Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, August 13, 2014

Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc


HoChiMinh

Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc

Posted on 03.02.2014 by saohomsaomai

Lời thú tội gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt cho dân tộc, đưa giống nòi, tổ quốc vào con đường nô lệ. Thì bây giờ ai là ngụy, ai là việt gian bán nước?
vietlist.us

Hoàng Thanh Trúc (Chinhluan) - Những ngày tháng cuối năm, theo phong tục tập quán Việt Nam, trong mọi người chúng ta, vì đạo lý tri ân (nhớ ơn) hay dành một phần tâm linh hướng về người thân đã khuất và cho những người vị quốc vong thân.

Mới đây, chắc củng trong chiều hướng ấy, hướng về người vị quốc vong thân nên ngày 18 tháng 1 năm 1974 ông CT/Nước Trương Tấn Sang đã đến xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cắt băng khánh thành một cái đền thờ xây dựng trị giá tới 5 tỷ đồng cho một nhân vật quá cố có tên Lê Duẩn cựu TBT/đảng CSVN (*) mà nói theo người xưa “trâu chết để da, người ta chết để tiếng” ông ta đã để lại cho dân tộc Việt Nam một tiếng nói bất hủ của ông là: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”

Từ câu nói như quân lệnh chỉ đường ấy mà hàng triệu thanh niên hai miền Nam Bắc Việt Nam đã nằm xuống, một nửa chết vì chống lại và một nữa chết vì muốn nhuộm đỏ miền Nam theo lệnh của đảng CSVN và quốc tế CS, Liên xô và Trung Quốc.
vietlist.us

Đền thờ trị giá 5 tỷ cho kẻ tuyên bố: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”.

Hình như nhờ xương máu Việt Nam như trải đường đó mà Liên Xô từ CS/XHCN mới tiến lên được dân chủ đa nguyên, đa đảng, như phương Tây hiện nay. Còn Trung Quốc củng nhờ đó mà nới rộng lãnh thổ về phương Nam, đưa Ải Nam Quan vào viện bảo tàng và nhất là nhờ xương máu Việt Nam quét Mỹ đi nên Trung Quốc có điều kiện rảnh tay một mình một cõi “giải phóng” luôn Hoàng Sa và Biển Đông của Việt Nam!

Và chính ông ta (Lê Duẩn) củng có một sáng kiến rất thực dụng, ngoài phân xanh, phân chuồng, phân bắc, thì ông vận dụng sáng tạo thêm một thứ phân nửa là phân “người chết” để sau 30 tháng 4/1975 kết thúc chiến tranh đích thân ông ký giấy chỉ đạo lùa gần nữa triệu sĩ quan công chức chính phủ miền Nam vào rừng sâu núi thẳm “cải tạo” 1/3 số tù nhân đó thành “phân người” vùi xuống đất bón trực tiếp cho xanh cây lá.

Người dân Việt Nam muốn hỏi ngài CT/Nước Trương Tấn Sang rằng: Đó có phải là công lao to lớn “vì tổ quốc Việt Nam” hay không? Mà cái đền thờ của ông Lê Duẩn toàn là gỗ quí hảo hạng, tượng của ông ta đúc bằng đồng nặng tới hàng tấn?

Ngược lại – cũng trong ngày này (18 và 19 tháng 1) tại thủ đô Hà Nội, nhân dân thương tiếc tưởng nhớ 74 đồng bào anh em chiến sĩ miền Nam, đã anh dũng hy sinh vì chống lại quân TQ xâm lược trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974. Nhưng suốt 40 năm “nhà nước, đảng ta” không có lấy một bát hương tưởng niệm thì lại bị CA/AN chìm nổi đàn áp, phá đám, hành hung và khủng bố mà họ không giải thích là tại sao?.

vietlist.us
CA/AN phá đám, ngăn cấm đồng bào tưởng niệm Liệt Sĩ Hoàng Sa.

Chắc chắn trong 180 quốc gia thuộc LHQ không có quốc gia nào (trừ duy nhất CSVN) cấm đoán công dân mình tôn vinh liệt sĩ hy sinh vì chống xâm lược.

Thưa ông CT/Nước Trương Tấn Sang! Chẳng lẽ bắn giết đày đọa đồng bào anh em mình theo lệnh CS Nga và CS Tàu, tạo điều kiện cho Tàu xâm lược là có công với Tổ Quốc. Còn nằm xuống xả thân hy sinh vì biển đảo cương thổ của cha ông lại là những tội đồ?

Chỉ vô tri vô giác như loài tôm, loài sò, thì cứt mới lộn ngược lên đầu như vậy! Thưa ngài CT/Nước.
Hoàng Thanh Trúc
-------oo0oo-------
lacomau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.


SỰ PHÁ SẢN CỦA CÁCH MẠNG VÔ SẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mặc dù « cuộc Cách mạng cộng sản Việt Nam 19/8/1945 » chỉ là một cuộc cuóp quyền, lợi dụng đoàn biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng luong, một số đảng viên cộng sản đã trà trộn vào đoàn biểu tình, lái đoàn biểu tình đến cuóp một vài công sở, đưa đến cướp quyền ; nhưng hậu quả của cuộc cuóp quyền này có thể nói là một cuộc cách mạng, nếu chúng ta định nghĩa cách mạng là một cuộc thay đổi mau lẹ cơ chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội của một quốc gia.

Thật vậy, cuộc chính biến 19/8/1945 đã thay đổi cơ chế chính trị Việt nam, từ quân chủ phong kiến sang độc tà cộng sản đảng trị, giai tầng lãnh đạo truóc đó xuất phát từ ý dịnh cuả vua và triều đình, dựa trên nhưng cuộc thi tuyển học vấn, tới giai tầng lãnh đạo cộng sản, dựa trên sự lựa chọn của Bộ Chính trị đảng cộng sản, trên tiêu chuẩn trung thành với đảng, có kinh nghiệm đấu tranh cách mạng cộng sản, chuyên về lý thuyết cộng sản và hoạt động phá hoại, bất hợp pháp ; từ trật tự xã hội, dựa trên tư tuỏng Khổng giáo Tam Cuong, 
Ngũ Thuòng, mặc dầu bị đô hộ bởi Pháp, nhưng họ vẫn duy trì trật tự này để cai trị, tới trật tự cộng sản với những con nguòi chỉ tin vào tư tuỏng Mác Lê, lấy đấu tranh giai cấp và bạo động lịch sử làm chính.

Từ ngày 19/8/1945 tới nay, nếu chúng ta tính sổ cuộc Cách mạng cộng sản Việt Nam, thì chúng ta thấy cuộc cách mạng này hoàn toàn phá sản. Phá sản từ lãnh vực ý thức hệ, bắt nguồn từ sự sai lầm của lý thuyết Mác, qua cơ chế chính trị chủ truong độc khuynh, độc đảng, độc tài, tới trật tự xã hội bất công, kinh tế lụn bại, đạo đức suy đồi.

Chúng ta chưa cần đi vào chi tiết, chúng ta chỉ cần nhìn sự sụp đổ của những chế độ cộng sản ở Liên sô, Đông âu, và hiện trạng của 4 nuóc cộng sản còn lại :Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, chúng ta cũng đã biết sự phá sản của tất cả các cuộc cách mạng cộng sản, trong đó có Việt nam.

Việt Nam hiện nay là một trong những nuóc nghèo đói nhất thế giới, với sản lượng hàng năm tính theo đầu nguòi là khoảng 400$, trong khi đó Nam Hàn là 10 000$, Đài Loan là 14 000$, Thái lan là 2 000$. Để theo kịp Thái Lan, mặc dầu với tỷ lệ tăng truỏng 7,5% vào năm 2003, Việt nam phản cần 33 năm ; nói chi đến theo kịp Nam Hàn và Đài Loan.
Tụt hậu kinh tế, đạo đức suy đồi, giáo dục thấp kém nhất trong vùng Đông Nam Á, đĩ điếm, nghiện ngập, sì ke, ma túy, hối lộ, tham nhũng lan tràn, xuất cảng lao động, hiện tuọng của thời trung cổ hay thời nô lệ ; đó là bức tranh của xã hội Việt Nam hiện nay.

