Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 15, 2014

Thuộc địa kiểu mới


Thuộc địa kiểu mới

Trung Quốc khống chế Bộ Chính Trị đảng CSVN .wmv






VietTuSaiGon (RFAVietnam) - Gần đây, vấn đề bạch hóa hội nghị thành đô đang được nhắc tới nhiều và câu hỏi “Liệu Việt Nam có thể trở thành một khu tự trị của Trung Cộng?” cũng đang được đặt vấn đề mạnh mẽ. Nhưng, vấn đề Việt Nam trở thành một khu tự trị trực thuộc Trung Quốc vào năm 2020 sẽ là vấn đề không tưởng mà với diễn biến hiện tại, cho thấy Việt Nam sẽ là một thuộc địa mới, mới về cả nội dung lẫn hình thức của Trung Cộng.

Vì sao nói Việt Nam sẽ không bao giờ thành đặc khu kinh tế hoặc khu tự trị của Trung Quốc? Có hai lý do để tin rằng Việt Nam không bao giờ thành một khu tự trị của Trung Quốc: Kinh nghiệm “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đã ăn sâu trong huyết quản dân tộc Việt Nam; Lực lượng trí thức không nằm trong bộ máy của đảng cầm quyền chiếm con số rất đông và đương nhiên, những trí thức “không đỏ” này không bao giờ chấp nhận Việt Nam bị giặc Tàu đô hộ một lần nữa! 

Ở khía cạnh thứ nhất, kinh nghiệm một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, có thể nói rằng điều này không nằm trong ý thức mà đã nằm trong vô thức của người Việt, dường như một đứa trẻ đủ trưởng thành cũng có thể thấy ngay rằng giữa người Việt và người Tàu khó có thể sống chung trong một quốc gia hay thể chế chính trị/nhà nước. Vấn đề này không cấn lý giải nhiều, nó thuộc về ký ức tập thể của một dân tộc. 

Ở khía cạnh trí thức không thuộc hàng “đỏ”, có thể nói rằng đa phần họ muốn Việt Nam thân Mỹ, lý do để họ mong mỏi điều này là vì Mỹ là một nước dân chủ, tiến bộ và thực dụng một cách rõ ràng. Với người Mỹ, họ không bao giờ bỏ ra đồng nào nếu không thu lợi về cho họ ít nhất là một đồng rưỡi. Trong khi đó, với người Tàu, đặc biệt là Tàu Cộng, họ không bao giờ bỏ ra bất cứ đồng nào nếu một đồng của họ không làm cho người khác mất đi hai đồng. Chính vì bản tính giảo hoạt này của họ, người Việt, đặc biệt là trí thức Việt luôn e ngại và tránh xa Tàu Cộng. Và nghiêm túc mà nói, nếu chọn giữa hai thứ: Trở thành một khu tự trị của Trung Quốc hay là trở thành một tiểu bang của Mỹ? Chắc chắn ít nhất cũng trên 80% dân số Việt Nam chọn trở thành tiểu bang của Mỹ! 

Và đây là vấn đề mà chế độ Cộng sản Trung Quốc cũng như chế độ Cộng sản Việt Nam rất sợ hãi. Cộng sản Trung Quốc sợ vì nếu Việt Nam thân Mỹ, xa hơn một chút nữa là thành tiền trạm và một tiểu bang của Mỹ chẳng hạn, thì mức độ khó chịu cũng như sức mạnh khối Cộng sản ở Đông Nam Á chỉ còn co cụm trên lãnh thổ Trung Quốc, lúc đó Campodia và Lào cũng suy nghĩ lại về mối quan hệ với Trung Quốc và có những lựa chọn mới. Điều này là không thể tránh khỏi. Và với Cộng sản Việt Nam, một khi Việt Nam thân Mỹ, nhà nước độc tài Cộng sản Việt Nam sẽ thoái vị và đến một lúc nào đó, chủ nghĩa Cộng sản sẽ chết khô trên dải đất hình chữ S này. 

