Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, July 11, 2014

Ai sẽ là người cứu chúng ta?


Lá thư của đại sứ VN tại LHQ gửi ông tổng thư kí LHQ

Theo FB Nguyen Tuan
H.E. Mr. Le Hoai Trung
Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary
Permanent Representative

 
Ngày 3/7/14 Đại sứ VN tại LHQ gửi thư đến Tổng thư kí LHQ để phản bác thư của Tàu gửi trước đó ngày 22/5 và 9/6. Nếu các bạn chưa đọc lá thư của Đại sứ VN tại LHQ, các bạn thử tìm đọc (1) để biết trình độ các quan chức của VN ra sao, và cũng là học cách viết thư cho các VIP. Phân tích lá thư của ông đại sứ cũng cho ra vài bài học.

Thứ nhất là ông đại sứ làm ngược đời! Thay vì đề tên người nhận (tức ngài Tổng thư kí LHQ) ngay từ phần đầu của lá thư, ông đại sứ đề ở phần dưới lá thư! Tôi chưa bao giờ thấy cách sắp xếp rất quái gở như thế này, vì nó phản ảnh một thái độ xem thường người gửi.

Thứ hai, vào đầu ông đại sứ xưng hô với ngài Tổng thư kí LHQ một cách trống không: “Excellency”. Đó là cách xưng vô lễ. Tôi nghĩ thông thường thì người ta xưng hô theo kiểu

Dear Mr. Secretay-General,
hay cũng có thể viết
Your Excellency,
thay cho cách viết chức danh.

Còn cái câu cuối của lá thư là buồn cười nhất “Please, accept, Excellency, the assurances of my highest consideration”. Câu này mang tính rhetoric chẳng có ý nghĩa gì, nhưng có 1 cái sai nhỏ: đó là cách dùng dấu phẩy. Đáng lẽ phải viết là “Please accept, Your Excellency, the assurances of my highest consideration”.

Một lá thư ngắn ngủn, chỉ có vài chục chữ, mà có khá nhiều sai sót thì quả là đáng tiếc.

Còn đọc phần text thì còn nhiều điều đáng nói nữa. Tôi nghĩ nếu là người am hiểu tiếng Anh sẽ phải “struggle” để hiểu những ý trong tài liệu, vì cách dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Ngay từ đầu, câu “rejects as completely unfounded, in fact and in law, China’s sovereignty claims ….” Người ta phải gãi đầu để hiểu câu “in fact and in law”, nhưng khi đọc bản tiếng Việt thì có câu “cả trên thực tế cũng như trên pháp lí” (và đó chính là cách dịch!) Đáng lẽ phải viết là “in factual and legal considerations”.

Ngoài ra, còn có những câu cảm tính như “the so-called ‘sovereignty’ of China over Hoang Sa” (chữ so-called hay ‘cái gọi là’ là cảm tính, không nên dùng trong văn bản nghiêm nghị ngoại giao).

Nhìn chung, toàn văn chỉ có 5 trang, nhưng tôi không thấy những FACTS thuyết phục, mà chỉ toàn là những sưu tầm từ báo chí, sách vở đâu đó và ráp lại. Nếu chú ý kĩ, các bạn sẽ thấy tài liệu này không có mục tiêu và cũng chẳng có kết luận. Do đó, ngay từ đoạn đầu, một người bận rộn đọc sẽ thấy như từ trên trời rơi xuống, chẳng biết tài liệu đề cập đến cái gì. Không ai có thì giờ để đọc lại những gì Tàu nó viết; nhiệm vụ của mình là phải tóm lược những nét chính do nó viết.

Theo tôi, văn bản này nên viết theo cấu trúc:

1. Vào đề là background: nói về hai cái công thư (?) bọn Tàu nó gửi, và tóm tắt nội dung của nó;
2. Mục tiêu của tài liệu này là phản bác (hay bác bỏ) claims về chủ quyền của Tàu trên quần đảo Hoàng Sa. Đoạn sau là giới thiệu chung về tài liệu thuộc nhóm nào, factual hay legal?
3. Phần nội dung chính là trình bày sự thật – FACTS - từng cái một và giải thích ý nghĩa rõ ràng;
4. Phần sau cùng là quay lại cái mục tiêu ban đầu: chúng tôi đã trình bày đầy đủ (hi vọng) dữ liệu và legal consideration để chứng minh rằng những claim của Tàu cộng là không có cơ sở. Nhưng phải có một câu yêu cầu ông tổng thư kí làm gì, chứ như hiện khi đọc xong ổng sẽ hỏi “rồi tôi làm gì?”

Nhưng tôi nghĩ đoạn đầu rất quan trọng, và cần phải viết sao cho người ta tiếp tục đọc, chứ như hiện nay, vì câu văn dài và thiếu logic nên dễ làm nản lòng người đọc. Tôi nghĩ một trong những cách viết có thể là:

“On May 22nd and June 9th, the Chargé d’affaires a.i of the Permanent Mission of The People Republic of China submitted documents A/68/887 and A/68/907 to the General-Secretary of the United Nations. In the documents, China made the sovereignty claims over the Hoang Sa archipelago, called “the Xisha Islands” by China. In this document, we provide hard evidence to completely reject the Chinese claims. Our evidence are in the form of factual data and legal consideration. As a result, we will show that the Chinese claims have neither legal nor historical foundation.”

Một lần nữa, cú pháp và văn phạm tiếng Anh lại không chuẩn, có lẽ dịch từ tiếng Việt. Khi tôi xem lại thì thấy là trên đầu trang họ có ghi là “Unofficial translation” (tức là một bản dịch không chính thức). Đã không chính thức sao lại gửi cho LHQ?! Chẳng lẽ đại diện cho cả một quốc gia 90 triệu dân mà làm việc cẩu thả như thế. 

----
(1) Tài liệu đó ở đây: http://www.viet-studies.info/kinhte/LetterToUN_HoangSa.pdf
Nguyên văn lá thư:
New York, 03 July 2014 
Excellency,
Upon instructions from my Government, I have the honour to transmit herewith the position paper of the Socialist Republic of Viet Nam concerning the sovereignty of Viet Nam over the Hoang Sa archipelago (see annex for the official Vietnamese version and English translation of this position paper).
I should be grateful if you would have the present letter and the annex thereto circulated as an official document of the sixty-eighth session of the General Assembly, under agenda item 76(a) entitled “Ocean and the law of the sea”.
Please, accept, Excellency, the assurances of my highest consideration.
Sincerely yours,
Le Hoai Trung
Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary
Permanent Representative of Viet Nam to the United Nations
H. E. Mr. Ban Ki-moon
Secretary-General of the United Nations
United Nations Headquarters
New York

Theo FB Nguyen Tuan




Ai “tẩy não” ai?

