Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, January 2, 2014

TỘI ÁC VÕ NGUYÊN GIÁP TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC MIỀN NAM


Viện trợ nước ngoài trong Chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

TỘI ÁC VÕ NGUYÊN GIÁP TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC MIỀN NAM: SINH BẮC TỬ NAM


Nguồn dẫn dùng trong bài này hay đoạn này có thể không đáp ứng được tiêu chuẩn về nguồn đáng tin cậycủa Wikipedia.
Bạn có thể giúp kiểm tra về độ đáng tin cậy của nguồn dẫn. Xem trang thảo luận bài để biết thêm chi tiết.
Chiến tranh Việt Nam là một trong những cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại cho tới thời gian đó.[1]. Các cường quốc, do nhiều mục tiêu của từng thời kỳ khác nhau, đã viện trợ cho các bên trong Chiến tranh Việt Nam về đủ mọi mặt kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, giáo dục... với đủ các mức độ khác nhau. Nhìn chung viện trợ ngày càng tăng theo quy mô chiến tranh.
Viện trợ nước ngoài đã có ảnh hưởng to lớn đến tình hình chiến tranh và đời sống của nhân dân hai miền Việt Nam, không những viện trợ vật chất mà các bên còn viện trợ nhân lực, chuyên gia và còn đưa quân lính tham chiến trực tiếp (với trường hợp của Hoa Kỳ). Viện trợ nước ngoài thay đổi theo từng thời kỳ và có tầm ảnh hưởng quyết định đến chiến tranh, hình thái chiến tranh, xây dựng và phát triển nền kinh tế của hai miền.
Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa cũng như trực tiếp hoạch định các chiến lược, đem quân tới Việt Nam tham chiến trực tiếp. Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được sự giúp đỡ vật chất từ Trung QuốcLiên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng điều khác biệt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa duy trì tính độc lập khi không chấp nhận cho các nước này đem quân tới Việt Nam tham chiến hoặc can thiệp vào đường lối chiến lược của mình.[2]

Mục lục

  [ẩn

Viện trợ kinh tế[sửa]

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa]

Viện trợ của khối Xã hội chủ nghĩa cho VNDCCH 1970-74 (ước tính của Hoa Kỳ)[3]
Năm
Viện trợ kinh tế
(triệu USD)
1970
675-695
1971
695-720
1972
425-440
1973
575-605
1974
1.150-1.190
1970-74
3.520-3.650
Qua 20 năm, Liên XôTrung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 6,8 tỉ USD), trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự, còn lại là viện trợ kinh tế.[4]

Việt Nam Cộng hòa[sửa]

Hỗ trợ tài chính của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa chính là các khoản viện trợ kinh tế bao gồm viện trợ thương mại(nhằm hỗ trợ nhập khẩu và hỗ trợ ngân sách nhà nước), viện trợ nông phẩm (dưới hình thưc hiện vật là các lương thực và thực phẩm), viện trợ theo dự án (có thể bằng tiền hoặc hiện vật cho từng dự án cụ thể trong các lĩnh vực hành chính, xã hội, kinh tế-văn hóa). Tổng viện trợ kinh tế của Mỹ qua 20 năm là hơn 10 tỷ USD, chưa kể đến chi tiêu tại chỗ của lính Mỹ tại Việt Nam cũng lên tới vài trăm triệu USD mỗi năm.
Nếu xét theo tính chất cho vay hoặc cho không, thì phần lớn viện trợ kinh tế của Mỹ cho VNCH là viện trợ cho không (không hoàn lại), viện trợ cho vay trong 20 năm từ 1955 đến 1975 chỉ chưa đến 200 triệu USD. Các khoản cho vay lớn của Mỹ giúp VNCH đóng tiền gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (4 triệu USD năm 1956), đổi mới hệ thống viễn thông (6,8 triệu USD năm 1958-1959), phát triển đội tàu hỏa (9,7 triệu USD năm 1959, 9,7 triệu USD năm 1961), mở rộng hệ thống dẫn nước từ sông Đồng Nai về Sài Gòn (17,5 triệu USD năm 1960), xây dựng một nhà máy nhiệt điện ở Thủ Đức (12,7 triệu USD năm 1961), hỗ trợ chương trình Người cày có ruộng (5 triệu USD năm 1970).[5] Cho đến khi sụp đổ, Việt Nam Cộng hòa còn nợ Hoa Kỳ 145 triệu USD.[6]
Viện trợ kinh tế của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)
Năm
Tổng
viện trợ
(Triệu USD)
Bình quân
đầu người
(USD)
Bình quân
đầu người
(Đồng)
Năm
Tổng
viện trợ
(Triệu USD)
Bình quân
đầu người
(USD)
Bình quân
đầu người
(Đồng)
1955
322,4
28,03
981,22
1966
793,9
47,47
4.936,95
1956
210,0
16,33
571,54
1967
666,6
38,85
4.195,33
1957
282,2
21,38
748,43
1968
651,1
36,89
4.352,96
1958
189,0
14,04
491,35
1969
560,5
30,97
3.654,09
1959
207,4
15,01
525,44
1970
655,4
33,63
3.968,45
1960
181,8
12,92
542,17
1971
778,0
38,71
4.567,36
1961
152,0
10,45
365,71
1972
587,7
28,46
10.131,78
1962
156,0
10,45
627,05
1973
531,2
25,06
12.377,96
1963
195,9
12,74
764,39
1974
657,4
30,16
19.088,72
1964
230,6
14,62
876,97
1975
240,9
10,43
--
1965
290,3
17,81
1.068,65
Ghi chú: Mức viện trợ bình quân đầu người được tính bằng cách lấy tổng viện trợ chia cho dân số VNCH cùng năm. Mức viện trợ tính bằng tiền Đồng tính bằng cách lấy mức viện trợ tính bằng Dollar Mỹ nhân với tỷ giá hối đoái chính thức giữa Đồng VNCH với Dollar.
Nguồn: Số liêu về tổng viện trợ lấy từ Dacy (1986), bảng 10.2, trang 200; Số liệu về dân số VNCH lấy từ Trần Văn Thọ chủ biên (2000), bảng 1.1, trang 238; Số liệu về tỷ giá hối đoái lấy từ Dacy (1986), bảng 9.5, trang 190.