Nhưng nếu không chấp nhận thân Mỹ, Việt Nam sẽ rơi vào tay Trung Cộng. Mà với người Cộng sản, dù rất huyễn hoặc và tự vỗ về nhau nhưng họ vẫn mê tín vào chủ nghĩa Cộng sản và quốc tế Cộng sản bởi đây là chỗ dựa duy nhất và cuồi cùng để họ tồn tại. Chính vì thế mà họ đã lựa chọn việc đến với hội nghị Thành Đô 1990 để biến trung ương Cộng sản Việt Nam thành những thái thú Tàu gốc Việt, và đây cũng là mấu chốt vấn đề thuộc địa mới của Trung Quốc. 

Xâu chuỗi lại những mốc lịch sử, có thể nói rằng suốt quá trình dài ngót nghét ngàn năm đô hộ xứ Việt, các thái thú gốc Tàu chưa bao giờ yên thân để về nước nếu không nói là khi có biến, các thái thú người Tàu có thể không toàn thây để về quê. Chính vì thế, việc một lần nữa biến Việt Nam thành một vùng tự trị dưới sự giám sát, điều hành của thái thú người Tàu là một việc hết sức sai lầm và ấu trĩ. Chính vì thế, hội nghị thành đô có thể nói chính là thành tựu/tì vết đô hộ tích tụ trên ngàn năm nay mà người Tàu đã đúc kết thành kinh nghiệm xương máu để một khi có cơ hội sẽ ra tay với Việt Nam, và hội nghị Thành Đô 1990 là cơ hội ngàn năm có một, người Tàu ngay tức khắc đưa ra những yêu sách để biến bộ sậu trung ương đảng Cộng sản Việt Nam thành một đám thái thú người Việt dù muốn hay không muốn cũng phải răm rắp tuân lệnh của họ. 

Kế hoạch thu thập đám thái thú người Việt cùng hàng loạt chiến lược, phương án xâm lược Việt Nam trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự suốt từ năm 1991 cho đến nay. Và có một điều rất chắc chắn là hội nghị Thành Đô đã rất thành công, bởi vì nếu như lúc đó, người Tàu sang làm thái thú Việt ở những vị trí trung tâm, đầu não thì sớm muộn gì họ cũng bị nhân dân lật tẩy và lật đổ họ. Chính vì thế, các thái thú người Việt sẽ giữ những chức danh trọng yếu và chịu sự quan sát của các gián điệp cũng như các đại diện Trung Cộng được ém trong bộ máy cầm quyền Việt Nam là một sách lược khả thể. Đứng ở những vị trí giám sát, gián điệp, họ vừa nắm được thông tin, đường hướng của đám quan lại người Việt lại vừa chỉ đạo sau sân khấu để đám thái thú trung ương này thực hiện mọi sách lược của họ, mau chóng biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Trung Cộng. 

Và một khi đã có thuộc địa mới trong tay với một đám lâu la gốc Việt làm thái thú, bản chất háo thắng của Trung Cộng lại nổi lên, bắt đầu có những hành động ngang ngược và chẳng còn nghĩ đến đàn em, lâu la bị phương hại ra sao. Chính sự háo thắng này vô hình trung đẩy đám lâu la đàn em rơi vào tình thế nổi loạn, và một khi có những pha diễn không ăn nhập gì với nhau đã làm lộ bộ mặt thật của đám lâu la cũng như dã tâm của chúng. Kết cục là nhân dân kinh tởm những gì lâu nay họ phải sống chung và một nguy cơ mới của chủ nghĩa Cộng sản đang bùng cháy mỗi lúc một dữ dội. 

Và, với nhân dân, bộ mặt thật cũng như cái chết chậm của chủ nghĩa Cộng sản là một sự may mắn mà cũng là một vận hội mới để cả dân tộc bước dần ra ánh sáng! 

Viết từ Sài Gòn, ngày 13/08/2014




Ăn hối lộ và bán nước... cái nào nhục hơn!?


