Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, June 8, 2014

Hãy ôm bom tự thiêu để chết cùng với công an, VC bán nước



Sent from my iPhone

Begin forwarded message:
From: "Tran Ho
Date: June 7, 2014 at 5:12:30 PM EDT
To: undisclosed recipients: ;
Subject: [VN-TD] Hãy ôm bom tự thiêu để chết cùng với công an, VC bán nước
Reply-To: VN-TD@yahoogroups.com.au
 



 
Đúng vậy, VC là thứ súc sinh vô cảm nên tự thiêu sẽ chẳng làm cho chúng động lòng trắc ẩn mà chùn tay với mình.  Xã hội đất nuớc Việt đã bị lũ tội đồ mafia VC này biến con người trở nên như thế đấy.  Công lao trăm năm trồng người của thằng giặc tội đồ hồ chó minh đã thuần hóa dân Việt gồm luôn cả các cha, linh mục hoặc các thầy và giới trí thức khoa bảng, sĩ phu, những người có văn hóa cao mà cũng trở nên lạnh lùng, vô cảm và thoái hóa đến phát sợ kia kìa..   

Do đó, tự thiêu hy sinh kiểu ấy đúng là không sáng suốt lắm đâu, chi bằng, sao không nghĩ trước khi hy sinh, gài vào thân thể mình một chùm thuốc nổ (làm bom tự chế bằng gas, xăng, chất nổ hóa chất hoặc dùng lựu đạn, nếu có), đứng trước các trụ sở nhà nước VC và đồn công an mà phản đối biểu tình chống đối nhà nước VC hèn với giặc Tàu, ác với dân Việt, khi nào thấy lũ công an hoặc mật vụ chó săn tay sai VC đến đàn áp, đánh đập mình thì lúc đó ta tự thiêu đốt làm nổ tung đống bom trong người mình, để cùng chết với đám côn đồ công an, mật vụ VC hoặc con cháu của cán bộ VC bán nước, giết hại đàn áp dân lành kia ấy.

Việc này mà xảy ra vài vụ rãi rác khắp nơi trên đất nước ắt chắc chắn đám công an, mật vụ và VC ở khắp nước đều rét sợ đến xanh máu mặt lên ngay, sẽ mất tinh thần và náo loạn và mất ăn mất ngủ bởi chúng không biết chừng nào đến phiên mình sẽ lảnh thẹo.   Đừng để sự hy sinh của mình vô ích, đi vào quên lãng và chẳng giúp gì cho đời.  Hãy tự thiêu chết cùng với lũ côn đồ, tay sai Việt gian công an, mật vụ, VC và những con cháu thuộc dòng họ hàng bán nước của lũ trùm cán bộ VC tham nhũng, bán nước, làm tay sai giết hại, đàn áp và bóc lột đồng bào.

*X( angry








From: "'San Le D.' 

 


KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG
MUON CHONG TRUNG CONG PHAI DIET VIET CONG
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN


Đúng, rất đúng.
Hy sinh kiểu này là ngu.
Phải làm sao mình chết thì cũngphải kéo theo 10 thằng VC, 100 thằng VC chết theo mới xứng đáng cho sự hy sinh của mình
LDS


 
Hy sinh kiểu nầy vô ích,vì CSVN chẳng trân trọng gì cả, mà còn ngăn cản chụp hình ,phổ biến vì sợ mất lòng Tầu chệt ,ông chủ của chúng,Nên  giành để thí mạng với lũ bán nước và Tầu chệt thì hữu lý hơn nếu cần?

Sent from Windows Mail

From: vida

 
 Người Việt cali magazine :
Một ông mang theo 2 can xăng đến công viên 23 tháng 9, quận 1, Sài Gòn, định tự thiêu phản đối Trung Quốc vụ giàn khoan HD 981 nhưng bất thành

 Lộc nguyễn • 6 hours ago
Tôi ghét người tự thiêu để phản đối Trung Cộng : Có chết cả trăm hay cả ngàn người Tàu Cộng có coi các việc này ra gì?

Đỗ Hưng góp ý : Nếu chú ý đến các thanh niên Tây tạng tự thiêu, thì ta
biết khi lửa phừng lên da thịt cháy bỏng nạn nhân cảm thấy rất
khó chịu nên đa số vùng chạy.đó là 1 hình thức dẫy chết trong trạng thái rất đau khổ.
Nhưng trong kinh Liên Hoa( Hoa sen), thì sự chết này lại được khuyến khích và được người Ấn độ xem là 1 vinh dự, hèn chi khi 1 đại gia chết, thì chỉ có bà vợ cả được vinh hạnh nằm lên giàn hỏa sắp thiêu xác chồng
Kinh Diệu pháp Liên Hoa :
- Khi hay tin 1 phụ nữ giàu có cúng dường đức Phật 1 hạt ngọc quý,
thì 1 mệnh phụ khác đang cầm đưốc tay phải, liền vén áo lên khỏi khuỷu tay trái và đưa tay lên trên ngọn đuốc mà rằng :
- 1 hòn ngọc chẳng bằng ta dâng lên ngài 1 cánh tay
Ai cũng khâm phục khi thấy lửa cháy xèo xèo.

1 mệnh phụ khác liền sai gia nhân gom nhiều thanh củi thành 1 đống to,
bà ta tưới dầu chung quanh đống củi rồi bình tĩnh leo lên ngồi kiết già trên đỉnh mà noi' to rằng :
- ta nguyện dâng cúng Phật toàn thân ta
Nói xong bà liền ném cái đuốc xuống đống củi cho lửa lan tỏa khắp đống củi khói bay mù mịt mà chết





__._,_.___

Posted by: Hoan Le 

Nhận diện vấn đề


Nhận diện vấn đề

Thục Quyên
Trung Cộng nhìn thấy thời cơ và đã đi thêm một bước quyết định trong mưu đồ bành trướng của họ: giàn khoan HD-981.
Hơn một tháng đã qua, sự sôi sục, chuyển qua nhốn nháo rồi dịu dần của dân chúng, và sự bất động của nhà cầm quyền Việt Nam, mà vài ba tuyên bố đã gây hiểu lầm cũng đã được chỉnh lại đúng đường lối bằng những lời vuốt ve quỵ luỵ "nước bạn láng giềng Trung Quốc" của bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại hội nghị Shangri-La.
Ông đại tướng Thanh thật ra không hề nói một điều gì mới lạ. Làn sóng những bài viết và phản biện đi từ trách móc đến rủa xả ông ta chỉ cho thấy hoặc là sự nhẹ dạ hoặc là sự tuyệt vọng của đa số người dân Việt Nam còn lưu tâm và có khả năng lưu tâm đến vận mạng đất nước. Nhẹ dạ để lại hí hửng tin tưởng và hy vọng sau vài lời tuyên bố "thùng lon rỗng" (1), hay quá tuyệt vọng như người khát nước trong sa mạc nóng bỏng, lao đầu vào cái ảo ảnh Fata Morgana trước khi gục xuống.