Phá sản trên phuong diện ý thức hệ, bắt nguồn từ những sai lầm của lý thuyết Mác
Sự phá sản rồi dưa đến sự sụp đổ của những chế độ cộng sản ở Liên Sô và ở Đông Âu có thể nói là bắt nguồn từ những sự sai lầm lý thuyết của Marx, mà giới trí thức các nuóc phát triển Âu châu như Anh, Pháp, Đức, Áo đã nhìn thấy, chẳng hạn  như Ferdinand Lassalle ( 1825-1864), Edouard Bernstein ( 1850-1932), Karl Popper ( 1902-1994), trong khi đó thì những nguòi như Lénine, Mao, Hồ lại cho rằng đây là thần duọc, không dè nó là độc duọc, tàn phá xứ sở.
Lassalle va Bernstein là 2 nguòi Đức. Lassalle là cùng học với Marx ở Berlin và cùng có Hégel là thầy, cả 3 nguòi cùng đấu tranh trong những phong trào thợ thuyền Âu châu. 

Nhưng sau này 3 nguòi bất đồng ý kiến, vì Lassalle và Berstein thấy những sự sai lầm của Marx, nên đứng ra thành lập Tổng Hội những nguòi Lao Động Đức ( l'Association générale allemande des Travailleurs), tiền thân của đảng Dân chủ Xã Hội Đức hiện nay, mà ông đuong kim thủ tuóng Đức G. Schroder là nguòi kế nghiệäp. Đảng Dân chủ Xã hội Đức họp đầu tien ở Gotha, một vùng của Đức, có thủ phủ là Erfurt, vào tháng 5/1875, đưa ra một Chương trình mà nguòi ta gọi là Chuong trình Gotha va d'Erfurt sau này. Tác giả của Chuong Trình không ai chính là Bernstein. 

Ông này quan sát và nghiên cứu sự phát triển của Đức nhất là vào giữa thế kỷ thứ 19, ông thấy rằng sự phát triển của Đức hoàn toàn đi nguọc lại những lời tiên đoán của Marx. 

Theo Marx thì xã hội chia ra làm 2 giai cấp, giai cấp tư sản ( les possédants) và giai cấp vô sản (les non-possédants). Hố ngăn cách 2 giai cấp này càng ngày càng xâu và đưa đến cách mạng tất yếu. Nhưng xã hội Đức, từ giữa thế kỷ thứ 19 vêé cuối thế ky,û phát tirển rất mạnh và không đúng như lời tiên tri của Marx. Xã hội này không chỉ có 2 giai cấp mà có 3 giai cấp, thêm vào giai cấp trung lưu, trí thức, xuất thân từ con cái những thợ thuyền, tiến thân đuọc là nhờ chịu khó học hỏi và làm việc. 

Chính giai tầng này là động lực chính của phát triển kinh tế và xã hội Đức thời bấy giời. Nuóc Đức lúc đó rất mạnh về đủ mọi phuong dien và đã đánh thắng Pháp vào năm 1870. Bernstein đi đến kết luận rằng lý thuyết của Marx không phù hợp với tến trển xã hội, nên mất tính chất khoa học. Từ đó quan niệm cách mạng tất yếu là hoàn toàn có tính cách lý thuyết và không tuỏng. Thêm vào đó quan niệm bãi bỏ quyền tư hữu, như Marx đã viết trong quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản : «  

Chúng ta có thể tóm tắt lý thuyết cộng sản qua câu : «  Bãi bỏ quyền tư hữu » «  là hoàn toàn sai lầm vì bãi bỏ quyền tư hữu là bãi bỏ một động lực chính khiến con nguòi làm việc. Hơn thế nữa, quyền tư hữu không thể bãi bỏ mà chỉ có thể chuyển nhuọng, như chúng ta thấy ngày hôm nay, đảng cộng sản bảo bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng trên thực tế đã tuóc đoạt quyền tư hữu của dân và trao vào tay một thiểu số nguòi là đảng đoàn trong Trung Uong. 

Điều nguy hiểm cho xã hội là những nguòi này không biết làm kinh tế, chỉ giỏi về đấu tranh phá hoại, cuóp quyền. Kinh tế cộng sản lụn bại cũng vì đó phần lớn. Bernstein còn thấy sự sai lầm của Marx trong cái nhì về lịch sử, vì Marx cho rằng lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp và bạo động, chủ truong đấu tranh bạo động. Nhưng Bernstein cho rằng nguòi ta có thể đấu tranh hòa bình để cải tiến xã hội như đấu tranh nghiệp đoàn và đấu tranh nghị truòng. 

Bernstein đã từng là nghị sĩ. Ông còn thấy sự sai lầm của Marx trong quan niệm về vai trò của Nhà Nuóc. Theo Marx Nhà Nuóc là công cụ của tư bản, chỉ nhằm phục vụ tư bản. Điều này sai, theo Bernstein, vì ông quan sát xã hội Đức lúc bấy giờ, thì ông thấy Nhà Nuóc không phải lúc nào cũng bênh vực chủ nhân, mà rất nhiều khi bênh vực thợ thuyền. Karl Marx và Engels có phản bác lại những luận cứ của Bernstein trong quyển Phê Bình Chuong Trình Gotha và Erfurt ( Critique du Programme de Gotha et d'Erfurt ), nhưng Marx và Engels không chỉ trích vào nội dung vấn đề mà đi vòng vòng ngoài hình thức, và dùng phuong pháp chụp mũ, như trong một bức thư gửi cho một nguòi bạn, Engels đã chụp mũ Lassalee và Bernstein là bồi của tư bản ( valets des capitalistes). Ở điểm này, chúng ta thấy nguòi cộng sản hay chụp mũ, cũng không nên ngạc nhiên, vì ông tổ của họ như Marx va Engels, nếu chúng ta đọc, cũng hay chụp mũ.

Karl  Pỏpper (1902-1994) : triết gia, sinh ở Vienne, Áo quốc năm 1902 và mới mất ở Anh năm 1994, đã phải dời Áo khi Hitler lên nắm quyền, từ năm 1937 tới năm 1945, ông dạy triết lý ở Tân Tây Lan, và từ năm 1946 ông dạy luận lý học và phuong pháp khoa học ở truong Kinh Tế Luân Đôn. Nguòi ta biết nhiều về ông như một tiết gia khoa học, khi ông xuất bản quyển Sự Hữu Lý của Khám Phá Khoa học ( Logique de la Découverte Scientifique) vào năm 1934. 

Ông là bạn thân của nhà bác học Albert Einstein và đuọc ông này coi như nhà phê bình khoa học và phuong pháp khoa học giỏi nhất của tûhế kỷ 20. Ông còn đuọc coi như là nguòi tranh đấu không ngừng nghỉ và đam mê cho những giá trị tự do, mà nguòi ta tìm thấy rải rác trong tất cả những tác phẩm của ông. Lúc còn nhỏ, ông bị ảnh huỏng bởi chủ thuyết mác xít của Marx và phân tâm học của Freud. 

Ông có gia nhập đảng cộng sản Áo năm 1920, nhưng trong một cuộc biểu tình tại Vienne năm 1921, những nguòi cộng sản thuộc Đệ Tam Quốc Tế đã hành hung giết 2 nguòi của đảng Xã hội thuộc Đệ Nhị Quốc Tế. 

Truóc cảnh tuọng đó, ông tự đặt câu hỏi : «  Phải chăng nhân danh một lý tuỏng xa vời nào đó mà nguòi ta có quyền giết nguòi ? », câu trả lời của ông là «  Không ». Rồi ông từ bỏ đảng Cộng Sản, ông bắt đầu quay sang nghiên cứ sự sai lầm lý thuyết của Marx. Chẳng hạn như trong quyển Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử ( La Pauvreté de l'Historicisme xuất bản năm 1957) ông chỉ trích quan niệm tiến trình lịch sử của Marx đã lấy từ Hégel và xa nữa từ Platon. 

Quan niệm này theo ông đã làm cho lịch sử trở nên nghèo nàn, và hơn thế nữa là một quan niệm vừa phản khoa học vừa độc đoán, độc tài. Thứ nhất ngèo nàn ở chỗ lịch sử biến chuyển theo nhiều chiều, chứ đâu có biến chuyển theo một chiều do một nguòi hay một nhóm nguòi định ra.