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Lạ thiệt! Không phải chính phủ Australia mà là từ website WikiLeaks phát tán văn bản “Lệnh kiểm duyệt” của tòa hình sự tối cao Victoria tại Melbourne (Úc) mang nội dung ra lệnh cho hệ thống truyền thông và báo chí nước này cấm đưa tin 4 quan chức cao cấp của nhà nước CSVN có dính líu đến vụ “hối lộ” in tiền Polymer bao gồm “tứ quái”: Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Lê Đức Thuý .(*)

Toà Án Úc: Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Đức Thúy, Nông Đức Mạnh, 
liên quan nhận hối lộ “in tiền nhựaPolymer” theo wikileaks 
(Ảnh tương thích minh hoạ)

Wikileaks phổ biến ngày 29/7 thì rất nhanh chóng ngày 7/8 báo chí VN đưa tin, Bộ ngoại giao CHXH/CN/VN đã mời Đại sứ Úc tại Hà Nội đến để trao công hàm phản đối lệnh kiểm duyệt này, công hàm ghi rõ rằng: 

“Việt Nam cực lực phản đối việc Tòa án Tối cao bang Victoria của Australia ban hành Lệnh kiểm duyệt liên quan đến vụ in tiền Polymer có nêu tên một số quan chức cấp cao nước ngoài trong đó có Việt Nam. Việc làm này xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam”.

Báo chí “đảng ta” trích dẫn nói là “công hàm ghi rõ” nhưng cụ thể là chưa rõ lắm, mà phải ghi như thế này thì mới rõ ràng, thay vì... “liên quan đến vụ in tiền Polymer”... thì phải ghi cho rõ là: liên quan đến việc “đưa và nhận hối lộ” trong vụ in tiền Polymer. Bởi nếu chỉ đơn thuần là “in tiền” không thôi thì có khùng điên quan tòa Úc mới ban hành Lệnh kiểm duyệt! 

Và cuối công hàm đề cập, do vì: “xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam”. Cái này thì hơi “bá láp” khi công hàm “cầm nhầm” hình ảnh đất nước Việt Nam. Bởi trừ cá nhân “tứ quái” cao cấp đảng viên CSVN đề cập liên quan nhận hối lộ nói trên thì toàn dân Việt Nam hơn 85 triệu người bình thường sống đạm bạc có ai có cơ hội để được nhận hối lộ (như 4 vị ấy) đâu mà cả nước sợ bị xúc phạm, mất danh dự!? Một sự cường điệu tự diễn, tự sướng. 

Không chỉ cái “lạ” là lý ra nhà nước “đảng ta” phải mời hay gửi công hàm phản đối cho WikiLeaks thông qua cổng “thiên đình” (trang website này là của Thiên Lôi) nơi phát ra thông tin văn bản ấy chứ chẳng phải là chính phủ Úc.

Mà còn lạ hơn là vì nội dung văn bản (theo trả lời từ Sứ quán Úc):

“Chính phủ Australia cho rằng lệnh kiểm duyệt này là phương cách tốt nhất để bảo vệ các nhân vật chính trị cao cấp khỏi các sự ám chỉ không có cơ sở, việc nêu danh các nhân vật này trong lệnh kiểm duyệt không có nghĩa họ làm điều gì sai hay họ là đối tượng điều tra trong vụ Securency”.(**)

Thật vậy, trong toàn bộ nội dung “Lệnh kiểm duyệt” của tòa thượng thẩm Úc mang khuynh hướng bảo vệ chứ không có mục đích bêu riếu “tứ VIP” đảng CSVN nói trên (xem bản Việt ngữ ở đây) (***).

Thế thì vì sao nhà nước “đảng ta” lại nhanh chóng và “hăng tiết vịt” triệu đại sứ và gửi công hàm phản đối!? 

À, thì ra là do: “Việc làm này xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam”. (lời kết từ công hàm bộ Ngoại Giao VN).

