trước Khổng giáo ở Việt Nam, hẳn các tộc người bản địa có trao đổi văn hóa mạnh mẽ, liên tục, nếu không nói là cùng chung nhiều yếu tố từ ngôn ngữ, ăn mặc đến thờ cúng mà các hình trên trống đồng chỉ là một biểu hiện còn thấy được.

Và cứ thể mà suy ra thì nhóm Việt (Kinh) ở Việt Nam hiện nay không phải nhóm thừa kế duy nhất về văn hóa từ đại gia đình Đông Nam Á đó.

Nhưng người Việt vì ở tuyến đầu chống lại sức ép từ Phương Bắc, dù giữ được độc lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán sâu rộng hơn hẳn các dân tộc Đông Nam Á khác và phần nào tiếp nhận cả tư duy độc tôn kiểu Hán.

Trái lại, tác động của Trung Quốc đến các đảo Indonesia xa xôi chưa bao giờ mạnh như ở Đông Dương mà chỉ là một trong nhiều dòng văn hóa du nhập vào đây.

Chữ Hán cũng xuất hiện trên các đồ tế tự nhập vào Indonesia bởi người gốc Hoa nhưng sắc dân này cũng thường bị đồng hóa vào các nhóm Phật giáo bản địa và ngôn ngữ Hán chưa bao giờ có vị trí gì cao, theo lời giới thiệu ở Bảo tàng Quốc gia Indonesia.

Bên cạnh dấu ấn từ Ấn Độ và thế giới Hồi giáo luôn rất mạnh và rõ rệt, Bảo tàng này cũng ghi nhận bốn dòng văn hóa ảnh hưởng đến nghệ thuật gốm sứ của họ: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Thái Lan.


Hình chim Lạc trên một chiếc trống đồng Indonesia

Điều này hẳn làm người Việt Nam cảm thấy tự hào nhưng cũng khiến bạn tự hỏi vì sao trong cách trình bày về lịch sử, trong người Việt luôn có xu hướng không rộng rãi và bao dung bằng người Indonesia.

Người Việt thường thích nhấn mạnh đến sự riêng biệt, độc tôn của mình mà làm nhẹ đi nguồn gốc chung với nhiều dân tộc khác dù trên thực tế văn hóa chỉ lớn được qua sự tiếp thu, hội nhập và giao lưu.

Không độc quyền


Sau khi giành độc lập, người Java đông nhất tại Indonesia (hiện có 100 triệu) tự nguyện không chọn tiếng Java mà chấp nhận dùng tiếng Bahasa Indonesia, gốc Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia để thống nhất 300 dân tộc khác nhau trên hàng nghìn hòn đảo.

Nhưng dù dùng chung Bahasa Indonesia, các nhóm sắc tộc Indonesia ngày nay vẫn có quyền học tiếng mẹ đẻ của mình ở trường đến hết tiểu học.

Còn ở Việt Nam, nước chính thức có trên 50 nhóm sắc tộc, tiếng Kinh chiếm ví trí độc tôn trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội và các ngôn ngữ thiểu số có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất trong tương lai.

Tính bao dung của Indonesia còn nổi bật lên khi nhìn vào báo chí và hệ thống chính trị.

Dù 86% dân số theo Hồi giáo, các đạo khác Phật, Thiên Chúa giáo...có vị trí được công nhận trong hiến pháp nước cộng hòa.


Các nhà báo Indonesia quan tâm nhiều đến Việt Nam

Hiện nay, đôi khi vẫn có va chạm giữa tín đồ Hồi giáo phái Sunni và thiểu số phái Shia nhưng đây không phải là đề tài cấm kỵ và báo chí nói đến nó liên tục.

Từ sau khi ông Suharto sụp đổ năm 1998, sau một thời 'tập sự dân chủ', nay Indonesia đã có một nền chính trị đa nguyên khá sôi động, và năm 2014 sẽ có kỳ bỏ phiếu khép lại hai nhiệm kỳ của Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono.

Đến Jakarta trước năm bầu cử cả quốc hội và tổng thống nên tôi được nghe các nhà báo ở đây bàn thảo rất nhiều về các ứng viên tiềm năng, các đảng khác nhau, về chuyện tham nhũng, chuyện kinh tế, giao lưu khu vực và cơ hội của Indonesia.

So với nhiều nơi khác ở châu Á, tôi thấy các nhà báo bạn không chỉ cởi mở, trẻ trung, thạo tiếng Anh mà còn rất quý Việt Nam.

Không ít biên tập viên, phóng viên đã từng sang Việt Nam dự các sự kiện thể thao, chính trị ASEAN, và trận đá bóng Cup AFF giữa Việt Nam và Thái Lan tuần rồi cũng trở thành chủ đề bàn tán của các đồng nghiệp trong văn phòng BBC Indonesia ở Jakarta vào sáng hôm sau.

Ngồi ăn bánh chưng chay với các bạn Indonesia, cũng thứ bánh bằng gạo nếp, nhân đỗ xanh, quấn lá chuối nhưng gói mỏng hơn bánh ở Việt Nam, tôi cảm được sự tương đồng văn hóa vẫn còn từ một thời kỳ xa xưa với xứ sở và con người ở đây.

Nhưng hai xã hội này có vẻ đang chọn hay con đường khác nhau.

Indonesia đã và đang thể hiện vai trò đàn anh trong ASEAN, là cầu nối giữa Thế giới Hồi giáo và các cường quốc Phương Tây và có tham vọng thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2030.

Việt Nam cũng đang nỗ lực đóng một vai trò quan trọng về an ninh vùng nhưng còn thiếu tham vọng ở tầm khu vực cho xứng đáng với số dân và khao khát của giới trẻ.

Trở lại chuyện trống đồng, người Indonesia đang tự hào rằng trên đảo Selayar của họ hiện có chiếc trống đồng Đông Sơn, cũng thuộc loại Heger I, 'to nhất thế giới'.


Indonesia coi trọng quan niệm di sản văn hóa mở

Tranh cãi ai kế thừa cái gì ở thời kỳ chưa hình thành quốc gia dân tộc, như cuộc tranh luận Việt - Trung rằng đâu là cái nôi của trống đồng, dễ trở nên vô nghĩa nếu ta tiếp thu tinh thần vươn ra biển xa của các chủ nhân trống đồng hàng nghìn năm trước.

To lớn nhưng vẫn bao dung trong đa dạng là tinh thần Indonesia ngày nay.

Có thể vì thái độ với quá khứ hẹp hơn các quốc gia hải đảo nên Việt Nam chưa thể 'lướt sóng' ngoài đại dương được?

 

 

Tự xử dân chúng hay tự xử chính quyền?


