Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, July 6, 2014

Hiện Đại Hóa Và Dân Chủ

Hiện Đại Hóa Và Dân Chủ

2014 APR 29 WE'RE THE WORLD.300
Hiện đại hóa là một thuật ngữ dùng để chỉ một tiến trình chuyển biến từ trạng thái cổ điển sang trạng thái hiện đại. Thuật ngữ này được dành cho các xã hội đang ở trong thời kỳ chuyển biến này.

Các sử gia liên hệ hiện tượng hiện đại hóa với các hiện tượng đô thị hóa, kỹ nghệ hóa và phổ quát hóa giáo dục. Khi hiện tượng hiện đại hóa xuất hiện trong một xã hội thì cá nhân càng ngày càng trở nên quan trọng và dần dần thay thế gia đình hay cộng đồng ở vị trí đơn vị chủ thể của xã hội (fundamental unit of society).

Lý thuyết hiện đại hóa thường được coi như “kim chỉ Nam” cho những quốc gia đang phát triển như trường hợp của Trung Quốc. Tác giả Gian Chungdan, trong tập nghiên cứu nhan đề “Chinese studies in history” (2009) viết: “Sự hiện đại hóa Trung Quốc phải được rút ra từ những kinh nghiệm và bài học của những quốc gia khác”. Khi tiến trình hiện đại hóa bắt đầu tác động thì các vấn đề tín ngưỡng và văn hóa dần dần trở thành kém giá trị.

Lý thuyết hiện đại hóa
Theo thuyết “hiện đại hóa” thì xã hội nào cũng có thể phát triển từ trạng thái “cổ điển” sang trạng thái “hiện đại” và sự chuyển biến đó thường đi theo một lộ trình. Quốc gia càng hiện đại bao nhiêu thì càng giàu mạnh bấy nhiêu, dân tộc được hưởng nhiều tự do hơn và mức sống của dân chúng cũng cao hơn. Hiện đại hóa có thể coi như một “tiến trình” hoặc một sự “công phá” (offensive) cũng không sai.

Trong ý nghĩa công phá nó bao gồm những phát triển và cơ hội cho con người định hình và kiểm soát, hay nói khác, những sự phát triển này có thể điều chỉnh và phê bình. Hiện đại hóa bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 19 nhưng chỉ trở thành một đề tài quen thuộc trong học giới kể từ thế kỷ 20. Hiện đại hóa đối nghịch với truyền thống vì truyền thống cản trở phát triển và tiến bộ.

Những người ủng hộ thuyết hiện đại hóa chia làm hai nhóm: nhóm lạc quan và nhóm bi quan. Người lạc quan tin rằng những trở ngại đối với tiến trình hiện đại hóa, nếu có, thì cũng chỉ là tạm thời và sẽ bị vượt qua. Người bi quan, trái lại, cho rằng những trở ngại đó khó lòng mà vượt thoát.

Hiện đại hóa trong thực tiễn Hoa Kỳ
Vào đầu thế kỷ 20, nhóm cấp tiến tại Hoa Kỳ là những người chủ trương hiện đại hóa xông xáo nhất. Họ tin rằng khoa học kỹ thuật, chuyên môn và giáo dục là những giải pháp hữu hiệu cần áp dụng để giải quyết tình trạng yếu kém của một quốc gia.

Người Mỹ cấp tiến cổ võ quyết liệt sự mở mang và kỹ nghệ hóa đô thị. Họ tin tưởng vào khả năng của con người có thể cải tiến môi trường và điều kiện sống, có thể phát triển kinh tế và thăng tiến xã hội, có thể làm tốt hơn trong lãnh vực chuyên môn và trong lãnh vực cai trị. Hiện tượng hiện đại hóa tại Hoa Kỳ phát triển và thành công nhanh nhất.

Đức Quốc
German Sonderweg (con đường phát triển ngoại lệ của Đức) có một lịch sử sôi động. Các học giả cho rằng con đường đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến chủ nghĩa Quốc Xã và là thảm họa cho nước Đức vào giữa thế kỷ 20. Con đường đó bắt đầu từ 1860 đến 1890 khi hiện tượng hiện đại hóa bắt đầu xuất hiện.

Sonderweg không phải là con đường phát triển của Tây Phương. Hoàn cảnh đặc biệt về lịch sử của nước Đức và những sự kiện được coi như là những tiền đề đưa đến chủ nghĩa Quốc Xã đã là những trở lực cho vấn đề phát triển kinh tế và dân chủ và tạo điều kiện thuận lợi cho nạn phát xít lan tràn.

Mẫu hình Sonderweg đã là động lực thúc đẩy ba ngành nghiên cứu về lịch sử Đức Quốc hiện đại: lịch sử của thế kỷ 19; lịch sử của giai cấp tư sản; sự so sánh với các nước Tây Phương. Các nghiên cứu này, đến nay, đã được coi như chấm dứt. Tuy nhiên, người Đức vẫn chưa đưa ra được một giải thích thỏa đáng nào về hiện tương hiện đại hóa của quốc gia họ.

Pháp Quốc

Trong tác phẩm “ Sự hiện đại hóa của nước Pháp nông nhiệp 1880-1914” (The Modernization Of Rural France 1880-1914) (1976) tác giả Eugene Weber đã mô tả sự hiện đại hóa của nông thôn nước Pháp từ thời kỳ lạc hậu cô lập sang thời kỳ phát triển với một tinh thần quốc gia rõ rệt vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Ông nhấn mạnh đến vai trò của đường sắt, của các trường học cộng hòa, của chế độ động viên quân sự. Weber nhận xét là cho đến thời điểm 1900 thì tinh thần quốc gia của người Pháp phải được coi như rất yếu ớt tại các tỉnh lỵ. Tinh thần này chỉ được vực dậy đưới thời đệ tam cộng hòa. Quyển sách được hoan nghênh rộng rãi nhưng nhiều người cho rằng tinh thần quốc gia Pháp thật sự đã lan tỏa tới các tỉnh lỵ trước năm 1870.

Á Châu
Vấn đề hiện đại hóa của các nước Á Châu đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm. Sách vở đã nói nhiều về sự hiện đại hóa của Nhật Bản vào thế kỷ 19 dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, của Trung Quốc và Ấn Độ vào thế kỷ 20. Các cuộc nghiên cứu này đều mô tả sự du nhập các tiến trình phát triển khoa học và kỹ thuật vay mượn từ Phương Tây.

Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu đi vào tiến trình hiện đại hóa từ cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911, tức là từ khi nhà Thanh, triều đình cuối cùng của Trung Quốc chấm dứt. Trước khi triều đình này bị lật đổ, đã có một thời kỳ (1902-1908) trong đó nhà Thanh tiến hành một số cải cách theo mẩu hình của Tây Phương, nhưng những cải cách đó không những không thành công mà còn đưa đến hậu qủa là cuộc Cách Mạng Tân Hợi đã nổ ra.

Tiếp theo là Phong Trào Ngũ Tứ 4-5-1919 (May 4th Movement 1919). Cả cuộc Cách Mạng Tân Hợi lẫn Phong Trào Ngũ Tứ đều chủ trương hiện đại hóa. Tuy nhiên từ đầu thế kỷ 20 cho đến năm 1949 chiến tranh đã liên tục xảy ra (chiến tranh Trung-Nhật, chiến tranh Quốc-Cộng) nên tiến trình hiện đại hóa đã bị đình hoãn.

Khi Đảng CSTQ chiếm được chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông lấy Liên Xô làm mẫu hình để hiện đại hóa đất nước. Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại (1958-1961) bắt chước mẩu hình “kế hoạch ngũ niên của Liên Xô” để phát triển, kỹ nghệ hóa và tập thể hóa xã hội. Bước Nhảy Vọt thất bại và tiếp theo là cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) cũng thất bại theo.

Phải đợi đến khi Đặng Tiểu Bình lên ngôi (1978) và áp dụng chương trình “bốn hiện đại hóa”: nông nghiệp, kỹ nghệ, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, dựa trên những mẩu hình của Tây Phương, thì công cuộc hiện đại hóa mới thành công. Đặng đã phi tập thề hóa kinh tế nông thôn, chấp nhận kinh tế tư nhân, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt, kêu gọi đầu tư ngoại quốc và khuyến khích thị trường tự do.

Sau khi Đặng chết, những thế hệ tiếp theo cũng vẫn đi theo con đường mà Đặng đã vạch ra. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành kinh tế thị trường nhưng chế độ chính trị thì không có gì thay đổi. Đây là điểm đặc biệt của hiện tượng hiện đại hóa trên lãnh thổ Trung Hoa.

Sang thế kỷ 21, tiến trình hiện đại hóa này vẫn còn đang tiếp tục và Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới sau Hoa Kỳ. Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay bắt đầu phải đối mặt với một với một số vấn đề nan giải như nạn tham nhũng lan rộng bất khả trị, hố cách biệt giàu nghèo ngày càng loãng rộng và ô nhiễm môi trường tác hại trầm trọng.

Đại Hàn Dân Quốc
Đại Hàn Dân Quốc bắt đầu hiện đại hóa từ thế kỷ 19. Những nhà cải cách lưỡng lự giữa hai mẫu hình: Hoa Kỳ và Nhật Bản. Phe cải cách được giáo dục bởi Tây Phương và theo Thiên Chúa Giáo nghiêng về mẫu hình của Hoa Kỳ nhưng họ chỉ là thiểu số. Đa số còn lại nghiêng về mẫu hình của Nhật Bản.
Nhìn chung thì mẫu hình hiện đại hóa của Nam Triều Tiên mang bốn sắc thái: hiện đại, thuộc địa, dân tộc và Thiên Chúa Giáo. Trong bốn sắc thái đó, hai dấu ấn Tây Phương (hiện đại) và Nhật Bản (thuộc địa) hiện lên rõ nét nhất. Giữa hai dấu ấn này ảnh hưởng của Đông Phương (Nhật Bản) có vẻ sâu đậm hơn nên tiến trình hiện đại hóa chuyển biến hơi chậm chạp.

Bắt đầu từ 1945, Hoa Kỳ đã có những phát triển tích cực nhằm giúp đỡ Nam Triều Tiên hiện đại hóa, biến Nam Triều Tiên thành một quốc gia-nhà nước (nation state) với một nền kinh tế năng động.

Những tác nhân đã đóng góp tích cực vào tiến trình hiện đại hóa Nam Triều Tiên, đến từ Hoa Kỳ gồm có: quân đội Hoa Kỳ, chương trình hợp tác kinh tế Hoa Kỳ-Triều Tiên, chương trình tái thiết Triều Tiên của Liên Hiệp Quốc và một số tổ chức phi chính phủ mang tên: The Presbyterian Church, The YMCA, Boy Scouts and The Ford Foundation.

Nhiều người Triều Tiên lưu vong sang California và Hawaii (Hoa Kỳ) cũng hồi hương và mang theo cung cách làm ăn hiện đại cho thương giới và cho chính phũ Đại Hàn Dân Quốc.

Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey)
Thổ Nhĩ Kỳ vào thời Mustapha Kemal Ataturk (1920-1930) đã tích cực lao mình vào một chương trình hiện đại hóa mang tên “Kemalism”. Hàng trăm học giả và chuyên viên Tây Phương đã tình nguyện sang giúp đỡ. Những người này cùng với những nhà trí thức Thổ đã triển khai một mẫu hình hiện đại hóa thành công.

Châu Mỹ La Tinh
Từ ngày thâu hồi độc lập các quốc gia Châu Mỹ La Tinh đã không để mất thời giờ và lao ngay vào vấn đề hiện đại hóa. Nhiều kế hoạch cụ thể đã được thi hành ngay từ năm 1964. Mặc dầu không tuyệt đối giống nhau, nhưng nhìn chung thì kế hoạch nào cũng bao gồm một số nét chính sau đây: đường hướng phát triển, kế hoạch nhà nước, vai trò của các chuyên gia và biện pháp ổn định chính trị. Tất cả các kế hoạch hiện đại hóa đều thành công và mang dấu ấn của những cải cách Tây Phương.

Hy Lạp (Greece)
Hiện tượng hiện đại hóa tại Hy Lạp xuất hiện bắt đầu từ thập kỷ 1960 trên hai lãnh vực nghệ thuật và khoa học kỹ thuật. Trên lãnh vực nghệ thuật, nhất là đối với các bộ môn âm nhạc, phim ảnh, ca nhạc, người ta thấy rõ rệt dấu ấn của ảnh hưởng Hoa Kỳ. Trên lãnh vực văn học cũng vậy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ nổi trội nhất.

Cách mạng kỹ nghệ và sự cấp tiến hóa (radicalization) xã hội đã đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề phát triển. Nhìn chung tất cả các bộ môn như: hội họa, thơ văn, kiến trúc, chính trị và tôn giáo .. môn nào cũng tiến triển nhanh chóng, đồng bộ và trở nên phong phú kể từ khi Thế Chiến II chấm dứt.