Quả là chí lý, cái gì mà xúc phạm danh dự cá nhân lãnh đạo “đảng ta” cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam thì dứt khoát phải làm cho ra lẽ, làm tới bến, tới tận cùng cho nó lòi ra sự thật... Hoan hô “đảng ta” và bộ Ngoại Giao...

Ủa! Nhưng mà tại sao? Wikileaks phổ biến Lệnh kiểm duyệt “xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam” của tòa thượng thẩm Úc thì như tức khắt nhà nước “đảng ta” phản ứng “thích đáng” bằng công hàm phản đối với chính phủ Úc.

Trong khi cũng gần cùng với thời gian ấy ngày 6/8 trên website của Đài RFA có đăng tải bài viết “Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?” đề cập đến một phiên họp “bí mật” của 2 đảng CS Việt Nam và Trung Quốc tại Thành Đô vào ngày 2 và 3 tháng 9 năm 1990 mà theo Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo TQ, lãnh đạo CSVN là các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn đồng đã nhất trí cùng đề nghị với phía Trung Quốc:
Hội Nghị Thành Đô 1990 - Lý Bằng - Giang Trạch Dân (CSTQ) 
Nguyễn Văn Linh - Đỗ Mười - Phạm Văn Đồng (CSVN).

“Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây...

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” 

Nếu nhà nước CSVN coi “Lệnh kiểm duyệt” của tòa thượng thẩm Úc là một sự xúc phạm, thì đây phải nói là một điều cực kỳ: “xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam” - Bởi không có một con dân đất nước nào, nếu không vì một quyền lợi riêng tư lại ngu xuẩn như “bán nước” khi đề nghị cho lãnh thổ quốc gia mình đang Độc Lập lại làm một tỉnh thành của một quốc gia khác!?.

Một sự sỉ nhục quá lớn để trước đó ngày 28 tháng 07 trăn trở và bức xúc, 61 đảng viên Quân Cán Chính “đảng ta” trong một thư ngỏ củng có đạo đạt một nguyện vọng: “Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v...” ( thư ngỏ) 

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật có phải là từ Hội Nghị Thành Đô mà sau đó dẫn đến cương thổ của cha ông đã chịu thất thoát mấy trăm km2 dọc Bắc biên giới trong đó có Ải Nam Quan và hàng trăm ngàn km2 lãnh hải vịnh Bắc bộ mà nhiều người dân Việt Nam cho đó là hành vi lén lút “bán nước”!? 

Có đúng là như thế không? hay là vu khống: “xúc phạm danh dự cá nhân Lãnh đạo Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam” mà vụ việc liên quan hối lộ in tiền Polymer thì tức thời Bộ ngoại giao CHXH/CN/VN đã mời Đại sứ Úc tại Hà Nội đến để trao công hàm phản đối, nhưng dư âm Hôi Nghị Thành Đô với hàng triệu câu hỏi và đặt vấn đề thì “đảng ta” im lặng không “bạch hóa” tới nay đã 24 năm vẫn còn bí mật? 
  
Dứt khoát phải làm cho ra lẽ, làm tới bến, tới tận cùng cho nó lòi ra sự thật: Thằng nào chủ trương "bán Nước"!?




Hôn quân vô đạo trong ngôi nhà thế kỷ


Trần Văn Trộn (Danlambao) - Giả sử bây giờ có một tổ chức nước ngoài Châu Âu có ý định muốn mua nguyên quốc lộ 1 Việt Nam để vừa kinh doanh, vừa làm đẹp và cho mất hẳn cái hình ảnh xấu nhất trên Google Map, nói rõ nó là con đường đắt nhất thế giới cũng là con đường xấu xí nhất thế giới, nổi tiếng phí chồng phí, nhựa đường chồng nhựa đường. Các ủy ban giám định quốc tế cũng được mời tới để định giá, quà lót tay theo truyền thống của chủ nhà là chiếc phong bì đã không được đưa vào chương trình vì hội đồng xác định kết quả qua máy điện toán IBM và công nghệ phần mềm Silicon Valey. Các hình thức BOT dở dang được hoàn trả không thiếu một cắc. 