Trong chiến tranh Triều Tiên, phía Trung Quốc và Bắc Triều Tiên bắt được một số tù binh Mỹ. Họ “tẩy não” tù binh tới mức là một số đã nhận sử dụng vũ khí vi trùng cho dù họ không làm điều đó.
Báo chí VN lo lắng về việc Trung Quốc đưa các nội dung (sai lệch) về Biển Đông vào chương trình giảng dạy từ nhiều năm trước, từ lưu hành bản đồ khổ dọc, chứng tỏ họ đã có những bước đi hàng mấy thập kỷ nhằm tẩy não dân chúng nước này về chủ quyền.
Tờ Petro Time đưa tin, tiến sỹ Christopher Robert thuộc Trường Đại học New South Wales của Australia từng đưa ra nhận định: “Trong vài chục năm gần đây, hệ thống giáo dục Trung Quốc đã “cấy” vào đầu người dân nước này một suy nghĩ là Biển Đông thuộc chủ quyền “không thể tranh cãi” của Trung Quốc”.
Ông dẫn lời một giáo sư Trung Quốc cho biết “Nếu bạn đề nghị một người Trung Quốc 50 tuổi vẽ bản đồ nước này, họ sẽ chỉ vẽ tấm bản đồ chỉ có Trung Quốc đại lục. Nhưng nếu bạn đưa ra một đề nghị tương tự với một người Trung Quốc 25 tuổi thì tấm bản đồ do họ vẽ ra sẽ xuất hiện cả biển Đông”.
Chính quyền Trung Quốc từng thành công tẩy não một dân tộc cả tỷ người. Bài học cay đắng với hàng chục triệu nhân mạng chết, bị tù đầy trong cách mạng văn hóa, đại nhảy vọt làm mấy chục triệu dân chết đói. Thất bại thảm hại bởi dựa trên những thông tin dối trá, kiểu tuyên truyền tẩy não.
Thảm họa thế nhưng vẫn chưa đủ cho lãnh đạo Trung Quốc học bài sơ đẳng rằng, sự thật mang lại văn minh quốc gia. Phe XHCN, Liên Xô, Đông Âu sụp đổ bởi sự dối trá đi từ thượng tầng lãnh đạo tới truyền thông và hệ thống chính trị.
Tẩy não có thể thành công mang tính ngắn hạn. Nhưng về dài hạn, không một quốc gia nào có thể biến thành văn minh nếu chỉ dựa vào nền giáo dục và truyền thông dối trá, tìm cách tẩy não dân chúng.
Sau cuộc chiến Triều Tiên, có 21 lính Mỹ xin ở lại với Bắc Triều Tiên vì họ tin chủ nghĩa đế quốc tàn ác. Tuy nhiên, người ta đã tìm ra 21 người bị tẩy não là quá nhỏ so với 20.000 tù binh Mỹ.
Nói người phải nghĩ đến ta. Theo một nghĩa nào đó, Việt Nam cũng tiếp tay cho việc tẩy não của Trung Quốc. Tình hữu nghị Việt-Trung 16 chữ vàng, 4 tốt, quốc tế vô sản, dựa vào Trung Quốc để phát triển mới giữ được đảng và ổn định chính trị.
Họ tẩy não phía ta giỏi tới mức, bao nhiêu dự án quan trọng, mang tầm chiến lược quốc gia đều dành cho phía…bạn. Bạn có đâm tầu đánh cá chìm, thì gọi điện hỏi han, sao anh lại làm thế.
700 tờ báo dưới sự lãnh đạo của một ông Tuyên giáo hàm BCT nhất loạt coi Trung Quốc là bạn bè, đồng chí, không thể có chuyện họ xâm lược Việt Nam một ngày nào đó. Vài tờ báo trong đó có VietnamNet do chống Trung Quốc đã bị thay máu. Tổng biên tập lang thang xứ người.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng VN coi chuyện xung đột biển Đông như anh em trong gia đình cãi nhau, sự “tẩy não” đã thành công hơn cả mong đợi của phía Trung Quốc.
Qui trình đã có sẵn giữa hai đảng và chính phủ. Trung Quốc tẩy não dân Trung Quốc về biển đảo, Việt Nam giúp họ tẩy não dân mình bằng chính sự lừa dối của Trung Quốc.
Một giàn khoan khủng hay hàng trăm giàn khoan của Trung Quốc cắm ở biển Đông chẳng có gì ngạc nhiên. Bởi đến giờ VN vẫn cho rằng Trung Quốc mới là kẻ tẩy não dân của họ mà ít người ngồi suy tư về chính mình.
HM. 10-7-2014
nguồn: http://hieuminh.org/2014/07/10/



Ai sẽ là người cứu chúng ta?

Viết từ Sài Gòn
2014-07-08
keu-goi-bieu-tinh-305
Biễu ngữ kêu gọi xuống đường phản đối Trung Quốc vào chủ nhật ngày 18 tháng 5 năm 2014. (Hình minh họa)
File photo

Bài toán phải giải

Trước nạn ngoại xâm, tinh thần và ý chí của mỗi cá nhân trong tập hợp dân tộc bị xâm chiếm luôn là cái lõi quyết định sự thành bại, chiến thắng hay là nô lệ của dân tộc đó. Hiện trạng Việt Nam đang bị Trung Quốc đe dọa quân sự, xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, thao túng chính trị và đè bẹp kinh tế đang là bài toán đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải giải nó. Và mỗi đơn vị trong tập hợp dân tộc Việt Nam sẽ là một thành tố quyết định Việt Nam thành nô lệ Trung Cộng hay là độc lập? Và bài toán này, câu hỏi này cần phải xét trên ba phương diện: Nền tảng chính trị xuyên suốt; Tinh thần nhân dân; Bệ phóng tương lai.

Ở phạm trù nền tảng chính trị xuyên suốt, ngoại trừ phía Nam vĩ tuyến 17 từng trải qua một giai đoạn dân chủ ngắn ngủi, hầu như toàn dân tộc Việt Nam đi từ nền chính trị phong kiến chuyên quyền, đặt nhà vua làm trung tâm và yếu tố dân chủ hoàn toàn không có cho đến nền chính trị Cộng sản độc tài, mượn đại bộ phận nhân dân làm tấm bình phong che chắn cho sự thống trị phe nhóm bên trong với danh nghĩa “sở hữu toàn dân”, “nhà nước là đại diện của nhân dân”, mà trên thực chất là một triều đại phong kiến kiểu mới với đầy đủ nhà vua theo nhiệm kỳ và thái tử đỏ theo quyền lực.

Bởi chính quá trình chìm quá sâu trong hai dòng chảy chính trị này, ngoại trừ một số rất nhỏ những người có ý thức dân chủ và chịu khó tìm tòi những mô hình nhân quyền bên ngoài lãnh thổ, đã đấu tranh cho điều này, số đông nhân dân còn lại hầu như chỉ có bản năng phản kháng nhưng chưa bao giờ được trang bị cho một hệ thống tư tưởng hoặc quan niệm về quyền con người cũng như những giá trị đích thực và ý nghĩa tồn tại của một con người trước xã hội. Hay nói cách khác, một xã hội quân chủ rồi sau đó là độc tài chỉ cho con người đạt được ý thức vâng phục và cam chịu tốt nhất, không có ý nghĩa nào khác.

Đến thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa, sau một quá trình dài xếp hàng chầu chực miếng ăn, chầu chực từng ký gạo, lát sắn, hạt bắp, lạng thịt, gam đường, tấc vải… đã làm cho con người quen dần với đời sống súc vật, không còn dám suy tư và cũng không có thời gian để suy tư, cuống cuồng trong vòng xoáy đói khổ để rồi sau đó, khi kinh tế mở cửa (1986) theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mọi âm mưu và toan tính trên cơ sở quyền lực phe nhóm có cơ hội bùng nổ, vẫy vùng, một lần nữa, người dân bị lẩn quẩn và chìm đắm trong thứ quyền lực kinh tế đỏ, quyền lực của đồng tiền và sự phân cấp xã hội dựa trên giá trị vật dục.

 Có thể nói rằng, xét về mặt chính trị và lịch sử dân tộc, người Việt Nam chưa bao giờ có cơ hội để đi đến văn minh nhân loại!

Bị cắt mạch Dân Khí?

binhduongbieutinh-600.jpg
Giai cấp công nhân biểu tình chống TQ ở Bình Dương hôm 14/5/2014

Cho đến thời điểm hiện tại, nếu xét trên tinh thần gọi là Dân Khí thì người Việt hoàn toàn bị cắt mạch Dân Khí từ gốc gác chính trị suốt chiều dài mấy trăm năm lịch sử. Dân Khí chỉ thật sự có ở những người hiểu biết, những trí thức, những nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền và đấu tranh chống bành trướng Trung Cộng.

 Ngay cả hệ thống chính trị khét tiếng đàn áp và dùng vũ lực như nhà nước Cộng sản, yếu tố Dân Khí của họ chỉ thoi thóp trong vài cá nhân đơn lẻ chưa kịp xuất hiện hoặc chưa phải thời điểm xuất hiện, còn lại cũng chỉ là một đám quan lại hèn kém, chịu nhục ăn xôi, đứa thấp thì quì mọp với đứa cao, đứa cao ăn trên ngồi trốc của triều đình thì lại quì mọp trước những thằng láng giềng, đàn anh như Trung Cộng, Nga Xô… Hệ quả của quá trình này là đất nước trở thành một lũ quì mọp, van lơn và chịu nhục, thậm chí không còn biết nhục.

Thử hỏi, một dân tộc mà đa phần chỉ chú tâm đến miếng ăn, quyền lợi của bản thân, ra đường thấy người khác bị cướp, bị hại thì dửng dưng, thấy công an thì sợ, thấy công an đánh chết người, biết sai trái vẫn không dám lên tiếng, với giới quan chức thì quì mọp trước thế lực mạnh hơn. 

Trong khi đó, kẻ lộng quyền, lộng sức như Trung Cộng thì tha hồ xâm chiếm Việt Nam bằng mọi cách, bất chấp lẽ phải cũng như luật pháp quốc tế. Thử hỏi, Việt Nam lấy gì để đánh, để giữ nước? Và mỗi khi người dân lên tiếng, những kẻ cầm quyền luôn ra rả đưa ra luận điệu kiểu “dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, từng hai lần đánh bại quân Mông Nguyên… Và sẵn sàng làm một Điện Biên Phủ trên biển…”.