Dừng lại và nhìn sâu vào sự việc.
Sau một tháng tròn biết bao nhà trí thức, chuyên môn,  đã vận dụng khả năng và sự suy nghĩ của mình để hiến kế cho nhà cầm quyền Việt Nam đối phó cấp bách với Trung Cộng. Nhưng bây giờ giả thuyết sự xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông của Trung Cộng là một hành động bất thình lình làm Đảng và nhà nước Việt Nam bối rối không biết xử trí ra sao đã rõ là sai hoàn toàn. Những vị cầm quyền cho thấy họ có một đường lối rất rõ ràng, không suy chuyển: kẻ im, người nói, chia vai trò với nhau rất nhịp nhàng, ăn khớp với thời điểm.
Điều đáng nói là dân không được biết đường lối này như thế nào, sẽ đưa dân tộc tới đâu, nên dân không thể suy nghĩ, bàn cãi hay không đồng ý. Khổ thay dù những người lãnh đạo vì tư lợi hay chỉ vì yếu kém, một mai khi đất nước mất chủ quyền là mất chủ quyền, không có hai loại nặng nhẹ khác nhau, và lúc đó có ngã ngũ tội tình thì cũng chẳng còn cứu vãn được gì.
Do đó việc làm cấp bách hiện nay, thiết nghĩ không phải  là năn nỉ, kêu gọi hay trách móc (chưa đủ nữa hay sao? thế nào là nước đổ lá khoai?) mà phải là nỗ lực bạch hóa những gì đảng Cộng sản và nhà nước đã thỏa thuận, ký kết với Trung Cộng.
Không biết chỗ đứng của mình, không biết trong tay mình có gì, không biết giặc ở những chỗ nào, đã nắm những yếu điểm nào của mình thì làm sao mà trở tay?

Kẻ đứng ngoài nói dễ, kẻ ở trong làm khó.
Vẫn biết như vậy. Nhưng nếu suốt tháng nay tốn bao công sức, giấy mực, để tính tóan mò mẫm những gì Mỹ, Nhật, Phillipines, rồi Nga, ASEAN, nghĩ và... có thể sẽ làm, mà ngay trong nhà mình, mình không biết chuyện gì đang xảy ra, ngay cả những gì đã xảy ra cũng không biết nốt. Thế thì có khác chi chúng ta đang đóng vai hiệp sĩ mù quờ quạng đánh gió?
Có những tin tức Trung Cộng phóng vào dư luận thế giới mà Việt Nam không thể chống đỡ vì không có dữ kiện chính xác. Thí dụ tin Trung Cộng khẩn cấp đem tàu qua đón hơn 3.000 người lao động, đem máy bay chở công nhân bị thương của họ, được báo chí thế giới đăng tải. Lẽ dĩ nhiên cũng có vài nhà chuyên môn ngọai quốc bình luận đây là một phản ứng thổi phồng để buộc tội Việt Nam, nhưng vài tiếng nói này không có chút ảnh hưởng gì để đảo ngược hình ảnh bất lợi về người Việt Nam mà bộ máy tuyên truyền Bắc Kinh reo rắc.
Trong khi ấy, nếu có con số người lao động China thực tình có mặt tại Việt Nam để đưa ra: 30.000? 150.000? 200.000? nghĩa là 10 lần? 50 lần? 70 lần hơn con số 3.000 Bắc Kinh nhắng nhít báo động thì tình trạng trung thực có thể được đưa ra rõ ràng, một cách thật đơn giản và thuyết phục. (Kể thì cũng nên lưu ý những người này đang làm gì khi mà những vùng sinh sống của họ nghe nói nhà nước Việt Nam không có quyền kiểm soát?)
Cũng là một cách thật đơn giản để người dân Việt từ Bắc chí Nam hiểu đất nước xiêu vẹo này đã nghiêng nhiều về phía vực thẳm, nếu có một bản tổng kết số lượng hầm mỏ, công trường, trung tâm... nằm trong tay người China trên đất Việt.
Nếu có những bài phóng sự hoàn toàn đứng đắn ghi lại rõ ràng tình trạng người dân Việt sống chung quanh những nơi này, và cuộc sống những công nhân Việt Nam làm cho những hãng xưởng Trung Cộng ?
Rất đơn giản và thuyết phục vì ngọn lửa yêu nước và tính tự trọng của người Việt sẽ đánh bạt ngay cái tình trạng bị đánh giá là vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Vô cảm hay không có tin tức? Thiếu hiểu biết hay vì đã bị uốn nắn để tin vào sự bất lực của mình?
Cứ nhìn tất cả những vấn đề liên quan tới cái công hàm - mà có thể không phải là công hàm - năm 1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng đang xích chân Việt Nam thì Việt Nam cần mang ra nghiên cứu tất cả những công hàm liên quan tới biên giới, hầm, mỏ, rừng, đất, người khác đã ký giao cho Trung Cộng. Phòng hờ những điều mình tuyên bố bây giờ về Hoàng sa, Trường Sa đã không giúp lấy lại mà còn trở thành những lý luận vững chắc giúp Trung Cộng được thêm chỗ khác.


__._,_.___

Posted by: ttvnh 

CHUNG QUANH CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG


CHUNG QUANH CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

Trần Gia Phụng - Vào đầu tháng 5 vừa qua, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến đặt tại vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã đánh chiếm của Việt Nam Cộng Hòa ngày-19-1-1974. Sự xuất hiện giàn khoan nầy làm rộ lên trở lại dư luận trong và ngoài nước vấn đề công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt Nam trước đây.

1. Tuyên bố của Trung Quốc 
Từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị ký kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lý, 12 hải lý và 200 hải lý. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Quốc và hai miền Nam và Bắc Việt Nam không phải là thành viên LHQ nên không tham dự hội nghị nầy. 

Trước cuộc tranh cãi về hải phận, ngày 28-6-1958, Mao Trạch Đông tuyên bố với nhóm tướng lãnh thân cận: “Ngày nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and JonHalliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005, tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Quốc đưa ra bản tuyên bố về hải phận gồm 4 điểm, trong đó điểm 1 và điểm 4 được dịch như sau: 

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Xisha tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Nansha tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc....
 (4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu [Bành Hồ], quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc...(Nguồn:://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm>).  