Phi Châu (Africa)
Tại Phi Châu tiến trình hiện đại hóa phát triển chậm chạp và ảnh hưởng của nó không bao trùm mọi quốc gia trong phần đất này của thế giới. Tại một vài quốc gia, chẳng hạn như Nigeria vấn đề hiện đại hóa không những không làm lợi cho đất nước mà còn làm tiêu hao rất nhiều tài nguyên của quốc gia.

Tài nguyên dầu hỏa hoàn toàn ở trong tay các công ty ngoại quốc trong đó hãng SHELL là hãng quan trọng nhất. Nhờ các công ty này mà đất nước Nigeria được kỹ nghệ hóa một phần rất nhỏ và lợi tức khai thác dầu mỏ thu về chỉ là 1/15 lợi tức các công ty ngoại quốc được hưởng.


Thật ra những chuyển biến tại Phi Châu có nhiều phần là Tây Phương hóa hơn là hiện đại hóa. Khi thực dân Anh, Pháp sang đô hộ vùng này, họ xóa bỏ các bộ lạc và tập trung dân bản xứ thành từng quốc gia theo kiểu Tây Phương. Do đó mà ảnh hưởng của Tây Phương có phần áp đảo.

Các khu vực kinh tế (national park) được thành lập sau khi các bộ lạc bị giải tán. Vì có sự thay đổi này nên các nền văn hóa bộ lạc bị tiêu tan và các thế hệ cá nhân sau này hoàn toàn bị ảnh hưởng của Tây Phương. Sinh hoạt bộ lạc không còn nữa và thay thế vào đó là một lối sống hoàn toàn xa lạ nhập cảng từ các nước Anh và Pháp.
* * *
Hiện đại hóa và dân chủ
Các học giả cho rằng dân chủ luôn luôn đi theo hiện đại hóa, chỉ cách nhau bằng một thời gian hoặc dài hoặc ngắn. Các hiện tượng phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa, bình dân hóa giáo dục và thịnh vượng gia tăng, đã quện chặt với nhau và trở thành yếu tố chính yếu thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước (Seymour Martin Lipset).

Luận thuyết này bị chỉ trích nhiều vào thập kỷ 1960. Các nhà phê bình cho rằng luận thuyết đó căn cứ quá nhiều vào lịch sử Âu Châu và không quan tâm gì mấy đến lịch sử của các nước thuộc thế giới thứ ba. Mặc dầu có sự phê bình này, sự xuất hiện gần đây của hiện tượng dân chủ tại Nam Triều Tiên, Đài Loan, Nam Phi đã củng cố lại phần nào giá trị của luận thuyết đó.

Tuy nhiên, nếu phân tích lịch sứ của nước Đức thì ta thấy là sau vụ hiện đại hóa vào thế kỷ 19, dân chủ đã không xuất hiện trong thế kỷ tiếp theo . Chính vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu khác (Inglehart &Welgel, 2009) ̣ cho rằng để dân chủ có thể xuất hiện, chỉ riêng yếu tố hiện đại hóa sẽ không đủ mà còn phải thêm cả hai yếu tố văn hóa và xã hội.

Nhà nghiên cứu Peerenborn (2008) thì thấy rằng phải thêm cả yếu tố pháp tri (rule of law) thì dân chủ mới chóng thành hình. Đồng thời cũng không loại bỏ được yếu tố sau cùng là: một mức độ nào đó về phát triển kinh tế. Philippines, Bangladesh, Thailand, Indonesia chưa thực sự trở thành dân chủ vì kinh tế chưa đạt được mức độ đòi hỏi. Một số quốc gia khác đang phát triển cũng ở trong tình trạng này.

Cuộc tranh luận về mối liên hệ giữa hiện đại hóa và dân chủ vẫn chưa chấm dứt. Hiện đại hóa là một ý niệm dễ gây lẫn lộn với Tây Phương hóa. Thật ra thì hiện đại hóa thường đòi hỏi phải gỡ bỏ nền văn hóa địa phương hay quốc gia để thay thế bằng một nền văn hóa mang nặng tính Tây Phương.

Giờ đây một phiên bản mới về hiện đại hóa đã xuất hiện và người ta đồng thời cũng đã chuyển đề tài tranh luận sang một lãnh vực khác: lãnh vực nhân quyền, song song với việc lấy trườg hợp của Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu. Vấn đề này sẽ được bàn tới một cách rộng rãi hơn trong bài viết tiếp theo.

Nguyễn Cao Quyền
Tháng 6 năm 2014

Atlanta, Georgia, USA: TUẦN HÀNH và BIỂU TÌNH phản đối VIỆT CỘNG và TRUNG CỘNG

 

vào Ngày Thứ Sáu, 30 tháng 5, năm 2014 trước CNN Headquarter Center. ( CNN Center and Tour )

Hình ảnh cuả Young Huynh.


https://www.facebook.com/young.huynh.12/media_set?set=a.724628597595466.1073741912.100001449974214&type=1&l=a4f7382feb

Em Vẫn Mơ Một Ngày Về ( Nguyệt Ánh ) - Hồng Diễm - Cát Lynh

http://www.youtube.com/watch?v=4VcdAmeWSi4


Atlanta, Georgia, USA: Large protest against Red China


















http://ireport.cnn.com/docs/DOC-1139513

Atlanta, Georgia, USA: Large protest against Red China
 

 

http://ireport.cnn.com/docs/DOC-1139513


 

"Thế giới đại đồng" và độc đảng đang đẩy Hà Nội làm trò hề cho Bắc kinh!

 

"Thế giới đại đồng" và độc đảng đang đẩy Hà Nội làm trò hề cho Bắc kinh!

Việt Nam Nhìn Về Tương Lai

https://www.youtube.com/watch?v=EFY_83twT6Y

Bắc kinh đang ngang ngược lấn chiếm biển, đảo, tài nguyên và đe dọa độc lập thì Hà Nội vẫn loay hoay không biết chọn cách nào, cô đơn không có đồng minh tin cậy và đủ mạnh.

 

Liên minh không phải là gây chiến tranh mà chính là làm chiến tranh không thể xẩy ra, làm cho kẻ thù không dám phiêu lưu. Hòa bình theo kiểu cúi đầu nhượng bộ từng bước trong suốt hơn 20 năm qua là hòa bình trong nô lệ. 

 

Nhưng một liên minh vững vàng và tin cậy chỉ diễn ra dưới điều kiện giữa các nước cùng theo đuổi những giá trị xã hội chung. Muốn liên minh với các nước dân chủ mà lại đòi giữ nguyên chế độ độc tài thì chỉ là nuôi ảo tưởng với chính mình và đánh lừa nhân dân!