Giáo dục và đào tạo[sửa]

Viện trợ quân sự[sửa]

Hầu như toàn bộ vũ khí, khí tài quân sự, quân trang, quân dụng dùng cho chiến tranh Việt Nam của cả hai bên đều do bên ngoài viện trợ.
Chủng loại     
Việt Nam Cộng hòa (còn lại đến 1975, chưa tính số bị phá hủy trước đó)[7]
từ Hoa Kỳ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[8]
từ Trung QuốcLiên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (tổng cộng cả giai đoạn 1960-1975)
Súng bộ binh
1.900.000
3.608.863
1.200
458 (năm 1975 còn lại khoảng 150 chiếc)
600
Không có số liệu, chừng vài chục
2.074
2.210 (1.249 xe tăng và 961 xe thiết giáp, năm 1975 còn lại 570 chiếc)
Tên lửa SA-2
Không có trang bị
23
14.900
Chừng vài ngàn
47.000
Không có trang bị
Pháo các loại
1.532 (chỉ tính đại bác cỡ 105mm trở lên)
6.271 (2.428 pháo mặt đất và 3.843 pháo cao xạ)
Xe cơ giới các loại
56.000
16.116
Máy thông tin
50.000 (vô tuyến)
70.000 (hữu tuyến)
Không có số liệu
Bệ phóng rốc két
Không có trang bị
1.357

Việt Nam Cộng hòa[sửa]

Viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa[9]:
Giai đoạn
Trị giá (triệu đô la)
Tài khóa 1972-1973
1.614
Tài khóa 1973-1974
1.026
Tài khóa 1974-1975
700
Theo nguồn do Việt Nam thống kê thì tổng viện trợ cho VNCH từ 1954 đến 1975 là trên 26 tỷ USD, trong đó có 16 tỷ USD viện trợ quân sự, 6 tỷ viện trợ khoa học-kỹ thuật, 1,6 tỷ viện trợ nông phẩm, 2,4 tỷ dưới hình thức đổi tiền.[10] Từ khi Mỹ rút lui thì viện trợ cũng giảm, từ 1.614 triệu USD năm 1972-1973 xuống 1.026 triệu USD năm 1973-1974 và 701 triệu USD năm 1974-1975 nên dù quân số tăng từ 700.000 lên hơn 1 triệu, quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn không mạnh lên là bao.[11]. Ngoài viện trợ chính thức còn phải kể đến chi tiêu tại chỗ của lính Mỹ, hàng năm đã đổ thêm cả tỷ USD vào miền Nam Việt Nam (trung bình mỗi lính Mỹ được trả 800 USD/tháng), gấp 2-3 lần tổng GDP của cả 8 triệu dân do VNCH kiểm soát[12].
Theo nguồn của Hoa Kỳ thì tổng viện trợ Quân sự cho VNCH từ 1955 đến 1975 là 16,762 tỉ USD, trong đó niên khóa 1972-1973 nhận được cao nhất là 3,349 tỉ USD[13] Tính tới năm 1973 khi quân Mĩ rút quân đã viện trợ 1 khối lượng khổng lồ vũ khí gồm hơn 1 triệu súng bộ binh, 46.000 xe tăng-xe thiết giápvà xe vận tải, hơn 1500 máy bay chiến đấu các loại[14]
Lưu ý số vũ khí và viện trợ trên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chiến phí của Mỹ ở Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Nó chưa bao gồm số vũ khí và chiến phí do quân đội Mỹ trực tiếp sử dụng trong giai đoạn tham chiến trực tiếp 1964-1973, mà theo thống kê là trên 141 tỷ USD chi phí trực tiếp, tương đương 686 tỷ USD theo thời giá 2008[15]. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính tổng chi tiêu cuối cùng của Mỹ cho cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD; gấp 3,8 lần chi phí của Mỹ trong thế chiến thứ nhất và chỉ đứng sau chi phí của Mỹ cho thế chiến thứ hai[15][16].