 Độc tài, độc đoán ở chỗ làøkhøoà học lịch sử là khoa học nhân văn, có rất nhiều ảân số, ngay ở trong quá khứ nguòi ta cũng chưa tìm ra hết những ẩn số của lịch sử, huống chi là trong tuong lai, hơn thế nữa biến cố của lịch sử không lập lại nguyên văn ( identique) như khoa học chính xác vật lý, hóa học. 

Đằng này đưa ra một vài sự kiện lịch sử, một vài tiên đoán, rồi từ đó bảo rằng lịch sử tiến triển theo chiều này, theo chiều nọ, rồi bắt nguòi khác phải theo, thì đi đến cảnh hồ đồ, phản khoa học và độc đoán, độc taiø. Quyển sách Xã hội mở và Kẻ thù của nó ( La Société ouverte et ses Ennemies) xuất bản năm 1945 đã bênh vực tư tuỏng rằng khoa học và tự do, dân chủ phát triển cùng nhau trong một xã hội cởi mở, tự do. 

Không có tự do, dân chủ thì không có phát triển khoa học, vì trong một xã hội khép kín, độc tài, những tư tuỏng không thể trao đổi với nhau, thì làm sao có phát minh, sáng kiến. K. Popper còn chỉ trích Marx trong việc chủ truong phải có một ý thức hệ, vì theo Popper, thì xã hội loài nguòi tiến triển từng giờ, từng phút, trong mọi lãnh vực, nay đóng khung nó trong một ý thức hệ, chẳng khác nào làm chết xã hội đó.

Hơn thế nữa ông còn cho Marx là hồ đồ trong việc đưa ra những định luật lịch sử, đinh luật kinh tế. Theo ông, tất cả những chân lý chỉ là những chân lý uóc đoán ( vérité conjecturale), và những nguòi như Platon, Hégel, Marx cho rằng có định luật lịch sử là sai lầm. Lịch sử, kinh tế là khoa học nhân văn, những biến cố lịch sử không lập lại y hệt như khoa học chính xác vật lý, hóa học, thiên văn. Ngay đối với chân lý của những khoa học chính xác, theo Popper, cũng chỉ là những chân lý uóc đoán.. Chẳng hạn ngày thứ nhất, thứ 2, thứ 3, tôi thấy mặt trời mọc ở phuong đông, thì ngày thứ tư và trong tuong lai, tôi uóc đoán là mặt trời sẽ mọc ở phuong đông, chứ tôi lấy bằng cớ gì chắc chắn để tôi quả quyết là mặt trời sẽ mọc ở phuong đông. Chẳng hạn theo Popper, Marx nói : «  Luật tập trung gia tăng của tư bản » ( Loi de concentration croissante du capital) là sai, vì kinh tế là khoa học nhân văn, những hiện tuọng kinh tế không lập lại giống hệt nhau, nênø phải nói «  Khuynh huóng tập trung gia tăng của tư bản » ( Tendance de concentration croissante du capital). Không thể quyết đoán đưa ra luật như Marx.

Karl R. Popper không phải chỉ là nhà phê bình phuong pháp khoa học, nhà luận lý giỏi nhất của thế kỷ 20, mà ông còn là, theo tôi, một trong những nhà tư tuỏng lớn nhất của thế kỷ qua. Không phải là một sự tình cờ khi Hoàng gia Anh chấp nhận ông vào giai cấp quí tộc, khi hai ông cựu thủ tuóng Đức Helmut Schmidt và Helmut Kohl coi sách ông là sách gối đầu giuòng, và cố thủ tuóng Pháp E. Faure lập ra Hội Những Nuòi Ban của K. Popper để truyền bá tư tuỏng của ông. 

Chỉ có giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam, bắt đầu bằng Hồ chí Minh, khi đi theo Đệ Tam Quốc Tế vào năm 1920 ơ Đại hội Tours, thì không phân biệt nổi Đệ Tam va Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản, giới lãnh đạo sau này, và phần lớn trí thức cộng sản Việt Nam, ếch ngồi đáy giếng, coi trên đời này chỉ có lý thuyết Mác Lê, « Lý thuyết Mác Lê là bách chiến bách thắng, là khoa học, là con đuòng mà nhân loại phải đi theo ». Tội nghiệp hơn nữa là hoan hô lý thuyết Mác Lê như con vẹt, mà chẳng hiểu gié. Ngày nào mà đất nuóc chúng ta còn giới lãnh đạo đó, còn giới trí thức đó, thì đất nuóc còn tụt hậu, không thể nào theo kịp nguòi.

Phá sản trên cơ cấu tổ chức chính tri chủ truong độc tài vô sản, độc khuynh, độc đảng, độc tài, hồng hơn chuyên

Nhiều nguòi cố bênh vực Marx và lénine, cho rằng độc tài cộng sản chỉ bắt đầu với Staliù. Thực ra không phải như vậy. Nó bắt đầu ngay từ K. Marx với cái nhìn đơn giản hóa mọi việc của ông , cái nhìn tiến trình lịch sử, đơn giản hóa lịch sử, chủ truong đấu tranh giai cấp và bạo động lịch sử, chủ truong độc tài . Mới có 30 tuổi vào năm 1848, khi viết quyên Tuyên Ngôn Thư đảng Cộng Sản, chưa đọc hết lịch sử nhân loại, Marx thản nhiên viết : » Lịch sử của mọi xã hội cho tới ngày hôm nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp » ( Le Manifeste du Parti communiste-trang 19-nhà xuất bản Union générale d'Editons-Paris). 

Đây là một cái nhì quá giản tiện hóa, nếu không muốn nói là hồ đồ. Nếu định nghĩa lịch sử là tất cả những hoạt động của con nguòi, nhất là những biến cố lớn, thì không cần nhìn đâu xa, ngay lịch sử Việt Nam, thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau đâu có phải vì khác giai cấp, hơn thế nưã, những cuộc chống ngoại xâm, đánh Tống, đuổi Nguyên, kháng Minh, có liên quan gì tới giai cấp đâu. Đấy lại chưa nói trong lịch sử của nhiều nuớc trên thế giới cảnh anh em giành ngôi, cảnh 2 ông lãnh chúa đánh nhau vì cùng giành một mỹ nữ. Họ đâu có khác giai cấp. Hay phải chăng, theo Marx, thì đó không phải là lịch sử ?

Từ cái nhìn đơn giản hóa lịch sử, Marx buóc sang cái nhìn đơn giản hóa xã hội, cho rằng xã hội chia ra thành 2 giai cấp : tư sản ( những nguòi có phuong tiện sản xuất=les possédants) và vô sản ( những nguòi không nắm phuong tiện sản xuất=les non-possédants), chủ truong độc tài vô sản, những nguòi vô sản phải đứng lên làm cách mạng và thiết lập độc tài vô sản, để bãi bỏ quyền tư hữu, bãi bỏ nguyên do đưa đế xã hội phân chia thành giai cấp, và bãi bỏ luôn nhà nuóc vì nhà nuóc cũng từ sự phân chia giai cấp mà có.  Oú đây K. Marx dùng chữ nhà nuóc biến mất ( le périssement de l'Etat), vì ông cho rằng khi không còn quyền tư hữu, không còn giai thì không còn nguyên nhân của sự hiện hữu nhà nuóc, thì tất nhiên nhà nuóc sẽ biến mất. Quả thật đây là một cách lý luận hồ đồ, vội vã, hão huyền, sai lầm của  K. Marx. 

Như ở trên đã nói Marx sai lầm ở chỗ cho rằng quyền tư hữu có thể xóa bỏ, nhưng không. Quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhuọng, tư hữu từ ở tay phần lớn dân, nay một thiểu thiểu số nguòi, nhân danh thợ thuyền lao động, tuóc quyền tư hữu ø của những nhà tư bản, chủ ruộng đất, nhưng cũng còn là số đông, rồi bảo nay thuộc về toàn dân, nhưng trên thực tế là ở trong tay một thiểu số nguòi là cán bộ, đảng đoàn, nhân danh thợ thuyền, nhưng không phải là thợ thuyền, mà chỉ là một đám nguòi tranh đấu cách mạng, lén lút, phá hoại nhà nghề, không biết làm kinh tế, nay lam chủ những hãng xuỏng, thì chỉ phá hoại những hãng xuỏng. 