 

Âu Dương Thệ (Danlambao) - Từ đầu tháng 5. 2014 Bắc kinh đã sử dụng cả trăm tầu chiến, phi cơ, tầu hải giám và kiểm ngư hộ tống giàn khoan HD 981 xâm nhập hải phận VN và dựng giàn khoan khủng này ngay trong thềm lục địa VN. Trong những ngày vừa qua Bắc kinh còn dựng thêm hai giàn khoan khác ở vịnh Bắc bộ trong vùng đang còn tranh chấp giữa VN-Trung quốc và tự ý công bố bản đồ mới thay vì 9 khúc thành 10 khúc mở rộng thêm quyền kiểm soát trên biển Đông. Để bảo vệ các hành động xâm lấn của mình, Bắc kinh đang cho tăng cường các tầu chiến, máy bay quân sự trong các khu vực họ vừa dựng các giàn khoan, đồng thời sử dụng các tầu bọc thép ngăn cản và đâm nát nhiều tầu hải giám VN đang làm công tác tuần tra trên phần lãnh hải của VN.

 

Các hành động xâm lấn ngang ngược và nguy hiểm trên đây đã chứng tỏ chính sách xâm lược công khai của tân đế quốc Bắc kinh vào đầu Thế kỉ 21. Nó chứng minh chủ nghĩa đế quốc bành trướng thực dân kiểu mới của Bắc kinh đang là kẻ thù nguy hiểm trực tiếp của toàn dân tộc ta. 

 

Nhưng trước những phẫn uất của nhân dân và cả một phần trong Đảng, người cầm đầu chế độ toàn trị đã trả lời như thế nào?

 

Ngày 1.7 trước sự bức xúc và lo ngại của nhân dân, nhiều cử tri ở Tây hồ, Hoàn kiếm Hà nội đã đặt câu hỏi với người cầm đầu chế độ toàn trị về thái độ và cách đối phó trước các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh từ khi họ dựng giàn khoan ngay trên thềm lục địa của VN từ đầu tháng 5. Sau khi rào trước đón sau Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: "Đặc biệt là phải tập trung bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội." [1]

 

Khi nói câu này người cầm đầu chế độ toàn trị và từng là lí thuyết gia chiến lược của chế độ độc tài đã bộc lộ một số chủ trương căn bản trong việc đối phó với Bắc kinh:

 

1. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu là "bảo vệ Đảng" và "bảo vệ chế độ" toàn trị.

 

2. Vì thế đối với Bắc kinh, vẫn muốn "giữ vững môi trường hòa bình" dù họ đang xâm lấn ngang ngược.

 

3. Đối với sự chống đối của nhân VN thì Đảng sẵn sàng cho bộ máy công an đàn áp để giữ gìn "an ninh chính trị".

 

Gói ghém trong ba điểm chính trên ông Trọng đã bộc lộ chủ trương là sẽ không dám động đến chân lông "Bạn", 'bốn tốt' và lường trước là, như thế sẽ gặp phải sự chống đối càng mạnh của nhân dân, đi đầu là trí thức và thanh niên, cho nên bộ máy an ninh đàn áp sẽ phải ra tay mạnh hơn, chỉ như vậy mới tiếp tục bảo vệ được sự độc quyền của Đảng. Tóm lại, ở đây ông Trọng vẫn lập lại chủ trương mà nhân dân đang nguyền rủa kết án "hèn với giặc, ác với dân", "đảng trước nước sau" của những người cầm đầu chế độ toàn trị!

 

Nhưng vì sao vài người có quyền lực nhất trong Bộ chính tri ĐCSVN lại rất lo sợ trước Bắc kinh, lúng túng không biết chọn giải pháp nào và đang rơi vào cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược? Tại sao thay vì một chính sách đại đoàn kết chống ngoại xâm phương Bắc, nhưng cũng chính những người này lại vẫn tiếp tục thẳng tay đàn áp các trí thức và thanh niên và chia rẽ các tầng lớp nhân dân chỉ vì chống Bắc kinh xâm lược? Nắm vững được tình hình và nguyên nhân sẽ thấy rõ con đường đi mới của VN và sứ mệnh lịch sử của nhân dân ta, đi đầu là trí thức và thanh niên, kể cả những người CS tiến bộ biết quí tự trọng!

 

Chế độ độc đảng lấy 'thế giới đại đồng' coi mộng làm thực là hai nguyên nhân chính giúp Bắc kinh trở thành kẻ thù nguy hiểm trực tiếp của VN

 

Trong khuôn khổ giới hạn của bài, ở đây chỉ dẫn chứng một số sự kiện quan trọng tiêu biểu về việc những người cầm đầu CSVN, qua nhiều thế hệ lãnh đạo, đã tôn thờ tư tưởng về 'thế giới đại đồng' từ Marx-Lenin đến Mao là 'tiến bộ'"khoa học"'chân lí' và còn khẳng định, chỉ có duy trì sự độc tôn toàn trị của ĐCS mới thực hiện được mục tiêu tiến tới 'thế giới đại đồng'! Chính vì thế người sáng lập ĐCSVN đã công khai coi chủ nghĩa Marx-Lenin như là những cây đũa thần và từ khi Mao Trạch Đông giải phóng lục địa Trung quốc và viện trợ súng đạn và cố vấn thì ông Hồ chọn thêm tư tưởng Mao làm thần tượng! 

 

Mặc dầu tư tưởng 'thế giới đại đồng' chỉ là một huyền thoại viển vông, nhưng họ lại tin tưởng tuyệt đối vào nó và coi tình anh em giữa các ĐCS cao hơn quyền lợi chính đáng và lâu dài của dân tộc. Trong khi đó, đối với chính nhân dân, đồng bào của mình, vì chủ trương giai cấp đấu tranh và tôn thờ tuyệt đối vào bạo lực nên đã bao nhiêu lần họ đã thẳng tay tiêu giệt những người dân chủ, đàn áp nông dân, trí thức và các tôn giáo.