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa]

Tiền mặt[sửa]

Cho đến nay vẫn chưa có số liệu chính thức công bố số tiền mặt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ phía nhà nước Việt Nam, nhưng theo Nguyễn Nhật Hồng Trưởng bộ phận B29:[17]
"Toàn bộ tiền viện trợ và tiền giúp đỡ của quốc tế cho Việt Nam đánh Mỹ đều tập trung về một đầu mối là B29... Từ 1965 đến 1975, B29 đã tiếp nhận Sáu trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm ngàn đô la Mỹ (số tròn)(678.700.000 USD), trong đó hơn sáu trăm hai sáu triệu đô la là tiền viện trợ đặc biệt, hơn hai mươi bốn triệu đô la là tiền của các tổ chức và nhân dân quốc tế ủng hộ, gần 21 triệu đô la là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ ở nước ngoài, gần bảy triệu rưỡi đô la là lãi từ tiền dự trữ của chiến trường sau giải phóng...".

Hàng hóa[sửa]

Viện trợ của khối Xã hội chủ nghĩa cho VNDCCH (ước tính của Hoa Kỳ)[3]
Năm
Viện trợ quân sự
(triệu USD)
1970
205
1971
315
1972
750
1973
330
1974
400
1970-74
2.000
Qua 20 năm, Liên XôTrung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 7 tỉ USD, trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự).[4] Ngoài 1 số như máy bay, tên lửa chỉ dùng ở miền bắc còn lại đều chuyển vào miền Nam qua đường Trường Sơn.
Tài liệu của CIA giải mật của Hoa Kỳ thì đưa ra những con số ước tính trong biểu đồ. Còn theo thống kê của VNDCCH thì giá trị viện trợ quân sự của họ sau 1973 thấp hơn nhiều so với ước tính của Mỹ, bởi Trung Quốc đã dừng cấp viện trợ (theo thỏa thuận trong Thông cáo Thượng Hải với Mỹ). Trong 2 năm 1973-1974, tổng cộng họ nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự, trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), chỉ bằng 19% so với 2 năm 1971-1972.[18]
Để tăng cường năng lực hậu cần của mình, ngay từ năm 1957 VNDCCH đã tự tổ chức sản xuất vũ khí và phương tiện để giảm bớt phụ thuộc vào viện trợ. Trong 3 năm 1973 đến 1975, VNDCCH đã tự sản xuất được 3.409 tấn vũ khí đạn dược, 1.863 tấn phụ tùng xe, máy và 26.074 tấn quân trang, quân dụng khác.[19]
Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa (bao gồm Tiệp KhắcBa LanHungaryBulgariaRomaniaCHDC Đức,CHDCND Triều Tiên và Cuba) viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến 1975, qua từng giai đoạn như sau[8]:
Giai đoạn
Tổng số
(tấn)
Hàng hậu cần
(tấn)
Vũ khí, trang bị kỹ thuật
(tấn)
Liên Xô
(tấn)
Trung Quốc
(tấn)
Các nước khác
(tấn)
Giai đoạn 1955-1960
49.585
4.105
45.480
29.996
19.589

Giai đoạn 1960-1964
70.295
230
70.065
47.223
22.982
442
Giai đoạn 1965-1968
517.393
105.614
411.779
226.969
170.798
119.626
Giai đoạn 1969-1972
1.000.796
316.130
684.666
143.793
761.001
96.002
Giai đoạn 1973-1975
724.512
75.267
49.246
65.601
620.354
38.557
Tính theo số lượng
Phân loại
Đơn vị tính
Liên Xô
Trung Quốc
Các nước XHCN khác
Súng bộ binh
khẩu
439.198
2.227.677
942.988
Súng chống tăng
khẩu
5.630
43.584
16.412
Súng cối các loại
khẩu
1.076
24.134
2.759
Pháo hỏa tiễn
khẩu
1.877
290