Tình trạng phần lớn những hãng xuỏng quốc doanh thua lỗ, tình trạng tụt hậu, phá sản kinh tế của tất cả các nuóc cộng sản là đến từ chỗ đó. Vì quyền tư hữu không thể xóa bỏ, nay lại ở trong tay một thiểu số nguòi, nên nhà nuóc không biến mất và trở nên nhà nuóc độc tài, độc đoán chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Đây là sự ngây thơ, huyễn tuỏng của Marx, mặc dù ông trách những nguòi xã hội chủ nghĩa truóc ông là không tuỏng. Nay ông còn trở thành huyễn tuỏng.

Các chế độ cộng sản trở nên độc tài vì những quan niệm quá khích và những lời nói khích động của K. Marx. Quá khích khi ông chủ truong bãi bỏ mọi giá trị văn hóa cổ truyền, bãi bỏ tôn giáo. Ông viết : «  Bơiû lẽ đó, nguòi cộng sản bãi bỏ những chân lý muôn thuở ; bãi bỏ tôn giáo và đạo đức, thay vì phải cải tiến nó, từ đó nguòi cộng sản đi nguọc lại tất cả những sự phát triển xã hội truóc đó » ( Sách đã dẫn-trang 44). 

Kích động khi ông đưa ra những lời hứa không bằng cứ, không cơ sở thực hiện : «  Nguòi cộng sản không có gì để mất ngoài cái xiềng của họ ; nhưng họ có cả một thế giới để chiến thắng » ( trang 61). Chẳng khác nào như ở Việt Nam, Hồ chí Minh nói : «  Cứ phá đi, sau chiến tranh, chung ta sẽ xây lại đẹp bằng năm, bằng muòi khi xưa ». Gần 30 năm sau chiến tranh, cộng sản chẳng xây đuọc gì , mà còn làm lụn bại thêm. 

Duói những chế độ cộng sản , đuọc xây dựng lên theo ý thức hệ của Marx, nguòi dân còn bị bóc lột và đau khổ gấp trăm lần duói chế độ cộng sản. Bằng cớ Bắc Hàn cộng sản, toàn dân trong đó co những nguòi thợ đã và đang chết đói, trong khi đó Nam Hàn là cuòng quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới, sản luọng hàng năm tính theo đầu nguòi của Bắc Hàn cùng bằng Việt Nam, khoảng 400 $, trong khi đó của Nam Han là 10 000$. Một nguòi thợ Bắc Hàn tiền luong chỉ bằng 1/25 nguòi thợ Nam Hà
   
Phá sản vì giới lãnh đạo cộng sản đã gọt chân để đi vừa giày, đánh gãy xuong sống của xã hội, làm xã hội cộng sản vừa què quặt, vừa lê lết, không thể đứng dậy duọc.

Đi từ một ý thức hệ phản khoa học, vì Marx cho rằng lịch sử có chiều huóng và có định luật, nhưng lịch sử là khoa học nhân văn, không có chiều huóng và định luật ; phản kinh kinh tế, vì Marx chủ truong bãi bỏ quyền tư hữu, tức bãi bỏ một động lực chính khiến con nguòi làm việc ; phản tiến bộ, quá khích, vì Marx chủ truong bãi bõ mọi di sản văn hóa cũ, trong khi đó ngày nay nguòi ta ý thức rất rõ bãi bỏ văn hóa cũ là thiêu hủy văn hóa, và bảo tồn văn hóa là sáng tạo văn hóa, chủ truong đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử ; 

Phiêu tuong, qua những lời hứa không cơ sở thực hiện, vì sai lầm trong quan niệm cho rằng có thể bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhuọng, quyền tư hữu đang ở trong tay phần lớn dân, nay lọt vào trong một thiểu số đảng đoàn, làm cho nhà nuóc không biến mất như Marx ngây thơ và không tuỏng quan niệm, mà nhà nuóc càng trở lên to lớn, độc đoán, độc tài ; ý thức hệ này đã lọt vào trong tay một số nguòi lấy đấu tranh chính trị, cách mạng bạo động, bất hợp pháp, lén lún, phá hoại, làm nghề nghiệp, bắt đầu bằng Lénine, Trotsky, Staline, rồi tới Mao trạch Đông, Hồ chí Minh và tất cả những nguòi cộng sản, tin vào lý thuyết của Marx ; những nguòi này đã biết lợi dụng thời cơ lên cuóp chính quyền. Và một khi họ có chính quyền rồi, thì họ bắt ép xã hội phải đi theo ý thức hệ vừa phản khoa học, phản kinh tế, vừa phản tiến bộ của Marx.

 Họ lâm vào cảnh đẽo chân để đi vừa giày, qua những đợt «  Đánh Tư bản mại sản », «  Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn », làm cho xã hội trở nên què quặt.Viết đến đây tôi lại nhớ đená Tuỏng giới Thạch. Vào năm 1923, ông đuọc Tôn dật Tiên gửi sang học ở Nga, theo nguyên tắc, ông phải ở cả năm để học hỏi về cách tổ chức quân đội và xã hội cộng sản của Lénine lúc bấy giờ. Nhưng ông sang không đầy 2 tháng, rồi ông về. Ông nói không có gì để học, nguọc lại ông còn chỉ trích thậm tệ cộng sản. 

Theo ông : «  Giai tầng trí thức và trung lưu là xuong sống của một xã hội, cộng sản chủ truong tiêu diệt trí thức và trung lưu. Một con nguòi không có xuong sống thì suốt đời chỉ bò. Xã hội cộng sản chủ truong diệt trí thức và trung lưu, là một xã hội không xuong sống, chỉ biết bò, không đứng dậy đuọc. » Mặc dầu ông là quân nhân, nhưng ông nhìn sớm và rõ sự tai hại của chủ thuyết cộng sản, trái nguọc lại, những nguòi đại trí thức như Trần độc Tú, Khoa truỏng Đại học Văn khoa Bắc kinh, sáng lập viên đảng cộng sản Trung quốc, vào năm 1921, Lý đại Giao, quản thủ Thư viện Bắc kinh, cũng là đồng sáng lập viên đảng cộng sản, thì cho rằng Liên Sô là lý tuỏng phải theo. 

Tuỏng giới Thạch còn đi xa hơn nữa vào những năm 30, khi phải đuong đầu với Nhật và cộng sản Trung quốc, ông không ngần ngại tuyên bố : «  Nhật là bệnh ngoài da, còn cộng sản là bệnh trong xuong tủy. » Câu này làm nhiều nguòi hiểu lầm ông, cho rằng ông không yêu nuóc, không nghĩ đến đánh Nhật, mà chỉ nghĩ đến đánh anh em trong một nhà. Ngày hôm nay nhiều nguòi mới hiểu, đôi khi anh em trong một nhà mà còn độc ác và tàn hại hơn cả nguòi ngoài. 

Đây cũng là bài học xuong máu mà nguòi Việt chúng ta đã trải qua. Nuóc Việt trải qua bao thời đại, bao lần lệ thuộc ngoại bang, nhưng chưa lần nào dân Việt đau khổ như thời «  bị lệ thuộc bởi anh em cùng một nhà cộng sản ». Hai lân bỏ quê ra đi, cả triệu nguòi bỏ xác trên biển cả.

Phá sản trong mục đích «  Dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc ».

Trở về với sự phá sản và tàn hại của cuộc cách mạng cộng sản Việt Nam. Khi cuóp đuọc chính quyền, lập nên nhà nuóc cộng sản, Hồ chí Minh và đảng cộng sản lấy tiêu đề : « Việt Nam Dân chủ cộng hòa, độc lập tự do, hạnh phúc. » Kết quả hơn 50 năm trời ở miền Bắc và 30 năm trời ở miền Nam, chúng ta thấy gì ?