 

Tự xử dân chúng hay tự xử chính quyền?


Phạm Chí Dũng


Thói hoang tưởng quyền lực được sinh thời bởi ý thức hệ cầm cố đã tạo nên vô số món nợ phải đòi trong đầu óc dân quyền.Tự xử của dân cũng vì thế mang hơi hướng tự xử của chính quyền.

5 ngày sau vụ Đặng Ngọc Viết bắn các cán bộ quản lý quỹ đất ở Thái Bình, một số đại biểu quốc hội Việt  Nam mới lần đầu tiên “thảo luận tập trung” về hiện tượng “tự xử” đang có chiều hướng lan rộng và “có dấu hiệu nguy hiểm” trong dân chúng.

Tự bắt trộm chó, tự thuê xã hội đen đòi nợ, tự thiêu, tự bắn cán bộ… – những hành tung mang tính “tự xử” đã xảy ra suốt mấy năm suy thoái kinh tế vừa qua, nhưng cho đến tận bây giờ mới được thừa nhận “có phần trách nhiệm của chính quyền địa phương”.

Cho đến khi cơn khủng hoảng chết chóc đã cận kề ngay trước mũi, vài người đại diện cho dân chúng mới dám hé lộ ngoài hành lang về tình trạng “chính quyền địa phương bất động”.

Với tất cả những động thái “hành là chính” đang có chiều hướng bất động một cách nguy hiểm như thế, hẳn đó cũng là một nguồn cơn để nảy sinh ra lời “hiệu triệu cứu quốc” dưới đây.

Hiệu triệu cứu quốc!

Thông báo với toàn thể nhân dân. Hiện nay đang có một đám người lạ mặt, đầu trọc, xăm trổ đầy mình, có hành vi côn đồ, dùng kiếm, dùng dùi cui, đuổi đánh, dọa đâm, chém, giết dân lành. Mọi người, ai có cuốc, xẻng, gậy gộc ra ứng cứu. Giặc đang càn quấy dân làng, mọi người tập trung mau để đánh giặc! Loa, loa, loa…” – ông trưởng thôn Đồng Quân gào vào loa phóng thanh, và từ chiếc loa này như vang dội âm thanh hiệu triệu một mất một còn vào những ngày kháng chiến cứu quốc.

Tháng 6/2013, xóm núi heo khuất ở vùng Ninh Bình lại một lần nữa giận dữ cùng rạo rực. Người dân đang nhìn thấy một đám cướp cạn giữa ban ngày ban mặt. Nhưng người dân cũng đang phải chứng kiến một biểu tả không thể bàng quan hơn của các nhân viên công lực địa phương khi để mặc đám côn đồ thỏa sức hành hung những người bám đất.

Đã hơn 25 năm qua, bãi đất nơi xảy ra tranh chấp giữa người dân Đồng Quân với Công ty cổ phần du lịch Cúc Phương là nguồn sống của dân, bằng chăn nuôi gia súc, trồng ngô và trồng đậu. Cư trú trên địa bàn này chủ yếu là người dân tộc Mường, được di dời từ rừng quốc gia Cúc Phương ra từ năm 1988.

Khoảng gần chục năm trước, Công ty Cúc Phương bắt đầu về xây dựng trên khoảng 15 ha bãi đất. Nhưng vài năm trở lại đây, công ty này lại có những hành vi định chiếm nốt 25ha đất còn lại.

Ở một thái cực còn lại, ông trưởng thôn Đồng Quân khẳng định là không hề nhận được thông báo nào từ chính quyền về việc cho công ty Cúc Phương thầu thêm 25 ha đất.

“Cho dù có thông báo thỏa thuận từ chính quyền về việc sang nhượng đất, chúng tôi cũng không bao giờ đồng ý. Vì 25 ha đất này là nguồn mưu sinh của người dân, bán nốt thì biết làm gì để sống!” – một người dân địa phương thét lên.

Nhưng vào lúc việc tranh chấp còn chưa ngã ngũ thì Công ty Cúc Phương đã liên tục điều “xe múc” vào đào đất.

“Người dân ngăn cản là đương nhiên. Vì thế mà cho côn đồ đến hành hung dân lành là điều không thể chấp nhận được!” – ông trưởng thôn quyết liệt.

Thái độ không khoan nhượng của người dân xóm núi Đồng Quân đã được biểu thị ngay tức thì: ngay sau tiếng loa xé nát buổi trưa hè yên ả, nhân dân hai thôn từ người già, thanh niên đến phụ nữ lập tức túa ra đầy đường. Dân hai đầu dồn lại đánh trả đám côn đồ. Từ bộ dạng hung tợn lúc đầu, bọn côn đồ phải dần rút lui, để cuối cùng đã phải nhận một trận đòn nhớ đời.

“Người dân xóm núi đại thắng!” – một tờ báo trong nước giật tít đầy hả hê. Nhưng còn hả hê hơn nhiều, vào một lần hiếm hoi “luật rừng” đã thành công.

Trong cái tâm cảm “luật rừng” ấy, cả hai phía chính – tà đều hiện diện.Nhưng nhân tố đáng ra phải có mặt – lực lượng bảo vệ pháp luật – thì lại vắng bóng đến không thể hiểu nổi.

Như một thói quen đã trở thành cố tật, chỉ sau khi trận đánh không chính danh trên kết thúc, công an huyện Nho Quan mới chính thức ló mặt tại hiện trường để làm nốt công đoạn cuối của việc “phá án”.

 

Tự xử dân chúng

Những tay blogger có đầu óc hài hước nhất vẫn thường chua chát giễu cợt” Việt Nam có cả một rừng luật, nhưng chỉ có một thứ duy nhất được dùng là luật rừng”.

“Phép vua thua lệ làng” cũng từ cổ chí kim được viện dẫn và hành xử như một thói quen văn hóa độc đáo của người dân Việt, đặc biệt ở những vùng nông thôn miền Bắc.

Từ năm 2010 về trước, khi kinh tế còn tạm đủ sức cầm cự với lạm phát và phân hóa xã hội chưa lộ ra cái hố đen ngòm ngoác rộng của nó, phân cực dân sinh cũng âm thầm tiềm ẩn hơn chứ chưa bị đẩy tình thế vào cảnh hỗn mang như hiện nay.

Nhưng khi hiện tượng “rào làng” bắt đầu xuất hiện ở những địa phương như vùng phố núi Ninh Bình, người ta cũng bắt đầu chứng kiến cảnh đồng tâm hiệp lực giữa những gia đình cùng làng xã để bảo vệ quyền lợi “giết trộm”. Cảnh sắc đó đã vừa diễn ra ở Bắc Giang, nơi có đến 800 người dân đồng ký vào một lá đơn chưa từng có tiền lệ: nhận tội danh đánh đến chết những kẻ trộm chó.