Pháo mặt đất
khẩu
789
1.376
263
Pháo cao xạ
khẩu

3.229
614
Bộ điều khiển
bộ
647


Bệ phóng rốc két
chiếc
1.357


Đạn rốc két
quả
10.169


Tên lửa SA-2
hệ thống
23


Đạn tên lửa VT 50v
quả
8.686

Tên lửa Hồng Kỳ
e

1 trung đoàn

Tên lửa S125
e
2 trung đoàn


Đạn tên lửa K681
quả
480
480

Máy bay chiến đấu
chiếc
316
142

Tàu chiến hải quân
chiếc
52
30

Tàu vận tải hải quân
chiếc
21
127

Xe tăng các loại
chiếc
687
552
10
Xe vỏ thép
chiếc
601
360

Xe xích kéo pháo
chiếc
1.332
322
758
Xe chuyên dùng
chiếc
498
6.524
2.502
Phao cầu
bộ
12
15
13
Xe máy công trình
chiếc
100
3.430
650
Ống dẫn dầu
bộ
56
11
45
Thiết bị toàn bộ
bộ
37
36
3

Chú thích[sửa]

1.     ^ Michael Mc.Lear and Peter Arnete, Vietnam: The ten thousand day War, Thames Methuen, London, 1982.
2.     ^ Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam. Ilya V.Gaiduk. Nhà xuất bản Công an Nhân dân 1998. Chương XI: Kẻ chiến thắng duy nhất. Trích: Khôn khéo vận dụng giữa trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị... Các nhà lãnh đạo Mỹ không thể hiểu được tại sao Liên Xô, một nước đã viện trợ đủ thứ về kinh tế và quân sự cho Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại không thể sử dụng sự giúp đỡ này như là một động lực thuyết phục Hà Nội từ bỏ các kế hoạch đối với miền Nam của họ để rồi đồng ý đi tới một sự thương lượng.
3.     a b "Communist Military and Economic Aid to North Vietnam, 1970-1974". CIA declassified document, Jan 2005.
4.     a b Đặng Phong, 5 đường mòn Hồ Chí Minh, NXB Tri Thức tr 120
5.     ^ Đặng Phong (2004), trang 187-188.
6.     ^ “Vài hình ảnh về chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch nước”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập 23/06/2007, 06:08 (GMT+7).
7.     ^ Nguồn từ Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh- 28 Võ Văn Tần Q.3 Thành phố Hồ Chí Minh
8.     a b “Những nguồn chi viện lớn cho cách mạng Việt Nam”. Việt Nam Net. Truy cập 13/04/2005 15:38' (GMT+7).
9.     ^ Đại thắng Mùa Xuân 1975, NXB Thông tấn, Hà Nội 2005
10.   ^ Đại cương Lịch sử VN tập 3, (tác giả, NXB ?) tr 276
11.   ^ Đại cương Lịch sử VN tập 3 tr 256
13.   ^ Millitary Assistance-Department of Defense Property, trang 331
14.   ^ Phim tài liệu: Những hình ảnh chưa biết về CT Việt Nam-Tập 3: Bí mật con người, Năm ? Tác giả ?
17.   ^ “B29 - tổ chức tuyệt mật giữa Hà Nội”. Thanh Niên Online. Truy cập 22/10/2006, 23:46:00 (GMT+7).
18.   ^ Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
19.   ^ Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân.
Bài viết này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia bằng cách mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

 

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

Written by Giáo Già
Ngày 30 tháng 4 năm 2013

H,

Ðọc lại “Cổ Học Tinh Hoa” của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Giáo Già ghi nhận chuyện “Tăng Sâm Giết Người” có giá trị biểu tượng như sau: 
.

“Ông Tăng Sâm ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người ”. Bà mẹ nói : “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo:“Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi .

Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn”.


Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có Lời Bàn như sau:


“Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo, bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, và người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã có cùng một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến người ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra con rươi, trông con chó thành con cừu. Ðến như giữa chợ, làm gì có cọp! Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thế được mới cao. Một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận”.
Từ chuyện “Tăng Sâm Giết Người” Giáo Già nghĩ ngay đến xảo thuật tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam”, kết thúc 38 năm trước, tức ngày 30/4/1975, mà dư luận, từ Việt Nam đến quốc tế, đều bị đánh lừa là “Chống Mỹ Cứu Nước”.

Cho đến nay trò lừa này vẫn được chúng tiếp diễn, cho dầu sự thực đã được phơi bày đến độ trắng trợn. Xin đơn cử một thí dụ điển hình bằng chính chứng liệu do chúng công bố. Ðó là trên báo Tuổi Trẻ của chúng, ra ngày 18/04/2013, đăng bài “Công Bố Sách Lịch Sử Chống Mỹ Cứu Nước” như sau:

.

“Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) vừa được công bố chính thức tại TP.HCM vào sáng 17-4 trong buổi công bố do NXB Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật cùng với Ban Tuyên giáo trung ương, Thành ủy TP.HCM và Viện Lịch sử quân sự VN phối hợp tổ chức [Xem hình Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước trưng bày tại buổi công bố - Ảnh: L.Ðiền]. Ðây là bộ sách xuất phát từ bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) xuất bản từ năm 1990-1991 do Viện Lịch sử quân sự biên soạn, nhưng chủ yếu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân VN. Sau đó từ năm 1995-2012, Viện Lịch sử quân sự đã biên soạn bộ mới gồm chín tập, đã được NXB Chính Trị Quốc Gia lần này phổ biến rộng rãi trong cả nước”.