   Độc lập : Nuóc chúng ta chưa bao giờ bị lệ thuộc ngoại bang như duói thời cộng sản hiện nay. Ngày xưa thì lệ thuộc Liên Sô, tự biến mình thành con chốt, thành thằng lính đánh thuê cho dế quốc Nga. Lê Duẫn , tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam nói : «  Chúng tôi đánh là đánh cho Liên Sô . » 

Trong các nuóc cộng sản chư hầu của Liên Sô, chưa có một nguòi lãnh đạo nào vọng ngoại như hồ chí Minh, đặt tên núi là núi K. Marx, đặt tên suối là suối Lénine ở vùng Bắc Bó, nơi ông ta ở. Giới lãnh đạo cộng sản hiện nay thì hoàn toàn lệ thuộc Trung Cộng, dâng đất nhuọng biẻn cho Trung Cộng.

   Tự do, dân chủ : Chưa bao giờ dân Việt mất tự do và đất nuóc không có dân chủ như thời cộng sản hiện nay. Những vị lãnh tụ tôn giáo chỉ nói lên những tiếng nói của luong tâm, luong tri con nguòi mà cũng bị tù, bị quản thúc. Lê chí Quang chỉ viết bài : «  Hãy cảnh giác Bắc Triều », nói lên mộng bành truóng Trung Cộng. Phạm hồng Sơn chỉ dịch vài « Dân chủ là gì », mà nguòi nào cũng bị cả chục năm tù. 

Phong trào Dân Chủ Thế giới vừa mới họp vào đầu tháng 2 này ở Nam Phi, quê của ông Nelson Mandela, nguòi đấu tranh chống lại sự kỳ thị chủng tộc, bị tù lâu nhất trên thế giới, ông là sáng lập viên của Phong trào,đã lên tiếng tố cáo Việt Nam là một trong những nuóc thiếu dân chủ, nhân quyền bị chà đạp nhất thế giới, cũng như lên tiếng đòi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hãy trả tự do cho hòa thuọng Huyền Quang và Quảng Độ.

   Hạnh phúc : Nuóc Việt Nam hiện nay là một trong những nuóc nghèo đói và bất công nhất thế giới. Sản luọng hàng năm tính theo đầu nguòi của Việt Nam, theo chủ tịch nhà nuóc Trần đức Luong, khi viếng thăm Pháp vào đầu năm 2003, là 370$, theo Nguyễn đình Bin, thứ truỏng ngoại giao, khi viếng thăm Hoa kỳ vào cuối năm 2003, là 420$, theo báo Le nouvel Observateur-Atlaseco-2003, thì là 397$, đứng vào hàng thứ 186, trong 227 quốc gia, mà phải kể hơn 40 quốc gia quá nhỏ bé như Tòàhanh, Monaco v.v.., và một vài quốc gia nghèo đói Phi Châu. 

Trong khi đó thì Nam hàn sản luọng tính theo đầu nguòi hàng năm của Nam Hàn là 10 000$, Đài loan là 14 000$.

Chính báo Lao động của cộng sản làm một cuộc nghiên cứu vào cuối năm 2003, thì ở những vùng hẻo lánh như Cao Bằng, Lạng Sơn, cao nguyên miền Trung, vùng hẻo lánh miền Nam, có những nguòi không có đến 36$ một năm để sống. Cũng theo báo này từ 70 đến 80% dân Việt khi bệnh không dám đi bác sĩ, nhất là nhà thuong, vì phải bán cả nhà cửa, để trả tiền chi phí. 

Trong khi đó thì ở Sài Gòn hay Hà nội các đảng viên cao cấp, con các đảng viên, tiêu tiền vứt qua cửa sổ, một đêm tiêu cả mấy nganø $, đánh những canh bạc cả chục, cả trăm ngàn đô la. Xã hội Việt nam hiện nay là một xã hội bất công nhất trong lịch sử Việt Nam. Lấy đâu mà dân có hạnh phúc ?


   Thế kỷ 20 vừa qua, nhân loại đã trải qua nhiều biến cố đau thuong, đẫm máu, 2 lần đại chiến, môi truòng bị phá hủy, vì khoa học bị dùng sai ; nhưng chưa có biến cố nào đẫm máu và đau thuong bằng những cuộc tàn sát do các chế độ cộng sản gây ra. Các nuóc Đông Âu đã lật qua trang sử đau thuong cộng sản. Dân tộc Việt Nam và một số dân tộc như Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba, hãy cố gắng đấu tranh để lật đổ chếá đô bäạo tàn này. Vì chỉ như vậy mới có tự do, dân chủ, mới có thịnh vuọng, tiến bo, mới có hạnh phúcä.

                                       Paris ngày 22/02/2004

                                     Trực ngôn Chu chi Nam

Người giàu nhất VN sở hữu 1,6 tỷ đôla
Cập nhật: 06:50 GMT - thứ tư, 5 tháng 3, 2014

Ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam lọt vào danh sách của Forbes


Tài sản của ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vingroup, đã tăng thêm 100 triệu đôla trong một năm qua, theo công bố mới nhất của tạp chí Forbes.
Các bài liên quan
Chủ đề liên quan
Tính đến tháng Ba năm 2014, ông Vượng sở hữu tổng số tài sản là 1,6 tỷ đôla, cao hơn so với 1,5 tỷ đôla cùng kỳ năm ngoái.
Số tài sản này đưa tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam xếp ở vị trí thứ 1.092 trong danh sách của Forbes, thấp hơn so với vị trí thứ 974 hồi năm ngoái.
Tuy nhiên, trong một năm qua, số tỷ phú thế giới của Forbes cũng đã tăng từ 1.426 đến 1.645 người, đưa tổng giá trị tài sản ròng của danh sách này đạt 6,4 nghìn tỷ đôla, tăng một nghìn tỷ so với năm 2013.
Tỷ phú bất động sản
Hồi tháng Ba năm ngoái, ông Vượng đã trở thành tỷ phú Việt Nam đầu tiên lọt vào danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes, chủ yếu nhờ 53% cổ phần trong Vingroup.
Hai tháng sau đó, hãng đầu tư danh tiếng Warburg Pincus cho biết sẽ đầu tư 200 triệu đôla vào Vincom Retail - một chi nhánh của Vingroup mà ông Vượng và gia đình chiếm hơn 60% cổ phần. Đây là mức đầu tư lần đầu lớn nhất của một nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Cũng trong năm 2013, Vincom Retail đã khánh thành dự án Vincom Mega Mall Royal City - được quảng bá là tổ hợp khu mua sắm và giải trí dưới mặt đất lớn nhất châu Á, với diện tích sử dụng lên đến 230.000 mét vuông.
Với dự án này, Vincom Retail đã trở thành nhà đầu tư bán lẻ lớn nhất Việt Nam.


Ông Vượng và gia đình sở hữu hơn 60% cổ phần trong Vincom Retail


Ông Vượng học ngành kinh tế địa chất tại trường Đại học Địa chất Moscow của Nga. Sau đó ông tới Ukraina và thành lập công ty LLC Technocom, hãng sản xuất hơn 100 sản phẩm đồ ăn khô, trong đó có mỳ ăn liền và bột khoai tây nghiền.
Ông bán công ty này, với giá không được công bố, cho hãng Nestle SA vào năm 2010. Technocom có kim ngạch hơn 100 triệu đôla vào thời điểm được ông bán đi.
Dựa trên doanh thu trung bình của nhiều lần sáp nhập và mua đi bán lại các công ty thực phẩm này trên khắp thế giới thì công ty có thể đã có trị giá 150 triệu đôla vào năm 2010 khi nhà tỷ phú này bán toàn bộ hoạt động này cho hãng thực phẩm Nestle SA có trụ sở tại Vevey, Thụy Sĩ, theo các số liệu tổng hợp của Bloomberg.
Ông trở lại Việt Nam năm 2001 khi ông thành lập công ty du lịch khách sạn Vinpearl. Năm sau ông thành lập Vincom, hoạt động trong lĩnh lực bất động sản thương mại và nhà ở trung và cao cấp. Vinpearl và Vincom, đều đã được niêm yết, sau đó được hợp nhất thành Tập đoàn Vingroup vào năm 2012.
Năm của tỷ phú công nghệ