Mục đích của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 nhằm xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý. Tuy nhiên điểm 1 và điểm 4 của bản tuyên bố cố ý lập lại và mặc nhiên khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Quốc và gọi theo tên Trung Quốc là Xisha [Tây Sa tức Hoàng Sa] và Nansha [Nam Sa tức Trường Sa].  

Điểm cần chú ý là Trung Quốc lúc đó chưa phải là thành viên Liên Hiệp Quốc và không thể dùng diễn đàn của Liên Hiệp Quốc để bày tỏ quan điểm và chủ trương của mình, nên Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố nầy, thông báo quyết định về lãnh hải của Trung Quốc. Vì vậy các nước không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên bố của Trung Quốc, nhưng riêng Bắc Việt Nam lại tự ý đáp ứng ngay.

 Trước khi ký kết hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai đất nước, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) đã sắp đặt trước kế hoạch tiếp tục chiến tranh đánh miền Nam. Chủ trương nầy được đưa ra rõ nét tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Guangxi), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954 giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai.

 Sau khi đất nước bị chia hai, Bắc Việt nằm dưới chế độ cộng sản do Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) lãnh đạo. Muốn đánh miền Nam, thì Bắc Việt cần được các nước ngoài viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Quốc. Vì vậy, khi Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố về lãnh hải ngày 4-9-1958, chẳng cần tham khảo ý kiến Bắc Việt, thì “không gọi mà dạ”, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt, lại hưởng ứng ngay, ký công hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về hải phận của Trung Quốc để lấy lòng chính phủ Trung Quốc. 

 Mở đầu bản công hàm, Phạm Văn Đồng viết: “Thưa Đồng chí Tổng lý”. Kết thúc bản công hàm là câu: “Chúng tôi xin kính gởi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.” Gọi nhau đồng chí là ngôn ngữ giao thiệp giữa đảng với đảng trong cùng một hệ thống cộng sản quốc tế, khác với ngôn ngữ ngoại giao thông thường. Nội dung bản công hàm Phạm Văn Đồng nguyên văn như sau:
 “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
 Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”
Video: TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH VẠCH MẶT TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH BÁN ĐỨNG GIANG SƠN CHO TÀU CỘNG
Chắc chắn bản công hàm nầy được Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) chuẩn thuận và được gởi thẳng cho Trung Quốc mà không tham khảo ý kiến hay thông qua quốc hội Bắc Việt. Quốc hội Bắc Việt lúc đó nguyên là quốc hội được bầu ngày 6-1-1946, gọi là quốc hội Khóa I. Sau chiến tranh 1946-1954, đất nước bị chia hai. Nhà nước Bắc Việt triệu tập những dân biểu cộng sản còn sống ở Bắc Việt vào tháng 9-1955, tiếp tục hoạt động cho đến ngày 8-5-1960, Bắc Việt mới tổ chức bầu lại quốc hội khóa II, khai mạc phiên họp đầu tiên tại Hà Nội ngày 6-7-1960.  
3. Trung Quốc biện minh
Video: CÔNG HÀM BÁN NƯỚC CỦA PHẠM VĂN ĐỒNG 1958 CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ HAY KHÔNG?
 Khi tự động đem giàn khoan 981 đặt trong vùng biển Hoàng Sa, vi phạm lãnh hải Việt Nam, Trung Quốc liền bị dân chúng Việt Nam biểu tình phản đối mạnh mẽ và dư luận quốc tế lên án, thì nhà cầm quyền Trung Quốc cho người sử dụng công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 để nói chuyện.

 Cùng ngày 20-5, hai nhân vật Trung Quốc đã lên tiếng biện minh cho hành động của Trung Quốc. Dĩ nhiên họ được lệnh của nhà nước Bắc Kinh mới được quyền lên tiếng.
 Thứ nhứt, đại biện lâm thời Trung Quốc ở Indonesia, ông Lưu Hồng Dương, có bài đăng trên báo Jakarta Post(Indonesia), xác định rằng quân đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa] là lãnh thổ của Trung Quốc. Bài báo viết: “Trong tuyên bố ngày 14-9-1958, thay mặt chính phủ Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.” Lưu Hồng Dương, tác giả bài báo, còn viết: “Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppels”. [không được nói ngược].

 Người thứ hai là tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, trả lời phỏng vấn hãng tin Deutsch Welle (DW) của Đức, được đưa lên Net ngày 20-5. Ông nầy nói như sau: “Năm 1958, thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai... Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”
 Trả lời những cáo buộc trên đây của Trung Quốc, trong cuộc họp báo ngày 23-5-2014 tại Hà Nội, ông Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, cho rằng công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 không có giá trị pháp lý về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam. 

 Ông Hải nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa, vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa... Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được. Vậy điều đó càng khẳng định công văn của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý...”
 Ngoài ra, còn có đại sứ của hai phía Trung Cộng và Việt Cộng ở Hoa Kỳ tham gia cuộc tranh cãi, lên tiếng bênh vực lập trường của chính phủ mình. Báo chí hai nước cũng đưa tin và bình luận cáo buộc đối phương mà trước đây ít khi thấy. Lời qua tiếng lại còn nhiều, nhưng đại khái lập trường hai bên là như vậy.

 Bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đưa ra hai chủ điểm: 1) Xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý. 2) Mặc nhiên xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên một số quần đảo trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vốn của Việt Nam từ lâu đời. 
 Dầu công hàm Phạm Văn Đồng không có chữ Hoàng Sa và Trường Sa như ông Trần Duy Hải nói, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc”, có nghĩa là nhà nước Bắc Việt cộng sản công nhận hai chủ điểm của bản tuyên bố của Trung Quốc. 