CSVN đâu có chống Mỹ cứu nước. Sáng ngày 30/4/1975 viên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt Phạm Xuân Thệ vào dinh Ðộc Lập thúc ép Ðại tướng Dương Văn Minh đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng đã phô bày trắng trợn thực tế xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt chớ có chống người Mỹ nào để cứu nước đâu. Chuyện chống Mỹ cứu nước chỉ là một trò lừa, lộng giã thành chơn, như nói chuyện Tăng Sâm giết người. Vậy mà cho tới nay Việt cộng vẫn tiếp tục lừa, lừa dư luận và lừa chính chúng, tiếp tục viết sách và in sách lừa đảo sự thật.

Ðể vạch mặt trò lừa đảo này, nhìn vào lịch sử cuộc chiến, với trận chiến khốc liệt kết thúc ngày 30/4/1975, nhìn vào từng diễn biến của từng sự việc hầu như ai cũng thấy, nhưng có điều rất đau lòng là không có mấy người chịu phơi bày sự thật cho dư luận thấy và biết rõ trò lừa vô cùng bỉ ổi và nguy hiểm này của Việt cộng.

Hôm nay, nhân mùa Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2013, Giáo Già xin nhắc lại một số điểm quan trọng cho thấy Mỹ không có “cướp nước” Việt Nam; vậy mà Việt cộng cứ buộc dân Việt Nam phải nghe theo chúng mà “chống Mỹ cứu nước”. Trong suốt mấy mươi năm qua chỉ có bọn cầm quyền Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam rồi cai trị cả nước bằng độc đảng độc tài, gây tang tóc quê hương và điêu linh dân tộc. Xin ghi lại một số điểm chánh:

1. Mỹ không hề xâm lược Việt Nam, hay rõ hơn là Miền Nam Việt Nam, như Việt cộng rêu rao; vì Mỹ đến Việt Nam không chiếm của Việt Nam một tất đất, một hải đảo nào. Họ cũng không cai trị Việt Nam bằng bất cứ một chánh quyền nào. Ngược lại họ chỉ giúp Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Hơn thế nữa, họ còn giúp Miền Nam phát triển kinh tế để trở thành vùng đất phồn vinh ngang hàng, có khi hơn, các quốc gia phồn vinh trong vùng Ðông Nam Á, như Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia...

2. Quân đội Mỹ có mặt ở Miền Nam Việt Nam trước hết là là để cố vấn quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ trong giai đoạn đầu. Khi Cộng sản Bắc Việt cho thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” ngày 20/12/1960 đâu có ai thấy bóng dáng quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Năm 1965 Mỹ mới bắt đầu đưa quân vào Miền Nam Việt Nam để giúp Miền Nam Việt Nam chống lại Cộng sản Bắc Việt; vì cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt ngày càng leo thang với số viện trợ quá dồi dào của Liên Sô, Trung cộng và khối Cộng sản quốc tế.

3. Chính Liên Sô, quốc gia chi viện nhiều nhứt cho Cộng sản Bắc Việt, trong một số tài liệu được giải mã, cũng nhìn nhận “Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945...” Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam trong vai trò nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á cho Cộng sản quốc tế. Chính Lê Duẫn, Bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng (CSVN), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

4. Hơn nữa, chính Trung cộng, qua cửa miệng Mao Trạch Ðông, muốn Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam để Tàu tràn xuống chiếm các vùng đất trù phú ở phía đông và nam Thái Bình Dương... nên việc “chống Mỹ cứu nước” không phải là cứu nước Việt Nam mà là mở rộng nước Tàu cộng, như mọi người đều biết là từ tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Ðiện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Ðông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.
Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ
5. Ðến khi sự có mặt ở Việt Nam không còn cần thiết nữa thì Mỹ cho thu xếp mọi chuyện tiến hành Hiệp định Paris, ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, để rút quân về nước [xem hình Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ bắt tay nhau sau lễ ký kết]. Vì chuyện riêng của đất nước mình Mỹ không muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh Việt cộng nữa; họ thu xếp rút quân về chớ có thua đâu mà mỉa mai là “tháo chạy” như lời tựa cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng; để bộ đội Việt cộng ở lại khắp các chiến trường; để chúng mau lẹ vị phạm hiệp ước chúng vừa ký kết, xua quân tràn qua vĩ tuyến thứ 17, tràn ngập các chiến trường, tiến hành mau lẹ các trận đánh ác liệt, hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Ðây cũng là cách Việt cộng Lê Ðức Thọ lừa đảo cả giải Nobel Hòa Bình thế giới, khiến họ đã trao giải “Nobel Hòa Bình” cho một tội phạm chiến tranh, để Việt Nam có một nền “hòa bình” khiến số người chết còn thê thảm hơn cả chiến tranh.