Bill Gates là người giàu nhất thế giới năm 2014


Trong danh sách tỷ phú thế giới của Forbes năm 2014, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia với nhiều tỷ phú nhất, với tổng cộng là 492 người, theo sau đó là châu Âu (468 người) và châu Á (444 người).
Bốn quốc gia lần đầu tiên có tỷ phú lọt vào danh sách của Forbes là Algeria, Lithuania, Tanzania và Uganda.
Các tỷ phú công nghệ cũng được nhắc đến nhiều trong danh sách của Forbes năm nay.
Người sáng lập Microsoft, Bill Gates, đã vượt qua tỷ phú dầu mỏ của Mexico, ông Carlos Slim, để đứng đầu danh sách những người giàu nhất thế giới năm 2014, với tổng giá trị tài sản là 76 tỷ đôla, cao hơn so với mức 67 tỷ đôla năm 2013.
Trong khi đó, nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg, trở thành tỷ phú có mức tăng tài sản ròng cao nhất trong danh sách của Forbes một năm qua.
Tài sản của ông đã tăng gấp đôi chỉ trong thời gian từ năm 2013-2014, đạt 28,5 tỷ đôla, nhờ sự nhảy vọt của giá cổ phiếu Facebook.
Jan Koum và Brian Acton, các nhà sáng lập WhatsApp, cũng đã lọt vào danh sách của Forbes, xếp ở vị trí lần lượt là 202 và 551, nhờ thương vụ tổng trị giá 19 tỷ đôla với Facebook.


Lê Diễn Ðức - Bạch hóa Hội Nghị Thành Ðô?


Lê Diễn Ðức - Bạch hóa Hội Nghị Thành Ðô?

Thứ Ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

Sốc - Lính Trung cộng hành hạ tra tấn tù binh VN vô cùng tàn bạo dã man


Hội Nghị Thành Ðô ngày 3 tháng 9, 1990 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc.
Hoang mang, lúng túng trước sự tan rã nhanh chóng của khối cộng sản ở Châu Âu, lo sợ khả năng mất kiểm soát và độc quyền lãnh đạo, vào đầu tháng 9 năm 1990, lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) do Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đã xúc tiến cuộc gặp gỡ với lãnh đạo Trung Nam Hải tại Thành Ðô, để bình thường hóa quan hệ sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.

Những thỏa thuận của cuộc hội nghị này là nền móng cho mọi mối quan hệ hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và Trung Quốc. Mối quan hệ hết sức bất bình đẳng, thể hiện chính sách hèn mạt, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam.

Trên đất liền, được ưu đãi đặc biệt, Trung Quốc thực hiện cuộc xâm thực khống chế Việt Nam, không mất một viên đạn nào. Ngoài biển, Trung Quốc băt đầu từ việc xua đuổi bắt giữ ngư dân, cấm bắt cá, đến cắt cáp tàu của Việt Nam và cuối cùng là đưa giàn khoan vào khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Hiện đang phổ biến lá thư ngỏ của ông Lê Văn Mật, thiếu tướng, cựu phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân Khu 2 và tư lệnh Mặt Trận 1979-1984 (Hà Giang), nêu thắc mắc và kiến nghị Ðảng Cộng Sản Việt Nam công khai nội dung thỏa thuận của Hội Nghị Thành Ðô ngày 3-4 tháng 9 năm 1990.

Lấy nguồn từ báo chí Trung Quốc, bức thư có đoạn viết:

“Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa Hiệp Thành Ðô ngày 4 tháng 9, 1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản thỏa hiệp đó.

“Xin trích một đoạn Thỏa Hiệp Thành Ðô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Ðông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây....

“Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Ðảng Cộng Sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

Ông Nguyễn Trung, một chuyên viên nghiên cứu, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, viết:

“Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sau Hội Nghị Thành Ðô cũng đã trở thành một mối quan hệ vượt mức bình thường với những mỹ từ kèm theo như “tình hữu nghị giữa hai nước xã hội chủ nghĩa anh em,” rồi lại còn “16 chữ vàng”... Những yếu tố bất bình thường này cũng đang là những nhân tố lấn át và có nguy cơ làm cho những nguyên tắc bình thường giữa hai quốc gia trở thành thứ yếu và phần thua thiệt tất nhiên bao giờ cũng thuộc về “đàn em” mà điều xấu nhất nếu xảy ra rất có thể sẽ là “Hoa Quân Nhập Việt.”

Vì vậy, với một sự kiện sẽ đi vào lịch sử dân tộc như Hội Nghị Thành Ðô, thay vì nói đó là hội nghị bình thường hóa quan hệ Việt - Trung như cách nói từ trước đến nay thì phải nói rằng đó là sự kiện mở ra một sự bất bình thường trong quan hệ giữa hai nước thì đúng hơn.”

Vào cùng thời gian với Thiếu Tướng Lê Duy Mật, có một lá thư khác của Cựu Ðại Tá An Ninh Nguyễn Ðăng Quang, được đăng trên Blog Nguyễn Tường Thụy.

Ðưa ra một số hiện tượng xâm thực mềm nguy hiểm, đẩy nền kinh tế Việt Nam vào sự phụ thuộc Bắc Kinh nghiêm trọng, như cho thuê hàng trăm ngàn rừng đầu nguồn 50 năm, khai thác bauxite Tây Nguyên, hơn 90% các dự án EPC lọt vào tay thầu Trung Quốc, v.v..., bức thư nhấn mạnh:

“Xung quanh hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc ở Thành Ðô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận... làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi đảng và nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt - Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với Trung Quốc ở Thành Ðô.”

Cho rằng, “Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... theo tôi chỉ là tin đồn đoán, nếu có trích từ nguồn báo chí Trung Quốc thì cũng là những ngôn ngữ điêu ngoa, phóng đại.

Trung Quốc thực tâm muốn biến Việt Nam thành một nước chư hầu, hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế và cả chính trị, chứ không thể nào biến Việt Nam thành một Tây Tạng hay Nội Mông được.

Cho dù triều đại cộng sản có bán nước cầu vinh, thì tinh thần chống ngoại xâm phương Bắc từ ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam, vẫn nung nấu. Họ sẽ dễ dàng thao túng, điều khiển hơn khi có một tập đoàn thái thú ngoan ngoãn. Trung Quốc chẳng dại dột đối diện với sự chống đối quyết liệt nếu biến mình thành kẻ cai trị trực tiếp. Lịch sử hai nước đã chứng minh điều này. Qua một ngàn năm Bắc thuộc, Trung Quốc đã không đồng hóa nổi dân tộc Việt và cuộc chiến đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Ðằng nổi tiếng của Ngô Quyền, chính thức kết thúc ách đô hộ hơn một thiên niên kỉ, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam.

Song song, dù ÐCSVN áp dụng chính sách phò Trung Quốc để duy trì độc quyền cai trị, nhưng trong giới lãnh đạo không phải không có mâu thuẫn, chia rẽ. Vẫn tồn tại xu hướng hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực để kiềm chế Trung Quốc, cho dù ảnh hưởng của phe thân Trung Quốc đang mạnh hơn nhiều.

Mang giàn khoan HD 981 vào vùng kinh tế Việt Nam là một bước đi quan trọng của Trung Quốc trong việc thăm dò phản ứng của Việt Nam và quốc tế, nhưng cuối cùng Bắc Kinh đã cho rút sớm hơn dự định một tháng, là do trong lúc này chưa thể vì một giàn khoan mà có thể mất đứt cả nước CHXHCN Việt Nam.

Không thể bỗng dưng đánh mất một tập đoàn lãnh đạo dường như đang ngả hẳn về Trung Quốc. Không thể có được ở bất cứ nơi nào những gì đang nắm trong tay như trên lãnh thổ Việt Nam. Không thể đánh mất một thị trường 100 triệu dân dễ dãi và thực dụng để tống khứ hàng hóa độc hại.

“Dục tất bất đạt,” Trung Nam Hải không thể vì mộng bành trướng mà quá vội vã. Họ cần có thêm thời gian. Trước mắt vẫn tiếp tục tiến hành mạnh mẽ cuộc xâm thực trên đất liền. Việc Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Trung Quốc tiếp tục xây dựng sân bay quốc tế Quảng Ninh hay thi công đường cao tốc Ðà Nẵng - Quảng Ngãi, chưa nói tới khu Formosa năm ở Hà Tĩnh cho thuê 70 năm, chứng tỏ chính sách xâm lược mềm và khuynh loát Việt Nam bằng kinh tế rất hiệu quả.