 

Nhiều thế hệ lãnh đạo CSVN đã lẫn lộn giữa mục tiêu và phương tiện, thậm chí lấy phương tiện làm mục tiêu. Như Hồ Chí Minh lúc đầu dùng học thuyết Marx và phương pháp cướp chính quyền của Lenin (phương tiện) để giải phóng đất nước, giành độc lập cho VN (mục tiêu). Nhưng sau khi cướp được chính quyền lại bắt dân phải tuyệt đối tuân theo chủ nghĩa Marx-Lenin, tôn thờ lí tưởng không tưởng "thế giới đại đồng", xua bao nhiêu triệu người vào 30 năm chiến tranh làm nghĩa vụ quốc tế cho các đảng "anh em". Quan điểm cực kì sai lầm này đã được một số chuyên viên cao cấp của chế độ cảnh báo ngay từ cuối thập niên 80 trong một số cuộc hội thảo do chính Tạp chí CS khi ấy tổ chức. Vì chính khi đó phe giáo điều bảo thủ trong Bộ chính tri đang tìm cách giành lại tay lái và chuẩn bị quay đầu sang chầu Bắc kinh.[2]

 

Có nắm vững được hai chủ trương "thế giới đại đồng" và độc đảng theo "chuyên chính vô sản" của nhóm cầm đầu CSVN khi ấy mới hiểu được, vì sao đã có Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ trướng Trung quốc Chu Ân Lai 14.9.1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung quốc trên biển Đông; đồng thời hoàn toàn im lặng trước việc Bắc kinh dùng hải quân đánh chiếm Hoàng sa của VN 1.1974, khi ấy đang dưới sự quản trị của Việt Nam Cộng hòa. Nhưng chính khi đó lại cho đổ toàn bộ quân đội từ miền Bắc vào miền Nam để giết hại đồng bào mình! Và trong các sách giáo khoa của CSVN giảng dậy trẻ em VN trước 1974 cũng đã từng coi các đảo Hoàng sa-Trường sa là thuộc Trung quốc. Chính vì vậy trong Văn thư gởi Liên hiệp quốc 8.6.2014 nhà cầm quyền Bắc kinh đã dẫn chứng các văn kiện chính thức này của CSVN đối với các quần đảo tranh chấp để chứng minh lí lẽ của họ.[3] Nghĩa là nhóm cầm đầu Bắc kinh hiện nay đã lợi dụng sự mơ tưởng hão huyền đến độ cực kì ngây thơ của nhà cầm quyền Hà nội để làm bằng chứng cho việc họ chiếm đóng Hoàng sa-Trường sa của VN!

 

Sau sự sụp đổ của các nước CS Đông Âu và Liên xô vào cuối thập niên 80 những người cầm đầu CSVN khi ấy (Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh…) vẫn theo tiêu chí giá trị Đảng trước nước sau, vì sợ chế độ toàn trị bị tiêu vong, hay ít nhất sẽ bị mất độc quyền; nên họ đã tin rằng nếu CS Trung quốc trụ được thì CSVN cũng trụ được; nghĩa là trong tình hình đen tối chung thì Bắc kinh cũng sẽ mở vòng tay cứu vớt Hà nội! Vì thế nhóm cầm đầu CSVN khi ấy đã cúi đầu thần phục, do đó mới có cuộc họp bí mật ở Thành Đô, Trung quốc vào đầu tháng 9.1990. Từ đó không chỉ "hợp tác chiến lược toàn diện" trên các bình diện đảng, nhà nước giữa hai bên trong chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh. Độc hại nữa là, hi vọng Bắc kinh sẽ vực dậy nền kinh tế đang phá sản của chế độ độc đảng ở VN, Hà nội còn mở toang cửa kinh tế cho Bắc kinh thả cửa làm ăn ở VN. Vì thế chỉ mới trên hai thập niên qua nền kinh tế VN đã gần như bị buộc chặt vào thị trường Trung quốc (từ nông sản, khoáng sản, nguyên liệu đều phụ thuộc vào thị trường Trung quốc; đại đa số các công trình hạ tầng đều nằm trong tay các công ti Trung quốc; kim ngạch nhập siêu từ Trung quốc từ 200 triệu USD (2001) lên tới gần 24 tỉ USD (2013).[4]  Sự lệ thuộc vào kinh tế Trung quốc đã tới mức nguy hiểm, nên chính Trương Tấn Sang đã phải nhìn nhận: “Chỉ còn hơn một năm rưỡi thì đến ngày 1.1.2016 về thương mại hóa tự do Trung Quốc – ASEAN, nếu cứ lình sình như thế này thì đến ngày 1.1.2016, hàng hóa các loại của Trung quốc sẽ tràn ngập lãnh thổ Việt Nam”.[5]

 

Lệ thuộc kinh tế đã là nguy hiểm, nhưng nô lệ trong tư tưởng trong tâm lí với Bắc kinh của những người cầm đầu chế độ toàn trị Hà nội còn cực kì nguy hiểm hơn! Vài năm trước ngay tại Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã từng tuyên bố "Tình hình biển Đông không có gí mới", rồi trước các Hội nghị Trung ương người cầm đầu chế độ còn gọi những lãnh tụ Bắc kinh, những kẻ đang xâm lấn biển đảo VN, là "Bạn". Tới giữa tháng 6 sau khi giàn khoan HD 981 đã dựng chỗm trệ trong thềm lục địa VN, nhưng khi tiếp Dương Khiết Trì Nguyễn Phú Trọng vẫn xưng hô là "đồng chí".[6] Có hiểu như thế mới thấy được động cơ nào và nhằm mục tiêu gì trong tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng ngày 1.7: "Đặc biệt là phải tập trung bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội."! 

 

Những tuyên bố cực kì sai trái như trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã làm tê liệt ý chí cảnh giác của đảng viên cũng như nhân dân trước ý đồ của Bắc kinh, đồng thời đánh lạc toàn bộ sự theo dõi của dư luận quốc tế; không có cường quốc nào tin tưởng chế độ Hà nội dám đứng thẳng trước Bắc kinh! Chính chế độ độc tài suốt trên 60 năm khiến cho những người cầm đầu mới có thể làm mưa làm gió, đưa ra các tuyên bố vô trách nhiệm và các quyết định cực kì sai lầm, đồng thời ngăn cấm những quan điểm đúng đắn, đàn áp những tiếng nói trung thực, trong khi đó lại ca tụng những chuyện không tưởng viển vông và lấy thù làm bạn. Vì thế họ đang đẩy đất nước vào hoàn cảnh cực kì nguy hiểm như hiện nay!

 

Trong các nước Dân chủ đa nguyên đảng cầm quyền thường xuyên bị các chính đảng đối lập, các tổ chức dân sự và các báo chí độc lập theo dõi và kiểm soát các hoạt động. Vì thế các cuộc tranh luận công khai và thẳng thắn ngay tại quốc hội và trên các cơ quan báo chí làm cho đảng cầm quyền phải thận trọng và cân nhắc trước các quyết định ảnh hưởng trực tiếp tới vân mạng dân tộc và quyền lợi thiết thực của nhân dân. Nếu không thì đảng cầm quyền sẽ mất chính quyền khi đa số cử tri bỏ phiếu chống lại trong các cuộc bầu cử dân chủ tự do. 