6. Ðiều cũng không được quên nữa là trong cuộc chiến bị Việt cộng gọi là “Chống Mỹ Cứu Nước” đó chúng đã dàn dựng quá nhiều chuyện để lên án quân đội Mỹ là “ác ôn” trong khi chẳng có một lần, cho dầu chỉ một lần, nói lên lòng nhân đạo của người quân nhân Mỹ như trong hình chụp đính kèm [xem hình].

Như vậy, chống Mỹ cứu nước chỉ là trò lừa của Cộng sản Bắc Việt để tiến hành cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, sau khi đã chiếm được một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến thứ 17 trở ra phía bắc, theo Hiệp định Genève năm 1954, với sự giúp đỡ tích cực của Trung cộng.

Do đó, danh xưng được dùng cho cuộc chiến không phải “Chống Mỹ Cứu Nước” mà là “Cuôc Chiến Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam Của Cộng Sản Bắc Việt”.

Cùng lúc với trò lừa đảo “Chống Mỹ Cứu Nước” Cộng sản Bắc Việt cũng lừa đảo chuyện “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam” mà chúng đã chuẩn bị ngay khi Hiệp định Genève năm 1954 vừa ráo mực, vì chúng chỉ đưa một số cán binh lộ diện tập kết ra Bắc, còn lại thì ém ở các địa phương Miền Nam, trà trộn trong dân. Ðồng thời chúng cũng hối hả cho tổ chức những cuộc hôn nhân, cho cán binh cưới vợ rồi để vợ ở lại Miền Nam, làm cơ sở cho cán binh trở lại hoạt động, khi thời cơ cho phép; đó là chưa kể những người phụ nữ bất hạnh đó sinh cho chúng những đứa con làm gạch nối cho những hoạt động của chúng về sau, gây nên trùng trùng ngang trái trong đời sống của người dân Miền Nam, khi chúng tiến hành cuộc chiến xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trước khi cán binh Việt cộng lên đường tập kết, Việt cộng cũng cho chôn giấu võ khí ở một số nơi chúng dự trù làm căn cứ cho cuộc chiến mà chúng chuẩn bị trước.

Ðể che giấu mặt thật xâm lăng Miền Nam Việt Nam, Việt cộng dựng lên chiêu bài “giải phóng” để lừa đảo dư luận. Ngày 20/12/1960 chúng cho thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nó được chính thức ra đời theo yêu cầu chiến tranh của Ðảng Lao động Việt Nam (CSVN), vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.

Từ đó, dưới sự lừa đảo tinh vi, cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, qua chiêu bài “giải phóng”, được tiến hành ngày càng mãnh liệt hơn, với số bộ đội xâm nhập ngày càng đông hơn, vũ khí được trang bị tối tân hơn và sự tàn bạo của cán binh nhắm vào các viên chức Việt Nam Cộng Hòa và người dân có liên quan đến chánh quyền cũng dã man hơn... để cuối cùng kết thúc bằng sự lừa đảo thô bạo của Cộng sản Bắc Việt khi tiến quân vào Sài Gòn. Nó thể hiện qua thái độ xấc xược của tên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt trực diện Ðại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở dinh Ðộc Lập, sáng ngày 30/4/1975, chờ bàn giao chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa cho chúng. Hắn thô bạo nói:

“Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” [Trích Hồi ký của cựu Ðại tá Dương Hiếu Nghĩa, thuật lại theo lời kể của cựu Trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rễ của Ngô công Ðức, cũng là bạn thân của cựu Ðại tá Nghĩa) người cũng có mặt tại Dinh Ðộc Lập từ sáng ngày 30/4... Xem hình Ðại tướng Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng do Việt cộng soạn ở đài phát thanh Sài Gòn] 
Cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam hoàn tất. Vai trò Giải phóng Miền Nam Việt Nam coi như đã xong. Tưởng như mọi chuyện đều tốt đẹp. Nhưng nỗi kinh hoàng đã thật sự trùm phủ toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Nó được ghi lại qua bài viết mang tên “GIẢI PHÓNG” NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT” của Tiến Sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. Xin trích nguyên văn:
“Còn nhớ ngày 30 táng 4 năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ kẹp” nữa... Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi “giải phóng”. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn “ngụy quyền ác ôn”!? bị sự trừng phạt bởi chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi... Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, “ngụy quyền ác ôn” của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên “ngụy quyền” ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước... Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã “đả thương” được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.!? Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó...?? [xem hình Quân đội Bắc Việt áp giải tù binh miền Nam, tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO]

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang “ánh sáng văn hóa” vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì!?

. Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Ðà Nẵng... rồi Nha Trang, Sài Gòn, rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá, chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu.

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Ðồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Ðồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên “tư sản” Thiên Lợi... Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là toilet tự xả nước, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ là không có, chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm “cấp nhà nước” của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”...