Thiết nghĩ chẳng bao giờ ÐCSVN bạch hóa nội dung Hội Nghị Thành Ðô, bởi vì chế độ cộng sản luôn đồng nghĩa với dối trá, bưng bít thông tin. Nhưng, dù có bạch hóa hay không cũng chẳng mấy quan trọng.

Quan sát những gì mà họ làm với Trung Quốc và thẳng tay đàn áp mọi tư tưởng yêu nước chống Trung Quốc trong hơn hai thập niên qua, ta đã đủ hiểu được thực chất của những thỏa thuận như thế nào.

Không đến nỗi trở thành Tây Tạng, Nội Mông, nhưng Việt Nam đang và sẽ trở thành một cứ điểm quan trọng trong chính sách bành trướng của Trung Quốc. ÐCSVN thực sự nối giáo cho giặc, đã và đang giẫm đạp lên lợi ích lâu dài và chủ quyền của dân tộc.



Từ Thành Đô tới Đông Đô

Tháng 8 12, 2014

Phạm Việt Vinh
Mấy ngày nay, dư luận Việt Nam đang sôi động về cái gọi là Hội nghị Thành Đô đã bí mật diễn ra giữa lãnh đạo hai Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc vào tháng Chín 1990. Thực ra thì từ vài năm trước đã có nhiều tin đồn về Hội nghị này, trong đó phải kể đến Hồi ký của ông cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ năm 2003, nhưng các thông tin có được còn quá mơ hồ, người ta có cảm giác là Hội nghị này chủ yếu chỉ xoay quanh vấn đề Campuchia, và vì vậy sự chú ý cũng như hồ nghi đã dừng ở mức giới hạn.

Trái lại, những kiến nghị công khai mới đây của thiếu tướng Lê Văn Mật và cựu đại tá Nguyễn Đăng Quang với trích dẫn “Kỷ yếu Hội nghị Thành Đô” từ tờ Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã làm chấn động Việt Nam. 

Nếu thật sự là tại Hội nghị này, các nhà lãnh đạo cộng sản Hà Nội cao nhất đã ký vào những dòng chữ: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản… Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh” thì những tên tuổi như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng sẽ là nỗi kinh hoàng của người Việt, và kết luận của cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch rằng “Hội nghị Thành Đô đã mở đầu một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm” là hoàn toàn có lý.

Cho đến hôm nay, các thông tin trên vẫn chỉ là điều đồn đoán. Người ta hoàn toàn có quyền nghi ngờ những bài viết trên tờ Hoàn cầu Thời báo; và cũng như hàng loạt Hồi ký của các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam khác; những tâm sự, ghi chép của ông Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ chưa chắc đã mang tải toàn sự thật. 

Mặc dù vậy, với nội dung vô cùng nghiêm trọng của nó, với những sự kiện đã xảy ra trong quan hệ Việt-Trung gần đây, những thông tin về Hội nghị Thành Đô xứng đáng là một quả bom trong dư luận. Rất có thể, Hội nghị này đã là một cái mốc quyết định vận mệnh dân tộc Việt Nam. Vì vậy, người Việt có quyền, và có trách nhiệm đòi chính quyền phải nhanh chóng bạch hóa tiến trình cũng như nội dung Hội nghị đó. Nhưng chính điều này lại chứa đựng hàng loạt vấn đề nan giải.

Thứ nhất, một chính quyền không nhất thiết phải bạch hóa toàn bộ những thỏa thuận chính trị của mình với nước khác. Chỉ cần viện cớ “an ninh quốc gia”, Hà Nội hoàn toàn có quyền thoái thác việc công bố nội dung Hội nghị. Thêm vào đó, trong một xã hội toàn trị như ở Việt Nam, dư luận quần chúng không bao giờ có đủ sức ép để bắt chính quyền phải làm một việc mà nó không muốn. 

Nếu Hội nghị Thành Đô đã diễn ra đúng, hoặc chỉ cần gần đúng với những thông tin hiện nay, thì hành vi quỳ gối trước Bắc Kinh của các nhà lãnh đạo Hà Nội hồi đó sẽ tước bỏ hoàn toàn tính hợp thức tự phong của chính quyền cộng sản hiện nay. Tuy Hội nghị Thành Đô là sản phẩm của những người tiền nhiệm, nhưng với nó, các nhà lãnh đạo hôm nay sẽ hoàn toàn phá sản trong lý luận dùng “thành tích” quá khứ để biện minh cho vai trò cầm quyền duy nhất và tuyệt đối của mình. Bạch hóa Hội nghị Thành Đô như thế đương nhiên là tự sát, và chính quyền Hà Nội chắc chắn sẽ không tự nguyện làm như vậy.

Thông thường, trong một chính thể lành mạnh, khi có những nghi vấn về hành vi khuất tất của chính phủ hoặc thành viên chính phủ, thì đại biểu quốc hội với tư cách thay mặt cho cử chi sẽ có quyền chất vấn chính phủ, và khi cần thiết quốc hội sẽ có trách nhiệm lập ra các uỷ ban điều tra làm sáng tỏ vụ việc. Với cơ chế chính trị và với gương mặt quốc hội Việt Nam hiện nay, điều này hầu như không có khả năng xảy ra.

Thực tế là hiện nay, trước xôn xao của dư luận và đòi hỏi của nhiều người, trong đó có cả cán bộ và đảng viên cao cấp, chính quyền Việt Nam vẫn hoàn toàn im ắng. Có vẻ như Hà Nội muốn dùng sự im lặng của mình để chứng tỏ rằng các tin tức đã được đăng tải về Hội nghị Thành Đô chỉ là những bịa đặt nhảm nhí không đáng quan tâm, và dư luận cũng như sự bất bình của dân chúng rồi sẽ tự tiêu tan như từ trước tới nay.
Nhưng cũng có thể, do tính chất cực kỳ nghiêm trọng của sự việc lần này, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không được tiếp tục ngồi yên và phải lên tiếng về cuộc gặp gỡ bí mật tại Thành Đô. Họ có thể sẽ thẳng thừng tuyên bố gạt phắt những thông tin đồn đại. Họ cũng có thể đưa ra một cái gì đó giống như là “bạch hoá” những thỏa thuận ở Thành Đô. Đáng tiếc là trong cả hai trường hợp, xác suất nhìn được sự thật của người Việt chắc chắn sẽ rất gần với số không.
Trong lịch sử hoạt động chính trị và điều hành đất nước của mình, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng ngay thẳng và minh bạch. Ở vị trí lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, họ không bao giờ bị bắt buộc phải công nhận và chịu trách nhiệm về những sai phạm nghiêm trọng của mình. Rất có thể là vào những ngày tháng tới, vì một lý do nào đó, nhà cầm quyền Việt Nam sẽ đưa ra những thông tin chính thức về Hội nghị Thành Đô. Dĩ nhiên là những thông tin này sẽ hoàn toàn không có khả năng được kiểm chứng, nhưng một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ tạm yên lòng, còn những người khác sẽ tiếp tục mỏi mòn trong nghi ngờ, bất bình và bất lực.
Điều dễ thấy là ở các nước theo hệ thống đa đảng, khi thẩm tra hoạt động của chính quyền, tại các cuộc điều trần trước quốc hội hoặc trong hoạt động của các uỷ ban điều tra do quốc hội chỉ định, vai trò của phe đối lập là một điều bắt buộc phải có. Khi điều tra, chính đại diện của các đảng đối lập mới là những người chất vấn, truy tìm các sai phạm, khiếm khuyết của chính quyền. Trong chính trường, không có đối lập sẽ không có khả năng tìm ra sự thật!

Khi chính quyền vẫn không công nhận đối lập, vẫn đàn áp đối lập thì những hy vọng thực sự “bạch hoá” một sự kiện chính trị rất quan trọng và có thể rất nguy hiểm như Hội nghị Thành Đô là điều không tưởng. Đại đa số người Việt sẽ tiếp tục phải làm những con tin trong một mê hồn trận của các tin tức mờ ảo, thất thiệt và gian trá. 