 Trần Duy Hải còn nhấn mạnh rằng sau hiệp định Genève, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng Hòa và “Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được.” Ông Hải nói chuyện lạ lùng như một người nước ngoài. Nếu Nam Việt không phải là một phần của Việt Nam, thì tại sao Bắc Việt lại đòi “Chống Mỹ cứu nước” hay “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”? Khi xâm lăng Nam Việt, thì Bắc Việt nhận Nam Việt là một phần của Việt Nam. Khi cần xin viện trợ thì Bắc Việt bảo rằng đó là của Nam Việt, rồi Bắc Việt dùng để trao đổi với nước ngoài? (Một giải thích lạ lùng hơn nữa là bà Nguyễn Thị Thụy Nga (Bảy Vân), vợ Lê Duẫn, trả lời trong cuộc phỏng vấn năm 2008 của đài BBC rằng “ngụy nó đóng ở đó nên giao cho Trung Quốc quản lý Hoàng Sa.” (CTV Danlambao -danlambaovn.blogspot.com)

 Một nhà nghiên cứu trong nước còn nói rằng công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội nên không có giá trị pháp lý trong bang giao quốc tế. (BBC Tiếng Việt 21-5-2014,“Hoàn cảnh lịch sử công hàm 1958”). 
 Khái niệm nầy chỉ đúng với các nước tự do dân chủ. Trong các nước tự do dân chủ, tam quyền phân lập rõ ràng. Những quyết định của hành pháp phải được lập pháp thông qua, nhất là những hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải phải có sự đồng ý của quốc hội. Tuy nhiên dưới chế độ cộng sản, cộng sản không cai trị theo luật pháp, mà cộng sản thống trị theo nghị quyết của đảng cộng sản. Với cộng sản, tam quyền không phân lập mà tam quyền đồng quy vào trong tay đảng CS, nên CS chẳng cần đến quốc hội. Chủ trương nầy được đưa vào điều 4 hiến pháp cộng sản mà ai cũng biết.

 Trung Quốc là một nước cộng sản từ năm 1949. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thống trị đất nước họ như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Vì vậy, giữa hai nước cộng sản với nhau, Trung Quốc rất am hiểu truyền thống của nhau, am hiểu ngôn ngữ cộng sản với nhau. Chính công hàm của Phạm Văn Đồng cũng viết theo ngôn ngữ cộng sản: “Thưa Đồng chí Tổng lý”. Vì vậy, Trung Quốc hiểu công hàm Phạm Văn Đồng theo cách thống trị đất nước của nhà nước cộng sản, nghĩa là quyết định của đảng cộng sản là quyết định tối hậu, trên tất cả, chẳng cần gì phải có chuyện quốc hội phê chuẩn. 

 Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng CSVN ngày nay) ủng hộ hay không ủng hộ bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, dân chúng Việt Nam không cần quan tâm. Tuy nhiên, đối với dân chúng Việt Nam, chuyện Phạm Văn Đồng cùng Hồ Chí Minh và đảng Lao Động tán thành “quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa],... quần đảo Nam Sa [Trường Sa],... thuộc Trung Quốc” là một hành vi bán nước và phản quốc.
 6. Liên minh quân sự
 Trước hiểm họa Trung Quốc đe dọa ngày nay, vì Việt Nam không đủ sức chống lại Trung Quốc nên có ý kiến cho rằng nhà nước CSVN cần phải liên minh với nước ngoài để chống Trung Quốc. Ví dụ liên minh với Hoa Kỳ hay với khối ASEAN chẳng hạn.
 Tuy nhiên, trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh vào ngày 25-8-2010, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc phòng CSVN đã đưa ra chủ trương “ba không” của đảng CS và nhà nước CSVN là: Không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự và không cùng một nước khác chống lại nước thứ ba. (Xem Internet: chủ trương ba không của CSVN.)

 Về phía Hoa Kỳ, thì vừa qua, ngày 28-5-2014, trong bài diễn văn trình bày tại lễ tốt nghiệp Học viện Quân sự WestPoint, New York, tổng thống Obama đưa ra nét căn bản về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ: “Hoa Kỳ sẽ sử dụng quân đội, đơn phương nếu cần thiết, nếu cần cho lợi ích cốt lõi của chúng ta - trong trường hợp người dân chúng ta bị đe dọa, nguồn sống chúng ta gặp nguy hiểm hay an ninh của các nước đồng minh bị thách thức...” (BBC Tiếng Việt, 29-5-2014.) 

 Chủ trương sử dụng sức mạnh để bảo vệ lợi ích cốt lõi của nước mình không phải là chủ trương riêng của Hoa Kỳ hay của một nước nào mà là chủ trương chung của tất cả các nước trên thế giới. Nước nào cũng vì quyền lợi của nước mình mà thôi. Vậy thử hỏi Hoa Kỳ có quyền lợi gì khi giúp Việt Nam (90 triệu dân) nhằm đổi lại với việc Hoa Kỳ giao thương với Trung Quốc (hơn 1 tỷ dân)? Ngoài ra, Hoa Kỳ khó trở thành đồng minh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ vì một lý do đơn giản là CHXHCNVN là một nước cộng sản vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng. 
 Hơn nữa, Hoa Kỳ mới liên minh trở lại với Phi Luật Tân để ngăn chận Trung Quốc từ xa. Vì Phi Luật Tân ở xa, nằm phía bên kia bờ Biển Đông phân cách Phi Luật Tân với lục địa Trung Quốc, nên an toàn hơn cho Hoa Kỳ. Vì vậy, Hoa Kỳ có cần liên minh với CSVN hay không? 

 Các nước trong khối ASEAN cũng không khác gì Hoa Kỳ, tập họp với nhau vì quyền lợi kinh tế của mỗi nước. Có nước chẳng ưa thích gì Việt Nam như Cambodia, Lào vì truyền thống lâu đời. Có nước chẳng có quyền lợi gì trong vấn đề Việt Nam và Biển Đông như Miến Điện, Mã Lai. Đó là chưa nói hầu như các nước ASEAN đều quan ngại thế lực của Trung Quốc về nhiều mặt và các nước ASEAN còn muốn Việt Nam luôn luôn ở thế yếu kém, bị động để đừng quay qua bắt nạt các nước láng giềng.

 Như thế, chỉ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng nhà nước CSVN có thể liên minh với bất cứ nước nào để chống Trung Quốc. Trung Quốc dư biết điều đó. Cộng sản Việt Nam phải tự mình giải quyết lấy bài toán của mình do những sai lầm của Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra. Nhờ Trung Quốc đánh Pháp chẳng khác gì nhờ một tên ăn cướp đuổi một kẻ ăn trộm. Còn nhờ Trung Quốc chống Mỹ không phải là giải pháp để cứu nước mà là con đường dẫn đến mối nguy mất nước...

 7. Phải quyết định
 Lịch sử cho thấy từ bao đời nay, dân tộc Việt Nam luôn luôn chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ, chống lại các cuộc xâm lăng của nước ngoài. Ngược lại, từ giữa thế kỷ 20, đảng CSVN cướp được chính quyền năm 1945, đã dùng đất đai do tổ tiên để lại như một vật trao đổi nhằm mưu cầu quyền lực, mà công hàm Phạm Văn Đồng là một ví dụ điển hình.