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên “can tội trộm cắp” phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã...!?. Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ...”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam”... Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó... Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân... mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội...

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà... “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng... (từ ngân hàng chế độ Saìgòn Miền Nam để lại) Nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội XHCN miền Bắc, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi... Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với nhân dân miền Bắc là cảnh nhà nhà côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường miền Nam để đi “giải phóng” và không bao giờ trở về nữa... “Giải phóng” với dân miền Nam cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ... mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc nơi mình sinh ra!

Rồi đến “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho “muôn quan” địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh, nỗi hãi hùng của “muôn dân”, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê thị Thanh.

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không... Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Ðồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. 


Bên cạnh nỗi kinh hoàng của Tiến sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, mọi người ai cũng thấy, sau năm 1975, không lâu sau khi người Miền Bắc tràn vào Miền Nam, vấn nạn “giải phóng” xoay ngược chiều mau lẹ, khiến dư luận đặt ngay câu hỏi “ai giải phóng ai?” [xem biếm họa của Babui trích từ DCV Online]

Thật vậy, buổi đầu, người Miền Nam bị những kẻ cao ngạo Miền Bắc tự cho là “chiến thắng” ép sống theo phong cách của người Miền Bắc, từ cách ăn mặc cho đến ngôn ngữ và lối cư xử hằng ngày... Nhưng, trừ bọn “cách mạng 30”, và những kẻ theo đuôi, chẳng có mấy ai theo.

Trong khi đó, trái lại, hầu hết người Miền Bắc có dịp vào Nam, hay có dịp tiếp xúc với người Miền Nam ra Bắc, họ đều học theo phong cách của người Miền Nam, cái phong cách mà trong mấy ngày đầu 30 tháng 4 năm 1975 chúng cho là “đồi trụy”. Họ ăn mặc theo kiểu cách của người Miền Nam, đua đòi theo thời trang của người Miền Nam, say mê nghe “nhạc vàng”, tìm đọc sách của các tác giả Miền Nam mà chúng từng cho là “đồi trụy”, từng bị chúng kiểm kê, tịch thâu, đốt bỏ, lấy làm giấy gói đồ... Ngay cả nam cán bộ lãnh đạo hàng đầu của chúng cũng đua đòi mang giày da, thắt cà vạt..., nữ cán bộ mặc áo dài may đúng thời trang... trang điểm phấn son... đến độ coi như tất cả đã bị Miền Nam đồng hóa... khiến kẻ bại nghiểm nhiên trở thành người thắng trên đủ mọi lãnh vực...
Bìa cuốn DVD Đại Họa Mất Nước
Xâm lăng được Miền Nam Việt Nam rồi Cộng sản Bắc Việt không “giải phóng” được Miền Nam mà chúng đã lần hồi được người Miền Nam “giải phóng” khỏi cái lạc hậu mấy mươi năm trước, để chúng hãnh diện đua đòi sống theo phong cách Miền Nam. Nhưng, bất hạnh thay, cái coi như “chiến thắng” của chúng không phải để phát triển và xây dựng đất nước Việt Nam mà để từng hồi “bán nước” cho Tàu, gây thành đại họa mất nước. Vấn nạn này đã từng được trình bày sống động qua cuốn DVD Ðại Họa Mất Nước do Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện và phát hành 3 năm trước [2010 ố Xem hình].

Hôm nay, theo dõi những chuyển biến thời cuộc trong thời gian gần đây Giáo Già xin được ghi nhận một số sự kiện tiêu biểu CSVN đã bán nước như thế nào, để thấy những nỗ lực “chống Tàu diệt Việt cộng” cần được đẩy mạnh hơn nữa, khi đại họa mất nước đang là những thực tế phũ phàng đè nặng đất nước và dân tộc Việt:

1. Cho tới nay, rất nhiều lần Cộng sản Việt Nam tìm đủ mọi cách để cải chính, nhưng phần lãnh thổ ở biên giới và lãnh hải bị Trung Cộng lấn chiếm từ thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu không cách gì che giấu được khi nó đã rõ trong 3 văn kiện, gồm:

(1) “Hiệp ước biên giới trên đất liền” (30/12/1999);

(2) “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”; và

(3) “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” (25/12/2000).

Chính người của CSVN là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989, đã nói như sau:

“Ðánh ta năm 1979 một mặt gạt bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi không đạt được thì trở mặt... Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục(?),cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc...” (17-03-2010, Bauxite Việt Nam)

Lính Trung Quốc hay công nhân Trung Quốc tại Việt Nam.
2. Tiếp theo sau Lê Khả Phiêu, khi ông Nông Ðức Mạnh lên làm Tổng Bí thư liền hai khóa đảng IX và X (từ 22/04/2001 đến 12/01/2011), ông này, với sự đồng thuận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù không có phép của Ủy ban Trung ương đảng và của Quốc hội. Theo tiết lộ WikiLeaks [ghi nhận được trên Google]: “Vụ Bauxite Tây Nguyên, Nông Ðức Mạnh nhận 300 triệu USD và Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu USD là có thật. Tiết lộ này cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la...” Ngoài ra, Radio Chân Trời Mới ngày16/6/2009 cũng nói rằng “Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ.Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Ðắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam” [Xem thêm “Từ Bauxite đến Uranium, tiến trình đô hộ Việt Nam của Trung cộng, của Mai Thanh Truyết, Trần Minh Xuân, Phan Văn Song, Mekong-Tỵnạn tái bản, 2012].