 

Dưới chế độ độc đảng toàn trị của ĐCSVN đã hoàn toàn không có các điều kiện trên. ĐCS một mình một chiếu, độc thoại, độc quyền, Quốc hội theo lối đảng cử dân bầu, trong đảng thì làm việc theo tập trung dân chủ khiến cho chỉ vài ông vua tập thể trong Bộ chính tri làm mưa làm gió, nhưng lại không phải chịu trách nhiệm cá nhân. Chính cơ chế sinh hoạt của chế độ độc đảng là mụ đỡ cho các tệ trạng xã hội như tham nhũng, gia đình trị, nhóm lợi ích. Nó cũng là thủ phạm gây ra những sai lầm nguy hiểm và kéo dài trong chính sách an ninh đối ngoại; vì không được nhân dân ủng hộ nên những người có quyền lực phải nhờ các thế lực bên ngoài che chở. Đây chính là hoàn cảnh của VN hiện nay dưới chế độ độc đảng. Nguy hiểm rõ ràng là, hiện nay những người cầm đầu chế độ toàn trị Hà nội đã bị biến thành những anh hề làm trò xiệc để Bắc kinh ngang ngược lấn biển, chiếm đảo và đang đe dọa nghiêm trọng chủ quyền và độc lập của VN! 

 

Lúng túng với kẻ thù, ông nói gà bà nói vịt trong Bộ chính trị

 

Từ lệ thuộc tư tưởng và chính trị tới lệ thuộc kinh tế, thương mại ngày càng trầm trọng, khiến cho tứ trụ triều đình CS ở Hà nội đang rơi vào thế bị động và vô cùng lúng túng đặc biệt từ khi Bắc kinh đặt giàn khoan HD 981:

 

- Hội nghị Trung ương 9 của CSVN diễn ra đúng vào dịp Bắc kinh đặt giàn khoan HD 981, nhân dân cả nước lo ngại và phẫn uất, dư luận quốc tế rất quan tâm. Là đảng độc quyền và khẳng định là lực lượng lãnh đạo dân tộc, nhưng Bộ chính tri đã không cho Trung ương đảng thảo luận mà chỉ thông tin nhỏ giọt những gì họ cho phép. Vì vậy Hội nghị Trung ương 9 đã không có tuyên bố chung kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh. Mặc dầu theo Điều lệ Đảng Trung ương đảng là cơ quan cao nhất. Như thế cho thấy họ đòi lãnh đạo dân tộc, nhưng lại vô cảm và vô trách nhiệm với vận mệnh dân tộc![7]

 

- Cũng vào thời gian này Quốc hội khóa 13 đang họp kì 7 suốt 5 tuần cũng không giành ưu tiên một buổi họp đặc biệt về tình hình căng thẳng trên biển Đông sau khi Bắc kinh dựng giàn khoan HD 981. Cho nên cuối cùng Quốc hội cũng không ra được một tuyên bố hay nghị quyết kết án hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh. Mặc dầu theo Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất! Khi Quốc hội bế mạc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã không dám ra trước báo chí trả lời tại sao Quốc hội lại vô cảm trước bức xúc của nhân dân, nên đã giao cho Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời ấp úng và lúng túng về việc tại sao Quốc hội không ra được một tuyên bố kết án Bắc kinh xâm lấn.[8] Trong khi đó một nhân vật thân cận của Nguyễn Phú Trọng,Trần Quốc Thuận, cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, đã nói thẳng "Quốc hội Việt Nam chưa ra nghị quyết riêng về Biển Đông vì tình hình chưa 'đặc biệt nghiêm trọng'"!!![9] Nhận định này của ông Thuận phản ảnh quan điểm của Nguyễn Phú Trọng khi còn là Chủ tịch Quốc hội: "Tình hình biển Đông không có gì mới!"

 

- Giữa tháng 6 sau 6 tuần ngang ngược dựng giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa VN và đánh phá các tầu tuần tra của VN Bắc kinh đã cử Dương Khiết Trì, người đứng đầu ngành ngoại giao Trung quốc, sang dọa dẫm VN và ra lệnh: "Điều bức xúc nhất hiện nay là Việt Nam cần phải đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc".[10] Nhưng thật là quái đản, ngày 18.6 Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị vẫn gọi Dương Khiết Trì là "đồng chí"![11]

 

Không những thế vì sợ Bắc kinh nên Bộ chính tri lại cản không cho PhóThủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sang Washington thảo luận với Mĩ về tranh chấp biển Đông với Bắc kinh theo lời mời cùa ngoại trưởng Kerry. Nhưng lại cho Tôn Nữ Thị Ninh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, thúc giục Liên minh Âu châu (EU) lên tiếng kết án Trung quốc. Thật là lúng túng, mâu thuẫn cùng cực![12]

 

- Trong các tuần gần đây Nguyễn Tấn Dũng lại đóng vai anh hùng rơm, mượn cơ hội tuyên bố rất nổ trong một số dịp liên quan tới giàn khoan HD 981. Nhưng khi cần có tiếng nói của người cầm đầu chính phủ thì ông lại tránh né. Như việc ông Dũng không dám ra trước Quốc hội tuyên bố kết án Bắc kinh bành trướng trên biển Đông. Từ lâu mọi người đầu biết là anh Ba Dũng hay "Đồng chí X" trước sau vẫn chỉ là người "đón gió" nhưng không dám "đổi cờ"! Mỗi khi xẩy ra những bức xúc trong dư luận thì Nguyễn Tấn Dũng lại dùng ngôn ngữ rất nổ và hô hoán lớn, nhưng sau khi đánh trống xong thì quẳng dùi đi, chỉ muốn mượn gió bẻ măng mà thôi! Mới đầu năm nay Nguyễn Tấn Dũng đã từng quả quyết "phải làm lễ kỉ niệm 19.1 và 17.2" và phất cao"ngọn cờ dân chủ".[13] Nhưng sau khi Tập Cận Bình ra lệnh qua đường giây nóng thì ông Dũng lại im thin thít. 8 năm dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng cũng là thời kì kinh tế VN càng lệ thuộc Trung quốc, những người dân chủ bị giam cầm và đàn áp thô bạo nhất; chính ông ra lệnh cấm biểu tình chống Bắc kinh xâm lấn và cấm chuyên viên, trí thức được phản biện công khai và cũng là thời kì tham nhũng trắng trợn nhất![14] 

 

***

 

Sự phá sản của chủ nghĩa Marx-Lenin vào cuối thập niên 80 với sự tan rã của Liên xô và các nước CS Đông Âu như trận động đất chính trị, nhưng đã không làm những người CSVN độc tài bảo thủ thức tỉnh. Trái lại vì đặt quyền lợi "đảng trước nước sau" nên họ đã hốt hoảng chạy sang Thành Đô cúi đầu xin bao bọc của phương Bắc. Hành động hốt hoảng này của họ cũng giống như triều đình nhà Nguyễn trước đây. Khi ấy tiếng súng đại bác của phương Tây cũng không đánh thức được các vua quan bạc nhược nhà Nguyễn thức tỉnh để canh tân đất nước kịp thời như Minh trị thiên hoàng ở Nhật. Triều đình nhà Nguyễn cũng đã hốt hoảng chạy sang Bắc kinh cầu viện, nhưng khi ấy chế độ phong kiến ở Trung quốc cũng không khá hơn, nên cuối cùng Triều đình Nguyễn không tránh khỏi tan rã.