 Muốn thoát khỏi tấn bi kịch hiện nay, một trong những việc đầu tiên là phải vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng, chấm dứt sự thừa nhận của Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động tức đảng CSVN đối với tuyên bố của Trung Quốc. 

 Muốn vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng thì phải vô hiệu hóa chính phủ đã ký công hàm. Phạm Văn Đồng đã chết. Chính phủ Phạm Văn Đồng không còn. Tuy nhiên, chính phủ thừa kế chính phủ Phạm Văn Đồng còn đó ở Hà Nội. Vậy chỉ còn cách giải thể nhà nước cộng sản hiện nay ở Hà Nội mới có thể vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng. Có hai cách giải thể:

 Thứ nhứt, đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay, hậu thân của đảng Lao Động trước đây, thừa kế chính thức của nhà nước do Phạm Văn Đồng làm thủ tướng, phải tìm cách tự lột xác như ve sầu lột xác (kim thiền thoát xác), mới phủ nhận những điều do nhà cầm quyền cũ ký kết. Trên thế giới, đã có hai đảng cộng sản theo thế kim thiền thoát xác là trường hợp Cộng sản Liên Xô với Yeltsin và cộng sản Cambodia với Hun Sen.

 Vấn đề là những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay có vì sự sống còn của đất nước, có chịu hy sinh quyền lợi của đảng CS, có chịu giải thể đảng CS như Yeltsin đã làm ở Liên Xô, để cùng dân tộc tranh đấu bảo vệ non sông?

 Thứ hai, nếu những nhà lãnh đạo cộng sản vẫn cương quyết bám lấy quyền lực, cương quyết duy trì đảng CSVN, thì chỉ còn con đường duy nhứt là toàn dân Việt Nam phải tranh đấu lật đổ chế độ cộng sản. Cuộc tranh đấu sẽ rất cam go, khó khăn, nhưng hiện nay đất nước chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm, đang lâm vào thế cùng. Cùng đường thì phải tranh đấu để biến đổi và tự cứu mình. 

 Vậy chỉ còn con đường duy nhứt là chấm dứt chế độ CSVN để chấm dứt công hàm Phạm Văn Đồng, đồng thời chấm dứt luôn những mật ước giữa đảng CSVN với đảng Cộng Sản Trung Quốc từ thời Hồ Chí Minh cầu viện, qua thời Thành Đô và cho đến hiện nay. 

 Đã đến lúc phải quyết định dứt khoát: Hoặc CSVN theo thế “ve sâu lột xác”, hoặc CSVN phải bị lật đổ mà thôi. Nếu không, hiểm họa một thời kỳ Hán thuộc mới đang chờ đợi Việt Nam.

(Toronto, 5-6-2014)
Trần Gia Phụng
__._,_.___


Sau Cuộc Đấu Khẩu ở Shangri-la, Mỹ Phải Làm Gì?


Những tên cầm quyền CSVN và đảng CSVN rất mưu mô, xảo quyệt !!

Bọn CSVN dùng mọi mánh khóe lưu manh để ăn hiếp kẻ yếu và luồn lách để tránh đối đầu với kẻ mạnh. Trong chiến tranh VN, bọn CSVN đã dùng chiêu thức lì lợm để làm mệt mỏi Hoa Kỳ và sau đó dùng lực lượng quân sự từ Bắc Việt tấn công, xâm chiếm lãnh thổ VNCH vào tháng 4 năm 1975.
 Và CSVN đã tràn quân xâm lăng Campuchia là một nước nhỏ yếu thế.Hiện tại, bọn cầm quyền CSVN run sợ trước quan thầy Trung Cộng của chúng vì những mánh lới, mưu mô của bọn cầm quyền CSVN không thể qua mặt sư phụ của chúng. Bọn cầm quyền CSVN biết rằng,sự gian manh, tàn ác của chúng làm sao sánh nổi Trung Cộng nên đành dùng kế "than khóc" để cầu cứu các nước thuộc thế giới tự do giang tay cứu giúp.

Ôi !! Tình nghĩa thế giới CS đại đồng đã đến hồi vãn tuống !!
Hãy để cho Trung Cộng "dạy" cho bọn cầm quyền CSVN thêm một bài học "vỡ đầu, sứt tai" nữa cho bỏ thói gian manh, mưu mẹo, xảo quyệt.
Bọn CSVN bản chất rất ngu dốt nhưng đầy mưu mô xảo quyệt.
nguyenvinhchau



=======================






Nhật Ký Biển Đông
Sau Cuộc Đấu Khẩu ở Shangri-la, Mỹ Phải Làm Gì?
Nhật Ký Biển Đông thượng tuần Tháng 6 ghi nhận những chuyển biến quan trọng như sau:
-VOA tiếng Việt ngày 1/6/2014: Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel tố cáo Trung Quốc có “những hành động gây bất ổn” ở Biển Đông. Trong bài diễn văn ở Đối Thóai Shangri-La 13, ông Hagel nói Washington nhất định “không ngoảnh mặt làm ngơ” nếu trật tự quốc tế bị đe dọa. Ông Hagel cũng cam kết hỗ trợ cho các kế hoạch của Nhật Bản nhằm nắm giữ một vai trò lớn hơn trong việc duy trì sự ổn định của khu vực này.

-Voice of Russia ngày 1/6/2014: Nhật Bản và Việt Nam dự định thực hiện sự hợp tác an ninh chặt chẽ trong bối cảnh cả hai nước cùng tồn tại tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Điều này đã được thỏa thuận vào ngày Chủ nhật, trong cuộc thảo luận giữa Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera và đối tác Việt Nam là ông Phùng Quang Thanh, diễn ra bên lề Diễn đàn an ninh châu Á - Thái Bình Dương “Đối thoại Shangri-La" tại Singapore. 

Việt Nam sẽ nhận được tàu tuần duyên từ Nhật Bản vào đầu năm 2015.

-Interntional Business Times ngày 2/6/2014: Tại Đối Thóai Shangri-La,Tướng Vương Quán Trung (Wang Guanzhong) - Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Trung Quốc,  “Hoa Kỳ phạm phải sai lầm chiến lược và có nguy cơ biến Trung Quốc thành kẻ thù. Nếu Hoa Kỳ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc chắc chắn coi Hoa Kỳ như kẻ thù của Trung Quốc.”
-Hãng tin Mitt Ân Độ ngày 3/6/2014: Công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ Vides (OVL) khẳng định sẽ tiếp tục thăm  dò dầu khí ở Biển Đông. Hành động này giúp khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại vùng này.