3. Rất nhiều Công ty của Trung Cộng đã được ưu tiên “trúng thầu” nhiều dự án kinh tế với giá rẻ, chiếm nhiều vị trí chiến lược dọc theo bờ biển và dọc theo biền giới... Ở những nơi Trung cộng hiện diện Nhà nước CSVN đều để chúng coi như lãnh địa của chúng, cho thiết lập những làng xóm cho bọn người của chúng cư trú, xem thường luật pháp Việt Nam...

4. CSVN cũng cho Trung cộng xâm nhập lãnh thổ Việt Nam qua kế họach cho thuê rừng dài hạn đến 50 năm, để chúng trọn quyền khai thác, phá rừng và trồng rừng... coi như lãnh thổ của chúng; đặc biệt là phần lãnh thổ chiến lược dọc theo biên giới...

5. Ðến khi Nguyễn Phú Trọng nhận chức Tổng Bí thư ngày 19-01-2011 tại Ðại hội đảng khóa XI; chỉ 10 tháng sau, Trọng sang Bắc Kinh ký 6 điểm thỏa hiệp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào gọi là “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, để “hợp tác cùng phát triển”. Ðược biết, thỏa hiệp Nguyễn Phú Trọng ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 có điểm quan trọng là:

• Ðiểm 5: “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”

Nhưng Trung Cộng đâu có chủ quyền lãnh hải ở Biển Ðông trong lãnh hải của Việt Nam mà đòi “hợp tác cùng phát triển”?.

6. Ngang ngược hơn nữa là giờ đây, Trung Cộng đã gọi đấu thầu Quốc tế ít nhất là 9 lô tìm kiếm dầu trong vùng “đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, hoặc “nằm chồng lên” các lô tìm kiếm mà chính Việt Nam đã gọi thầu Quốc tế trước Trung Cộng, ở giữa Quần đảo Trường Sa và bở biển tỉnh Khánh Hòa! Trung Cộng cũng đã và đang khai thác dầu trong vùng Vịnh Bắc Bộ mặc dầu hai bên chưa ngã ngũ về đường ranh giới chủ quyền, theo Thỏa hiệp năm 2000, dưới thời Lê Khả Phiêu...

Hôm nay, lại đến ngày Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam 38 năm trước (30/4/1975), và đang bán nước cho Tàu cộng, hầu hết mọi nơi ở hải ngoại đều có tổ chức ngày tưởng niệm ngày tang chung của dân tộc, ngày đau thương của đất nước, với nhiều nghi thức vinh danh những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho Tổ Quốc Việt Nam; và lên án Cộng sản đã và đang đưa đất nước đến thảm họa; đã và đang cai trị toàn cỏi Việt Nam bằng độc đảng độc tài; đã và đang đưa dân tộc vào đại họa Bắc thuộc lần thứ 5.

Hai ngày trước, đề cặp đến vấn nạn này, ngày 28/4/2013, thông tín viên Hiền Vy, trong một bài viết được đưa lên đài RFA đã nói rằng:“...38 năm trôi qua, những sự thật về “chiến thắng”, “giải phóng”, hay “xâm lăng” đã hiện rõ, ai là bên thắng, ai là bên thua và chính nghĩa ở đâu, đã phơi bày. Kỹ thuật tân tiến về thông tin đã làm các mặt nạ “giải phóng” rơi xuống. Hiện tình đất nước đổi thay, Việt Nam đang phát triển hay mất dần vào tay Trung Quốc? Sự thật bi đát đã phơi bày và chính những người trẻ sống và lớn lên trong chế độ như Việt Khang, Ðoàn văn Vươn, Nguyễn Ðức Kiên... là những nhân chứng sống hùng hồn cho những ai còn ảo tưởng về Xã Hội Chủ Nghĩa. Người dân Việt trong nước vẫn tiếp tục hy sinh và giai cấp độc quyền thống trị chỉ biết có quyền lợi riêng tư đang ngự trị trên quê hương. Rất nhiều người cho rằng những người cầm quyền không hề quan tâm đến sự tồn vong của đất nước. Không ít người tự hỏi, phải chăng “nhà nước” đang góp phần tích cực phục vụ cho âm mưu biến Việt Nam thành một phần của Trung Quốc”.

nguon :vietvungvinh

Posted by Phuongnam Đ at  6:03 AM  

__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link