Trước hành động phản ứng chưa từng có trên, chính quyền và ngành công an Bắc Giang trở nên lúng túng và rơi vào thế bị động. Thay cho việc bắt giữ vài người dân đầu trò trong vụ đánh chết cẩu tặc, vào lúc này nhà chức trách phải đối mặt với một thái độ có thể được xem là vượt qua sợ hãi để “sống chết có nhau” của dân làng. Tinh thần tập thể hành động như thế hẳn làm dư luận nhớ đến 13.000 người dân ở làng Ô Khảm của Trung Quốc, vào năm 2011 đã rào làng để phản kháng chế độ trưng thu đất đai vô lối mà đã gây ra cái chết của một trong những người cầm đầu nhóm phản kháng trong đồn công an địa phương.

Không hề có dấu hiệu hoang tưởng từ những người dân Bắc Giang, mà tinh túy hơn thế nhiều, 800 người dân đồng ký đơn nhận tội ở Bắc Giang đã công khai phơi bày một chủ đích có tính toán và mang dấu ấn thách thức chính quyền. Suy luận đơn giản là chính quyền không thể khởi tố tất cả dân làng, nhưng suy diễn phức tạp hơn là không phải chính quyền muốn làm gì thì làm trong bối cảnh đầu óc dân chúng đã tràn ngập tư tưởng bất mãn và sẵn sàng đối đầu nếu “cần thiết”.

Bắc Giang lại là địa phương mà đã nổ ra những vụ đòi đất tập thể, tương tự Hưng Yên, Thái Bình, ngoại thành Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Nam Định… Đến lượt những địa phương này lại nằm trong cách nhìn thường trực của chính quyền về một loại “điểm nóng” cần phải tiễu trừ.

Đất đai đã làm nên một biến động lịch sử khôn lường ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, kể cả không khí manh nha “hồi tố” như trong cuộc cải cách ruộng đất vào giữa thế kỷ 20.

Trước vụ Đặng Ngọc Viết, một thanh niên ở Quảng Nam cũng đã dùng dao đâm vài cán bộ hiệp thương giá đền bù đất đai. Người thanh niên  này say khi gây án đã chạy về nhà đâm dao vào ngực mình. Nhưng rất may trong vụ đó cả hung thủ lẫn nạn nhân đều bảo toàn được mạng sống.

Còn với trường hợp Đặng Ngọc Viết, động cơ trả thù đã trở thành đỉnh điểm của công tác “hồi tố”. Những quan chức nhà nước thực thi mệnh lệnh cao cả về thu hồi đất của dân với giá bèo đã phải trả một cái giá đắt ngang với sinh mạng của họ. “Tự xử” cũng vì thế đã biến diễn đến mức cực đoan và chắc chắn vượt trên rất nhiều “dấu hiệu nguy hiểm” mà các đại biểu quốc hội đang than thở.

Tự xử chính quyền

Một lần nữa trong rất nhiều lần, dư luận và công luận Việt Nam phải khẩn thiết nhắc lại “cách mạng Thái Bình” mười sáu năm trước. Thế nhưng sự bất hạnh lại lộ đến chân tơ kẽ tóc: đã chẳng có một bài học nào được những người cầm cân nảy mực rút ra từ lịch sử. Mọi chuyện và thế sự vẫn trì miết trong một lối mòn tham lam, lũng đoạn và không kém ngu ngốc. Thói hoang tưởng quyền lực được sinh thời bởi ý thức hệ cầm cố đã tạo nên vô số món nợ phải đòi trong đầu óc dân quyền.

Vụ xả lũ bị coi là hành động “giết sống” người dân mới xảy ra vào tháng 9/2013 ở Đắc Lắc cũng là một ý thức hệ táng tận lương tâm của giới quan chức điều hành thủy điện và chính quyền địa phương. Thời điểm ấn định xả lũ là vào 8 giờ sáng, nhưng phải đến một tiếng rưỡi đồng hồ sau thông báo  này mới được phát ra. Đó cũng là khoảng thời gian vừa đủ để dòng lũ đỏ ngầu cuốn tung mọi thứ, từ tài sản tích góp cả đời đến ít nhất 12 sinh mạng con người, xuống vùng trũng niềm tin dân chúng…

Với những gì đã hiện tồn cay đắng đến thế, điều bị xem là “vô cảm quan chức” vẫn còn là lời cảnh báo đầy tính nhân đạo. Giờ đây, vượt hơn thế nhiều, nhiều chính quyền địa phương càng như chìm trong cơn hôn mê vô trách nhiệm và chẳng hề đồng cảm với đồng loại. Hàng loạt điểm nóng có thể dẫn đến điểm nổ về đất đai, môi trường, tôn giáo… đã chỉ bị ụp lên bởi hàng núi công văn giấy tờ “xin ý kiến chỉ đạo”, trong đó không thiếu lời quy kết cho hành động của người dân là “xách động, manh động, chống đối…”.

Tâm trạng xã hội rối loạn trong dân chúng cũng tương tác hầu như trực tiếp với tâm lý thoái thác trách nhiệm ở các cấp chính quyền. Vụ việc càng “nhạy cảm” thì các cơ quan từ địa phương đến trung ương càng gia cố sức ép đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, và trên hết là quá khó để nhận ra một lãnh đạo nào dám chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong khi đó, thời gian không ngừng trôi và hậu quả chẳng bao giờ ngừng lại.Rất thường là đến một thời điểm nào đó, tình hình trở nên xấu tệ để mọi chuyện có thể nhanh chóng rơi nhanh vào tình trạng mất kiểm soát.

Tự xử của dân chúng cũng rất có thể dẫn tới hành động tự phát nối kết, liên kết và gắn bó với nhau giữa các nhóm dân đấu tranh cho quyền lợi, cho dù không phải bao giờ quyền lợi của dân cũng đồng nhất với nhau. Đó cũng gần như là hình ảnh chan hòa giữa những dân oan không tôn giáo với các tín đồ – một hiện tượng đã và đang diễn ra ngày càng rộng tại vùng đáy niềm tin chính thể.

Nếu hiệu ứng vô chính phủ xảy ra, không thể nói khác hơn là tình trạng mất kiểm soát ở Việt Nam có thể trở nên vô phương cứu chữa, rút ngắn tính chính danh của chính thể và ghê gớm hơn nhiều là xâm hại những gì còn lại của một lịch sử văn hóa.

Tự xử của dân cũng vì thế mang hơi hướng tự xử của chính quyền.Tất cả những gì mà một chính thể không thể đáp ứng sẽ luôn phải trả bằng cái giá chân đứng của chính quyền từ bị mài mòn đến tự mục rã.