Xin thưa là thời nhà Trần, không có người dân nào biết chiến đấu, biết đứng lên để đánh quân Mông Nguyên cả, chỉ có quân của triều đình dưới sự chỉ huy tài tình của Trần Hưng Đạo, và mọi sự vận động, co giãn của nhân dân thời đó cũng đều do sự điều động, chỉ huy của Trần Hưng Đạo, chính vì sự điều động tài tình này cộng hưởng với sự thống nhất của nhân dân ở hội nghị Diên Hồng mà trong đó các bô lão đóng vai trò đại diện cho nhân dân, chỉ huy nhân dân ở cấp độ địa phương đã tạo ra một mặt trận vững chãi, nhịp nhàng và ăn ý để đánh bại quân Mông Nguyên.

 Thử hỏi, hiện tại, triều đình Việt Cộng đã làm ra được một hội nghị Diên Hồng nào chưa ngoài mấy ông nghị gật và nghị gáy (toe toe lý thuyết Mác – Lê)? Nhân dân có bao giờ đồng lòng với nhà cầm quyền chưa?

Một khi không trả lời được hai câu hỏi này thì mọi thứ tuyên truyền hiện tại chỉ là những trò bịp bợm trượt dài và không còn cơ hội để gượng chân khi đã đứng sát mép vực. Hơn bao giờ hết, các quan chức Cộng sản cần phải biết suy nghĩ về danh dự và giá trị làm người, cũng hơn bao giờ hết, người dân Việt Nam cần biết suy tư về thân phận cũng như ý nghĩa tồn tại của một con người trong một xã hội có tự do. Chỉ có như thế, mới hy vọng sức mạnh chống ngoại xâm một lần nữa được kích hoạt, phục hồi.

 Nếu không, Việt Nam chỉ là một cơ thể sống thực vật trong cái ống xông thức ăn của Trung Cộng, và đến một lúc nào đó, Trung Cộng rút cái ống xông này, rút nốt ống dưỡng khí, cái xác kia ngừng thở và một tỉnh lị mới của Trung Quốc hình thành trên dải đất hình chữ S này!

http://www.rfa.org/vietnamese/blog/viet-tu-saigon-blog-0708-07082014082941.html




TP Đà Nẵng tiên phong ra nghị quyết phản đối Trung Cộng xâm lược ???


TP Đà Nẵng tiên phong ra nghị quyết phản đối Trung Cộng xâm lược

DienDanCTM

HĐND thành phố Đà Nẵng chiều hôm nay, 10-7-2014, đã chính thức ra nghị quyết phản đối Trung cộng xâm lược, trong khi Quốc hội và lãnh đạo Đảng ở Hà Nội vẫn tỏ ra vô cảm trước nhân dân cử tri, cũng như  vô trách nhiệm với Tổ Quốc trước việc Trung cộng mang giàn khoan xâm lấn chủ quyền lãnh hải VN ở biển Đông.

Ông Huỳnh Nghĩa - Phó Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng (Hình phải), đọc NQ phản đối
Trung cộng xâm lược. (Hình trái) các Đại biểu bày tỏ đồng tình Nghị quyết phản đối Trung cộng

Nghị quyết này đã được HĐND thành phố  Đà Nẵng, khóa VIII, nhiệm kỳ 2011 - 2016, bày tỏ đồng tình biểu quyết thông qua hồi chiều nay 10/7 trong kỳ họp thứ 10.

Nghị quyết xác định rõ "việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hành động bất hợp pháp, vi phạm luật pháp quốc tế và xâm phạm thô bạo chủ quyền quốc gia Việt Nam".

Theo HĐND Tp.Đà Nẵng, hành vi tham vọng độc chiếm biển Đông của Trung cộng cùng với việc huy động cho tàu vũ trang đâm chìm tàu cá của ngư dân TP Đà Nẵng trong vùng lãnh hải VN là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, là tội ác đối với ngư dân Việt Nam.  Nghị quyết nêu rõ quan điểm của HĐND TP Đà Nẵng khẳng định quần đảo Hoàng Sa là huyện đảo của TP Đà Nẵng, thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm trái phép bằng vũ lực từ năm 1974.

HĐND TP Đà Nẵng cực lực phản đối, lên án và yêu cầu chính quyền Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động và rút ngay không điều kiện giàn khoan Hải Dương 981 cùng toàn bộ lực lượng hộ tống ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

 Ngoài ra, qua nghị quyết, HĐND TP Đà Nẵng bày tỏ hoan nghênh tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình nhưng rất kiên quyết của nhân dân, nhất là ngư dân thành phố Đà Nẵng chống lại hoạt động phi pháp của chính quyền Trung Quốc . HĐND thành phố và các tầng lớp nhân dân thành phố luôn sát cánh cùng lực lượng cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư và ngư dân đang ngày đêm đấu tranh để gìn giữ sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời kêu gọi toàn thể nhân dân TP Đà Nẵng tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; trong đó có huyện đảo Hoàng Sa của Tổ Quốc Việt Nam.

Việc thành phố Đà Nẵng chính thức ra nghị quyết phản đối Trung cộng xâm lược được truyền thông báo chí trong nước đánh giá là đã "thể hiện trách nhiệm cao trước Tổ quốc và Nhân dân". Trong khi đó dư luận người dân cũng đang nêu thắc mắc tại sao Quốc Hội của cả nước sau khi thảo luận đã không ra được một nghị quyết phản đối các hành vi xâm lược của TC tại Biển Đông mà lại để cho "quốc hội cấp thành phố" như tại Đà Nẵng làm thay.

 Giải thích sự kiện này, một cựu đảng viên đang sống tại Đà Nẵng đưa lý do rằng: "Nếu làm ở cấp quốc gia, các lãnh đạo đảng sợ Bắc Kinh biết và có thể nổi giận. Còn làm ở cấp thành phố thì tuy không đạt được mục tiêu bảo vệ đất nước nhưng vẫn làm đẹp hình ảnh đảng trong mắt người dân". 



Mỹ xác định « không thể chấp nhận » việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng tại Biển Đông


Mỹ xác định « không thể chấp nhận » việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng tại Biển Đông

Đảng Cộng Sản Việt Nam đang tan rã (P.1: Mâu thuẩn trong nền tảng lý thuyết)


Ngoại trưởng Mỹ John Kerry phát biểu trong buổi khai mạc Đối thoại Chiến lược Mỹ Trung lần thứ 6, ngày 09/07/2014 tại Bắc Kinh
Bộ Ngoại Giao Mỹ

Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung lần thứ sáu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã mở ra hôm qua, 09/07/2014 tại Bắc Kinh, với những tuyên bố hòa dịu từ phía lãnh đạo hai nước. Các tuyên bố đó tuy nhiên đã không ngăn cản Mỹ nêu bật quan điểm bất đồng tình của mình trước hành động của Bắc Kinh trên nhiều vấn đề trong đó có Biển Đông.

Theo hãng AFP, trong buổi họp kín với phía Trung Quốc, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã « mạnh mẽ » gây sức ép trên Trung Quốc trong hồ sơ tranh chấp biển đảo khi cảnh báo đối tác Trung Quốc là Washington « không thể chấp nhận » các mưu toan tạo ra một hiện trạng mới ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông.

 Đây là hai nơi mà Bắc Kinh đang có tranh chấp chủ quyền với các nước láng giềng.

Theo một quan chức Mỹ cấp cao xin giấu tên, thì ông Kerry đã nói thẳng với Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc phụ trách ngoại giao Dương Khiết Trì bất kỳ quốc gia nào cũng đều không có quyền « hành động đơn phương để đẩy mạnh các đòi hỏi chủ quyền hay lợi ích của minh ».

Theo nguồn tin trên, thì phía Mỹ đã tái khẳng định sự cần thiết của « một trật tự dựa trên luật lệ trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương », và yêu cầu Trung Quốc « đóng góp và tham gia vào trật tự đó, thay vì chống lại các chuẩn mực khu vực và toàn cầu ».
Quan chức cao cấp Mỹ tiết lộ tiếp là phía Mỹ đã nói rõ với đối tác Trung Quốc rằng : « Tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra một hiện trạng mới bất kể sự ổn định của khu vực, sự hài hòa của khu vực, là điều không thể chấp nhận được ».

Trung Quốc đang dùng sức mạnh áp đặt chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông, bất chấp tuyên bố chủ quyền của các láng giềng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam và Philippines.