Nhà quốc hội tương lai.

Kết quả giá trị thực của con đường làm Việt Nam quá bé so với giám định, lỗ to so với đống của đổ ra từ 1975 đến tháng 8-2014, làm cho ngân sách quốc gia mất hẳn GDP một năm.

Ông Thủ tướng đã bất ngờ từ chức mà không cần trải qua các thủ tục của đảng cầm quyền, một chấn động kỷ lục khiến toàn Đảng phải rà soát lại toàn bộ các văn kiện Đảng xem có gì sai quy trình không. Sau đó không lâu ông Bộ trưởng xây dựng và ông Thứ trưởng Công an cũng theo gương xin từ chức.

Tổ chức nước ngoài đó đã làm xong quốc lộ 1 trong vòng có 1 năm và cho lưu thông không thu phi trong 3 năm bảo hành, sau đó tất cả phương tiện được trang bị máy thu phí hiện đại công nghệ Châu Âu không cần qua các pháo đài thu phí như trước đây, tiết kiệm được 20% chi phí công trình.

Phí đường rẻ hơn 50% so với các mức thu của chủ nhà trước đây, mỗi tỉnh có đường đi qua chỉ có một hệ thống thu phí qua vệ tinh, theo cam kết thì nước chủ nhà không được quảng cáo trên toàn tuyến đường, các lực lượng áo vàng, áo xanh, áo đen cũng không được đứng đường ảnh hưởng văn hóa giao thông văn minh hiện đại. Không còn cảnh xe quá tải và nhét khách vì đã có một con đường văn hóa văn minh hiện đại.

Sau 10 năm, thu hồi 80% vốn đầu tư, thời gian kinh doanh là 25 năm, so với các dự án của China chỉ bằng một nửa chu kỳ. 

Từ đó, thường dân đã trở nên thiện cảm hơn với nhà đảng cầm quyền,

Chuyện giả sử đến đây khiến cho người viết chảy dãi vì thèm thuồng và chuyển ý sang ngay thời gian thực. Tất cả mọi ao ước chỉ là viễn vông.

Có ai đã có ý tưởng tự soạn thử ra đạo luật biểu tình ở bối cảnh nước CHXHCNVN hiện nay chưa? Chắc chắn là có tuy rằng "tất cả mọi ao ước chỉ là viễn vông." 

Có thể đảng cầm quyền đúng khi họ chưa ban hành luật biểu tình vì lý do vô cùng thiêng liêng ngang như nghĩa tình biển đảo: trong Nghị quyết XI của toàn đảng không có đăng ký. Nhưng vậy là mâu thuẫn, sửa đổi hiến pháp cũ vào năm 2013 không hề có trong nghị quyết trọng đại.

Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng và quá bán ĐBQH đã đúng ý đảng và quan điểm chống phản động khi cho rằng Việt Nam đã quá ổn định chính trị và không cần thiết phải có luật biểu tình. Cũng có thể 500 đại biểu ngại khó, rất khó khi đạo luật này được ban hành, nó có thể làm phá sản tất cả các điều luật đã được một QH cộng sản thông qua, Chắc chắn sẽ có biểu tình phản đối những điều luật bất công và mang đảng tính này, rất nhiều.

Một tòa nhà quốc hội cộng sản khoảng 5000 tỷ VND sắp vận hành "chạy thử" như một con tàu ngầm lớp kilo rầm rộ hạ thủy!!!, giá thực tế nghiệm thu của nó cũng chỉ khoảng dưới 8000 thôi, là một con số đáng "ao ước" mà người đóng góp làm nên nó sẽ không bao giờ được biết.