Chính quyền vẫn hoàn toàn có khả năng “bí mật” tiến hành những hoạt động của mình. Và nếu tình hình không thay đổi, có lẽ sẽ đến lúc chúng ta phải đón nhận một kết quả không mấy tốt lành của một Hội nghị kín mới, diễn ra không phải ở Thành Đô, mà ngay ở giữa Đông Đô Hà Nội.

12/8/2014
P.V.M.
Nguồn: procontra.asia



Anh Vũ/RFA - Tại sao Đảng viên không tin Trung Quốc?

Thứ Ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh ngày 19 tháng 6 năm 2013
Mối quan hệ VN và TQ thường được lãnh đạo cả hai phía ví như môi với răng.

Trong giai đoạn 1949-1975, TQ đã giúp VN rất nhiều về nhân lực và của cải; đặc biệt là về mặt trang bị quân sự trong các cuộc chiến tranh ở VN trong giai đoạn 1955-1975 với mục đích nhằm bành trướng ý thức hệ CS xuống phía nam.


Tuy nhiên mối quan hệ đó đã trải qua nhiều thăng trầm, mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc 1979, và năm 1980 Hiến pháp VN đã ghi rõ và khẳng định TQ là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm.

Gần đây, trong Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN của 61 đảng viên kỳ cựu có đoạn viết rằng: "Lãnh đạo đảng và nhà nước cần thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc  lập, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc".

Đánh giá về mối quan hệ Việt – Trung, Đại tá Phạm Xuân Phương nguyên sĩ quan cao cấp thuộc Tổng cục Chính trị, người đã ký tên trong Thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng CSVN thấy rằng: quan hệ VN-TQ hết sức phức tạp, cho dù TQ đã giúp VN rất nhiều, song sự giúp đỡ của họ đều nằm trong sự tính toán trong mưu đồ hòng thôn tính để thống trị VN. Theo ông, hiện nay mối quan hệ này đang xấu đi, khi TQ đang tiến hành chính sách gặm nhấm dần dần, để thực hiện một cuộc chiến tranh không tuyên bố đối với VN dưới nhiều hình thức.

Từ Hà nội, Đại tá Phạm Xuân Phương nói với chúng tôi:

“Trung Quốc đã thực hiện một cuộc chiến không tuyên bố nhằm mục đích áp đặt và buộc Việt Nam phải khuất phục, đó là điều rõ như ban ngày. Cho nên là chúng tôi cũng đã nhận thức một cách tỉnh táo, minh bạch rõ ràng rằng tình hình quan hệ giữa VN và TQ đang xấu đi một cách nghiêm trọng và nguy hiểm.”

Đại tá Nguyễn Đăng Quang, một sĩ quan công an đã nghỉ hưu và là người vừa ký trong Thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng CSVN cho rằng: trên thực tế mối quan hệ VN-TQ đã có nhiều biểu hiện phức tạp và không tin tưởng lẫn nhau. Trước 1975 vũ khí khí tài từ Đông Âu chuyển sang VN khi đi qua TQ đã bị phía TQ tịch thu một số thiết bị quan trọng, hay việc VN yêu cầu TQ rút binh lính và thiết bị quân sự ra khỏi Bắc VN, từ Lạng sơn đến Bắc giang là những ví dụ. Sau năm 1975 thì quan hệ đó đã trở nên vô cùng xấu, vì TQ không hài lòng với việc VN thống nhất đất nước, mà đỉnh cao là cuộc chiến Biên giới phía Bắc năm 1979. Từ năm 1990 khi hệ thống XHCN tan rã ở Đông Âu, buộc VN một lần nữa phải quay trở lại làm bạn với TQ.  Song theo ông đó là mối quan hệ bất bình đẳng và TQ đã không ngừng có các hành động gây hấn vi phạm chủ quyền của VN.

Từ Hà nội, Đại tá Nguyễn Đăng Quang nói:

“Người VN luôn luôn nghi ngờ và cảnh giác với TQ, vì TQ không bao giờ từ bỏ âm mưu xâm chiếm VN. Hiện nay quan hệ giữa Trung quốc và Việt nam là rất xấu và điều này khó mà có thể giữ ổn định được trong quan hệ giữa hai nước”

Khi được hỏi lý do gì và nguyên nhân vì sao các đảng viên CS Việt nam đã không tin tưởng người đồng chí TQ, vốn là người đồng chí có cùng ý thức hệ CS?

Đại tá Phạm Xuân Phương thấy rằng thực tiễn lịch sử đã cho thấy những người cộng sản Trung quốc đã phạm phải rất nhiều sai lầm. Trong Đại cách mạng Văn hóa đã cho thấy tình đồng chí trong trong đảng CSTQ đã không còn, khi họ thẳng tay tiêu diệt lẫn nhau. Không những thế các hành động trên thực tế của chính quyền TQ đối với các quốc gia cùng ý thức hệ CS cũng không được họ tôn trọng và họ sẵn sàng gây chiến để thỏa mãn tham vọng bành trướng. Do đó theo ông không thể nói là TQ có cùng ý thức hệ cộng sản được.

Từ Hà nội, Đại tá Phạm Xuân Phương cho biết:

“Khi họ công khai điều quân đánh Liên xô, thành trì của cách mạng thế giới, công khai điều quân đánh Việt nam và họ công khai ủng hộ bọn Polpot - kẻ thù diệt chủng của nhân loại tiến bộ, thì làm gì họ còn ý thức hệ với chúng tôi nữa?”

Thế giới đã thay đổi

Đại tá Nguyễn Đăng Quang thấy rằng trên thực tế đã không ít người đã có nhận thức sai lệch, cho rằng lý do VN và TQ cùng chung ý thức hệ Cộng sản thì sẽ không có thể có việc TQ có các ý đồ xấu và âm mưu thôn tính VN. Theo ông, nên hiểu Trung Quốc luôn là đối tượng nguy hiểm, do vậy suy nghĩ nêu trên là sai lầm, song đáng tiếc nó là điều phổ biến thường thấy, đặc biệt là ở các lãnh đạo Đảng CSVN.Đại tá Nguyễn Đăng Quang cho chúng tôi biết:

“Dù chính quyền TQ đó là phong kiến, tư sản hay cộng sản thì họ cũng không từ bỏ và thay đổi ý đồ thôn tính VN là không thay đổi. Thực tế lịch sử đã chứng minh các nước CS đánh nhau nhiều chứ, ý thức hệ đâu có thể ngăn chặn được chiến tranh giữa hai quốc gia đâu? Tôi cho đó là cái ảo tưởng, cái không tưởng và là cái viển vông”.

Nói về lý do vì sao đa số các Đảng viên Đảng CSVN đã không tin tưởng và yêu cầu Đảng CSVN từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng để thoát khỏi Trung Quốc. Đại tá Phạm Xuân Phương thấy rằng: cần phải hiểu thế giới đã thay đổi, mọi lý luận và các quan điểm cũ của Đảng đã trở nên lạc hậu và giáo điều. Thực tiễn đã chứng minh các sai lầm của các quan điểm vốn được coi là nguyên tắc bất di bất dịch của Chủ nghĩa Cộng sản.

Đại tá Phạm Xuân Phương cho chúng tôi biết:

“Chúng tôi không tin tưởng vì thực tế đã diễn ra không như họ dạy chúng tôi, họ dạy chúng tôi nhiều lắm chứ. Họ dạy chúng tôi về tinh thần quốc tế vô sản, về Chủ nghĩa Marx-Lenin, họ dạy chúng tôi nhiều thứ lắm. Nhưng thực tế diễn biến theo sự cảm nhận của chúng tôi không phải là như vậy. Thế giới đã thay đổi, song họ vẫn cứ nghĩ rằng thế giới không thay đổi, họ cứ nghĩ TQ và VN có cùng ý thức hệ. Đó là họ nhầm, không có đâu.”

Người ta nói "Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn", đó là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam sửa đổi các sai lầm từ trong quá khứ.


Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu

image
Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...


Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)
















Ha ha ha !
Hố hố hố !
Không biết làm thịt em nào trước đây?
xem thêm





Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-






__._,_.___

Posted by: hung vu 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link