Trong những tháng gần đây, Bắc Kinh có hành động hung hăng hơn trong mưu toan bành trướng tại Biển Đông, làm tình hình căng thẳng hẳn lên khi đưa giàn khoan xuống hạ đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cho tàu Trung Quốc đâm vào các tàu công vụ và tàu cá Việt Nam đến gần giàn khoan, dùng vòi rồng xua đuổi tàu Việt Nam, thậm chí bắt giữ ngư dân Việt Nam.

Trên Biển Hoa Đông, Trung Quốc cũng thường xuyên cho tàu thuyền và phi cơ quân sự tiến vào vùng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang được đặt dưới quyền kiểm soát của Tokyo, nhưng bị Bắc Kinh đòi chủ quyền.


Lầu Năm Góc triển khai chiến thuật mới để răn đe Trung Quốc ở Biển Đông
Trinh sát cơ RC 135 tại khu căn cứ không quân Offutt, Hoa Kỳ.
Wikipedia
Vào lúc tàu Việt Nam và Trung Quốc đối đầu nhau trên Biển Đông tại khu vực giàn khoan Trung Quốc, trong thời gian gần đây, phi cơ trinh sát Mỹ bắt đầu xuất hiện trên khu vực. Sự kiện khác lạ này phải chăng là một chiến thuật bắt đầu được Mỹ áp dụng để đối phó với các hành động của Bắc Kinh bị đánh giá là « khiêu khích », « gây bất ổn định » trong vùng ? Theo nhật báo Anh Financial Times, số ra hôm nay, 10/07/2014, sự kiện đó có thể được xem là chiến thuật mới đang được Bộ Quốc phòng Mỹ áp dụng để răn de Trung Quốc.

Theo tờ báo, chiến thuật mới được Lầu Năm Góc triển khai bao gồm nhiều thành tố, trong đó có việc sử dụng một cách thường xuyên hơn và mạnh bạo hơn các loại phi cơ trinh sát cũng như tàu hải quân ngay tại khu vực có tranh chấp.

Sự kiện đầu tiên phản ánh chiến thuật mới đó diễn ra vào tháng Ba vừa qua khi Mỹ cho một chiếc phi cơ trinh sát P-8A bay ngang qua bãi Second Thomas Shoal ở khu vực Trường Sa. Tại nơi đó, tàu Trung Quốc đang phong tỏa đường tiếp tế cho một toán thủy quân lục chiến Philippines đồn trú trên bãi mà Manila tuyên bố chủ quyền nhưng bị Bắc Kinh tranh chấp. Phi cơ Mỹ đã bay rất thấp, sao cho phía Trung Quốc có thể nhìn thấy được.

Cũng như vậy, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam mới đây đã cho biết là vào ngày 30/06 vừa qua, một chiếc máy bay EP3 của Mỹ cũng đã bay qua khu vực có giàn khoan HD-981 của Trung Quốc, và ở độ cao rất thấp, chỉ khoảng 200m. Sau đó, có thêm một chiếc trinh sát cơ RC135 của Mỹ bay ở độ cao 3.000m. Đây là một khu vực dầy đặc tàu Trung Quốc được phái tới để bảo vệ giàn khoan của họ.

Trả lời báo Financial Times, một cựu quan chức Lầu Năm Góc quen thuộc với những hoạt động kể trên xác nhận đó là một chiến thuật mới của Hải quân Mỹ : « Thông điệp là ‘chúng tôi biết những gì quý vị đang làm, hành động của quý vị sẽ có hậu quả, chúng tôi vừa có khả năng vừa có quyết tâm và chúng tôi đang hiện diện ở đây’. »

Đối với Hoa Kỳ, thách thức hiện nay là làm sao có được phương cách hữu hiệu nhằm đối phó với chiến lược tằm ăn dâu của Trung Quốc tại Biển Đông, tức bành trướng từ từ nhưng một cách vững chắc chắn trên các khu vực mà họ đòi chủ quyền. Khó khăn đối với quân đội Mỹ là làm sao ngăn chặn được các hành động gặm nhắm của Trung Quốc trên quy mô nhỏ, sao cho tình hình không leo thang thành xung đột quân sự trên binh diện rộng.

Không phải là ngẫu nhiên mà gần đây, ngành ngoại giao Mỹ đã cực lực lên tiếng đả kích các hành động của Trung Quốc bị cho là nhằm thiết lập một hiện trạng mới trong vùng. Đó là những việc như đưa giàn khoan xuống hoạt động tại những vùng tranh chấp với Việt Nam, cho xây dựng hạ tầng cơ sở kiên cố trên những thực thể địa dư mà họ từng dùng võ lực đánh chiếm của Việt Nam hay Philippines, ban bố những luật lệ gọi là quốc gia nhưng lại áp dụng trên những khu vực mà Trung Quốc đơn phương cho là của mình.

Ngoài việc tích cực sử dụng máy bay do thám và đưa tàu đến hoạt động gần khu vực các tranh chấp, Hoa Kỳ cũng nghĩ đến khả năng công bố rộng rãi hình ảnh hoặc video về các hành vi thái quá của Trung Quốc trên biển. Một số quan chức Mỹ cho rằng nếu hình ảnh tàu Trung Quốc xách nhiễu ngư dân Việt Nam hay Philippines được loan truyền rộng rãi, điều đó có thể khiến Bắc Kinh chùn tay.

Sau cùng, trong các chiến thuật mới đó, Mỹ cũng sẽ giúp các nước trong vùng có thông tin nhanh chóng và kịp thời về vị trí các con tàu trong khu vực. Mỹ đã cung cấp cho Philippines, Nhật Bản và một số nước khác trong khu vực các thiết bị radar và hệ thống giám sát, và hiện đang tìm cách để tích hợp thông tin thu thập được vào một mạng lưới khu vực rộng lớn hơn, có chức năng chia sẻ dữ liệu.


Chính sách đối ngoại của Trung Quốc phá sản?

Lịch sử ngoại giao thế giới đang chứng kiến một “ca” rất lạ: thay vì xây dựng đồng minh và lôi kéo đồng minh, kể cả thù địch về phe mình, Trung Quốc lại đẩy ra tất cả để đứng riêng một góc!

Có lẽ cẩm nang ngoại giao thế giới chưa từng có trường hợp nào lạ lùng như vậy. Xét riêng yếu tố địa lý, Trung Quốc thuận lợi hơn Mỹ.

Với ưu thế sức mạnh kinh tế, Trung Quốc có thể không khó khăn trong việc thu phục Nhật Bản hoặc Hàn Quốc. Thực tế thì Bắc Kinh đã có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện điều này. Suốt những năm đầu thế kỷ XXI, có nhiều dấu hiệu cho thấy một số đồng minh chủ lực của Mỹ đã có khuynh hướng ngả sang Trung Quốc.

Tại Nhật Bản, làn sóng yêu cầu Mỹ rút quân trở nên rầm rộ, không chỉ trong dư luận mà còn trên chính trường. Năm 2009, cử tri Nhật Bản đẩy đảng Dân chủ Tự do (LDP) ra khỏi chính trường, lần đầu tiên trong 50 năm và đưa đảng Dân chủ (DPJ) lên nắm quyềnmột đảng phái có nhiều thủ lĩnh từng hoạt động chính trị thời chống chiến tranh Việt Nam. Tân Thủ tướng Yukio Hatoyama công khai nói về ý tưởng thành lập một liên minh Đông Á mới và bày tỏ sự gần gũi với Bắc Kinh.

Đầu năm 2010, chính trị gia Ichiro Ozawa dẫn một phái đoàn hùng hậu 143 nghị sĩ Nhật sang Bắc Kinh. Ichiro Ozawa là một chính khách sừng sỏ của Nhật, được mệnh danh “tướng quân trong bóng tối” bởi ảnh hưởng hậu trường của ông lên sân khấu chính trị Nhật. Thoạt đầu là người của LDP (tổng thư ký từ 1989-1991) nhưng sau đó nhảy sang DPJ và làm tổng thư ký đảng này từ 2009-2010.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc phá sản?
Thủ tướng Australia Bob Hawke và Tổng bí thư Hồ Diệu Bang (1985)

Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, tháng 8-2010, quan hệ NhậtTrung trở nên căng thẳng, bắt đầu từ vụ tuần duyên Nhật bắt một thuyền trưởng Trung Quốc khi đoàn tàu cá Trung Quốc thâm nhập gần quần đảo Senkaku. Phản ứng Bắc Kinh là rất hung hăng. Họ yêu cầu Nhật thả thuyền trưởng Trung Quốc ngay lập tức và bật đèn xanh cho loạt cuộc biểu tình dữ dội chống Nhật. Cùng lúc, Trung Quốc ngăn một số mặt hàng xuất khẩu đến Nhật trong đó có đất hiếm.