Nông thôn và một số đô thị ở miền Bắc đang chứng thực xu hướng chuyển động có tính song trùng tự xử rệu mục như thế. Dù chưa có một nghiên cứu nào phân tích về khả năng song trùng này, nhưng đáp án rõ rệt cho bài toán tự xử luôn là một điểm giao thoa, tại một thời điểm được xác định, giữa hai hành động vừa đồng pha vừa ngược chiều nhau – một thuộc về chính quyền và hành động kia bùng phát từ dân chúng.

P.C.D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

 

Tuesday, September 24, 2013

Đảng Cộng sản còn tồn tại ở Trung Quốc được bao lâu nữa?


 

 

Sent: Monday, 23 September 2013 9:51 PM
Subject:  Đảng Cộng sản còn tồn tại ở Trung Quốc được bao lâu nữa?

 

 

Đảng Cộng sản còn tồn tại ở Trung Quốc được bao lâu nữa?


Trường Đảng Trung ương ở Bắc Kinh.

Trường Đảng Trung ương ở Bắc Kinh.

 

Khi nền kinh tế giảm tốc độ tăng trưởng và nỗi bất bình của tầng lớp trung lưu tăng lên, đó là câu hỏi hiện đang được đặt ra không chỉ ở nước ngoài mà ngay trong nước. Thậm chí ở Trường Đảng Trung ương, người ta cũng bàn về điều không tưởng tượng nổi: sự sụp đổ của cộng sản Trung Quốc.

Nằm lọt thỏm giữa trường gián điệp hàng đầu của Trung Quốc và Di Hòa Viên ở phía tây Bắc Kinh là nơi duy nhất ở xứ này người ta có thể công khai bàn về sự diệt vong của Đảng Cộng sản cầm quyền mà không sợ phải chuốc họa vào thân. Nhưng địa điểm xanh rợp bóng cây này không phải trụ sở của một tổ chức nghiên cứu có tư tưởng tự do được Mỹ tài trợ hay một cơ sở đối kháng hoạt động bí mật. Đây là Trường Đảng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, học viện cao cấp dành cho các vị lãnh đạo độc tài của nước này, nơi được bộ máy tuyên truyền chính thức mô tả là “lò luyện tinh thần của đảng viên”.

Trường Đảng Trung ương được thành lập năm 1933 để giáo huấn cho cán bộ thấm nhuần chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenin và về sau là Tư tưởng Mao Trạch Đông. Trong số các hiệu trưởng cũ có chính Mao Trạch Đông, chủ tịch mới được chọn Tập Cận Bình và vị tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Để thích ứng với một số thay đổi hệ trọng đã xảy ra trong xã hội Trung Quốc, chương trình giảng dạy đã được sửa đổi triệt để trong những năm gần đây. Học viên vẫn đắm mình trong những lời vàng ý ngọc của Tư bản luận và “Học thuyết Đặng Tiểu Bình” nhưng họ cũng được học kinh tế, luật, tôn giáo, các vấn đề quân sự và tư tưởng chính trị phương tây. Ngoài các buổi xem phim tài liệu chống tham nhũng và tham gia hát tập thể những bài ca cách mạng, học viên (gồm các cán bộ trung và cao cấp) được học cách thưởng thức opera và nghi lễ ngoại giao.
 
Một thay đổi quan trọng hơn đối với học viện được lập ra để bảo đảm tính thuần khiết ý thức hệ là học viện này đảm nhận một vai trò tương đối mới: là nơi sinh hoạt tri thức được thoải mái bàn bạc về mọi vấn đề mà gần như không có gì hạn chế. Một giáo sư Trường Đảng xin đừng nêu tên vì ông không được phép phát biểu với báo chí nước ngoài kể: “Chúng tôi vừa có một hội thảo với đông đảo đảng viên rất có thế lực và họ hỏi chúng tôi nghĩ là đảng sẽ còn nắm quyền bao lâu nữa và chúng tôi đã chuẩn bị gì cho thời điểm đảng sụp đổ. Thật tình mà nói, ai ai ở Trung Quốc cũng hỏi câu này nhưng tôi e rằng rất khó trả lời.”
 
Những người kế tục cuộc cách mạng năm 1949 của Mao Trạch Đông còn bấu víu vào quyền lực được bao lâu nữa đã là câu hỏi thường trực kể từ vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô. Đã có nhiều tiên đoán u ám về việc Đảng Cộng sản sắp sụp đổ, để rồi tiên đoán vẫn hoàn tiên đoán, nhưng đảng vẫn tồn tại, thậm chí còn lớn mạnh hơn, đặc biệt kể từ khi đảng mở cửa đón nhận giới tư sản vào hàng ngũ đảng lần đầu tiên cách đây một thập niên. Ngày nay, đảng cách mạng của giai cấp vô sản có lẽ được mô tả rõ nhất là phòng thương mại lớn nhất thế giới, và tấm thẻ đảng là cách tốt nhất để giới doanh nhân tạo quan hệ và ký được các hợp đồng béo bở.
 
Trong vòng chưa đầy 5 năm nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ thách thức ngôi vị của Liên Xô (69 hay 74 năm tùy cách tính) và Đảng Cách mạng Thể chế của Mexico (71 năm cho đến năm 2000) về kỷ lục thời gian cầm quyền liên tục lâu nhất của bất cứ chính đảng nào. Lý thuyết hiện đại hóa cho rằng các hệ thống độc tài có xu hướng dân chủ hóa khi thu nhập quốc dân tăng lên, rằng việc tạo ra một tầng lớp trung lưu đông đảo sẽ đẩy nhanh quá trình đó và rằng tình trạng suy thoái kinh tế sau một thời kỳ tăng trưởng nhanh sẽ khiến quá trình chuyển tiếp đó càng dễ xảy ra. Tình trạng bất bình đẳng trầm trọng và ngày càng tăng cộng với tham nhũng ở mức độ cao có thể tăng thêm động lực dẫn đến thay đổi.
 
Tất cả những yếu tố này hiện đã có ở Trung Quốc, nhưng có nhiều nhà lý thuyết chính trị, trong đó có nhiều người ở Trường Đảng Trung ương, nhận định rằng Trung Quốc có đặc trưng khác biệt về văn hóa và chính trị, và làn sóng sụp đổ của các chế độ độc tài vẫn đang tràn qua thế giới Ả Rập sẽ chẳng bao giờ đến Trung Quốc được.
 