Ông Nguyễn Sinh Hùng đã đi vào lịch sử nước cộng sản Việt Nam khi làm nên bản hiến pháp mới thần thoại, ngôi nhà mới quốc hội huyền thoại. Những người chưa thoát chuẩn nghèo trong gia tộc ông sẽ chắc chắn trở nên người không nghèo vì những món lại quả cho phép trong phạm vi tình cảm mà công trình của cơ quan quyền lực nhất mang lại.

Chỉ đoán rằng những đạo luật được sinh ra từ ngôi nhà mới này sẽ rất tiện nghi và máy lạnh. Chỉ biết rằng thường dân tiếp tục nhớ cho thêm sâu kỹ câu răn mình của ông bà: "tự mình phải cứu lấy mình là chính".

Ông Thủ tướng đã nợ vĩnh viễn thường dân Việt Nam một cuộc biểu tình rất bình thường, nếu có nó cơm áo sẽ trở nên no và ấm mặc dù không nhiều.

Một đạo luật chống biểu tình mà đảng cầm quyền luôn hiểu lầm trầm trọng là chính nó sẽ làm lật đổ chính quyền sẽ không bao giờ mang thai và giáng sinh trong ngôi nhà mang tên sản, ngôi đền luôn có những tên hôn quân ngồi hàng ghế đầu.




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu

image
Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...


Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)
















Ha ha ha !
Hố hố hố !
Không biết làm thịt em nào trước đây?
xem thêm





Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-






__._,_.___

Posted by: hung vu 

Bi kịch của kẻ sĩ dưới chế độ Đảng trị


Bi kịch của kẻ sĩ dưới chế độ Đảng trị 

Những Danh Hài Chính Trị ở Việt Nam

 

https://www.youtube.com/watch?v=3NvI4Q2rgO8

Nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913-15/8/2014)
Chế độ Đảng trị ở Việt Nam mới tồn tại được 70 năm nhưng nó đã gây ra vô vàn bi kịch cá nhân và tập thể. Trong các triều đại phong kiến, chưa thấy sử sách nào ghi lại một cuộc cải cách ruộng đất có quy mô hủy diệt và quy mô đau khổ giống như cuộc cải cách ruộng đất thời Đảng trị, cũng chưa thấy cuộc đàn áp trí thức nào giống như cuộc đàn áp Nhân văn Giai phẩm. 

Chế độ phong kiến nói chung là còn biết tôn trọng trí thức. Sĩ, nông, công, thương. 

 được xếp đầu tiên. Nhưng đến thời “cách mạng vô sản” thì mọi chuyện thay đổi. Lãnh tụ vô sản Trung Quốc “Hoàng đế” Mao Trạch Đông là kẻ sùng bái bạo lực: “Súng đẻ ra chính quyền”, coi thường trí thức: “Trí thức là cục phân”.

 Ở Việt Nam, không thấy nhà lãnh đạo nào dám “lập ngôn” kiểu Mao – tuy từ rất lâu cũng đã nghe truyền ngôn một thành ngữ được cho là của ông Đảng trưởng Trần Phú: “Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” – nhưng trong thực tế, họ lại hành xử theo kiểu Mao. 

Chưa thấy cá nhân nào, tổ chức nào làm cái việc thống kê xem Cuộc cải cách ruộng đất 1953 – 1955 có bao nhiêu người bị giết, bao nhiêu gia đình bị đẩy vào cảnh cùng đường, bao nhiêu người bị tù đày? 

Không ai biết, không ai thống kê, nhưng chắc chắn con số đó phải hàng triệu. Cũng chưa ai biết vụ Nhân văn Giai phẩm có bao nhiêu trí thức bị đàn áp, ngồi tù, thân bại danh liệt mà nguyên nhân nhiều khi chỉ là một câu nói rất vớ vẩn. Chắc chắn phải là hàng nhiều nghìn.

Vậy tại sao trường hợp ông Nguyễn Hữu Đang lại được quan tâm nhiều như vậy? Bởi vì ông có một số phận đặc biệt. Còn rất trẻ, ông đã là Thứ trưởng trong chính quyền, ông là nhà truyền giáo cách mạng hùng hồn bậc nhất mặc dù không để lại nhiều trước tác. 