Đây là một trong những lần đầu tiên Bắc Kinh áp dụng đòn trừng phạt kinh tế trong một xung đột lẽ ra không đáng làm to chuyện.

Yoichi Funabashi, Tổng biên tập tờ Asahi Shimbun, gọi phản ứng Trung Quốc là một “chiến dịch gây sốc và kinh ngạc”. Funabashi chính là người từng hoạt động tích cực việc khuyến khích trao đổi du học sinh hai nước và là một trong những người mạnh mẽ kêu gọi Nhật hàn gắn vết thương chiến tranh với Trung Quốc.
Chỉ vài ngày sau vụ trên, Funabashi buộc phải thốt lên: “Nhật và Trung Quốc hiện ở hiện trường một vụ đổ nát toàn diện và quanh cảnh trông ảm đạm trơ trọi trống vắng”. Trong cuộc phỏng vấn sau đó, Funabashi cảnh báo rằng châu Á đang đối mặt với một thứ luật rừng!

Quan hệ NhậtTrung tiếp tục xuống cấp vào năm 2012, khi thị trưởng Tokyo, Shintaro Ishihara, đề nghị mua Senkaku. Để giảm bớt nồng độ liều lượng, Chính phủ Tokyo nhảy vào can thiệp và mua một số đảo thuộc Senkaku. Tokyo nghĩ rằng việc này, dù sao, cũng còn tỏ ra ít khiêu khích hơn so với việc để một cá nhân như Shintaro Ishihara, vốn nổi tiếng ái quốc cực đoan, can dự vào một vấn đề chính trị nhạy cảm. Phản ứng Bắc Kinh thậm chí còn dữ dội hơn hai năm trước. Chính thái độ của Trung Quốc đã làm thay đổi chính trường Nhật: cánh chính trị thân Trung, DPJ, bị hất cẳng; và đảng LDP, thân Mỹ, trở lại, vào cuối năm 2012.

Australia là một trường hợp nữa của sự phá sản chính sách đối ngoại Trung Quốc. Là một trong những nước đầu tiên nhận ra sự trỗi dậy Trung Quốc, Australia bắt đầu thắt chặt quan hệ kinh tế với Bắc Kinh từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Mùa xuân mới trong cuộc tình Canberra-Bắc Kinh đã bắt đầu bằng sự kiện “xông đất” của Hồ Diệu Bang năm 1985. Thủ tướng Australia Bob Hawke háo hức đến mức phá lệ nguyên tắc thông thường trong ngoại giao tiếp đón nguyên thủ quốc gia và xem Hồ Diệu Bang như một người bạn khi đưa họ Hồ đến vùng đất giàu khoáng sản Pilbara xa xôi ở phía Tây nước Australia cách Canberra hơn 3.000km.

Bức ảnh chụp hai người, đều vận sơmi trắng và không mang cà vạt, đứng trên một ngọn núi hướng mắt về nơi xa xa, nơi có một trong những quặng sắt lớn nhất thế giới, đã trở nên nổi tiếng như một dấu ấn lịch sử quan hệ hai nước.
Năm 2007, Kevin Rudd, người mà báo chí Trung Quốc gọi thân mật bằng cái tên tiếng Hoa là Lục Khắc Văn (Lu Kewen), đã trở thành lãnh đạo một nước phương Tây đầu tiên biết nói thông thạo tiếng Hoa.

Hiện tại, 1/4 xuất khẩu Australia đang đổ vào thị trường Trung Quốc. Tương tự Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước châu Á, Australia hưởng lợi đáng kể từ sự phát triển kinh tế Trung Quốc. Quan hệ kinh tế song phương đến nay vẫn tăng đều.

Trong chuyến công du Trung Quốc vào tháng 4-2014, Thủ tướng Australia Tony Abbott đã dẫn theo phái đoàn đông chưa từng có (hai nước dự kiến ký Hiệp định Tự do thương mại vào cuối năm 2014).

Sự kiện Australia tiếp cùng lúc hai nguyên thủ lớn George W. Bush và Hồ Cẩm Đào, vào tháng 10-2003 đã giúp người ta có cái nhìn rõ hơn mối tương quan trong quan hệ của Australia với Mỹ và Trung Quốc. Cả hai nguyên thủ đều được mời nói chuyện trước Quốc hội.

Trong khi Bush nói về cuộc chiến chống khủng bố, Hồ Cẩm Đào, hôm sau, nói về sự tôn trọng các giá trị khác nhau. “Thế giới chúng ta là một nơi đa dạng, giống như cầu vồng đa sắc vậy” Hồ Cẩm Đào phát biểu“Các nền văn minh, hệ thống xã hội, mô hình phát triển…, dù khác nhau thế nào, cũng phải nên tôn trọng nhau, nên học từ những ưu điểm riêng của nhau”.

Tờ Australian Financial Review đã kết luận bằng một nhận định: Bush đã đến nhưng Hồ đã chinh phục! Phản ứng chính trường lẫn dư luận Australia thời điểm đó cho thấy sự hình thành mơ hồ một dấu hiệu không dứt khoát trong việc xây dựng quan hệ đối ngoại của Canberra đối với Mỹ và Trung Quốc.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc phá sản? 
Ngoại trưởng Dương Khiết Trì và chính khách Nhật Ichiro Ozawa (tháng 4-2008)
Đó là thời điểm rộ lên nguồn tin cho biết, một số viên chức cấp cao Trung Quốc đã thẳng thắn đề nghị Canberra “chơi” theo “kiểu Pháp”: Vẫn là một phần của liên minh phương Tây nhưng tách khỏi Mỹ để đi theo con đường riêng.

Khuynh hướng “bỏ Mỹ thân Trung” còn được ủng hộ từ một số nhân vật tên tuổi. Cựu Thủ tướng Australia Malcolm Fraser nói rằng cách tiếp cận của Mỹ đối với Trung Quốc là một phiên bản thời Chiến tranh lạnh. Chỉ trích của cựu cố vấn chính phủ Hugh White thậm chí còn gay gắt hơn. Trong bài bình luận “Power Shift” (Chuyển đổi quyền lực), Hugh White viết: “Nếu không rút khỏi châu Á và không chịu chia sẻ quyền lực với Trung Quốc, Mỹ phải chấp nhận đấu với thách thức Trung Quốc về khả năng ai mới là kẻ xứng đáng lãnh đạo”.

 Greg Sheridan, biên tập viên đối ngoại của tờ The Australian, gọi bài bình luận của White là “tài liệu chiến lược độc nhất và ngu xuẩn nhất từng được soạn cho lịch sử Australia”!

Tuy nhiên, một lần nữa, Bắc Kinh đã làm vuột mất bàn tay người tình Canberra. Một lần nữa, cũng chỉ bắt nguồn từ một sự kiện không mấy nghiêm trọng. Năm 2009, Hồ Sĩ Thái (Stern Hu), công dân Australia gốc Hoa làm việc cho tập đoàn khai thác khoáng sản Rio Tinto tại Thượng Hải, bị Trung Quốc bắt với cáo buộc đánh cắp bí mật quốc gia. Lúc đó, Rio Tinto đang dính vào cuộc tranh cãi căng thẳng với Bắc Kinh quanh vấn đề giá sắt. 

Cáo buộc dành cho Hồ Sĩ Thái sau đó được làm nhẹ bớt, với tội đánh cắp bí mật thương mại. Hồ Sĩ Thái bị kết án 10 năm tù. Báo chí Australia tin rằng chính vụ tranh cãi với Bắc Kinh mới là nguyên nhân khiến Rio Tinto bị “xử” và Hồ Sĩ Thái chỉ là một nạn nhân vạ lây. Một tháng sau, Bắc Kinh lại làm dữ yêu cầu đòi loại một phim về Rebiya Kadeer, nhà hoạt động chính trị lưu vong thuộc Tân Cương, khỏi chương trình festival điện ảnh Melbourne. Với một nước dân chủ mà hoạt động văn hóa luôn thể hiện tinh thần tự do như Australia, sự can thiệp như vậy là không thể chấp nhận.