Nhưng cũng có nhiều người, trong đó có các trí thức Trung Quốc có ảnh hưởng, những nhà nghiên cứu Trung Quốc danh tiếng ở phương tây và thậm chí cả những đảng viên cao cấp có tư tưởng tự do, tin rằng đây là những ngày cuối cùng của kỷ nguyên Cộng sản và đảng sẽ bị cuốn trôi nếu không sớm cải cách chính trị nghiêm túc. “Ngàn thu và vạn thế hệ” Trần Thư là giáo sư lịch sử đảng, “xây dựng đảng” và Tư tưởng Mao Trạch Đông ở Trường Đảng Trung ương và các quan điểm của ông phản ánh tư duy chính thống trong giới chóp bu của đảng. Tuy có nhiều hoạt động tri thức sôi nổi và thoải mái trao đổi ý tưởng diễn ra bên trong các bức tường của học viện, người nước ngoài vẫn bị cấm vào trường nếu không có giấy phép đặc biệt, quy định này có từ thời sự hiện diện của trường này là một bí mật quốc gia. Giáo sư Trần đã tử tế đồng ý gặp ký giả của Financial Times ở một tiệm trà đối diện Di Hòa Viên, nhưng ông tỏ ra khó chịu khi được hỏi ông nghĩ tương lai của đảng sẽ ra sao.

Gs Lâm Triết bên ngoài Trường Đảng TƯ

Gs Lâm Triết bên ngoài Trường Đảng TƯ

“Những lý thuyết đó về một cuộc khủng hoảng Trung Quốc hay sự sụp đổ của Trung Quốc đều hoàn toàn của phương tây,” ông nói bằng một giọng rõ ràng là dè bỉu từ “phương tây”. “Càng có nhiều áp lực đối với văn hóa Trung Quốc và đảng Cộng sản, văn hóa Trung Quốc và đảng Cộng sản càng đoàn kết và gắn bó, và càng có khả năng đạt được những phép lạ.” Lâm Triết là một là giáo sư Trường Đảng Trung ương đã dành hai thập niên vừa qua nghiên cứu cách đảng xử lý tham nhũng trong hàng ngũ đảng viên. Ở cùng tiệm trà đó, bà vui vẻ tiên đoán rằng đảng sẽ kỷ niệm 100 năm cầm quyền vào năm 2049 và nói rằng đảng sẵn sàng, nói như tục ngữ Trung Quốc, cai trị trong “ngàn thu và vạn thế hệ” Nhưng cả hai giáo sư Lâm và Trần cũng cảnh báo rằng tính chính danh của đảng bị đe dọa do đại nạn tham nhũng đã lan đến mọi cấp trong hệ thống.
 
 
 Giáo sư Lâm nói: “Vấn đề này rất nguy hiểm, và như các vị lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc đã nói, nó có thể dẫn đến sự diệt vong của đảng và sự diệt vong của quốc gia.” Tính bền bỉ của chế độ độc tài Trong cuốn sách năm 1992 Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng (The End of History and the Last Man), Francis Fukuyama lập luận rằng nền dân chủ tự do phương tây đại diện cho hình thức cuối cùng của sự cai trị con người và điểm tận cùng của sự tiến hóa ý thức hệ. Lập luận của ông được củng cố bằng sự gia tăng đáng kể của dân chủ trong thế kỷ 20. Năm 1900, không có quốc gia nào trên thế giới có nền chính trị đa đảng mang tính cạnh tranh với hình thức bỏ phiếu phổ thông, và chỉ có khoảng 12% nhân loại sống trong một hình thức cai trị có thể được xem là có phần dân chủ, theo tổ chức phi chính phủ Freedom House ở Mỹ.
 
Đến đầu thế kỷ 21, 120 trong số 192 nước được quốc tế công nhận của thế giới được cai trị bằng các nền dân chủ có bầu cử, và 60% dân số thế giới sống trong một chế độ có lãnh tụ được bầu cử một cách dân chủ. Fukuyama, nay là nghiên cứu viên cao cấp ở Đại học Stanford University, nói ông tin rằng Trung Quốc sẽ đi theo con đường của hầu hết các nước khác, có thể thông qua quá trình tự do hóa dần dần mà rốt cuộc sẽ nhường đường cho dân chủ. Nhưng nếu điều đó không xảy ra, ông nói cũng có thể xảy ra những cuộc nổi dậy của dân chúng giống như đã thấy trong biến cố Mùa xuân Ả Rập. “Mô hình chính trị của Trung Quốc đơn giản là không bền vững do tầng lớp trung lưu ngày càng lớn mạnh – cũng giống như động lực đã thúc đẩy dân chủ ở khắp mọi nơi,” ông nói. “Thế hệ mới này ở Trung Quốc rất khác với thế hệ đã rời bỏ ruộng đất và thúc đẩy làn sóng công nghiệp hóa đầu tiên – họ có học vấn cao hơn nhiều và giàu hơn nhiều, và họ có những yêu sách mới, những yêu sách như không khí trong lành, nước sạch, thực phẩm an toàn, và những vấn đề khác không thể giải quyết được bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh.”
 
Các ước tính về quy mô của tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc khác nhau tùy theo định nghĩa được dùng, nhưng có một điều chắc chắn là tầng lớp này gần như không tồn tại cách đây hai thập niên và hiện nay đang tăng với tốc độ chóng mặt. Hãng tư vấn McKinsey cho biết tầng lớp được họ gọi là “tầng lớp thượng trung lưu” – bộ phận dân số có thu nhập hộ gia đình hàng năm từ 17.350 đô-la đến 37.500 đô-la – chiếm khoảng 14% số hộ gia đình thành thị ở Trung Quốc hồi năm ngoái, nhưng sẽ chiếm khoảng 54% số hộ gia đình trong chưa đầy một thập niên nữa. Trung Quốc thường được dùng làm bằng chứng phản bác lý thuyết của Fukuyama, qua đó giới phê bình cho rằng quá trình tái đổi mới liên tục của đảng có khả năng phản ứng trước những nhu cầu và yêu sách của công dân nhanh nhạy hơn nhiều so với các hệ thống độc tài truyền thống.
 
Chỉ mới cách đây vài năm, David Shambaugh, giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington University và là một chuyên gia hàng đầu về hệ thống chính trị Trung Quốc, vẫn còn ủng hộ mạnh mẽ quan điểm này. Nhưng ông đã thay đổi quan điểm và nay tin rằng đảng đang ở trong trạng thái suy tàn giống như thời kỳ hấp hối của các triều đại trong lịch sử.
 