 

Ngày nay với chủ trương đảng trước nước sau và đàn áp nhân dân nên chế độ toàn trị CSVN không dám đụng đến chân lông "Bạn bốn tốt", mặc dù Bắc kinh đang ngang ngược xâm lấn biển, đảo của VN. Đây là lập trường và thái độ thực sự của Bộ chính tri và đã được người cầm đầu tuyên bố ngày 1.7 đã nói ở trên!

 

Nhưng thái độ ươn hèn này đang đẩy VN vào lệ thuộc phương Bắc và đế quốc kiểu mới của Bắc kinh đang trở thành kẻ thù nguy hiểm trực tiếp của dân tộc ta. Vì thế chế độ toàn trị CSVN sẽ không có lối thoát! Hoàn cảnh của nhóm cầm đầu CSVN hiện nay rõ ràng như "Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra"! 

 

Nhân dân VN - đi đầu là trí thức, thanh niên, kể cả những đảng viên CS tiến bộ- quyết không nuôi ảo tưởng, quyết không để "trái tim nhầm chỗ để trên đầu". Một số nhân sĩ trong nước đã cảnh báo là, những người dân chủ chúng ta không được để cảm tính thay cho lí trí, chỉ như vậy mới không bị đánh lừa của bất cứ ai chỉ "đón gió" nhưng lại không dám "đổi cờ" trong việc đấu tranh chống độc tài và bảo vệ đất nước![15]

 

5. 7. 2014

 

 

Âu Dương Thệ


danlambaovn.blogspot.com

Thư chào mừng Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam của Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam

From: 8406news . <
Date: 2014-07-06 5:15 GMT-07:00
Subject: Fwd: Fw: Thu chao mung Hoi Nha Bao Doc Lap VN cua Hoi Cuu Tu Nhan Luong Tam VN (06-07-2014)
To:

On Sunday, July 6, 2014 1:20 AM, "> wrote:

Kính gởi Đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước và các Thân hữu dân chủ quốc tế.
Xin vui lòng giúp phổ biến rộng rãi và dịch ra ngoại ngữ để rộng đường dư luận.
Chúng tôi chân thành cảm ơn.
Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam

Thư chào mừng Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam
của Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam
clip_image002
          Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong ngoài nước và các Thân hữu dân chủ quốc tế.
          Kính thưa Quý thành viên sáng lập Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam.
          Một trong các nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng thê thảm của Việt Nam hôm nay (ngạt thở chính trị, tụt hậu kinh tế, thất thoát tài chánh, lộng hành tham nhũng, bùng nổ bạo lực, tràn lan dối trá, suy thoái văn hóa, xuống cấp giáo dục, băng hoại đạo đức, ô nhiễm môi trường, bất ổn nhân sinh, mong manh quốc phòng và cận kề hiểm họa ngoại xâm…), đó chính là vì Việt Nam, trong hơn nửa thế kỷ nay dưới chế độ Cộng sản, hoàn toàn không có tự do ngôn luận và tự do báo chí.

          Đảng và nhà cầm quyền Cộng sản -trong mục tiêu tối thượng là muôn năm trường trị trên toàn dân và toàn nước- đã tự cho mình cái quyền định đoạt đâu là sự thật, đâu là lẽ phải, đâu là chương trình phát triển hiện tại và đâu là dự phóng thành tựu tương lai của đất nước (chủ nghĩa xã hội hoang tưởng). 

                 Do đó, họ đã dùng tất cả bạo lực chính trị và nguồn lực tài chánh để đẻ ra cả một một nền báo chí công cụ (lên tới cả ngàn đơn vị) với đội ngũ phóng viên quốc doanh (lên tới hai mươi ngàn người, chưa kể đội ngũ dư luận viên còn đông đảo hơn nữa), ngõ hầu thao túng, lèo lái và đầu độc công luận trong lẫn ngoài nước, cung cấp cho quốc dân và quốc tế một biển thông tin với 3 đặc tính thường xuyên nổi bật: trình bày sự kiện dối trá, đưa ra lý luận quàng xiên và áp đặt phán đoán sai lạc. Tất cả đã và đang khiến đất nước phải gánh chịu những hậu quả nặng nề như nói trên và khiến Việt Nam luôn đứng hàng chót của thế giới về mọi mặt.

          Chưa hết, nhà cầm quyền độc tài còn mạnh tay đàn áp những “tôi tớ của sự thật” là các nhà báo quốc doanh có lương tâm, các nhà báo độc lập có thiện chí, bằng nhiều luật lệ (như điều 79, 88, 258 bộ Luật hình sự, như nghị định 72 và 174 về internet, như Luật báo chí…) bất chấp các công ước về nhân quyền mà VN đã ký kết, và bằng những biện pháp bạo lực (sách nhiễu hăm dọa, phong tỏa kinh tế, giam cầm kết tội…), bất chấp các tiêu chuẩn của thế giới văn minh về tự do ngôn luận và tự do báo chí.

          Đứng trước tệ nạn và thảm trạng này, Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam gồm những nhà báo chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, trong và ngoài hệ thống báo chí quốc doanh, nay đã ra đời như một đáp ứng can đảm và cần thiết trước tình thế. Mọi ai yêu dân chủ và tự do, nhân quyền và dân quyền tại VN lẫn thế giới đều vui mừng chào đón sự kiện lịch sử này, trong đó có Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm chúng tôi.  