Cuối năm 2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama đến Australia, tuyên bố đưa 25.000 thủy quân lục chiến đến nước này. “Lợi ích lâu dài của chúng tôi trong khu vực đòi hỏi sự hiện diện lâu dài của chúng tôi trong khu vực. Hoa Kỳ là một cường quốc Thái Bình Dương và chúng tôi đến đây để ở lại”Obama phát biểu tại Quốc hội Úc. Sự hiện diện của 25.000 thủy quân lục chiến Mỹ đã thể hiện một “chính sách bảo hiểm” cho một tương lai không chắc chắn trước sự đe dọa an ninh từ Trung Quốc mà Australia bắt đầu nhận ra. Và trong chuyến công du Hoa Kỳ vào giữa tháng 6-2014, Tony Abbott đã đứng tên chung trong một bài xã luận với Barack Obama đăng trên Los Angeles Times. Bài có đoạn: “Cả Australia và Hoa Kỳ đều quan ngại rằng hành vi gây hấn tăng dần trong các cuộc tranh chấp biển đảo tại châu Á đang tạo ra một nguy cơ ngày càng tăng của tính toán sai lầm và, trong trường hợp xấu nhất, dẫn đến xung đột… Cả hai nước chúng tôi đều phản đối việc sử dụng hăm dọa, ép buộc hoặc xâm lược trong vấn đề tranh chấp của bất kỳ quốc gia nào”.

Trung Quốc đang cô độc hơn bao giờ hết. Bắc Kinh có những gắn kết kinh tế khắp châu Á nhưng xét về đồng minh chiến lược thì không. Chính sách áp đảo chính trị bằng kinh tế đã không giúp Bắc Kinh cắt được những mắt xích đồng minh Mỹ. Càng cố đẩy Mỹ ra xa, Trung Quốc càng khiến Mỹ gắn chặt quyền lợi hơn với châu Á. Càng cố lôi kéo các nước châu Á, Trung Quốc càng khiến họ nhảy sang về phía Mỹ.

Xét về ngắn hạn, chính sách ngoại giao tàu chiến của Trung Quốc là thành công. Không thể phủ nhận điều này.

Xét về lâu dài, Trung Quốc sẽ chết gục trên chính những gì mà Trung Quốc đang “gặt hái” được của ngày hôm nay. Chính Thời Ân Hoằng (Shi Yinhong), học giả có sức ảnh hưởng mạnh tại Trung Quốc, còn phải thốt lên: “Chúng tôi đã giành được những điều hoàn toàn trái ngược với những gì mà chúng tôi hy vọng muốn có”!
Thanh Phong
~~~~~~~~~~~~~~~~~~
alt

Trung Quốc sai lầm khi phô diễn sức mạnh quá sớm!

Trung Quốc phô diễn sức mạnh và thể hiện vai trò lãnh đạo khu vực quá sớm tạo ra rủi ro đối với trật tự an ninh ở khu vực. Giới hoạch định chính sách các nước, đặc biệt là Mỹ, cần phải theo sát các hành động của Trung Quốc và có đối sách kịp thời.
alt
Bài viết của ông Rory Medcalf - Giám đốc Chương trình an ninh quốc tế tại Viện Lowy. Bài viết đăng trên “National Interest” ngày 3/6/2014.

Giữa năm 2014, cuộc cạnh tranh chiến lược ở Châu Á diễn ra rất gay gắt. Trên thực địa, tàu Trung Quốc tấn công, đâm va các tàu Việt Nam xung quanh khu vực giàn khoan HD981 mà Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tàu Trung Quốc còn phong tỏa, ngăn chặn Philippines tiếp tế cho đơn vị đồn trú của nước này ở bãi cạn tranh chấp (bãi Cỏ Mây) ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc cũng bác bỏ việc Philippines kiện ra tòa trọng tài. Trên phía bắc, máy bay chiến đấu của Trung Quốc và Nhật Bản suýt chút nữa thì đâm nhau. Trong khi đó, tàu chiến của Trung Quốc và Nga phối hợp tập trận ngay gần đó (ngoài khơi Thượng Hải trên biển Hoa Đông).
Trên bình diện ngoại giao, Trung Quốc và Nga tăng cường liên kết. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thách thức trật tự chiến lược do Mỹ đứng đầu thông qua việc tổ chức Diễn đàn CICA (Diễn đàn về phối hợp hành động và các biện pháp củng cố niềm tin ở Châu Á diễn ra ở Thượng Hải), một diễn đàn ít ai biết đến và không có sự tham dự của các nước đồng minh của Mỹ.

Tại Singapore (trong Diễn đàn Shang-ri La), Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ngụ ý mong muốn trở thành đối tác an ninh với các nước bị Trung Quốc sách nhiễu. Còn Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel thì cảnh báo các hành vi “cưỡng ép và hù dọa” của Trung Quốc. Đáp lại, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc Vương Quán Trung lên án Mỹ và Nhật Bản đã vượt quá ranh giới ngoại giao.

Điểm qua, chúng ta có thể thấy một viễn cảnh không mấy sáng sủa về môi trường an ninh ở Châu Á: Đó là sự cạnh tranh chiến lược ngày một gia tăng giữa một bên là Trung Quốc và một bên là hệ thống liên minh do Mỹ dẫn đầu. Hệ quả là có thể dẫn đến xung đột, hoặc sự thoái lui của Mỹ, tạo điều kiện để Trung Quốc chi phối trật tự khu vực (Châu Á – Thái Bình Dương).

Những gì xảy đến tiếp theo, nhất là những chọn lựa chính sách cho các nhà lãnh đạo của Mỹ và các nước khác, là việc không đơn giản. Trật tự chiến lược Châu Á có thể đang vận hành, trong đó đặc điểm trật tự do Mỹ dẫn dắt đang gặp phải thách thức do đây là cuộc chơi phức tạp và đa tầng nấc. Nếu Trung Quốc tìm cách đe Mỹ và các nước khác như Nhật Bản, Philippines và Việt Nam thì đó là tính toán sai lầm. Về dài hạn, việc Trung Quốc tự tin phô diễn sức mạnh quá sớm sẽ làm tổn hại đến lợi ích của chính nước này.

Ví dụ như vụ hạ đặt giàn khoan trái phép HD981 trong EEZ của Việt Nam, Trung Quốc nhắm đến hai đích:

(i) tạo sự đã rồi ở Biển Đông nhằm thay đổi nguyên trạng trên thực địa, trong khi tiếp tục kéo dài quá trình đàm phán COC với ASEAN; và
(ii) cho thấy giới hạn của Mỹ trong việc xây dựng quan hệ đối tác mới khi triển khai chính sách tái cân bằng ở Châu Á. Lần này, Trung Quốc nhắm vào Việt Nam vì giống như Ukraine, không phải là đồng minh của Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc còn tạo áp lực về kinh tế với Việt Nam. Việt Nam không muốn chiến tranh và nhiều lần yêu cầu giải pháp ngoại giao, nhưng Trung Quốc phớt lờ và không rút giàn khoan. Bên cạnh đó, Trung Quốc cố tình phóng đại rủi ro về môi trường kinh doanh ở Việt Nam trước các nhà đầu tư Châu Á khác.

Tất cả những điều này sẽ tạo ra tác động trái chiều đối với Trung Quốc. Các bên sẽ nhận thức rõ rằng khi Trung Quốc trở nên càng mạnh thì càng hành xử không đúng mực. Nếu tình hình cứ như vậy thì các bên yêu sách khác sẽ khó bảo vệ được lợi ích của họ trước Trung Quốc. Vì vậy, họ sẽ tăng cường kết nối an ninh với Mỹ và Nhật Bản, đồng thời tăng đầu tư cho quốc phòng. Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines, mỗi nước đều tìm cách hợp tác hải quân với Mỹ.

Nếu nhiều bên áp dụng giải pháp trọng tài có thể sẽ làm cho Trung Quốc bị cô lập trước công luận thế giới. Các nước ASEAN khác cũng sẽ theo đuổi chính sách mang tính xây dựng hơn, chứ không chống phá như Campuchia.
alt
Các chuyên gia phân tích trên truyền thông phương Tây cho rằng, trục Nga - Trung là hão huyền và được mạng lưới tuyên truyền của Trung Quốc và Nga phóng đại lên. Lập luận thường thấy là hai nước này đang liên kết để đối trọng lại liên minh do Mỹ dẫn đầu ở Á-Âu. Hay việc hải quân Trung Quốc và Nga tập trận ở biển Hoa Đông nhằm bắn tín hiệu với Mỹ và Nhật Bản.

Một số khác thì cho rằng Ấn Độ sẽ tham gia cùng tạo nên tam giác RIC đối trọng lại Mỹ và đồng minh của Mỹ. Nhưng trên thực tế, vẻ ngoài nồng ấm và hữu hảo gần đây giữa Nga và Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với lòng tin chiến lược giữa hai nước vì Nga không muốn là đối tác dưới cơ của Trung Quốc, không muốn từ bỏ quyền lợi trong việc bán khí đốt với Nhật, vũ khí hiện đại cho Ấn Độ và Việt Nam. Đó không phải là những hành động của hai người bạn tri kỷ, hay việc Nga coi an nguy của Trung Quốc như của Nga. Chiến lược gia hai nước đều cảnh giác và nghi ngại trước sức mạnh của nhau, đặc biệt là trong dài hạn.

Một trong các lý do khiến Nga quyết định giữ kho vũ khí hạt nhân chiến thuật và bảo lưu học thuyết tấn công phủ đầu (first strike doctrine) bằng hạt nhân là vì sức mạnh của Nga suy giảm tương đối so với Trung Quốc. Vậy nên, nếu lâm vào cuộc khủng hoảng quân sự với Mỹ, Trung Quốc cũng không mong Nga sẽ có hành động can thiệp. Trong bất kỳ tình huống nào, hạm đội Thái Bình Dương của Nga sẽ không động đậy. Kể cả Ấn Độ, nước này luôn nghi ngờ Trung Quốc. Gần đây, Ấn Độ tăng cường quan hệ với Nhật Bản. Đương nhiên, nước này cũng sẽ không đứng về phía Trung Quốc hoặc Nga để chống lại Mỹ.

Một điều đáng chú ý khi Trung Quốc tuyên bố là trung tâm của kiến trúc ngoại giao mới ở Châu Á: người Châu Á quản lý những vấn đề an ninh Châu Á trên cơ sở “cùng thắng". Tháng 5/2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra quan niệm về an ninh mới này tại Diễn đàn CICA ở Thượng Hải. Từ nhiều năm nay, diễn đàn này ít được chú ý và luôn nằm ngoài rìa lịch trình các hội nghị ngoại giao Châu Á. Vậy tại sao Trung Quốc lại đột nhiên ráo riết thúc đẩy?

Bề ngoài, ý nghĩa và lập luận của ông Tập có vẻ lo-gic và không có khuyết điểm: các cường quốc Châu Á phải là chủ thể chính giải quyết các thách thức của Châu Á. Nhưng, thách thức là thách thức nào và Châu Á là Châu Á nào? Hãy nhìn vào các thành viên của CICA có thể thấy vừa thừa lại vừa thiếu. Châu Á, nhưng không giới hạn ở Châu Á – Thái Bình Dương. Thành viên bao gồm cả Ai Cập, Iraq, Iran. Trong khi đó, Nhật Bản, Philippines và Indonesia chỉ là quan sát viên. Singapore thì không tham dự. Nga tham dự, Mỹ thì không.

Ngoài ra, CICA là sáng kiến do Kazakhstan đưa ra từ những năm đầu thập niên 1990 với một nghị trình khiêm tốn thời hậu Chiến tranh lạnh. Giờ đây, khi tình hình khu vực có chút biến đổi, CICA được Trung Quốc thúc đẩy. Bắc Kinh có vẻ như không hài lòng với những cơ chế đa phương thiên về ngoại giao hiện nay ở Châu Á - Thái Bình Dương, ví dụ như: Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), Diễn đàn An ninh khu vực (AFR), Hội nghị Bộ Trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) vì các cơ chế đa phương này do ASEAN làm trung tâm và tránh đối đầu với Trung Quốc hay các nước khác.

Nhưng thực tế, các cơ chế này hiện đang là trụ cột trong việc định hình một trật tự đa cực ở khu vực. Trong đó, các quy tắc như không cưỡng ép, tôn trọng luật pháp, v.v được các nước thừa nhận dù có hệ thống chính trị khác nhau. Hơn nữa, quy chế thành viên của các cơ chế này đúng theo kiểu Châu Á – Thái Bình Dương, hay đúng hơn là Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Điều này phản ánh vai trò của Mỹ ở Châu Á, vai trò và lợi ích của Ấn Độ, tầm quan trọng của Nhật Bản, ASEAN giữ vai trò trung tâm, Úc gắn liền với Châu Á, Trung Quốc kết nối với Đông Nam Á, tầm quan trọng của đường vận tải biển qua Ấn Độ Dương đối với nguồn cung dầu, thương mại và đầu tư.

Lý do nữa khiến Trung Quốc thúc đẩy CICA là dường như Trung Quốc chỉ cảm thấy thoải mái khi hành xử theo cách riêng nước này. Điều này có thể rút ra từ sự phô diễn ngoại giao của đại biểu Trung Quốc, ông Vương Quán Trung tại Diễn đàn Shang-ri La, Singapore. Ông này lên án Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã dùng các từ ngữ như “mối đe dọa”, “hù dọa” và “khiêu khích” để nói về hành động của Trung Quốc. Ông Vương cũng phản pháo lại bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe với lập luận tương tự.

Thực tế, Thủ tướng Shinzo Abe đã không chỉ thẳng Trung Quốc mà ngỏ ý sẵn sàng giúp các nước xây dựng năng lực và liên kết bảo vệ lợi ích của các bên trước những hành động cưỡng ép, đồng thời nhằm duy trì tự do hàng hải. Rõ ràng, ông Vương đã đi quá xa khi miêu tả bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản là ‘không chấp nhận được’ và ‘không tưởng tượng nổi’, v.v.

Vì quan hệ Trung-Nga không đến mức trở thành liên minh, nên nếu Trung Quốc đứng ngoài các cơ chế hàng hải ở Châu Á thì sẽ không vươn tới đâu được. Dù Trung Quốc trỗi dậy đến mức nào đi chăng nữa thì vẫn là quốc gia nằm ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trung Quốc còn có lợi ích ở khu vực biển rộng lớn này. Năng lượng và các nguồn lực mà Trung Quốc cần cho công cuộc phát triển chủ yếu được vận chuyển qua đường biển. Trung Quốc càng ca tụng xây dựng lòng tin với các nước lục địa phía tây, càng thể hiện sự xa rời với các nước láng giềng biển.

Sớm nay muộn, Bắc Kinh sẽ phải thương lượng về lợi ích cũng như bất đồng trên biển với các đối tác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương bao gồm Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ, Úc, Nhật Bản. Nếu Trung Quốc chỉ tập trung vào các cơ chế theo cách của riêng mình thì ảnh hưởng tất sẽ bị thu hẹp lại. Đây không phải là âm mưu để kiềm chế vai trò của Trung Quốc, mà đơn giản chỉ là bối cảnh chung liên quan đến một Trung Quốc trỗi dậy.

Trung Quốc đang tranh đấu để thỏa hiệp địa chính trị biển ở Châu Á, cho nên mới cố thể hiện tư thế lãnh đạo và đe Mỹ cùng với đồng minh của Mỹ. Bắc Kinh có thể nhạy bén với thời cuộc. Quan sát sức mạnh Mỹ thông qua các sự biến ở Syria và Ukraine, hay từ giọng điệu trong các bài phát biểu của các lãnh đạo Mỹ.
Ví dụ như bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Obama ở West Point có vẻ hơi kiềm chế, ít nhấn mạnh việc đảm bảo cho liên minh và bạn bè của Mỹ ở Châu Á. Bài phát biểu ở Singapore của Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel cảnh báo hành động cưỡng ép của Trung Quốc nhưng lại tạo cơ hội để ông Vương tỏ thái độ không hài lòng.

Báo giới nhận định rằng sự thẳng thắn của ông Vương và ông Hagel mở ra thời kỳ cạnh tranh và đấu khẩu giữa Trung Quốc và Mỹ. Tuy nhiên, chỉ thông qua các hội nghị hay các bài phát biểu thì chưa đủ làm xoay chuyển tình trạng đối kháng chiến lược giữa hai nước này mà còn dựa trên thực tế quan hệ. Một cuộc chiến tranh lạnh mới ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chưa thể xảy ra. Nhưng, tình hình những tháng tới sẽ quan trọng cho an ninh của khu vực.

Một vấn đề đặt ra là liệu có thể tạo dựng một trật tự ổn định mà trong đó không cường quốc đơn lẻ nào thống trị. Nếu nhìn nhận rằng những hành xử và phát biểu của Trung Quốc gần đây thể hiện sự tự tin thái quá – hay phô diễn sức mạnh quá sớm, thì Mỹ, đồng minh của Mỹ và các đối tác sẽ phải cẩn trọng trong việc đối phó với nước này. Việc cần làm trước mắt là phải chuyển tới giới hoạch định chính sách an ninh Trung Quốc một thông điệp rõ ràng rằng nếu họ tiếp tục liều lĩnh thì sẽ không lường được hết hậu quả.

Cái mà khu vực cần hiện nay là một dạng cân bằng mới – không phải là cân bằng quyền lực (balance of power) hay cân bằng quyết tâm (balance of resolve), mà là ‘cân bằng bất minh’ (balance of uncertainty). Nghĩa là ,Mỹ và đồng minh ở Châu Á cảm thấy không chắc chắn hay khó đoán biết về hành xử của Trung Quốc.

Làm thế nào để buộc Trung Quốc chấp nhận hành xử theo cách mà nước này tuyên bố, đó là ‘cùng thắng’ trong tương tác với các nước láng giềng là điều quan trọng. Các nước cũng không biết chắc là giới hoạch định chiến lược Trung Quốc nghĩ và tính toán gì khi Mỹ, Nhật và các cường quốc tầm trung ở khu vực phản ứng lại các động thái cưỡng ép tiếp theo của nước này.

Trung Quốc chỉ giả bộ phớt lờ biện pháp pháp lý, chứ sự thực sẽ gặp rắc rối nếu như các bên yêu sách khác kiện lên tòa trọng tài dưới sự ủng hộ của Mỹ và EU. Hơn nữa, việc duy trì ổn định trên biển và đường giao thông hàng hải huyết mạnh ở Biển Đông là trách nhiệm chung của các bên liên quan. Cho nên, Mỹ cần phải có kế hoạch hành động thực tế hơn, ví dụ: phối hợp quản lý tranh chấp theo luật pháp, hay thông qua các cơ chế toàn cầu như G7, hay cơ chế đa phương khu vực như EAS. Đồng thời, Mỹ, Nhật Bản và đối tác ở Đông Nam Á cần mở rộng năng lực an ninh, đào tạo và chia sẻ thông tin tình báo để đối phó với thách thức từ hành động của Trung Quốc.

Để thay đổi ‘cân bằng bất minh’ ở Châu Á không nhất thiết phải cần một lực lượng quân đội quá hùng mạnh. Dù nguồn lực bị cắt giảm, hải quân Mỹ cũng đủ duy trì hiện diện ở Biển Đông, trong lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế của các nước đối tác và đồng minh khi được mời. Do lo ngại về an ninh ở khu vực, các nước sẽ tích cực hơn trong việc tham gia các cuộc tập trận hải quân do Mỹ chủ xướng hay phối hợp giám sát ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. 

Việc này không có nghĩa là nhằm khiêu khích Trung Quốc, mà có thể mời Trung Quốc tham gia và đối thoại một cách nghiêm túc. Những vụ chạm trán giống như USS Cowpens hồi tháng 12/2013 sẽ ít xảy ra.

Thực tế là Trung Quốc ngày càng trở nên cương quyết trên biển. Nhưng, căng thẳng vẫn trong tầm kiểm soát và chưa dẫn tới xung đột chủ yếu vì sự kiềm chế của các bên, trừ Trung Quốc. Ví dụ như căng thẳng Trung-Nhật ở Hoa Đông, các lực lượng chấp pháp biển của Nhật Bản là nhân tố chính giữ kiềm chế, không để leo thang dẫn tới xung đột. 

Giới hoạch định chiến lược an ninh của Trung Quốc nên hiểu rằng họ không thể là lực lượng luôn tạo ra rủi ro cho khu vực. Bức tranh địa chính trị ở khu vực không phải do mình Trung Quốc vẽ lên./.

Theo Nghiên cứu Biển Đông



Chủ tịch Trung Quốc khẳng định quyền kiểm soát lên quân đội

Tướng Từ Tài Hậu (Xu Caihou ) lúc còn đầy uy quyền. Ảnh chụp ỏ Trường Xuân, Cát Lâm, ngày  04/07/2004.
Tướng Từ Tài Hậu (Xu Caihou ) lúc còn đầy uy quyền. Ảnh chụp ỏ Trường Xuân, Cát Lâm, ngày 04/07/2004.
Reuters

Thanh Phương

Khi khai trừ khỏi đảng một cựu phó tham mưu trưởng quân đội, chủ tịch Tập Cận Bình muốn khẳng định quyền kiểm soát lên giới quân sự Trung Quốc, thường quá chú tâm đến làm ăn kinh doanh hơn là nhiệm vụ quốc phòng.

Bị cáo buộc là đã lợi dụng chức vụ để mua bán chức quyền và nhận hối lộ, tướng Từ Tài Hậu ( Xu Caihou ) vừa bị khai trừ khỏi Đảng, một hình thức kỷ luật rất nặng ở Trung Quốc. Hồ sơ vụ án đã được chuyển sang cơ quan kiểm sát quân sự, theo như thông tin của báo chí Nhà nước ngày 30/06 vừa qua.
Cho tới năm ngoái, ông Từ Tài Hậu còn là phó chủ tịch Quân ủy trung ương, cơ quan lãnh đạo quân đội và cho đến năm 2012, ông vẫn là một trong những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc, với tư cách ủy viên Bộ Chính trị.
Như vậy, Từ Tài Hậu sẽ là viên tướng cao cấp nhất bị đưa ra tòa từ nhiều thập niên qua tại Trung Quốc. Ông cũng đã là quan chức cao cấp nhất bị thất sủng như vậy trong khuôn khổ chiến dịch chống tham nhũng được chính quyền Bắc Kinh khởi động từ năm 2012.
Theo các nhà phân tích, quyết định truy tố tướng Từ Tài Hậu, mặc dù ông này đang bị ung thư bàng quang ( theo tin báo chí Hồng Kông ), là nhằm gởi một thông điệp cứng rắn đến các lãnh đạo Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc.
Theo nhận xét của ông Christopher Johnson, nhà nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu CSIS ở Washington, những cáo buộc về nhận hối lộ để mua quan bán chức cho thấy quân đội không thật sự trung thành với Đảng và không làm tròn nhiệm vụ bảo vệ chế độ. Ông Johnson nói thêm rằng việc khai trừ tướng Từ Tài Hậu cho thấy ông Tập Cận Bình vẫn kiểm soát hoàn toàn Đảng và quân đội. Hơn nữa, theo Tân Hoa Xã, đích thân chủ tịch Trung Quốc đã chủ trì cuộc họp mà trong đó quyết định khai trừ tướng Từ Tài Hậu đã được đưa ra.
Quân đội Trung Quốc hiện là quân đội lớn nhất thế giới tính về quân số và ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng hiện đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Ngân sách quân sự này mỗi năm vẫn tăng mạnh, cùng với đà hiện đại hóa nhanh chóng quân đội Trung Quốc.
Theo số liệu chính thức, ngân sách quốc phòng năm 2013 của Trung Quốc là 119,5 tỷ đôla, tăng 11% so với năm 2012, nhưng theo Lầu năm góc, ngân sách này trên thực tế là hơn 145 tỷ đôla.
Theo các chuyên gia, chính việc quân đội được hưởng quá nhiều phương tiện tài chính nên tham nhũng càng dễ nẩy sinh. Rất nhiều tướng tá Trung Quốc trong những năm qua đã lao vào kinh doanh, lợi dụng việc chuyển đổi các xí nghiệp quân sự sang các hoạt động dân sự.
Vào năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã từng yêu cầu các sĩ quan-doanh nhân, một là ngưng làm ăn, hai là rời khỏi quân đội. Nhưng theo chuyên gia về an ninh châu Á Brad Glosserman, những mối quan hệ giữa quân sự và kinh doanh quá chằng chịt, không dễ gì gở ra hết được. Tham nhũng trong quân đội đã mang tính hệ thống, và những lợi ích chồng chéo nhau đã làm suy yếu khả năng của quân đội Trung Quốc.
Là con trai của một nhà cách mạng lão thành của Trung Quốc, Tập Cận Bình có nhiều uy tín với quân đội so với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Việc khai trừ tướng Từ Tài Hậu cho thấy ông Tập Cận Bình muốn tăng cường sự kiểm soát lên quân đội, đồng thời cũng nhằm cảnh cáo những ai muốn thách đố quyền lực của ông.
Nhưng theo giáo sư chính trị học Joseph Cheng thuộc đại học City University of Hong Kong, chiến dịch chống tham nhũng kiểu như vậy cũng chứa đựng nhiều nguy cơ. Lý do là vì nó có thể đụng chạm đến các cựu lãnh đạo, khiến những kẻ cảm thấy bị đe dọa sẽ hợp lực với nhau để gây sức ép lên ông Tập Cận Bình. Nhưng nếu chiến dịch này thành công, được dân chúng ủng hộ, đây sẽ là  một vũ khí răn đe của ông Tập Cận Bình đối với những ai muốn cản đường ông.


Ảnh của Ngoc Bui.

 




__._,_.___

Posted by: hung vu 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link