 Các dấu hiệu gồm có một ý thức hệ nhà nước rỗng tuếch mà xã hội không tin nhưng giả vờ tuân thủ cho có lệ, nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng, việc nhà nước không cung cấp cho dân chúng đủ phúc lợi xã hội và tâm trạng người dân đâu đâu cũng cảm thấy bất an và thất vọng. Những dấu hiệu khác bao gồm tình trạng bất ổn xã hội và sắc tộc ngày càng tăng, sự chia rẽ bè phái trong giới chóp bu, nạn đánh thuế quá cao với phần lớn nguồn thu rơi vào túi quan chức, tình trạng bất bình đẳng thu nhập trầm trọng và ngày càng tệ hại hơn, và không có chế độ pháp trị đáng tin cậy. Shambaugh nói rằng một chỉ số rất đáng thuyết phục cho thấy người dân chẳng tin tưởng vào chế độ là số người giàu Trung Quốc có tài sản và nhà ở nước ngoài, tài khoản ngân hàng hải ngoại và có con cái du học ở các trường đại học phương tây. “Những người này sẵn sàng tháo chạy trong tích tắc, ngay sau khi hệ thống chính trị bước vào thế tàn cuộc – nhưng họ vẫn ở lại Trung Quốc để bòn rút đến từng đồng nhân dân tệ cuối cùng chừng nào còn làm được cho đến thời điểm đó,” ông nói. “Hành vi phòng thân của họ bộc lộ rất rõ tính mỏng manh của nhà nước đảng trị ở Trung Quốc hiện nay.”
 
Xác ướp trong quan tài pha lê Treo ngay trên cổng Thiên An ở lối vào phía nam của Tử Cấm Thành là một bức chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông nhìn từ quảng trường Thiên An Môn sang cái lăng uy nghi ở đối diện, nơi đặt xác ướp của ông quấn trong một lá cờ cộng sản. Mỗi buổi sáng trong tuần, trừ Thứ Hai, những hàng dài du khách Trung Quốc xếp rồng rắn quanh quảng trường để đợi đến dịp nhìn vị đại lãnh tụ nằm trong cái quách bằng pha lê.
 
 
Cách đây một thập niên, ta thường chứng kiến những người hành hương xúc động òa khóc hu hu và ngất xỉu quỳ gối khi thấy “vị hoàng đế đỏ” quá cố của Trung Quốc. Nhưng vào một hôm mới đây, cảm xúc chủ đạo của các khán giả dường như là thờ ơ hoặc hơi thất vọng. “Tôi phải xếp hàng đợi cả tiếng đồng hồ vì cái này à?” một người đàn ông trung niên nói với giọng nặng địa phương. “Không chừng đó chỉ là cái xác bằng sáp; thật phí thời gian.” Sự thay đổi khó thấy này về thái độ [của dân chúng] trong thập niên vừa qua thể hiện một biến đổi sâu sắc hơn trong xã hội Trung Quốc rất khó lượng hóa nhưng ngày càng rõ rệt.
 
Perry Link, giáo sư ở Đại California tại Riverside và là một trong những chuyên gia phương tây về Trung Quốc được tôn trọng nhất, nói: “Nền tảng ý thức hệ của đảng quả thực rất trống rỗng. Ngày nay người ta vào đảng chỉ để tạo quan hệ và tiến thân chứ không vì bất cứ lý tưởng xã hội chủ nghĩa nào cả.” Có lẽ nhân tố kích thích quan trọng nhất dẫn đến tâm trạng hoài nghi và chất vấn gia tăng về quyền lực [của đảng] là sự trỗi dậy của thông tin liên lạc đại chúng qua internet. Chế độ kiểm duyệt trực tuyến của Trung Quốc là một trong những chế độ nghiêm ngặt nhất thế giới, với Twitter, Facebook, YouTube và vô số trang mạng và dịch vụ trực tuyến khác bị chặn bị đang lo sợ rằng những trang mạng và dịch vụ này có thể được dùng để tổ chức hoạt động đối kháng chính trị. Nhưng sự bùng nổ các trang mạng và dịch vụ nội địa do chính phủ kiểm soát, ví dụ như mạng Vi Bác tương tự như Twitter, vẫn giúp cho người dân phần nào né tránh tầm kiểm soát dư luận của đảng theo cách thức trước đây không thể làm được.
 
 Khi nền kinh tế Trung Quốc chậm lại và người dân ngày càng phẫn nộ về biết bao vấn đề xuất phát từ việc không được tham gia vào hoạt động chính trị, chính sự mất kiểm soát về tư tưởng, ý tưởng và thông điệp này là điều khiến đảng vô cùng lo ngại.

Giáo sư Thẩm Chí Hoa

Giáo sư Thẩm Chí Hoa

“Bảy điều cấm bàn” Thẩm Chí Hoa là giáo sư ở Đại học Sư phạm Hoa Đông chuyên về Liên Xô và có ba mẹ là sĩ quan Quân Giải phóng Nhân dân từng sát cánh cùng Mao Trạch Đông trong cuộc cách mạng. Hồi đầu thập niên 1980 ông ở tù hai năm sau khi bị buộc tội oan làm gián điệp cho CIA. Hồi tháng 9/2009, giáo sư Thẩm nằm trong số ít học giả tín cẩn được cựu chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân triệu tập để thảo luận sự sụp đổ của Liên Xô. “Gorbachev đã phản bội cách mạng,” Giang Trạch Dân nói với nhóm học giả này khi ông yêu cầu họ xác định những nhân tố cụ thể dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Theo giáo sư Thẩm, nhận định của Giang Trạch Dân là quan điểm chính thống được chấp nhận trong giới lãnh đạo Trung Quốc trong đó có chủ tịch hiện nay Tập Cận Bình. Trong một bài phát biểu với các đảng viên ngay sau khi ông được chọn làm tổng bí thư và chủ tịch quân ủy trung ương hồi năm ngoái, Tập Cận Bình nói rằng đế chế Liên Xô sụp đổ “vì không có ai đủ dũng khí đứng lên kháng cự”.
 
Chuyên gia Shambaugh của Đại học George Washington, nói: “Tôi có nhấn mạnh cũng không thừa là giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục sống trong cái bóng Liên Xô – họ hiểu rất rõ các cải cách mà Gorbachev thực hiện và tuyệt đối không chịu đi theo con đường đó.” Việc Tập Cận Bình thể hiện thái độ mạnh mẽ phù hợp với lập trường dứt khoát hơn mà ông bày tỏ trên trường quốc tế khi Trung Quốc tiếp tục vào vai trò “siêu cường quốc thứ hai” của thế giới. Nhưng trong khi chính quyền mới giễu võ dương oai ở nước ngoài, đáng chú ý nhất là những tranh chấp lãnh thổ âm ỉ với các nước láng giềng ở phía đông, nam và tây, có vẻ nghịch lý là chính quyền này càng lúc càng lo lắng và bất an ngay trong nước. Giáo sư Perry Link nói: “Trung Quốc có sức mạnh về quân sự, ngoại giao và kinh tế nhiều hơn so với trước đây và hiện nay Trung Quốc có thể mạnh dạn bảo các nước như Vương quốc Anh và Mỹ tránh ra, chứ xưa kia không dám.
 