          Hội Tù Nhân Lương Tâm hoàn toàn tán thành các mục đích của Hội Nhà Báo Độc Lập, như “phản ánh trung thực những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước” vốn thường bị báo chí quốc doanh che giấu hay xuyên tạc; “phản biện những chính sách bất hợp lý của nhà nước” vốn khinh thường ý kiến nhân dân và chỉ nhắm lợi ích cục bộ; “tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội”, vì đó là nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng của nhân dân; “hỗ trợ về tinh thần và vật chất, hoạt động tương thân tương ái giữa các hội viên”, để nhà báo khỏi vì miếng cơm manh áo hay phục tùng sợ hãi mà trở thành công cụ trong tay nhà cầm quyền; “lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố”, vì đây là mối ô nhục của đất nước và là mầm suy thoái của xã hội; “đấu tranh yêu cầu nhà cầm quyền hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ luật Hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí”, vì đây là sự chà đạp trắng trợn quyền được biết và được nói sự thật của quốc dân; “thu hút và đào tạo cây viết trẻ nhằm đóng góp cho nền báo chí chuyên nghiệp Việt Nam trong tương lai”, vì hiện tại, với “nền báo chí cách mạng”, lương tâm đại đa số nhà báo quốc doanh bị lu mờ và khả năng chuyên môn của họ chẳng còn phục vụ chính nghĩa; “thu hút và tạo môi trường sinh hoạt cho các nhà báo và cộng tác viên báo chí, không phân biệt báo nhà nước hay truyền thông xã hội”, để những con người này thể hiện được thiên chức cao quý của mình là công bố sự thật, bênh vực lẽ phải ngõ hầu phục vụ lợi ích của đất nước và toàn dân chứ không của bất chứ phe đảng nào.

          Chúng tôi biết rằng nhà cầm quyền ưa độc tài, sính gian trá và chuộng bạo lực này đang tìm cách dùng các luật lệ bất công vô lý của họ để phi pháp hóa sự xuất hiện của Quý Hội, dùng lực lượng phóng viên công cụ và dư luận viên đầy tớ của họ để vu khống và lăng mạ bản chất của Quý Hội, dùng mạng lưới công an để cấm cản các hoạt động và sách nhiễu, thậm chí bắt bớ các thành viên của Quý Hội. Chúng tôi chúc Quý Hội hãy can đảm tiến bước, vì Sự thật và Công lý đứng về phía chúng ta cũng như Đồng bào và thế giới dân chủ đứng bên cạnh chúng ta.

          Đất nước chỉ phồn vinh, xã hội chỉ tiến bộ, quốc gia chỉ độc lập và nhân dân chỉ hạnh phúc khi tại Việt Nam có một nền báo chí tự do với những người làm báo độc lập, chỉ biết lấy lương tâm ngay chính làm ánh sáng, sự thật trọn vẹn làm tiêu chuẩn và công bình xã hội như động lực cho mình.
          Việt Nam ngày 06-07-2014
          Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam



Saturday, July 5, 2014

Gạo Giả có tên "Gạo thơm Phượng Hoàng **** Vàng" từ Trung Quốc bán ở TANG FRERES PARIS STORE


On Saturday, July 5, 2014 8:00 AM, "Dinh Mac  [PhoNang]" <> wrote:


[Attachment(s) from Dinh Mac included below]
Chuyện bên Pháp, nhưng chúng ta ở các nơi khác cũng nên phổ biến, đề phòng..mua lầm
mpd

 Gạo Giả có tên "Gạo thơm Phượng Hoàng **** Vàng" từ Trung Quốc bán ở TANG FRERES PARIS STORE


 Thông báo khẩn cấp, TANG FRERES PARIS STORE có gạo giả, Gạo thơm Phượng Hoàng nouvelles recoltes 2014 mua tuần rồi. Khi vo gạo nước không đục, có nghĩ không có cám, nấu không có mùi thơm, không chín hẳn cứ sực sực, không dẻo không dính, dai dai, không có chất ngọt của gạo. Giống như trên mạng nói về gạo giả ở TQ. Chị bạn làm nhà hàng trong xóm cũng mua trước vài ngày bị tới 2 bao. Cẩn thận đợt gạo này của TANG FRERES PARIS STORE. Ai muốn ăn thử liên lạc, tôi chia 1 lon nấu thử cho biết. Ghê thật  !!!  Hai vợ chồng nuốt hết 2-3 chén vô bụng mới nhớ ra là có đọc bài gạo giả.

 

Nấu xong nhìn hơi lạ, bóc ăn là biết ngay cơm có vấn đề

Báo ngay cho bà con bạn bè, gạo giả TQ đến Paris!!!!
Gởi từ iPhone 

'Gạo giả' xuất hiện tại Trung Quốc

VnExpress, 22.01.2011

Tờ báo Weekly Hong Kong dẫn các nguồn tin không chính thức nói rằng những kẻ bất lương tại Trung Quốc sản xuất gạo giả từ khoai tây, khoai lang, nhựa rồi bán ra thị trường.

Gạo Thái Lan. Ảnh:
Hình chỉ có tính chất minh họa của skyhalalfood.com.
Weekly Hong Kong, một tuần báo tiếng Hàn Quốc tại đặc khu hành chính Hong Kong của Trung Quốc, đưa tin gạo giả được bán tràn lan trên thị trường Trung Quốc. Một số nhà phân phối đang bán nó tại thành phố Thái Nguyên, trung tâm hành chính của tỉnh Sơn Tây. Những hạt gạo là hỗn hợp của bột khoai tây, khoai lang, nhựa tổng hợp. Bài báo nói trên được tổng hợp từ nhiều nguồn tin của giới truyền thông Singapore.
“Người ta nhào nặn bột khoai tây và khoai lang thành hình hạt gạo rồi cho thêm nhựa tổng hợp resin vào hỗn hợp đó. Do các hạt gạo giả hoàn toàn khác gạo thật nên chúng rất cứng sau khi nấu. Ngoài ra nhựa tổng hợp resin rất độc hại đối với cơ thể người”, một chuyên gia về thực phẩm Hong Kong phát biểu.

Một quan chức của Hiệp hội nhà hàng Trung Quốc cảnh báo rằng 
ăn ba bát gạo nhựa sẽ tương đương với việc nhét một túi nilon vào dạ dày. Ông nói thêm rằng do gạo giả rất nguy hiểm nên giới chức sẽ kiểm tra nghiêm ngặt các nhà máy chế biến gạo.

Cũng theo bài báo trên, các thương nhân nói do gạo giả mang đến lợi nhuận khổng lồ nên nó vẫn được bán tràn lan tại Trung Quốc.
Đây không phải là lần đầu tiên gạo giả xuất hiện trên thị trường Trung Quốc. Mới đây một đài truyền hình Trung Quốc đưa tin một công ty tại thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây đã sản xuất phiên bản “nhái” của gạo Vũ Xương nổi tiếng bằng cách cho thêm gia vị vào gạo thường.
Minh Long


__._,_.___

Posted by: Victor Vuong Nguyen 









Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link