-VOV ngày 3/6/2014: Trung Quốc vẫn duy trì hơn 110 tàu, đáng lưu ý là 4 tàu quân sự của Trung Quốc gồm 2 tàu quét mìn và 2 tàu hộ vệ tên lửa được thả trôi ở khu vực cách giàn khoan Hải Dương 981 từ 15 - 25 hải lý. Tình hình chung quanh giàn khoan Haiyang 981 mức độ nguy hiểm vẫn chưa giảm.

-VOV ngày 3/6/2014: Dân biểu John Kline (Cộng Hòa) Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Dục và Lao Động, thành viên Ủy Ban Quân Vụ hiện đang thăm viếng Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ Chủ Tịch Quốc Hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố, “Phía Mỹ luôn theo dõi sát sao tình hình ở Biển Đông và thể hiện sự quan tâm, quan ngại sâu sắc, đặc biệt là hành động gây hấn của Trung Quốc với Việt Nam. Mỹ ủng hộ quan điểm và lập trường của Việt Nam trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và mong muốn các bên sớm có giải pháp giải quyết tình hình hiện nay bằng con đường ngoại giao, hòa bình.”

-Voice of Russia ngày 4/6/2014: Tòa án Trọng tài Thường trực ở The Hague yêu cầu Trung Quốc đến ngày 15 tháng Chạp cần trình ra luận cứ bằng văn bản về lãnh thổ tranh chấp với Philippines ở biển Hoa Nam (Biển Đông), như tin đưa ngày thứ Tư của AP. Nhưng Trung Quốc đã từ chối thi hành yêu cầu của tòa. Trung Quốc luôn giữ lập trường đàm phán song phương chứ không chấp nhận sự phân xử của Tòa Án Trọng Tài về Luật Biển.

 -Tuổi Trẻ online ngày 4/6/2014: Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Tuổi Trẻ, Tướng Nguyễn Chí Vịnh nói, “ Điều chúng ta cần giữ vững là độc lập, chủ quyền lãnh thổ đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đừng ai động vào giá trị thiêng liêng ấy của chúng ta. Trung Quốc đã sai lầm khi quyết tâm cưỡng đoạt chủ quyền của Việt Nam, bất chấp những điều tối thiểu mà một quốc gia trong thế giới văn minh phải thực hiện.”

-BBC tiếng Việt ngày 5/6/2014: Lãnh đạo nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) họp tai Bỉ ngày 4/6/2014 bày tỏ quan ngại về căng thẳng trên biển, trong lúc báo Đảng của Trung Quốc đả kích chính sách của Nhật tại G7. Các lãnh đạo G7 tái khẳng định lập trường "chống lại bất kỳ hành động đơn phương của bất cứ bên nào nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ hoặc chủ quyền trên biển bằng biện pháp hăm dọa, gây hấn hoặc vũ lực". Như thế cuộc khủng hoảng ở Biển Đông đã nâng lên tầm vóc quốc tế chứ không còn là vấn đề của khu vực nữa.

-RFI tiếng Việt ngày 5/6/2014: Hôm nay, 05/06/2014, Việt Nam lại mở họp báo quốc tế để một lần nữa lên án Trung Quốc tiếp tục có những hành vi « hung hăng », liên tục vu cáo, đổ lỗi cho Việt Nam, hơn một tháng sau khi đặt giàn khoan trong khu vực mà theo Hà Nội thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

-WASHINGTON (Reuters) ngày 5/6/2014: Vào Thứ Năm, báo cáo của Ngũ Giác Đài cho biết chi tiêu quốc phòng năm ngóai của Trung Quốc vượt quá 145 tỷ đô-la khi họ khi họ tiến hành một chương trình hiện đại hóa kho chứa máy bay không người lái, tàu chiến, phi cơ chiến đấu, hỏa tiễn và vũ khi điện tử, cao hơn con số mà các giới chức Trung Quốc đưa ra. Cũng theo bản báo cáo này, từ năm 2013 Trung Quốc đã có máy bay không người lái tàng hình. Ngày 6/6/2014 Trung Quốc đã phản đối bản báo cáo này của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc tăng sức mạnh quân sự là nhắm ra nước ngòai.(AP)

-PetroTimes ngày 6/6/2014: Tàu Kunisaki của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản (MSDF) rời căn cứ hải quân Mỹ Yokosuka ở tỉnh Kanagawa ngày 29/5, chở theo 400 quân nhân Mỹ, Úc, Nhật tham gia “Chương trình đối tác Thái Bình Dương” ở Việt Nam, Campuchia, Philippines. Đây là lần đầu tiên tàu vận tải của MSDF chở số lượng lớn quân nhân Mỹ.Từ ngày 6/6 đến 15/6 tại Đà Nẵng sẽ diễn ra các hoạt động trao đổi, huấn luyện y tế nâng cao, hỗ trợ sửa chữa và nâng cấp Trạm y tế Hòa Quý, Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi Đà Nẵng, giao lưu văn hóa, thể thao giữa Việt Nam và các nước Nhật Bản, Hoa Kỳ.

Nhận Định:
Đúng như tiên đóan của các nhà bình luận. Biến cố giàn khoan Hải Dương 981 là bước ngoặt trong quan hệ Việt-Trung và cũng là bước ngoặt trong chính sách đối ngọai của Mỹ-Trung Quốc. Đối với các chiến lược gia Hoa Kỳ, việc Hoa Lục áp đặt giàn khoan tại vùng biển có chủ quyền của Việt Nam đã vượt giới hạn cuối cùng - còn gọi là lằn ranh đỏ (Red Line). Nếu Hoa Kỳ không có hành động cụ thể để ngăn chặn thì vị thế siêu cường của Hoa Kỳ lâm nguy. Đối Thọai Shangri-La 13 tại Singapore  vừa qua đã là cơ hội để Hoa Kỳ nói thẳng với Trung Quốc về mà những gì Trung Quốc đang làm, đồng thời khẳng định thái độ của Hoa Kỳ. Nói thì đã nói mạnh lắm rồi, nhưng chưa biết Hoa Kỳ sẽ làm gì trong những ngày sắp tới.