Nhưng dù họ có được sức mạnh mới như vậy trong đối ngoại, dường như trong đối nội họ lại mỏng manh hơn nhiều, lo ngại nhiều hơn về việc họ còn trụ được bao lâu trên nắp vạc dầu đang sôi sùng sục này.” Kể từ khi lên ngôi, Tập Cận Bình đã chỉ đạo một loạt các cuộc đàn áp nặng tay đối với giới bất đồng, tự do ngôn luận, giới ly khai sắc tộc và xã hội dân sự, và không hề bộc lộ dấu hiệu nào cho thấy ông là nhà cải cách chính trị ngấm ngầm như một số người đã hy vọng. “Văn kiện số chín”, một văn bản bí mật phân phát cho các cán bộ hồi tháng Tư và bị rò rỉ qua các phương tiện truyền thông tiếng Trung ở nước ngoài, cho thấy ban lãnh đạo mới lo ngại ra sao về những mối đe dọa được cảm nhận về sự cai trị của đảng.
 
Văn kiện này viết: “Các thế lực thù địch phương tây và các thành phần bất đồng trong nước liên tục xâm nhập vào lĩnh vực ý thức hệ. Để giữ gìn sự nắm quyền của đảng, chúng ta nên chú ý đến những cách suy nghĩ, lập luận và hành động sai lầm.” Theo văn kiện này, đảng đang đấu tranh “khốc liệt” chống lại bảy mối đe dọa nghiêm trọng mà hiện nay các giới học thuật Trung Quốc gọi là “bảy điều cấm bàn”. Đứng đầu trong danh sách này là “nền dân chủ lập hiến phương tây”, tiếp theo là những điều cấm kỵ như cổ xúy nhân quyền, hệ thống tư pháp độc lập, sự độc lập của báo chí, và việc phê phán quá khứ của đảng. Giáo sư Thẩm Chí Hoa nói: “Nhiều người vô cùng thất vọng về những lời nói và hành động [của Tập Cận Bình].
 
Nhưng có một số người biện hộ cho ông và nói rằng sau khi củng cố quyền lực của mình và ổn định tình hình chính trị, ông sẽ tiến hành cải cách.” Theo cách lập luận này, thái độ dao động thiên về độc tài này của Tập Cận Bình chỉ mang tính chiến thuật chứ không phải chiến lược, một cách để vận động sự ủng hộ của các đảng viên trung kiên để chuẩn bị cho nghị trình cải cách gian nan trước mắt. “Các lý giải bi quan hơn, và thật tình thực tế hơn, là Tập Cận Bình chẳng có ý tưởng gì mới mẻ nên ông chỉ trích dẫn Mao Trạch Đông và cố bám víu quyền lực,” một nhà cải cách thuộc hàng “thái tử đảng” vốn là con trai của một lãnh tụ cấp cao Trung Quốc trước đây, người này hiểu Tập Cận Bình rất rõ nhưng yêu cầu không nêu tên vì sợ hậu quả chính trị. “Nếu đúng như vậy, thì Trung Quốc chẳng có hy vọng gì, và rốt cuộc nỗi phẫn nộ trong xã hội sẽ bùng nổ thành một cuộc nổi dậy của dân chúng.” Đã hết phép màu?
 
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cách định hướng thị trường và bắt đầu mở cửa Trung Quốc vươn ra thế giới, nền kinh tế nước này đã tăng trưởng với tỉ lệ trung bình 10% mỗi năm. Thành tích tuyệt vời này đã đưa hàng trăm triệu người dân ra khỏi cảnh đói nghèo và khiến một số người nhận định rằng “chủ nghĩa Lenin thị trường” của Trung Quốc đã thách đố cái lý thuyết cho rằng các xã hội sẽ dân chủ hóa khi giàu lên. Nhưng như Lưu Vũ, phó giáo sư chính trị học tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, và Trần Định Định ở Đại học Macau, viết trong tạp chí The Washington Quarterly hồi năm ngoái, “những ai theo thuyết ‘Trung Quốc là ngoại lệ’ đã phớt lờ rằng hiện nay còn quá sớm nên chưa thể nói liệu Trung Quốc chứng minh hay bác bỏ lý thuyết hiện đại hóa.”
 
GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là khoảng 9.200 đô-la tính theo ngang bằng sức mua trong năm 2012, nhưng theo Lưu Vũ và Trần Định Định, con số này vẫn chưa đạt đến mức khởi đầu của những nước có bối cảnh văn hóa và lịch sử tương tự khi họ chuyển tiếp sang nền dân chủ. Theo Lưu Vũ và Trần Định Định, năm 1988, Hàn Quốc và Đài Loan đang dân chủ hóa có GDP bình quân đầu người tính theo ngang bằng sức mua lần lượt là 12.221 đô-la và 14.584 đô-la (theo mức giá 2010). Các mức của Liên Xô và Hungary năm 1989, khi họ bắt đầu quá trình chuyển tiếp chính trị của họ, lần lượt là 16.976 đô-la và 11.257 đô-la (theo mức giá 2010).
 
Những con số này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế nhanh liên tục ở Trung Quốc sẽ đẩy đất nước này đến đỉnh điểm chuyển biến chính trị chỉ trong vài năm nữa. Theo cách lập luận này, nguyên nhân chủ yếu mang lại tính chính danh cho đảng kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa Mao – khả năng của đảng trong việc tạo ra tăng trưởng nhanh và nâng cao mức sống – cũng chính là điều rốt cuộc sẽ khiến đảng mất quyền kiểm soát chính trị tuyệt đối.
 
Nhưng hiện nay có nhiều dấu hiệu rõ rệt cho thấy mô hình kinh tế thiên về đầu tư, định hướng xuất khẩu, do nhà nước nắm vai trò chủ đạo của Trung Quốc đang hết hơi và tốc độ tăng trưởng có thể giảm mạnh hơn so với kỳ vọng của của Bắc Kinh. Tỉ lệ tăng trưởng danh nghĩa so sánh cùng kỳ hàng năm của Trung Quốc đã giảm từ 17% trong quý tư 2011 xuống còn khoảng 8% trong quý hai năm nay, và tỉ lệ tăng trưởng năm ngoái là mức thấp nhất trong 13 năm. Hầu hết các nhà kinh tế học dự đoán rằng tốc độ này sẽ ở mức vừa phải trong vài năm tới. Xét theo hầu hết các số đo, Trung Cộng hiện nay là một trong những xã hội bất bình đẳng nhất thế giới, với hầu hết của cải tập trung trong tay một nhóm nhỏ chóp bu có quan hệ chính trị.
 
Nếu bước tăng trưởng chậm hiện nay chuyển thành một cuộc khủng hoảng kinh tế hoặc gây thất nghiệp lan tràn, hầu hết các nhà phân tích tin rằng chẳng mấy chốc chính quyền sẽ phải đương đầu với cuộc nổi dậy của dân chúng dưới một hình thức nào đó. Mao Vu Thức, nhà kinh tế học 84 tuổi được xem là cây đại thụ của kinh tế học vĩ mô Trung Quốc hiện đại, nói: “Trong hai thế kỷ qua, 30 năm gần đây nhất là thời kỳ kéo dài duy nhất không có chiến tranh, nạn đói hay thanh trừng đại trà, một thời kỳ mà đời sống của mọi người ngày càng tốt đẹp hơn. Tính chính danh của chế độ chủ yếu xuất phát từ thành công của cải cách kinh tế nhưng vấn đề lớn là các kỳ vọng hiện nay ở mức quá cao.”

Nhà kinh tế học Mao Vu Thức

Nhà kinh tế học Mao Vu Thức

Nhà kinh tế học lão thành này đã bị thanh trừng nhiều lần trong thời kỳ Mao Trạch Đông. Trong 20 năm, ông nhiều lần bị bắt đi lao động khổ sai ở nông thôn, bị đánh đập và sỉ nhục. Sau thời gian cải tạo chính trị, năm 1993 ông thành lập  Viện Thiên Tắc (Unirule Institute), một tổ chức nghiên cứu kinh tế độc lập, và ông vẫn còn có ảnh hưởng lớn đối với những nhà cải cách trong đảng và chính quyền. Mao Vu Thức tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ gặp một cuộc khủng hoảng tài chính “không thể tránh khỏi” trong vòng từ một đến ba năm nữa do tích lũy nợ xấu quá nhiều và bong bóng bất động sản khổng lồ, nhưng ông nghĩ chính điều này lại có thể đẩy đất nước đến nền dân chủ. Ông nói: “Tôi nghĩ một cuộc khủng hoảng tài chính thực sự có thể tốt cho Trung Quốc vì nó sẽ buộc chính phủ thực hiện các cải cách kinh tế và chính trị.
 
Đó là kịch bản lạc quan nhất, nhưng kịch bản xấu nhất sẽ là một cuộc nổi dậy bạo lực, tiếp theo là một thời gian dài biến động và suy tàn kinh tế, như ta thấy ở Ai cập.” Ví dụ tiêu cực Ai Cập hiện nay thường được các nhà phân tích chính trị của cả Trung Quốc lẫn phương tây viện dẫn. Giống như nhà cựu độc tài Ai Cập Hosni Mubarak, đảng cộng sản xưa nay đã rất thành công trong việc đập tan bất cứ lực lượng có tổ chức nào trong xã hội trước khi nó có thể bén rễ. Giáo sư Perry Link nói: “Hệ thống Trung Quốc hiện nay nhất định sẽ sụp đổ vào một thời điểm nào đó – có thể là mấy tháng, mấy năm hay mấy thập niên, nhưng khi nó sụp đổ hẳn nhiên ai ai cũng sẽ nói là chuyện đó đã chắc chắn xảy ra. Câu hỏi thực sự làm tôi lo là những gì diễn ra sau đó.
 
 Đảng đã xóa sổ bất cứ nhóm nào đảng không kiểm soát được hoặc không có cùng thế giới quan với đảng, và sẽ không còn lại gì để thế chỗ cho đảng.” Lời nguyền Thế vận hội Lịch sử có một trùng hợp lý thú là không có chế độ độc tài nào ngoại từ chế độ của Mexico tồn tại hơn một thập niên sau khi đăng cai Thế vận hội – này nhé, thử nhớ lại Berlin năm 1936, Moscow năm 1980, Sarajevo năm 1984 và Seoul năm 1988. Năm năm nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn xem Thế vận hội Bắc Kinh 2008 là “tiệc ra mắt” trên trường quốc tế, có thể không chỉ thách thức lời nguyền Thế vận hội này mà còn phá kỷ lục tuổi thọ của Liên Xô và góp phần bác bỏ thuyết dân chủ hóa. Nhưng ngay cả những người ủng hộ đảng nhiệt thành nhất cũng thừa nhận rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không thể cai trị mãi mà không đáp ứng các yêu sách được tham gia hoạt động chính trị của một tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo quan tâm nhiều hơn về không khí trong lành, nước sạch, chính phủ trong sạch và thực phẩm an toàn hơn là tỉ lệ tăng trưởng GDP. Sau ba thập niên phát triển kinh tế xuất sắc, mô hình tăng trưởng của Trung Quốc đang bắt đầu hụt hơi và nếu phải đối mặt với sự sút giảm đột ngột, đảng sẽ đánh mất nguyên nhân đáng thuyết phục nhất mang lại tính chính danh của đảng.
 
Nếu chủ tịch mới của Trung Quốc, Tập Cận Bình, nắm thế chủ động và khởi xướng các cải cách chính trị có ý nghĩa, thì Trung Quốc có thể noi gương Đài Loan và Hàn Quốc vào cuối thập niên 1980 và 1990, và dàn xếp một quá trình chuyển tiếp êm thắm sang một hệ thống đa nguyên và dân chủ hơn. Tại ngôi trường rợp bóng cây của Trường Đảng Trung ương, một số giáo sư hiện đã nghiên cứu làm sao để đạt được kỳ tích như vậy. Nhưng đến nay Tập Cận Bình chưa tỏ ý muốn làm gì ngoài việc siết chặt sự kiểm soát quyền lực của đảng và trừng trị những ai nghi vấn chế độ cai trị độc đảng vĩnh viễn. Nhiều người trong và ngoài đảng lo ngại rằng do cố gắng trấn áp nỗi bất bình ngày càng tăng của dân chúng bằng những công cụ đàn áp cũ, một ngày nào đó chính quyền mới có thể tỉnh dậy và thấy quần chúng xuống đường biểu tình. Giáo sư Thẩm Chí Hoa nói: “Tập Cận Bình và chính quyền này tạo ra cơ hội cuối cùng để Trung Quốc thực hiện sự chuyển biến xã hội [sang một hệ thống chính trị tự do hơn] xuất phát từ bên trong đảng và từ bên trong hệ thống. Nếu không có những cải cách này, chắc chắn sẽ có sự bùng nổ xã hội.”

 

Nguồn: Jamil Anderlini, How long can the Communist party survive in China?, Financial Times Magazine, 20/9/2013.

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch


 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link