Sau nữa, ông là người được Hồ Chí Minh giao trách nhiệm dựng lễ đài đọc Tuyên ngôn độc lập 2.9.1945. Nhưng cái làm cho nhiều người “mê” ông chính vì ông là một nhà cách mạng nhiệt thành và hơi… cuồng tín. Cho đến chết ông vẫn coi cách mạng là một thứ gì đó vô cùng đẹp đẽ, kỳ vĩ. 

Dao sắc không gọt được chuôi, vị đại diện thông minh, tài giỏi, hào hùng và trung thành của cách mạng đã không tự cứu được mình khi dám cả gan đòi cho giới văn nghệ một không gian sống và không gian nghệ thuật dễ thở hơn, tự do hơn. 

Kết quả là đứa con cưng của cách mạng đã bị cách mạng xóa sổ: kết án 15 năm tù. Ra tù phải ăn cả cóc nhái rắn rết để tồn tại và cùng quẫn đến mức phải lo tìm một chỗ bờ bụi nằm chết một mình cho yên thân.

Rất nhiều người đã nhìn thấy thân phận người trí thức, thân phận con người qua thân phận Nguyễn Hữu Đang. 

Tuy nhiên điều chua chát là cho đến nay trí thức – chúng tôi muốn nói chủ yếu đến lớp trí thức trong khuôn – vẫn là đàn cừu dễ chăn, bị đánh thì cũng chỉ biết chạy, vẫy đuôi và kêu be be. Bằng chứng rõ ràng nhất là vụ án Nhã Thuyên – một phiên bản thu nhỏ của vụ Nhân văn Giai phẩm. 

Có hàng triệu người được coi là trí thức nhưng bao nhiêu người dám đứng ra bênh vực Nhã Thuyên? Vụ án Nguyễn Hữu Đang dù đã trôi qua hơn nửa thế kỷ mà vẫn còn nguyên tính chất thời sự. Nghĩa là… chiếc Đèn cùvẫn đang tiếp tục xoay, dù nến đã lụi nhưng vẫn chưa tắt.

Xin có một vài lời tưởng nhớ nhà cách mạng có tư tưởng tự do Nguyễn Hữu Đang nhân ngày sinh thứ 101 của ông (15.8.1913 -15.8.2014) và xin lưu ý rằng rất nhiều người yêu tự do không kém gì Nguyễn Hữu Đang đang ngồi sau chấn song sắt nhà tù.

 Mấy chục năm qua bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, riêng chế độ đảng trị vẫn đứng lại, vẫn như cũ, nghĩa là cơ chế để tạo ra các bi kịch vẫn còn nguyên vẹn.

Bauxite Việt Nam
Nguyễn Hữu Đang: một bi kịch lớn
Lê Thọ Bình

Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhảy tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn Giai phẩm”.
Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”.

Hành trình bài bút ký
Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc tại Thái Bình, quê ông.

Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai,đầu đội chiếc mũ lá tuềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. 

Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn Giai phẩm” đây sao!

Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang.Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.

Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (nay làTuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí nhưĐại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.

Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm“Nhân văn Giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được “phục hồi”, năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy,cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.

6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thôn ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.

Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được.Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng.Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông.

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô
Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa.Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc.Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa– kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?

Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.

Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.

Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đày, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc- nhái- chuột- rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.

Thấy mấy cuốn sách,vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường,tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chậm chạp, run rẩy đứng dậy khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. 

Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông.

 Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoaPetit Larousse in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hở bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe:“Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.

Câu cuối ông nói ra vừa có gì giễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác – kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ!

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai?
Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản “Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang” do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học Trường Sư phạm Hà Nội.

Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo(cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu).
Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên Ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, Trưởng ban Dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.
Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và Thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.
Năm 1943-46 ông tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá Cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1945 ông tham dự Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng ban Tổ chức Ngày lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.
Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.
Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.
Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.
Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha Bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4-1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân văn, giúp đỡ tập san Giai phