Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, July 14, 2014

Một quốc hội nhược tiểu “đầu tôm”!?


Một quốc hội nhược tiểu “đầu tôm”!?

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (3 videos


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Tranh chấp nóng hổi với TQ ở biển Đông. Nhà nước đảng CSVN kêu gọi: “Việt Nam hy vọng Hoa Kỳ sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn cũng như có thêm hành động thực tế hơn nữa góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và giúp giải quyết các tranh chấp chủ quyền trong vùng theo đúng luật lệ quốc tế” – Nhưng Quốc hội Việt Nam thì lại dứt khoát “không ra nghị quyết lên án TQ về biển Đông”.!?. (1)

Không đưa ra nghị quyết nhưng… “Việt Nam hy vọng…” Thật là lố bịch một sự hy vọng rất “đầu tôm” của đảng CSVN, còn nhân dân VN và thế giới thì hoàn toàn thất vọng – Bởi, trước thống kê xương máu tính ra từ thời nhà Tần (221-216 TCN) đến nay TQ đã 23 lần xâm lược Việt Nam.Vụ việc hạ đặt trái pháp luật giàn khoan Hải Dương-981 trên vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của VN chính là cuộc "xâm lược" mới nhất của TQ, (PGS-TS Đàm Đức Vượng, nguyên Chánh văn phòng Hội đồng Lý luận T.Ư, Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, khẳng định.(2)

Vậy mà Quốc hội Việt Nam tại phiên bế mạc hôm 24/6/2014 vừa qua vẫn “không ra nghị quyết về biển Đông” để chính thức thay mặt cử tri toàn dân Việt Nam lên án tập đoàn bành trướng Bắc Kinh âm mưu xâm lược chủ quyền lãnh hải VN trước cộng đồng thế giới.

Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc (chắc ông ta củng rất hạnh phúc là cánh tay nối dài, tay sai của đảng CSVN) khi với tư duy “đầu tôm” ông nhấn mạnh: "Trên cơ sở ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội, ngày 21/5/2014, Quốc hội đã ra Thông cáo số 2 bày tỏ quan điểm, thái độ trước việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bản Thông cáo số 2 được xem như là tuyên bố của Quốc hội".!?.

Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội “đầu tôm” Nguyễn Hạnh Phúc.
“Thông cáo số 2 được xem như là tuyên bố của Quốc hội".!? (Nguyễn Hạnh Phúc).

Dù có là “đầu tôm” thì ít nhất ông ta củng phải hiểu, thông cáo là văn bản của các tổ chức, cơ quan nhà nước ban bố để cho mọi người hiểu biết tình hình, giá trị không hơn tin tức báo chí. Còn Nghị quyết là quyết định được chính thức thông qua một hội nghị, sau khi vấn đề đã được tập thể ĐB đại diện cử tri nhân dân cả nước thảo luận và biểu quyết nhất trí, nó cần được thi hành công bố cho toàn thế giới biết đó là phản ứng chính thức của toàn dân tộc Việt Nam.

Cũng trong phiên bế mạc, phát biểu tại nghị trường QH ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố là thềm lục địa và Vùng Đặc quyền Kinh tế của mình là hành động “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế, làm tổn hại sâu sắc đến tình hữu nghị, đoàn đoàn kết của nhân dân hai nước” nhưng Cơ quan lập pháp của Việt Nam do ông ta lãnh đạo thì chỉ ra thông cáo về tình hình biển Đông, thay vì một nghị quyết

Thật là xấu hổ cho Quốc Hội CSVN, chỉ hơn hai tuần sau, ngày 10/7 Với 100% phiếu thuận tuyệt đối, Thượng viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết mang mã số S.RES.412 về Biển Đông nghiêm khắc lên án hành động gây hấn của Trung Quốc tại Biển Đông và Hoa Đông.

Đặc biệt, Nghị quyết ngày 11/7 của Thượng viện Mỹ kêu gọi Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương- 981 cùng các lực lượng hộ tống, trả lại nguyên trạng trên khu vực biển Đông như trước ngày 1/5/2014.

Trong bản Nghị quyết của Thượng viện Mỹ chỉ rõ, ngày 1/5/2014, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc đã hạ đặt giàn khoan Hải Dương- 981với sự hộ tống của 25 tàu tại khu vực cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý. Từ ngày 1-9/5, số tàu hộ tống của Trung Quốc đã lên tới 80 tàu, bao gồm 7 tàu quân sự, hung hãn tuần tra và hăm doạ tàu cảnh sát biển Việt Nam, vi phạm Công ước Quy tắc quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển. Tàu Trung Quốc cố tình đâm va, sử dụng trực thăng và vòi rồng tấn công chống các tàu kiểm ngư Việt Nam.

Trung Quốc còn thiết lập khu vực cấm đi lại trong bán kính 3 hải lý xung quanh giàn khoan Hải Dương - 981, gây ảnh hưởng tới an toàn hàng hải trong khu vực và vi phạm các nguyên tắc phổ quát của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS),

“Những đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc cùng những hành động hậu thuẫn cho hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981, chưa được chứng thực theo luật pháp quốc tế, Luật Biển (UNCLOS), là một mưu toan đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực và cho thấy dấu hiệu vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) từ Trung Quốc” Chi tiết trong nghị quyết khẳng định. (3)

Trong nghiệm suy của mình, nhân dân Việt Nam tự vấn: Tinh thần nội dung nghị quyết này lẽ ra vì quyền lợi quốc gia và độc lập chủ quyền của dân tộc nó phải được Quốc Hội Việt Nam chứ không phải là Hoa Kỳ thực hiện tuyên bố.

Những hành vi của TQ xâm lược biển đảo trước đó và đang tiếp diễn như hiện nay nhưng Quốc Hội VN lại không dám tuyên bố bằng một nghị quyết chính thức lên án trước nhân dân và cộng đồng quốc tế thì họ (các chóp bu nhà nước và CSVN) lãnh đạo, đại diện cho ai? Khi mà các lá quốc kỳ của gần 200 quốc gia lớn nhỏ trước tiền sảnh và mọi hàng ghế trong nghị trường Liên Hiệp Quốc đều có kích cỡ giống như nhau thì họ (CSVN) tự mình hèn mọn đẩy vị thế quốc gia mình thấp xuống chứ hiến chương LHQ không cho phép nước nào trong LHQ tự động có quyền cho vị thế của mình cao hơn.

Trước bản Nghị quyết tuyệt đối đồng thuận lên án mạnh mẽ Trung quốc từ Thượng viện Mỹ, một thế lực mà CSVN biết rõ là khắc tinh, chướng ngại của Trung Quốc trên bước đường bành trướng, hàng loạt bài báo trang mạng “đảng ta” trong nước hứng khởi đăng tin rầm rộ và chắc rằng các chóp bu và nhà nước CSVN củng rất hoan hỉ hài lòng.

Một sự lạc quan hài lòng vô liêm sỉ, khi trước kia, thời gian chưa xa lắm chính họ (CSVN) đã hy sinh chủ quyền biển đảo quốc gia (công hàm Phạm Văn Đồng 1958) để đổi lấy vũ khí Tàu Cộng rồi tự nguyện làm tay sai hứng thú trung thành với tình “đồng chí” quốc tế, dùng máu xương đồng bào mình cố đẩy Mỹ ra khỏi khu vực cho Trung Quốc rảnh tay có được cơ hội cướp biển đảo Việt Nam, bành trướng vô giới hạn như hôm nay và không hiểu họ (các chóp bu CSVN) có biết nhục và xấu hổ không khi như che những cái bản mặt dày như mo cau ra để cầu viện một thế lực mà họ (CSVN) từng một mực với nhân dân mình cho rằng là đế quốc xâm lược… “Việt Nam hy vọng Hoa Kỳ sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn cũng như có thêm hành động thực tế hơn nữa góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và giúp giải quyết các tranh chấp chủ quyền trong vùng theo đúng luật lệ quốc tế”. Mà thực trạng “hòa bình” trên biển Đông vốn dĩ đã từng tồn tại trước năm 1975 nhưng do CSVN cuồng tín tự nguyện làm tay sai gây ra mâu thuẫn di luỵhôm nay.

Còn các đại biểu CS Quốc Hội “đầu tôm” Việt nam thì ngậm miệng ăn tiền câm như hến trong phiên họp cuối của Quốc hội hôm 23/6, đại biểu Trương Trọng Nghĩa được báo chí trong nước dẫn lời ông này nói: “Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì về Biển Đông thì tôi tin rằng nhân dân ta sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang".

Không! Toàn dân Việt không thất vọng hay hoang mang, vì hơn ai hết đồng bào trong và ngoài nước đã hiểu rất rỏ về bản chất hèn mọn của các chóp bu CSVN cụ thể nhãn tiền điển hình nhất là khi đế chế CS Liên Xô vừa sụp đổ (1989) là họ (CSVN) vội vã quay mặt đạp lên hàng trăm ngàn máu xương đồng đội đồng chí đồng bào của họ hy sinh trong trận chiến Bắc biên giới với TQ để lén lút “đi cửa hậu” sang Thành Đô quỳ mọp trước các chóp bu CS/Trung Quốc khấu kiến cầu thân bán rẻ quyền lợi quốc gia xin nương tựa vì sự sống còn của đảng CSVN.

Có thất vọng chăng là cộng đồng thế giới rất ngạc nhiên khi là thành viên nhưng CS/XHCN/Việt Nam lại không tựa vào khối Asean trong đó có Philippines, Malaysia và Brunei những quốc gia ven biển Đông có cùng tranh chấp với Trung Quốc nhưng dứt khoát không đàm phán “song phương” với TQ thậm chí nhỏ yếu hơn VN như Philippines vẫn bình thản tự tin đương đầu và kiện TQ ra toà án luật biển quốc tế, trong khi Việt Nam lại tự rụt rè không muốn kiện mà Quốc Hội lại còn nhút nhát không dám ra nghị quyết lên án dù đảo biển chủ quyền bị Trung Quốc cướp đoạt máu quân đội và ngư dân loang đỏ liên tiếp một thời gian dài trên biển Đông, tin mới nhất mới đây ngày 3/7/2014 hai tàu cá QNg 94912-TS và QNg 94913-TS ra vùng biển vịnh Bắc Bộ đánh bắt hải sản trong lúc đang hành nghề trên lãnh hải Việt nam, 2 tàu cá trên bị tàu Trung Quốc có vũ trang áp sát, khống chế. bắt giữ tàu cá QNg 94912-Ts cùng 6 ngư dân đưa về giam giữ ở cảng Tam Á (thành phố Tam Á, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc)


TS “đầu tôm” Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp - Uỷ ban Thường vụ Quốc hội...

Não lòng hơn, trước vô và sự thật ngang ngược cụ thể rõ ràng chồng chất như là núi từ Trung Quốc gây ra như thế, nhưng một ĐB/QH “đầu tôm” nữa là Ông Đinh Xuân Thảo, (Viện Nghiên cứu lập pháp Quốc hội)!? lại vô tư phát biểu với PV VOA Việt Ngữ như thế này:

“Chủ tịch Quốc hội đã ra “thông cáo báo chí” về tình hình ở biển Đông, thể hiện rất rõ các nội dung và quan điểm của quốc hội, chứ không đưa ra một hình thức “nghị quyết” bởi vì theo quy định của hiến pháp và pháp luật Việt Nam, khi mà ra một nghị quyết là nó phải có mục đích, nội dung, phải cụ thể, chứ còn trong vấn đề này, thì cũng chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào” – (để ra nghị quyết lên án) (4)

Trời ạ!? - “Chưa có cơ sở hay căn cứ nào!?” - Liệu chúng ta 85 triệu đồng bào cử tri người Việt Nam có hiểu nổi “ngôn ngữ” này phát ra từ mồm một ông ĐB/QH chuyên trách Viện Nghiên cứu lập pháp Quốc hội trước các sự việc của TQ nói trên? và nhất là Nghị quyết của Thượng Viện Hoa Kỳ lên án Trung Quốc mới đây là “chưa có cơ sở hay căn cứ nào”?

Buộc lòng chúng ta phải liên tưởng cái đầu ông ĐB/QH này có giống với cái “đầu tôm”? nơi mà não bộ tồn trữ chung với chất thải…


__________________________________

Chú thích






Xấu hổ, đau lòng và buồn tủi


nguyen-sinh-hung
Thế là chuyn l đã xy ra…Quc Hi Hoa Kỳ đã nht trí thông qua Ngh Quyết v bin Đông, yêu cu Trung Quc quay v nguyên trng trước ngày 1/5/2014, tc là yêu cu TC rút giàn khoan 981, mt vic mà Quc Hi Vit Nam đã không dám làm, đã không th làm và thc s đã không làm…
Ti sao mt vic mà đ giúp ích cho chính Dân Tc Vit Nam chúng ta thì bên ngoài làm được, còn ta thì Không .
Phi chăng lòng người dân M phn ut vi hành đng ngang ngược ca TC, mà qua các đi biu ca h Quc Hi Hoa Kỳ đã t thái đ bng mt Ngh Quyết chính thc, vi s thun 100% yêu cu TQ rút giàn khoan khi lãnh hi VN, còn lòng dân Vit Nam ta thì Không ?
Phi chăng ch có người dân M, qua Quc Hi ca h là phn n vi hành đng ca TQ, còn lòng phn n ca dân Vit Nam, qua Quc Hi ca mình thì Không ?
Phi chăng các ông Ngh Hoa Kỳ có trách nhim hay quyn li gì VN, còn các ông Ngh ca chúng ta thì Không ?
Phi chăng chúng ta đang tình trang không có gì quan trng lm, chng có gì liên quan đến vn mnh Quc Gia nên Quc Hi M thì lên tiếng còn Quc Hi ta thì Không ?
Phi chăng qua trường hp chưa bao gi xy ra, chưa tng có, và không bao gi nên có này thì gi đây Quc Hi Hoa Kỳ đã tr thành Quc Hi Vit Nam, còn Quc Hi Vit Nam thì tr thành Quc Hi ca Ai, cho Ai và vì Ai…
Không có câu tr li t cơ quan quyn lc cao nht ca ý nguyn người dân VN, cũng như không có câu tr li t nhng v đi biu, đi din cho dân, và được người dân VN “bu” lên…Ging như t xưa ti gi, t gi ti mai sau thì câu tr li vn là mt khong không im thin thít, ca gn 500 con người Gi Điếc Thi Đi, Mũ Ni Che Tai…
Không hiu vi đng thái va ri ca Quc Hi Hoa Kỳ thì có nhiu người na,, trong cái gi là Quc Hi Vit Nam có cm thy xu h không, có thy đau lòng và bun ti như người dân Vit Nam chúng tôi hay không ? Chúng tôi không cn câu tr li, vì chúng tôi biết s không có câu tr li y.
Chúng tôi ch thy xu h, thy đau lòng và bun ti vì chúng tôi là dân ca mt nước có ch quyn, có Chính Ph và có mt Quc Hi như Quc Hi nước Vit Nam này, đ chúng tôi nói lên mt điu mà l ra chúng tôi không bao gi phi nói trong lúc vn mnh ca dân tc đang b th thách lúc này : “Cám ơn Quc Hi Hoa Kỳ, cám ơn nhân dân Hoa Kỳ”.
11/7/2014Mai Tú Ân


Trung Quốc cướp đảo biển VN là: “Chưa cụ thể rõ ràng”!?


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Trung Quốc cướp đảo biển VN là: “Chưa cụ thể rõ ràng”!? - Nhận định của TS Đinh Xuân Thảo Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp Quốc Hội - VN.

Ngày 10/7/2014 Thượng viện Hoa Kỳ với 100% phiếu thuận thông qua nghị quyết “S.Res.412” lên án việc TQ sử dụng các hành vi khiêu khích và gây hấn để thay đổi hiện trạng, gây mất ổn định trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Nghị quyết có đoạn nhấn mạnh yêu cầu Bắc Kinh rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vị trí hiện tại, đảm bảo nguyên trạng trước thời điểm tháng 5/2014.

Trước sự kiện Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết số 412 về vấn đề Biển Đông ấy ngay lập tức một ngày sau, 11/7 Bộ Ngoai giao Việt Nam đã lên tiếng ủng hộ, phát ngôn viên ông Lê Hải Bình cho biết Việt Nam hoan nghênh Nghị quyết 412 của Thượng viện Hoa Kỳ yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 và các lực lượng hộ tống khỏi vị trí hiện tại, không có các hoạt động trái với Quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va trên biển (COLREGs); lên án các hành động cưỡng bức, đe doạ hoặc sử dụng vũ lực, thay đổi hiện trạng hay gây bất ổn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Trong khi trước đó dù Việt Nam liên quan trực tiếp gay gắt với Trung Quốc trên biển Đông nhưng Quốc hội CS/Việt Nam đã không ra “nghị quyết” riêng về tình hình biển Đông. Về việc này ông Đinh Xuân Thảo Viện Nghiên cứu lập pháp Quốc hội CSVN, cho phóng viên VOA Việt ngữ biết lý do (nguyên văn): 

“Chủ tịch Quốc hội VN đã ra một thông cáo báo chí về tình hình ở biển Đông, thể hiện rất là rõ các nội dung và quan điểm của quốc hội, chứ không ra một hình thức nghị quyết bởi vì theo quy định của hiến pháp và pháp luật Việt Nam, khi mà ra một nghị quyết là nó phải có mục đích, nội dung, phải cụ thể, chứ còn trong vấn đề này (v/v biển Đông) thì cũng chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào. Nếu mà ra nghị quyết thì cái nội dung nó là vấn đề gì thì cái đó nó không rõ ràng. Nó phải có nội dung cụ thể mà phải trên cơ sở đề nghị của chính phủ thì lúc đó quốc hội mới xem xét”.(*)

“…chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào, và không rõ ràng... phải trên cơ sở đề nghị của chính phủ thì lúc đó quốc hội mới xem xét.” (đưa vào nghị trình ra Nghị Quyết). 

Đó là sự nhận định về hành vi bành trướng của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam qua lời nói trực tiếp phát ra từ cửa miệng của ông Đinh Xuân Thảo viện trưởng một viện chuyên trách nghiên cứu “Lập Pháp” tại cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân là Quốc Hội VN.

Cái cách nói của ông tiến sĩ ngành lập pháp này khiến nhiều đồng bào của ông phải ví von rằng: Đợi đến khi lính Trung Quốc vào nhà ông đè ngửa vợ ông ra và 9 tháng 10 ngày sau vợ ông “thòi” ra một thằng “tàu con” thì đó mới là điều kiện cần và đủ “cơ sở để căn cứ” cho ông chứng minh nó hiếp vợ mình và thêm nữa, phải có vợ ông lên tiếng “đề nghị” thì ông mới xem xét nhất trí lên án hành vi cưỡng hiếp ấy!? Chứ nó “hiếp” mà chưa đẻ con ra là: “chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào… thì cái đó nó không rõ ràng.” (lời ông TS Đinh Xuân Thảo nói về hành vi trên biển Đông của Trung Quốc ) 

Ví von so sánh như thế với ông tiến sĩ này mà không sai chút nào, bởi hình như cả nước ai ai cũng biết (mà ông một ĐB/QH thì cố tình vờ đi) Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988 những người lính và ngư dân vô tội đồng bào của ông, máu đỏ đầu sóng, thây vùi biển Đông biết bao lần vì quân xâm lược TQ, hiện nay trước mắt ông là giàn khoan 981 của TQ như trụ đồng Mã Viện ngày xưa đang cắm ngạo nghễ trên vùng biển quê nhà gần 2 tháng rồi, hàng chục tàu kiểm ngư Việt Nam đã bị tàu hải giám vũ trang TQ đâm, va, tông ủi hư hại, hàng loạt phóng viên báo chí nước ngoài tháp tùng ra hiện trường quay phim chụp ảnh ghi nhận đầy đủ rõ ràng nhưng riêng ông ĐB/QH Đinh Xuân Thảo thì “hiên ngang” đưa cái mặt mẹt ra tuyên bố với PV quốc tế rằng: Quốc Hội VN chưa đưa ra một “nghị quyết” lên án Trung Quốc là vì: 

"... chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào. Nếu mà ra nghị quyết thì cái nội dung nó là vấn đề gì thì cái đó nó không rõ ràng.”!???. 

Vậy ra, với riêng ông Đinh Xuân Thảo thì Trung Quốc chiếm Hoàng Sa của VN, xây dựng thành TP/Tam Sa như hiện nay là chưa có “cơ sở hay căn cứ nào”!? và 64 chiến sĩ Trận hải chiến Gạc Ma 1988 là đang “nghỉ phép” đâu đó ngoài biển Đông chưa về chứ gọi là liệt sĩ “thì cái đó nó không rõ ràng”!?. 

Và thưa ông ĐB/QH/CS- tiến sĩ “thiểu năng trí tuệ” Đinh Xuân Thảo ơi! Chắc là Nghị Viện Hoa Kỳ cũng nhầm rồi khi “chưa có một cái cơ sở hay căn cứ nào. mà ra nghị quyết thì cái nội dung nó là vấn đề gì thì cái đó nó không rõ ràng.” – Không rõ ràng, nhưng Bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngay lập tức đã lên tiếng hoan nghênh ủng hộ nhiệt liệt Nghị Quyết ấy của Hoa kỳ!?? 

Từ lâu rồi người dân Việt Nam nhận xét, đa phần các ĐB/QH là đảng viên CS có mặt trong QH là do “đảng cử dân phải bầu” tất cả họ như một đám bù nhìn, không hơn, vâng! Đúng là như thế, một đám bù nhìn vô nhân cách.




______________________________________
Chú thích:




Vài suy nghĩ vụn về chủ nghĩa tư bản nhân ngày 14-7

Vài suy nghĩ vụn về chủ nghĩa tư bản nhân ngày 14-7

Nguyễn Ngọc Lanh

Thời sự
Hà Nội đang có chủ trương đề bạt cán bộ xuất thân công nhân (cách mạng và trong sạch). Ai dám bảo chủ nghĩa lý lịch chết từ đời tám hoánh? Tuy nhiên, chúng ta chẳng cần lo hão rằng phen này giai cấp lãnh đạo sẽ ùn ùn vào trung ương. Điều lo nhãn tiền là, hàng triệu công nhân vừa phải tất bật kiếm sống, lại vừa phải làm thiên chức vinh quang: Chứng minh “hiện nay là thời đại đi lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới“…

Lứa tuổi 80, chúng tôi hiếm ai có lý lịch “trong sạch”, vì ít nhất đã 10 – 15 năm sống và học hành dưới thời thuộc Pháp. Thời đó, cứ đầu tháng 7 là chúng tôi náo nức làm sao được xem Tây duyệt binh nhân dịp “cát tó zuy zê” (quatorze juillet). Chúng tôi thích nhại mấy bác “bồi, bếp”, chứ đã học lớp 3 trở lên (bậc tiểu học 6 năm) là đủ trình độ viết những bài “luận” (rédaction) dài vài trang bằng Pháp văn; đồng thời phát âm khá chuẩn.

Học trung học trong kháng chiến, với các thầy đều do Pháp đào tạo, nhưng giác ngộ lý tưởng cách mạng vô sản, nên cách mạng tư sản bị phê dữ. Chẳng qua là, thay một chế độ bóc lột bằng một chế độ bóc lột khác…mà thôi. Thạo tiếng Pháp, các thầy đọc sách Marx, Lénine từ “gốc”, và dùng tiếng Pháp nói lại câu của Lénine cho đám học trò đủ trình độ lĩnh hội: Chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ tư bản… Chúng tôi tin sái cổ.

Thế mà lạ! Cũng câu trên, 60 năm sau, một vị vừa là GS, vừa có địa vị ngất ngưởng trong chính quyền, phát ngôn bằng tiếng Việt, lại giảm bớt sự huênh hoang cả ngàn lần… (thay “triệu” bằng “ngàn“) nhưng chúng tôi lại cười khẩy. Già, ai chả gàn?

Nhiều thầy của chúng tôi đã mất, mang theo cả niềm tin vô bờ xuống cõi âm. Nhưng cũng có thầy tới nay vẫn thọ (trên 90) lại vứt béng những điều đã một thời tin tưởng. Có lẽ, các cụ đã lẩn thẩn. Thôi, chấp gì đám già nua, lẫn cẫn. Hơn nữa, đụng đến các cụ, các cụ chửi đâu ra đấy, chẳng lẫn tí nào sất…

Những từ ngữ tưởng đã hiểu thấu đáo
Biết chút ít ngoại ngữ cũng khổ. Các nhà cách mạng Tàu và Ta đã dịch sang Hán văn và Việt văn vô số từ ngữ do cách mạng tư sản sáng tạo ra. Nghĩa và ý của chúng đã định hình rồi – nhất là khi đã quen dùng… Tuy nhiên, đúng là đến tuổi dở hơi, chúng tôi cứ muốn hiểu tận gốc các từ để biết ý nghĩa thật của chúng và sử dụng cho đúng.

Ví dụ, cái từ capital. Dịch sang tiếng Việt một cách văn hoa, là “tư bản”; còn dịch nôm na, chỉ đơn giản là “vốn” hoặc “vốn riêng”. Khốn nỗi, nếu gọi là “tư bản”, hình như chỉ một số ít người đạt tới; chứ gọi là “vốn” thì – không nhiều thì ít – ai mà chẳng có? Vốn “tự có” của các sex worker cũng là vốn, chứ sao? Được gọi là “nhà tư bản” chẳng qua vì tích lũy được nhiều vốn và sử dụng nó hiệu quả – cũng giống như “nhà thơ” thì có nhiều thơ và thơ hay hơn người khác… Những “nhà” này tốt hay xấu lại là chuyện khác.

Còn capitalism, tất nhiên dịch là “chủ nghĩa tư bản”. Chủ nghĩa này bị Marx, Lénine, Staline, Mao… căm ghét. Đó là thứ chủ nghĩa bênh vực bóc lột: Cho phép dùng tư bản (vốn riêng) để chiếm hữu tư liệu sản xuất, hoặc cho vay lấy lãi… nhằm bóc lột. Capitalist, tất nhiên dịch là “nhà tư bản”… Loại người này – theo cách hiểu của ta – khó mà tốt được. Thật may, tiếng Việt không thiếu từ biểu cảm; do vậy thời xưa chúng tôi sẵn sàng dịch thành “tên tư bản”, “bọn tư bản”; “tụi tư bản”, “đồ tư sản”…

Bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa tư bản (tư bản = vốn riêng)
Dưới chế độ phong kiến, vua chúa nắm mọi quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và do vậy chiếm dụng mọi của cải (từ đất đai, tài nguyên, sức lao động… kể cả tính mạng người dân). Mọi sở hữu cá nhân (tư hữu) chỉ trên danh nghĩa. Ngay cả mạng sống của mình cũng có thể bị vua đòi lại (thu hồi) bất cứ lúc nào, huống hồ tài sản, đất đai. Ở châu Á còn nghiệt ngã hơn: Lớn nhất là tội bất trung = tội chết. Vua đã xử “chết” mà không chịu chết, là bất trung (quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung). Đây là phần cứng trong khái niệm “Lễ”. Mọi thần dân dưới chế độ phong kiến đều phải “tiên học Lễ”.

Chủ nghĩa tư bản (chủ nghĩa “vốn riêng”) chủ trương mỗi cá nhân phải có quyền sở hữu, trước hết là sở hữu “vốn”. Luật pháp phải thừa nhận quyền này để khỏi bị xâm phạm, cắt xén; hoặc lạm dụng.
Để chế độ phong kiến chết tiệt nọc, cách mạng tư bản nhất thiết thực hiện hai điều: 1) Tam quyền phân lập; và 2) Thừa nhận quyền tư hữu cá nhân. Tuổi già dễ bảo thủ. Đến nay, chúng tôi cứ khư khư quan điểm: Ba quyền không tách bạch là dấu hiệu của chế độ phong kiến, dù trá hình cách nào.

Thế nào là “vốn”?
Những thứ sở hữu chỉ để phục vụ sinh hoạt (ví dụ đồ gia dụng, áo quần, cây đàn…) không gọi là “vốn”. Đơn giản, “vốn” là phương tiện để kiếm sống. Có thể đó là tiền bạc, là sức khỏe, tri thức, kỹ năng, sự khéo léo, giọng hát…, miễn là dùng để kiếm sống, làm giàu. Những người suốt đời làm thuê cũng phải có “vốn” để người ta thuê. Còn đám nô lệ xây kim tự tháp hoặc đắp Vạn Lý trường thành thời xưa không có quyền có “vốn”. 

Sức lao động của họ bị trưng dụng. Họ được nuôi sống – nhưng không gọi là trả công.
Đơn giản, chủ nghĩa tư bản đấu tranh để sức lao động của những người này – dù chỉ là sức cơ bắp – phải được coi là “vốn riêng” (tức tư bản). Vậy, ai muốn sử dụng phải qua mặc cả (thương lượng: mua và bán). Khổ thân bọn tôi, lúc trẻ được dạy rằng công nhân dưới chế độ tư bản phải “bán sức lao động”… Nhưng đây là một quyền không thể có dưới chế độ phong kiến. Vua không trưng mua đất, mà thu hồi.

Gây dựng vốn riêng
Bỏ công sức học hành, luyện tập để “vốn” của mình tăng thêm giá trị là điều chính đáng. Một cầu thủ do khổ công luyện tập khi về hưu sở hữu 20 triệu đô la phải được xã hội tôn trọng, vì anh ta đã chịu thuế thu nhập lên tới 40%. Một nhà tư bản dày công kinh doanh, nếu tích lũy được số vốn 200 triệu đô la đáng được tôn vinh gấp 10 lần, vì đã kinh doanh đem lại “ích dân, lợi nước” và đã chịu thuế thu nhập 50%.
Tước đoạt và con người XHCN
Marx chủ trương tước đoạt của “bọn tư bản”, với lập luận rằng “vốn liếng mà chúng có là nhờ tước đoạt”. Có lẽ, đó là khi Marx viết Tuyên Ngôn (1848) hoặc khi Lénine làm cách mạng tháng 10. Chuyện đúng hay sai của các vị vẫn cần thảo luận. Nhưng nếu hôm nay cụ Marx sống lại, hẳn cũng không dám tước đoạt vốn của anh cầu thủ và nhà tư bản ở ví dụ trên.

Mục tiêu của giáo dục VN từ 40 năm nay là: Đào tạo con người XHCN. Nếu “đạt” thì xung quanh ta đang nhan nhản con người XHCN – trừ chính ta, vì ai mà dám vỗ ngực tự  xưng là con người XHCN? Nếu chẳng ai tự nhận thì té ra GDVN đã thất bại?
Hãy coi lại tiêu chuẩn “con người XHCN”. Đẹp tuyệt! Phát triển toàn diện. Đức trọng, tài cao. Lý tưởng trong sáng… Nhưng tiêu chuẩn số 1 là không nguôi căm thù bọn tư bản. Một khi bước vào biên giới nước tư bản, có lẽ anh này chỉ lăm lăm tìm cách phá hoại?
Hai tầng áp bức?
Marx mô tả rất đúng trong Tuyên Ngôn CS: công nhân khổ hết biết. Nhưng nói cho ngay: Họ vốn là những cố nông cùng khổ triền miên ở quê; nay – nhờ công nghiệp hóa – mới có cơ hội chọn một cuộc sống ít khổ hơn. Khi tư bản Pháp mở đường sắt Hà Nội – Lào Cai (đầu thế kỷ XX), dân nghèo làng tôi nô nức đi làm phu (công nhân). Nói đâu xa, ngay năm 2014 ở Việt Nam, cùng một cường độ lao động thì giá ngày công ở quê vẫn thấp hơn ở thành phố.

Học Sử, tôi được dạy rằng khi thực dân Pháp chiếm nước ta, dân ta bị “hai tầng áp bức”. Câu nói đầy hình tượng, nghe xuôi tai vì phù hợp với nỗi lòng người mất nước. Không thể biện hộ cho chế độ thực dân, nhưng đây là chế độ tiến bộ hơn chế độ phong kiến. Nó hạn chế sự khắt khe, nghiệt ngã của chế độ phong kiến, nhờ vậy người dân dễ thở hơn… Nếu không thế, làm sao ta dám đánh giá cao đường lối giành độc lập của cụ Phan Chu Trinh?

Tôi không khuyên giới trẻ chớ có tin sách giáo khoa Sử, nhưng tôi khuyên các thầy viết sử cho khoa học, khách quan… để mọi người tin.
N.N.L.




__._,_.___

Posted by: hung vu 

Nỗi buồn chính trị

Nỗi buồn chính trị




David Thiên Ngọc (Danlambao) - Trong bài viết này tôi xin nói lên nỗi buồn đơn thuần và đích thực của người viết trước hiện tình đất nước mà trong đó phương diện chính trị đứng đầu trong mọi nguồn cơn.

Một nỗi buồn rất chân phương của một người dân không vô cảm, thờ ơ trước vận mệnh non sông chứ không có tham vọng triết lý cao thâm từ trong ý nghĩa của cụm từ “Nỗi buồn chính trị” là một nỗi buồn của một lãnh tụ, một chính khách, chính trị gia nào đó có hàm chứa bóng dáng chính trị…như trong lịch sử cũng có những cuộc hôn phối chính trị, kết nghĩa đệ huynh mang màu sắc chính trị và nhiều hình thức khác để tạo thêm thế lực, mưu đồ…để đối phó trước một hoàn cảnh, một khúc quanh của thời cuộc mà từ đó có thể tạo nên những bước đi khác hòng xoay xở thế cờ… Lại càng không gần gũi với “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh.

Cái chính trị ở đây rất đơn sơ và mộc mạc như một bác nông dân đứng trước tình hình “cơm cao, gạo kém” không bàng quan phó mặc mà lo âu, tìm hiểu nguồn cơn từ đâu nên nỗi? Do tác động với hiệu ứng từ bên ngoài hay do chính sách kinh tế nông, công, thương nghiệp ở bên trong? Đó là người nông dân đã quan tâm đến chính trị, trong một chừng mực nào đó người nông dân này đã tham gia chính trị.

Một đơn cử nhỏ như vậy thì cũng đủ cho chúng ta thấy một đất nước hưng vong đều hoàn toàn phụ thuộc vào nền chính trị của nơi đó đúng hay sai, trong sáng minh bạch hay đen tối ảo mờ.

Xưa kia có triết nhân đã nói “Muốn biết một đất nước thịnh suy như thế nào thì hãy nhìn vào nền chính trị nơi đó, muốn biết một dân tộc thấp cao ra sao thì hãy xem nền văn hóa của dân tộc đó thì rõ.”. Thật chính là vậy, ở đây tôi thấy thêm một điều rằng chính trị có thể làm thay đổi gam màu của nền văn hóa, sáng tối hay làm biến dạng đi bộ mặt văn hóa là cũng từ chính trị mà ra. Do đó chính trị là gốc rễ của vấn đề.

Chính trị suy vong…

Trước khi cất lên những “nốt lặng buồn” của bản giao hưởng chính trị VN tôi xin tạm mở ra một trang sử Trung Hoa vào những năm 40s của TK 19. Lúc này nền chính trị của Thanh triều đã đến hồi mục ruỗng đang lung lay theo cấp độ tháng ngày… Lúc bấy giờ các nước Phương Tây đã dấy nên cuộc “chiến tranh nha phiến”. Chỉ một hình bóng của nàng tiên nâu mà một gã khổng lồ với hào quang Thanh triều một thời ngạo nghễ cũng đành ngã gục. Trong mắt mọi người dân T.H thuở ấy từ quan đại thần đến dân đen đều mờ ảo bóng hình trên. Tiếp nối từ triều vua Đạo Quang đến Quang Tự phải ký hai điều ước Nam Kinh (triều Vua Đạo Quang) và điều ước Bắc Kinh dưới triều Vua Quang Tự giao trọn đất Cửu Long, Tân Giới và Hồng kông cho Vương Quốc Anh thời hạn 99 năm vào năm 1898. Cho đến triều Phổ Nghi năm 1911 là ngã gục hoàn toàn…đến nỗi Hoàng Hậu Uyển Dung cũng đành nuốt lệ mà ăn nằm và mang thai với ngoại địch. Không một nỗi nhục nào hơn được nữa! mà lại là nổi nhục Quốc Gia. Từ đó bát cường xâu xé lục địa tan hoang…và cuối cùng là cáo chung chế độ phong kiến T.H qua mấy ngàn năm tồn tại. Người T.H phải chịu nhục mất nước và một thời làm nô lệ cũng từ nền chính trị suy vong.

Những nốt lặng buồn…

Khép lại trang sử VN thời phong kiến khi nhà Nguyễn cáo chung. Tuy rằng trong những đời vua cuối triều Nguyễn cũng có nhiều điều đáng để cho chúng ta ghi nhớ với những tấm lòng yêu nước, xả thân cho tiền đồ Tổ Quốc nhưng nền chính trị đã đến hồi mục ruỗng thì những trái tim nồng nàn đó cũng ví như những ngôi sao côi cút cuối thiên hà…

Kể từ thập niên 40 của TK trước, khi ngọn gió chướng Bắc Phương thổi về và bộ áo “Bắc thuộc lần thứ 5” Made in China đã dần dà thay cho bộ áo “trấn thủ” của lính tráng thời xưa và cả bộ “tứ thân” cho phụ nữ.

Rõ nét là kể từ khi tập đoàn lãnh đạo CS Ba Đình cúi đầu sang Thành Đô nhận chiếu chỉ vào năm 1990 rồi từng bước giang san đổi chủ từng phần và bộ mặt âm thầm bán nước, đớn hèn của đảng và nhà cầm quyền CSVN đã lộ rõ hơn bao giờ hết.

Nô dịch văn hóa.

Từ bài học chiến tranh nha phiến đã đánh gục triều Thanh, tập đoàn Trung Nam Hải lấy cái kinh nghiệm xương máu này và thêm vào nhiều độc tố hiểm nguy khác để đầu độc và hạ gục nhân dân VN, thực hiện cuộc xâm lăng không tiếng súng.

Ngoài những độc hại về thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng nguy hại cho sức khỏe người dân để không còn sức đề kháng khi Tổ Quốc lâm nguy, tinh thần bạc nhược, sức sống không còn thì lòng yêu nước cũng tan theo, đồng thời nền kinh tế cũng xuôi dòng mà ngã gục. Những mối hiểm họa này tôi đã viết rõ trong nhiều bài trước đây trên các báo.

Ngoài ra, một mối nguy vô cùng hiểm độc là nền văn hóa VN đã bị CS Tàu nô dịch. Từ chiếc vòng kim cô chính trị đã siết trên đầu thì con đường nô dịch văn hóa là điều không tránh khỏi. Đây là chiến lược lâu dài phục vụ cho con đường Hán hóa VN đi vào hiện thực.

Điều đáng nói ở đây là để cho hành trình xâm lăng của CSBK vào đất nước ta một cách dễ dàng và trôi chảy là có sự thần phục, tiếp tay nối giáo cho kẻ thù của tập đoàn CSVN. Riêng về mặt văn hóa đảng và nhà cầm quyền CSVN chủ trương ru ngủ người dân nhất là thanh niên trên nhiều hình thức. Với hệ thống truyền thông 800 tờ báo, đài truyền hình, truyền thanh ngày đêm phát lên những điệu ru làm tê liệt tâm thần giới trẻ…với :

“Biết bao bướm lả ong lơi…
Cuộc vui đầy tháng trận cười thâu đêm.
Dập dìu gió lá cành chim.
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh.” (Nguyễn Du)

Mà quên đi cái nhục mất nước, họa xâm lăng từ phương Bắc sắp cận kề.

Không một tờ báo, đài nào nói lên hay khơi gợi lòng yêu nước mà chỉ biết hô hào “yêu nước là yêu CNXH”. Thậm chí còn xóa nhòa những chiến công hiển hách của Tiên Tổ, Cha Ông đã chống giặc Bắc phương trong suốt chiều dài lịch sử. Thay vào đó là những chương trình văn hóa nô dịch mà tôi kể thêm ra đây sẽ bị thừa… được sự chỉ đạo và định hướng từ tuyên giáo Ba Đình được lập trình từ Trung Nam Hải. Bỏ qua những “điệu ru nước mắt” trong nhiều năm trước mà nơi đây tôi chỉ tạm nêu lên một vài cung bậc trong bản giao hưởng mà đảng rót vào tai, làm mờ đôi mắt của đại bộ phận quần chúng nhân dân nhất là lớp trẻ nhằm định hướng tầm nhìn về nơi khác để “…bất tri vong Quốc hận” mà “cách giang do xướng Hậu đình Hoa.”

Mấy năm trước hiện tượng “sao Hàn”-Những thần tượng nghệ thuật thứ 7, ca nhạc Hàn Quốc một thời làm ngây ngất thanh niên VN đến nỗi trong những show diễn của các sao Hàn tại VN được sư cấp phép, khích lệ của 4T mà nhiều thanh niên VN đã khóc òa tức tưởi… khi cả đêm ngày chầu chực đói khát, đón rước, chen lấn mà không thấy được dung nhan thần tượng của mình. Rồi có kẻ còn cúi sát hôn vào mặt ghế mà thần tượng vừa ngồi trước đó! Giống như cảnh “Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt./ Dưới sân ông Cử ngẩn đầu rồng.” (Tú Xương). Cái nhục ở đây còn có thể thông cảm bỏ qua vì bộ não lẫn con tim của giới trẻ VN lúc này đã bị bôi chàm và bóp nát nên những hành động nói trên kể như là vô thức.

Nhưng từ sự kiện trên mà tôi liên tưởng đến gần đây Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng sau khi nói lời “Hữu nghị viễn vông…” cùng với ba mớ “thành tâm chính trị”, “quyết không để mất chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc”…lấy phương diện Quốc Gia ôm hôn kẻ thù xâm lược một cách thắm thiết khi Dương khiết Trì quá độ Ba Đình ban lời huấn thị gọi đứa con hoang phải hồi đầu về với mẹ. Giống như những vị Bồ Tát, Thánh Thần trên trời giáng thế thu phục những “nghiệt súc, nghiệt đồ” lén đi hoang xuống trần gây hại cho sinh linh bá tánh phải ngoan ngoãn quay đầu về tu luyện như trong Tây Du Ký.

Hiện tượng Bà Tưng.

Trước khi trở thành một nhân vật “hot” nhất trên cộng đồng mạng một thời gian dài thì cô gái nhu mì đầy nữ tính với cách ăn mặc giản đơn không kém phần nên thơ cùng lối thể hiện trên trang cá nhân của mình một cách trong sáng có tên thật là Lê thị huyền Anh.

Sau khi được những nhà “đạo diễn ẩn danh” sắp xếp và định hướng theo kế hoạch đã soạn để trở thành “Bà Tưng” với sự chăm sóc của giới truyền thông được lãnh đạo bởi 4T . Từ đó Bà Tưng tung lên nhiều clip nóng tạo nên những trận cuồng phong trên cộng đồng mạng, cuốn bao lớp trẻ trôi theo chiều gió với những dãi lụa ảo mờ chẳng có nội y thấp thoáng vòng 1 vòng 3 khiến cho chú Cuội ở tận cung Hằng cũng phải ngẩn ngơ mà “để trâu ăn lúa lan sang đồng người…”. Tất cả những bước đi, về, xuất hiện nơi đâu cùng cách thể hiện tạo dáng, đường cong và các nét rêu lờ mờ xanh… trời cho khác sao cho gây đục thủy tinh thể mọi người nhất là thanh niên tuổi trẻ….đều được bóng đêm lập trình cẩn thận.

Với chủ trương đường lối chuyên chính ưu việt của đảng là bài trừ “văn hóa đồi trụy, phản động” nhằm ru ngủ thanh niên theo nền văn hóa “ngoại lai” của “Mỹ-Ngụy” trước đây thì giờ này ai và tổ chức, cá nhân nào 3 đầu 6 tay đơn phương làm và dựng được cơn bão “Bà Tưng”??? Nếu không phải là bàn tay lông lá của bậc “Quyền Huynh thế phụ họ Đinh” đang an tọa nơi cửa động Ba Đình đầy chướng khí!

Góp sức với “Bà Tưng” là một “nữ hoàng nội y” Ngọc Trinh. Là một cô gái “chân quê” trong dòng thơ Nguyễn Bính hoàn toàn không có một biệt tài kỷ năng ca múa hay diễn xuất chốn phim trường. Thế nhưng qua bàn tay nhào nặn của những “siêu nhân mặt mốc” đã biến cô thành một “hot girl” trên cộng đồng mạng với 3 vòng tuyệt mỹ. Từ đó những bước đi của cô được hướng theo “đường biểu diễn đồ thị” của nhà lập trình và tất nhiên là dưới trướng 4T chứ “kiến trên miệng chén nó bó đi đâu?”(N.Du). Nếu không phải là vậy thì tại sao những clip của mẹ con chị Lài ở Cái Răng Cần Thơ đưa hẵn cái “khuôn vàng” tung bay trước gió làm vũ khí quyết một phen sống mái với “thế nước tình nhà” hay hình ảnh của chị Cấn thị Thêu ở Dương Nội bị treo giữa “Từng không lơ lửng trời xanh ngắt…” (N.Khuyến) với chiếc gàu máy xúc để làm bà Nữ Oa mà đội đá vá trời! Những clip này sao trên các trang mạng báo lề phải không tung lên để làm “nát lòng dân”?

Hiện tượng Lệ Rơi.

Phải công nhận một điều rằng những kẻ “buông rèm chắp vá” là những nhà ẩm thực tài ba, biết đổi món cho thực khách (nhân dân) ngon miệng, mê ăn mà không nhàm chán, cho dù không là cao lương mỹ vị mà chỉ là “canh cua rốc rau đay” với “cà pháo (chớn) mắm tôm” mà thị hiếu dân ta thì “hễ lạ là thấy ngon” đôi khi “nhà tranh lãng mạn hơn nhà ngói”. Đã qua rồi cái thời những chân dài, hoa hậu…cho dù là hoa hậu miền sơn cước hay đầm lầy…”đổi cái ngàn vàng chỉ lấy ngàn đô” hay những scandal cướp hiếp rợn người, hay những diva lỡ trượt chân lộ hàng trên sân khấu.

Thay vào đó là một “nông phu” trồng “ẩu” (ổi-Giọng nẫu miền trung). Nhưng nghĩ cho cùng là “ẩu” thiệt. Nếu không có sự dàn dựng với bệ phóng siêu nhiên thì cho dù có là Aladin cũng không đẩy được “ẩu dân” này với giọng ca “trời phú” ngang bằng với các ca sĩ của ban văn nghệ “phường cây ẩu, cây mít, cây me…” bước lên sàn diễn, được truyền hình trực tiếp, được lăng xê bởi tờ báo lớn của hệ thống truyền thông lề phải.

Trên 150 clip được tung lên là cơn bão lớn ào ạt tấn công cộng đồng mạng, tấn công vào bữa ăn tinh thần của hầu hết thanh niên, cộng đồng xã hội… có phải chăng là việc làm vô thức? “Ẩu dân” có mọc cánh cũng không bay lên được và nhà đạo diễn tâm thần, bầu show chạm mạch có ăn gan cóc tía cũng không dám bỏ tiền ra để đầu tư mua đám vịt trời!!!

Một điều tế nhị và cũng là đích đến của những mũi tên trên là tung những quả mù về phía “Trường Sơn Tây” để mọi người dân VN hướng về nơi đó mà say giấc ngủ nồng khi “Biển Đông dậy sóng” với giàn khoan HD 981 đang ngày đêm khoan, khoắn…cùng đoàn hải binh hùng hậu, hung hăng của “Hốt tất Liệt” đang vẫy vùng trên hải phận VN.

Đâu rồi đội ngũ tiên phong giành quyền ngồi trên Hiến Pháp? Đâu rồi “tứ trụ trào đình (đờm)” đã bao phen “thét lửa phun mây” đến tận nơi quê nghèo biển đảo Lý Sơn Quãng Ngãi vỗ an bá tánh, kêu gọi ngư dân bám biển bảo vệ biên cương, chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc để cho lãnh đạo đảng và nhà nước rảnh tay mà “bám giặc học yếu lược binh thư” để còn cứu non sông… mà giờ đây 6 ngư dân Quảng Ngãi cùng 7 ngư dân Quảng Bình đã nghe theo lời dụ ra khơi bám biển hiện giờ chưa biết sống chết ra sao hay đã chìm sâu vào lòng biển khi bị quân thù bắt cóc lôi đi. Thế mà cả cái đảng tiên phong cùng cái gọi là nhà nước của dân đều mắc chứng “ á khẩu” không hề buông ra một câu cho dù là sẻ chia cùng người dân mắc nạn khổ đau chứ đừng nói chi là lên tiếng với “kẻ lạ” Bắc phương. Đâu rồi những chót lưỡi đầu môi trước nhân dân thề nguyền “quyết liệt hết lòng, hết sức vì Tổ Quốc vỉ nhân dân” sau khi thoát chết ở “bát quái trận đồ T.Ư 6”? Đâu rồi những lời khẳng khái quyết “nắm chắc ngọn cờ dân chủ, đổi mới thể chế, thực thi nhà nước pháp quyền…” với tấm lòng “thành tâm chính trị” để rồi lời chưa kịp “theo gió bay đi ít nhiều” đã ôm quân thù thắm thiết “nghĩa chúa-tôi”.

Với quân thù thì rõ ràng không giấu giếm cái hèn, cái nhục đã phơi bày không còn hơn được nữa. Với nhân dân thì những chót lưỡi đầu môi, lời bay theo gió đã thể hiện đúng và rõ ràng bản chất “mỵ lừa” chưa nói là “điếm xảo” với toàn dân.

Cơ duyên.

Nghĩ cũng nực cười. Kẻ cướp, tên trôm gặp cơ may.

Kẻ cướp Biển Đông, phường bán nước buôn dân gặp được cơ may, vớ được dịp may hiếm có. Chuyện rằng-kẻ bán người mua giang sơn biển đảo… Tất nhiên là chuyện mờ ám, vô đạo, phi nhân mà ánh sáng là khắc tinh của chúng. Thế nhưng hơn tháng qua trên hành trình “mua gian bán lận” mà mọi ngả từ nông thôn đến phố phường đèn đường đều tắt giúp cho chúng thuận tiên thực thi (vì mãi trôi theo quả bóng xem như tắt điện). Bởi ông FiFa cứ 4 năm đến hẹn lại lên khiến cho mọi người bỏ lỏng sân nhà, không màn cửa nẻo…để dán mắt vào những đường chuyền, cú móc, chúi đầu… thọc sâu…sút vào…làm đứng tim người mà phó mặc chuyện thế sự nước non, mặc cho chuyện giàn khoang, hải đảo…cửa nhà tan nát, bán vợ đợ con để lao vào cơn bão trái bóng tròn lăn trên “canh bạc”. Nhân dân thì đẩy tài sản, bạc tiền lao xuống vực…để rồi thân bại danh liệt mà hờ hững chuyện nước non. Chính trị mà lao vào “canh bạc-cuộc cờ” với tiền cược là Giang Sơn, Tổ Quốc thì thôi rồi một dân tộc. Bởi xưa nay từ ông “Đỗ Bác” đến con bạc tàn canh ở cả 2 nghĩa bóng, đen có ai nhờ nó mà hiển vinh? Ở đây chính trị Quốc Gia lại càng khó thoát vòng tục lụy.

Té nước theo mưa.

Với tâm thức của kẻ bán nước hại dân hễ gặp bất cứ cơ hội nào là chộp ngay lấy và té nước theo mưa. Những năm tháng qua đội ngũ tiên phong giành quyền lãnh đạo nhân dân nhìn về xứ “củ sâm” thấy dòng họ nhà anh “Ủn-Ỉn” phóng tên lửa rầm trời…gây cơn sốc lớn trên thế giới. Thấy vậy xúi nông dân, công nhân té nước theo mưa. “Kẻ cầm liềm người cầm búa” cũng hè nhau mà phóng…uế bừa bãi, có gì phóng nấy. Nhân dịp này đám cường hào “quả đấm thép” tên họ “Petro…VN” cũng nhào ra phóng…phóng giá “nước thần, khí thiêng” lên chin tầng mây. Có điều dòng họ nhà “củ sâm” phóng hỏa tiễn có lúc bại lúc thành. Đàng này những cú phóng của họ nhà “Petro…” lần nào cũng đạt và thành công mỹ mãn làm thủng tầng Ozon và cháy túi muôn dân. Đúng là xứ sở thiên đường miền đất hứa của loài người nơi hạ giới.

Những sự kiện trên vừa do trí tuệ đỉnh cao ngồi trên Hiến Pháp xếp bày cộng với một vài cơ may khiến cho hơn 80 triệu ánh mắt (trừ đi hơn 3,5 triệu cặp mắt mù) phải hướng về nơi khác để nhường bóng đêm lại cho phường “trộm đạo” hoành hành, mặc cho sơn hà xã tắc chìm nổi, dạt trôi.

Ngày 14.7.2014


Genève để lại bài học gì?


Genève để lại bài học gì?

Kẻ rắp tâm liếm gót giày Tàu Cộng trong Quốc Hội VN !


Vũ Khoan

Thấm thoắt đã 60 năm kể từ khi diễn ra hai sự kiện lịch sử của nước ta liên quan mật thiết với nhau. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève về Đông dương. Về hai sự kiện này đã có cơ man bài viết, cuốn sách; bổ sung điều gì mới mẻ thật khó. Tuy nhiên mỗi người lại có thể rút ra điều gì đó có ích cho mình và tôi muốn chia xẻ vài suy ngẫm rất riêng tư về những bài học rút ra qua Hội nghị Genève năm 1954 qua một số tài liệu vừa đọc được.

Lúc Hiệp định Genève được ký kết, tôi còn rất trẻ, mới 17 tuổi, đang theo học tại Khu học xá Nam ninh (Quảng Tây – Trung Quốc) và đương nhiên không hiểu biết gì nhiều về sự kiện này. Trong tiềm thức của tôi chỉ còn đọng lại kỷ niệm về niềm hân hoan trong buổi lễ chào mừng Đoàn đại biểu Chính phủ ta ở Hội nghị Genève do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu trên đường về nước ghé thăm trường. Niềm vui ấy trộn lẫn đôi chút nỗi buồn không được về lại Hà nội giải phóng sau 9 năm xa cách mà phải đi Liên Xô học tiếng Nga để chuẩn bị phục vụ các chuyên gia Liên Xô sắp sang giúp ta xây dựng lại miền Bắc. Thế rồi số phận run rủi, đang học mới hơn một năm, tôi được lấy ra làm việc tại Đại sứ quán nước ta ở Liên Xô, và từ ngày đó cuộc đời tôi gắn bó với nghiệp ngoại giao. Xem như vậy có thể nói Hiệp định Genève vô hình chung đã tạo nên bước ngoặt trong đời tôi.

Làm việc trong ngành ngoại giao, đương nhiên tôi phải đi sâu tìm hiểu lịch sử ngoại giao Việt Nam, trong đó Hiệp định Genève là một mốc quan trọng. Võ vẽ vào nghề, lâu dần tôi ngộ ra một điều là muốn hiểu được các sự kiện quốc tế thì trước hết phải tìm hiểu xem sự kiện ấy diễn ra trong bối cảnh nào? Đối với Hội nghị Genève năm 1954, tôi mày mò tìm kiếm tư liệu để giải mã cho bản thân một số điểm còn thắc mắc. Trước hết đó nguồn gốc xuất xứ của Hội nghị từ đâu, do ai đề xuất, để làm gì…?

Hóa ra mọi chuyện đều do sự dàn xếp giữa các nước lớn: Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ. Còn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lúc ấy chưa lấy lại được ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nên không được tham gia dàn xếp việc triệu tập Hội nghị.
Đầu những năm 50 thế kỷ trước là cao điểm của “chiến tranh lạnh”. Dưới tác động của nó, thế giới chia thành hai phe rõ rệt và đã trải qua sự đụng đầu trong cuộc khủng hoảng Béc-lin năm 1948 và các cuộc chiến tranh Triều tiên 1951 và Đông dương đã kéo dài 9 năm trời.

Đúng lúc đó, J. Stalin qua đời, nội bộ lãnh đạo Liên Xô trượt dần vào khủng hoảng và có nhu cầu hòa hoãn với phương Tây. Không biết lãnh đạo ta thời đó đánh giá thế nào về cục diện thế giới? Mới đây Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có phát hành cuốn “Điện Biên Phủ, Hội nghị Genève. Văn kiện Đảng” , trong đó tôi thấy tại cuộc họp ngày 31/3 và 1-2/4/1953 của Ban Thường trực Liên Việt, Tổng Bí thư Trường Chinh có nhận định: “Làm cho tình hình thế giới bớt căng thẳng, đó là lo lắng chính của phe ta hiện nay trên thế giới… (phe) ta đề ra các vấn đề xung đột có thể giải quyết hòa bình giữa các nước có liên quan…”[1] .

Còn Pháp kiệt quệ do chiến tranh Đông Dương, Anh muốn vớt vát vai trò quốc tế đang mai một dần nên chấp nhận sáng kiến của Liên Xô triệu tập hội nghị tứ cường ở Genève để giải quyết những khúc mắc với nhau ở châu Âu. Riêng Mỹ lúc đầu muốn duy trì căng thẳng để thao túng Tây Âu, kiềm chế Liên Xô nên không muốn họp, song sau cũng đồng ý tham gia, không phải để đi đến hòa hoãn mà là phá rối. Quả nhiên hội nghị tứ cường chẳng đi đến thỏa thuận nào về các vấn đề châu Âu nhưng lại thỏa thuận sẽ thảo luận vấn đề đình chiến ở Triều Tiên và Đông Dương. Đơn thương độc mã trong cuộc đối đầu với phương Tây, Liên Xô đòi phải có sự tham gia của Trung Quốc là nước lớn ở Viễn Đông có chung biên giới với cả Triều Tiên lẫn Đông Dương. Đây chính là cơ hội ngàn vàng đối với Trung Quốc đang khát khao tranh thủ sự công nhận quốc tế, xác lập vai trò nước lớn của mình.

Không biết đối với những người nghiên cứu quan hệ quốc tế khác thì thế nào chứ đối với cá nhân tôi thì những điều nói trên dạy cho một bài học: nhiều chuyện diễn ra trên bàn cờ quốc tế chịu tác động lớn lắm của các cường quốc, do đó phải luôn luôn chăm chú theo dõi những tính toán, động thái và những sự dàn xếp giữa họ với nhau.

Liên quan tới chuyện này trong tôi lại nảy sinh thắc mắc: thế lập trường của ta thế nào? Tiếc rằng, cho tới nay tôi vẫn chưa tiếp cận được những tư liệu gốc về quá trình thảo luận và ra quyết định của lãnh đạo ta về việc tham gia Hội nghị Genève cũng như các phương án đàm phán, thỏa thuận. Trong cuốn sách nói trên tôi thấy TBT Trường Chinh nói: “khẩu hiệu đề ra có cái mới là bây giờ ta đề ra đấu tranh ngoại giao” bên cạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh về ruộng đất; “lập trường bất di bất dịch của ta là độc lập, thống nhất, dân chủ và hòa bình” với 4 phương châm: 
(i) những mục đích không thay đổi nhưng có con đường thẳng, có con đường quanh co; 
(ii) nắm vững nguyên tắc là tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình dẳng, tự nguyện có lợi cả hai bên;
 (iii) lực lượng chủ quan là điều kiện căn bản để đi tới thắng lợi và (iv) luôn luôn đặt lợi ích của ta trong lợi ích của phong trào hoà bình, dân chủ xã hội chủ nghĩa[2]. 

Một sự kiện gây tiếng vang lớn lúc đó là bài trả lời phỏng vấn của Bác Hồ cho phóng viên báo Thụy Điển Expressen ngày 26/11/1953, trong đó nói: “…nếu Chính Phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cong hòa sẵn sàng tiếp muốn ý kiến đó… Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”[3]. Nói tóm lại, ta cũng chủ trương điều chỉnh chính sách, mở mặt trận đấu tranh ngoại giao với mục tiêu, phương châm nói trên.

Xem như vậy có thể thấy xu hướng của Liên Xô và Trung Quốc lúc ấy là muốn hòa hoãn với phương Tây, riêng Trung Quốc muốn lợi dụng tình thế để xác lập vị trí nước lớn của mình, trong bối cảnh ấy ta cũng chủ trương đàm phán hòa bình.

Tiếp đến, điều băn khoăn, ray rứt nhất khi nói tới Hiệp định Genève năm 1954 là ai và vì sao đã có “sáng kiến” chia cắt nước ta thành hai miền? Tìm ra sự thật về việc này không dễ chút nào. May thay, các tài liệu mật thời đó lâu dần đã được giải mã.

Trong báo cáo đầu tiên gửi về nước ngày 4/5/1954, đồng chí Phạm Văn Đồng cho biết lúc đầu là Anh, sau đó cả Mỹ và Pháp chủ trương chia cắt Đông Dương thành hai miền hoặc theo vĩ tuyến 20, hoặc theo vĩ tuyến 16[4].

Không chỉ phương Tây mà Trung Quốc cũng có lập trường tương tự. Cuốn “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève” của tác giả Tiền Giang do Nhà xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản tháng Giêng năm 2005 có cho biết: Trong “Ý kiến sơ bộ” (thực chất là Đề án của Trung Quốc tham dự Hội nghị Genève) có nói: “Tại Hội nghị Genève, cho dù Mỹ có cố gắng tìm mọi cách cản trở việc đạt được một hiệp định có lợi cho sự nghiệp hòa bình, chúng ta vẫn sẽ nỗ lực hết sức để đạt được sự nhất trí và một thỏa thuận nào đó nhằm giải quyết vấn đề, thậm chí là một thỏa thuận tạm thời hoặc thỏa thuận riêng biệt nhằm tạo thuận lợi cho việc mở racon đường hiệp thương giữa các nước lớn để giải quyết các tranh chấp quốc tế”…

Để đạt được yêu cầu đó, ngày 2/3/1954 (tức là 2 tháng trước khi đồng chí Phạm Văn Đồng gửi về nước bản báo cáo nói trên), Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gửi cho Trung ương Đảng ta một bức điện trong đó đề nghị: “…Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong ngày mai… Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc”[5].

Những thông tin trên cho thấy rõ, lúc đó Trung Quốc muốn tranh thủ việc tham gia Hội nghị Genève để xác định vị thế nước lớn, “ngồi chiếu trên” với các nước ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc để dàn xếp các công việc thế giới, và để đạt được yêu cầu này đã cùng các nước lớn khác dàn xếp giới tuyến đình chiến, thực chất là ranh giới chia cắt lâu dài. Các tài liệu đã được công bố cho thấy lúc ấy thái độ Liên Xô tương đối “bị động”, tập trung chủ yếu vào các vấn đề châu Âu, “khoán” các vấn đề Viễn Đông cho Trung Quốc. Đây lại là một bài học “nhớ đời” củng cố quyết tâm kiên trì đường lối độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế.

Mặt khác tôi cũng ngộ ra rằng, những cái ta giành được ở Hội nghị Genève năm 1954 như đình chiến, quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương, miền Bắc được giải phóng, các nước tham gia Hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước trên (tức là Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia)”[6] là nhờ ở những hy sinh to lớn, thắng lợi vẻ vang của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Tuy nhiên trên bàn thương lượng chỉ có thể đạt được những điều đã giành được trên chiến trường. Về vấn đề phân chia vùng tập kết, đồng chí Phạm Văn Đồng đã kiên trì khá lâu phương án lấy vĩ tuyến 13 song các nước khác lại dàn xếp phương án vĩ tuyến 16 – 17 và cuối cùng phương án lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến đã được chọn lựa.

Về việc này, ngay sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, Hội nghị lần thứ 6 (khóa II) Trung ương Đảng ta đã chỉ rõ: những thắng lợi của ta “đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch biến chuyển có lợi cho ta nhưng chưa phải biến chuyển căn bản có tính chất chiến lược”[7]. Đứng trên quan điểm lịch sử mà soi xét thì thỏa thuận Genève năm 1954 phản ánh tương quan lực lượng lúc bấy giờ, ta khó đạt được kết quả lớn hơn, nhất là cả hai nước tài trợ chủ yếu cho nước ta là Liên Xô và Trung Quốc đều muốn hòa hoãn với phương Tây.

Từ đây lại nảy sinh một bài học khác là nước ta luôn phải đối mặt với các thế lực hùng mạnh bên ngoài nên chỉ có thể tiến từng bước. Điều này được thể hiện rõ trong giai đoạn 1945 – 1946 khi ta chủ trương “hòa để tiến”. Điều này lại được thể hiện qua Hiệp định Genève và lặp lại qua Hiệp định Paris năm 1973, qua đó ta mới đạt được yêu cầu “Mỹ cút”, chứ chưa đạt được mục tiêu “ngụy nhào” – điều mà năm 1975 mới giành được.

Còn một khía cạnh nữa là vấn đề Lào và Campuchia tại Hội nghị Genève. Số là, các lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia không được dự Hội nghị và Hiệp định Gienève mới chỉ đưa tới việc giải phóng miền Bắc Việt Nam, còn lực lượng Pathet Lào phải tập kết về hai tỉnh Sầm nưa và Phong Sa Lỳ; ở Campuchia lực lượng Khmer Issarak phải hòa nhập vào thể chế Vương quốc. Lợi dụng thực tế đó một số thế lực xuyên tạc rằng, Việt Nam đã “bỏ rơi” hai nước láng giềng anh em!

Xem lại các tài liệu thì câu chuyện hoàn toàn không phải vậy. Trong bài phát biểu của đồng chí Trường Chinh được trích dẫn ở trên có đoạn nói: “Kẻ xâm lược phải ngừng bắn, đi đến ký hòa ước, ngoại quốc rút quân khỏi Đông Dương…Việt – Miên – Lào thống nhất lập trường nên nói Đông Dương. Nếu bây giờ chỉ đề ra rút quân đội ngoại quốc Việt Nam thì các bạn Miên – Lào sẽ nói ta thế nào?”. 

Và tại Hội nghị Genève, đồng chí Phạm Văn Đồng đã dành toàn bộ bài phát biểu đầu tiên cho việc đòi đại diện các lực lượng kháng chiến Lào và Căm-pu-chia phải được tham dự Hội nghị như các thành viên bình đẳng. Lập trường chính đáng này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần tại các phiên họp của Hội nghị, được nêu trong kiến nghị 8 điểm đưa ra ngày 10/5/1954… trong đó điểm 1 nhấn mạnh: “Nước Pháp phải công nhận chủ quyền và nền độc lập của nước Việt Nam trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cũng như chủ quyền và nền độc lập của nước Khmer và nước Pathet Lào”.

Ngày 27/5 Bộ Chính trị điện cho Đoàn ta ở Hội nghị cho ý kiến chỉ đạo: “đồng ý khi bàn vấn đề ngừng bắn và đình chiến cần tranh thủ thực hiện ngừng bắn và đình chiến trên ba nước… Mưu của địch là: nếu chúng phải ngừng bắn ở Việt Nam thì chúng đem bớt quân sang Khmer, Pathet Lào hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến của nhân dân hai nước đó, củng cố địa vị ở đó để sau này quay lại đánh ta… Các anh nên xem lúc nào thuận lợi, đặt lại vấn đề Hội nghị Genève phải mời đại biểu hai chính phủ kháng chiến Khmer và Pathet Lào tham dự…”. Điều thú vị là Bộ trưởng Ngoại giao Pathet Lào là Nu Hắc và Bộ trưởng Ngoại giao Khmer kháng chiến Keo Pha lúc đó đã có mặt tại Genève để phối hợp đấu tranh.

Điều dễ hiểu là các nước phương Tây chỉ chấp nhận đại diện các chính quyền gắn bó với họ, không chấp nhận đại diện các lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia tham dự Hội nghị; tách vấn đề Việt Nam bàn riêng; liên quan tới Lào và Campuchia chỉ đòi cái gọi là quân đội Việt Nam rút khỏi hai nước này, còn mọi chuyện coi như đã an bài.

Theo cuốn “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève” nhắc tới ở trên, lúc đầu lập trường của Liên Xô và Trung Quốc  đống nhất với ta trong chủ trương giải quyết cả gói ba vấn đề Việt Nam, Khmer và Pathet Lào nhưng “sau trung tuần tháng 5, Chu Ân Lai đã xác định rõ không thể dùng kế hoạch cả gói để giải quyết vấn đề Đông Dương, cách tốt nhất là phân biệt đối xử”… 

Ngày 27/5 Chu Ân Lai đưa ra Hội nghị lập trường 8 điểm và cùng ngày Tân Hoa Xã phát đi bản tin được Chu Ân Lai trực tiếp phê duyệt, trong đó nói “về các khu vực tập kết quân đội, tình hình của 3 nước Đông Dương – Việt Nam, Campuchia, Lào hoàn toàn khác nhau… vì vậy biện pháp giải quyết cũng không giống nhau”, và trong cuộc gặp với đồng chí Phạm Văn Đồng đêm 12/7, Chu Ân Lai đã nêu phương án quân Pathet Lào tập kết ở hai tỉnh Thượng Lào, còn Campuchia nên đồng ý rút quân Việt Nam, không đặt ra vấn đề tập kết quân (lúc ấy phía ta dự kiến nếu phải tập kết thì quân Pathet Lào rút về các tỉnh dọc biên giới với Việt Nam). 

Một tình tiết đáng chú ý là trước đó, ngày 20/6 Chu Ân Lai đã tiếp Ngoại trưởng chính quyền Phnom Penh Tep Phan và 21/6 đã tiếp Ngoại trưởng chính quyền Vientiane Sananikon bàn bạc nhiều nội dung về quan hệ giữa họ với Trung Quốc và với Việt Nam, về giải pháp tại Hội nghị Genève với nhiều tình tiết không ngờ. Tiếc rằng, do khuôn khổ bài viết không trích dẫn được; ai quan tâm nên tìm đọc.

Các tài liệu tôi mới được tiếp cận cung cấp đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng, trước sau như một Việt Nam kiên trì bảo vệ lợi ích của các lực lượng yêu nước Lào và Campuchia, ngược lại các thế lực bên ngoài đã dàn xếp mọi việc của hai nước này nhằm phục vụ cho lợi ích của họ, tách ba nước trên bán đảo Đông Dương ra khỏi nhau. Thiết tưởng bài học này vẫn còn nguyên tính thời sự, đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia trên cơ sở bình đẳng, cùng phát triển là quy luật sống còn của ba dân tộc.

Giống như mọi sự kiện lịch sử khác, Hội nghị Genève năm 1954 về Đông dương ẩn chứa trong mình nhiều khía cạnh không dễ gì nhận chân được ngay. Thời gian là khoảng cách cần thiết giúp mỗi người nhìn rõ được bức tranh toàn cảnh, trong đó mỗi người lại phát hiện ra những sắc màu đậm nhạt khác nhau tùy theo nhu cầu và nhãn quan của riêng mình. Trên đây là một số cảm nghĩ, phát hiện rất riêng tư nảy sinh trong đầu tôi khi đọc một số tư liệu gốc mới được tiếp cận liên quan tới sự kiện xảy ra đúng 60 năm về trước và dường như chúng vẫn tươi mới đối với ngày nay và mai sau.
V.K.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện Biên Phủ, Hội nghị Genève. Văn kiện Đảng. Nxb Chính trị quốc gia. Hà nội -2014, tr.350-351
[2] Sách đã dẫn, tr.350-351 và 360-364
[3] Báo Nhân dân, số 152, từ 6 đến 10/12/1953
[4] Sách đã dẫn, tr.372

[5] Xem sách đã dẫn do Bộ Ngoại giao nước ta dịch năm 2008, tr. 34-35 căn cứ cuốn “Truyện Chu Ân Lai” của NXB Văn hiến Trung ương Trung Quốc xuất bản tháng 2/1998, tr.154-155 và cuốn “Cuộc đời Thủ tướng Chu Ân Lai” của NXB Nhân dân tháng 1/1997, tr.74-75

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện Biên Phủ, Hội nghị Genève. Văn kiện Đảng. Nxb Chính trị quốc gia. Hà nội – 2014, tr.614
[7] Văn kiện Đảng toàn tập. NXB Chính trị quốc gia, Hà nội – 2000, t.15, tr. 223



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link