Hiện nay, ngòai những thách thức ở Biển Đông, Hoa Kỳ còn can dự sâu vào cuộc khủng hoàng Ukraine. Vì Hoa Kỳ là người cầm đầu NATO cho nên lỡ “đâm lao phải theo lao” cho nên không thể tiến tới một thỏa hiệp để củng Nga giải quyết vấn đề Ukraine - mà lại theo đuổi biện pháp cấm vận tức đối đầu với Nga. BBC tiềng Việt ngày 3/6/2014 loan tin trong chuyến thăm viếng Ba Lan ngày 2/6/2014 Ô. Obama tuyên bố Mỹ sẽ chi ngân khỏan 1 tỷ đô-la cho việc chuyển quân tới NATO.

Không hiểu các “think tank” Mỹ nghĩ sao? Thay vì theo đuổi sách lược “Đông hòa Tôn Quyền” tức hòa hoãn với Nga để ngăn chặn Hoa Lục. Vì dầu sao đi nữa Ukraine cũng không phải là quyền lợi sinh tử của Mỹ. Hơn thế nữa Nga không có tham vọng khống chế Biển Đông để tranh ngôi bá chủ với Hoa Kỳ. Vậy nếu khôn ngoan ra, Mỹ phải theo sách lược “Đông hòa Tôn Quyền, bắc cự Tào Tháo” để rảnh tay đối phó với Hoa Lục. Đằng này Mỹ lại theo chính sách “Đông chỏang Tôn Quyền, bắc uýnh luôn TảoTháo” tức mở một lúc hai mặt trận.

Trong gần tám năm qua, Hoa Kỳ không có chiến lược toàn cầu cho nước Mỹ - kể từ đời Bà Hillary Clinton cho tới Ô. John Kerry. Chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ bập bềnh theo dư luận do áp lực của các nhà lập pháp - bây giờ là Đảng Cộng Hòa- nhiều khi chỉ tấn công Ô. Obama để “kiếm phiếu” hoặc chuần bị cho những cuộc ứng cử, bất chấp quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ. Ngòai ra mỗi mùa bầu cử là thời kỳ mà chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ suy yếu. Cử tri tức người dân Hoa Kỳ chỉ nhìn vào những lợi ích trước mắt như: Vấn đề phá thai, đồng tính luyến ái, hợp thức hóa cần sa, thuế khóa, bảo hiểm sức khỏe và nhất là trợ cấp xã hội, công ăn việc làm. Còn những vấn đề “đối ngọai” xa xôi thì tính sau. 

Chính vì thế mà trong các mùa bầu cử, nước Mỹ yếu như “con cua hay rắn lột xác”. Ông tổng thống và đảng cầm quyền không dám làm gì cả và chỉ mong “giữ ghế” thêm một nhiệm kỳ. Ngay một số nhà nghiên cứu chính trị Hoa Kỳ cũng nhận định hệ thống chinh trị lưỡng đảng tưởng là hay nhưng cực kỳ nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Miền Nam trước dây có câu nói “Vừa đánh vừa run”. Khi chính sách ngọai giao “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì ông tổng thống do dự không quyết đóan, lúc rày lúc khác, đồng minh ngơ ngác. Cuối cúng chỉ chắp vá, không làm được gì cả, nếu không muốn nói là thất bại. 

 Chính vì thế mà chính quyền Obama lúc nào cũng lúng túng. Mọi chuyện đều phản ứng với mặc cảm tự tôn của một siêu cường trong khi thế và lực của mình đã suy yếu do kinh tế suy thóai - biểu hiện bới cắt giảm ngân sách quốc phòng - sự trỗi dậy của Hoa Lục, Nga và sự tốn kém, mệt mỏi trong các cuộc chiến Iraq, Afghanistan. Hiện nay tinh hình Libya nát bét, cùng lúc Mỹ lại điên đầu với các vấn đề phức tạp của Bắc Hàn, Nam Mỹ, Phi Châu, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Ai Cập và chia rẽ với đồng minh Do Thái trong vấn đề Palestines. Cây cổ thụ về chính sách ngọai giao quốc tế Henry Kissinger đã phê bình chuyện Mỹ cấm vận Nga như sau: “Cấm vận là khởi dầu của một sách lược chẳng có một sách lược nào”.

  Trong cuộc đối đầu với Hoa Lục, ngòai việc e ngại sức mạnh quân sự của Bắc Kinh, Mỹ cỏn bị trói bởi sợi “giâytơ hồng” rất mềm mại nhưng vô cùng bền chắc đó là con số 500 tỷ USD ngọai thương mỗi năm. Chính vì nắm được yếu điểm này mà Bắc Kinh cứ từ từ lấn lướt. Việc Tướng Vương Quán Trung đe dọa thẳng thừng Ô. Chuck Hagel tại Đối Thọai Shangri-la vừa qua:  “Nếu Hoa Kỳ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc chắc  chắn cũng coi Hoa Kỳ như kẻ thù.” là điều chưa từng thấy - ít ra từ năm 1975 vì ai cũng ngán sợ  sức mạnh của Hoa Kỳ - kể cả Nga. Trong bài bình luận nhan đề  “West ponders how to stop - or fight - a new Great War”  nhà báo Peter Apps (AP) viết, “Một số nhà phân tích nói rằng, thêm thách đố cho Phương Tây là cả Nga và Trung Quốc đều biết rằng Washington không thể mở hai cuộc chiến cùng lúc.” Đây là yếu điểm chiến lược của Hoa Kỳ cho nên trước đây “con cáo già” Kissinger đã phải tương nhượng, kể cả dâng Quần Đào Hoàng Sa cho Hoa Lục để đánh ngã Liên Bang Xô Viết.

Việc Hoa Kỳ cấm vận Nga khiến Nga tìm phương thóat hiểm bằng cách ký thỏa hiệp khí đốt lịch sử 400 tỷ tại Thượng Hải. Mới đây nhất lại tăng cường hợp tác với Bắc Hàn để làm khó dễ Mỹ. Dù thỏa hiệp bán khí đốt không phải là một liên minh nhưng là cơ hội tốt cho Bắc Kinh vì dầu sao đi nữa Nga sẽ không can dự hay lên án mạnh mẽ những hành vi bạo ngược của Hoa Lục tại Biển Đông. 

Chỉ cần Hoa Kỷ không kiểm chế được tham vọng của Hoa Lục ở Biển Đông thì địa vị siêu cường của Hoa Kỳ lung lay. Lúc đó các quốc gia Đông Nam Á sẽ đứng trước hai lựa chọn. Một là vì độc lập và chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc, hy sinh quyền lợi kinh tế, liên kết với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ để đối đầu với Hoa Lục. Lúc đó sách lược “Xoay Trục” của Hoa Kỳ bền vững. Tuy nhiên sự bền vững chỉ có khi mình là “minh chủ” tức đứng đầu một liên minh thỉ phải dứt khóat, xông xáo tiến lên phía trước. Nếu minh chủ cứ “xìu xìu ền ển” thi liên minh tan vỡ. Lựa chọn thứ hai của Đông Nam Á là hy sinh chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc, chấp nhận Hoa Lục làm chủ Biển Đông để đổi lấy hòa bình và phát triển kinh tế. Lúc đó Hoa Kỳ mất hết đồng minh (allies) cùng người hợp tác (partners), kế họach “Xoay Trục” phá sản và Hoa Kỳ phải từ bỏ Biển Đông để lui về cố thủ ở Guam.

Trong một bài binh luận nhan đề “Why China and America are Headed Toward a Catastrophic Clash?”  (Tại Sao Trung Quốc và Hoa Kỳ Tiến Đến Một Cuộc Đụng Đô Thảm Khốc?)  đăng trên The World Post ngày 2/6/2014 Giáo Sư Hugh  White (*) viết, “bằng cách đối đầu với các bạn của Hoa Kỳ bằng bạo lực, Trung Quốc đối đầu với Hoa Kỳ (khiến Hoa Kỳ phải) chọn lựa hơặc bỏ rơi bạn bè hoặc chống lại Trung Quốc. Hoa Lục tin rằng khi phải đối đầu với lựa chọn này, Hoa Kỳ sẽ thoái lui, lúc đó bạn bè và đồng minh không có ai giúp đỡ. Điều này làm suy yếu các đồng minh của Hoa Kỳ cùng những nước hợp tác, (từ đó) suy giảm sức mạnh của Hoa Kỳ ở Á Châu và tăng thêm sức mạnh cho Hoa Lục.”
Tại sao Hoa Kỳ phải thoái lui? Thứ nhất: Dân chúng Hoa Kỳ quá mệt mỏi vì Ô. Bush Con đã lao vào hai cuộc chiến tranh tốn kém, vô ích và để lại nhiều vết thương. 85,000  cựu chiiến binh Mỹ sống vô gia cư mà Bà Michelle Obama gọi đó là "Sự phẫn nộ về mặt đạo đức." (VOA). 

Còn Ô. Obama thắng cử là vì lập trường phản chiến rồi lại được Thụy Điển vội vã trao giải Hòa Bình Nobel, lại lao vào cuộc chiến tranh Lybia, căng thẳng với Iran, Syria là các quốc gia Hồi Giáo khiến phong trào khủng bố quốc tế mới đầu chỉ giới hạn ở một vài nước nay lan rộng ra khắp thế giới - vô phương kiểm sóat. Thứ hai: Nếu nổ ra cuộc chiến tranh với Hoa Lục thì phải là cuộc chiến tranh tổng lực, rồi kéo theo cuộc chiến tranh nguyên tử - cơn ác mộng của Hoa Kỳ!

Rõ ràng hiện nay tại Á Châu đang có mặt của hai siêu cường. Cứ thử tưởng tượng trong một khu rừng có hai con cọp cùng chiếm cứ một lãnh địa, chắc chắc một con phải ra đi. Trận chiến ngày hôm nay không phải chỉ là trận chiến giữ gìn biển đảo của nước nhỏ mà là trận chiến sinh tử của Mỹ. Nếu Hoa Kỷ không nhận ra điều đó mà còn do dự thì Hoa Kỳ chắc chắn sẽ thất bại. Trong bải viết Giàn Khoan Haiyang 981: Bước Ngoặt Trong Tranh Chấp Biển Đông phổ biến ngày 18/5/2014 tôi đã viết, “ Nhiều thất bại quân sự và chính trị trên thế giới xảy ra không phải vì mình yếu chỉ vì mình do dự, không quyết đóan.”  Việc Hoa Kỳ khuyên Phi Luật Tân nhường bãi cạn Scarborough cho Hoa Lục mà Hoa Lục vẫn lấn tới là sai lầm nghiêm trọng chỉ vì do dự và lo sợ một cuộc đối đầu sẽ xảy ra,  nhưng nay lại phải đối đầu với một cuộc xung đột lớn hơn. 

Nói tóm lại, cho đến năm 2009 Hoa Kỳ không hề có chiến lược đối phó với Trung Quốc chỉ vì sa lầy vào các cuộc chiến tranh Iraq , Afghanistan và lo đối phó với quân khủng bố. Quân khủng bố Hồi Giáo cũng là nhân tố làm suy yếu sức mạnh của Hoa Kỳ.

Lịch sử quân sự và chính trị dạy rằng: Nếu đã tính nhường nhịn và thần phục thì phải nhường nhịn và thần phục ngay. Nếu đã quyết chiến thì phải chuẩn bị để quyết chiến. Một quốc gia gặp phải tinh thế như vậy mà do dự không quyết đoán thì sẽ bại vong. Là tướng quân trong một trận chiến gay go, tiến thì không tiến, lùi thì không lùi, ở lại không một kế sách, thì đạo quân đó sẽ tan vỡ. Một quốc gia ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” mà quá lo sợ chiến tranh, sợ  “sinh linh đồ thán”  không dám quyết chiến thì sẽ mất nước thôi. Lịch sử đã từng chứng minh, nếu là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc hoặc giải phóng dân tộc thì người dân sẽ chấp nhận hy sinh tới giọt máu cuối cùng. 

Tôi cho rằng một trong số các nhà lãnh đạo Á Châu có lập trường và kế sách quyết đoán, quyết chiến nhất phải kể tới Thủ Tướng Abe của Nhật Bản. Rất may cho Nhật Bản và Đông Nam Á khi có một lãnh đạo dũng cảm như vậy.
Sau hết, một đât nước bền vững là đất nườc có các nhà lãnh đạo quyết đoán, đúng thời đúng thế. Các nhà quân sự lỗi lạc của thế giới đã dạy rằng: Muốn có hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh, giống như Thượng Tướng Trần Quang Khải đã nói:
Thái bình nghi nỗ lực.
Vạn cổ thử giang san.
Đào Văn Bình
(California ngày 7/6/2014)

(*) Giáo Sư Nghiên Cứu Chiến Lược, Đại Học Quốc Gia Úc Châu; tác giả cuốn “Lựa Chọn của Trung Quốc: Tại Sao Chúng Ta Cần Chia Xẻ Quyền Lực (The China Choice: Why We Should Share Power)




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link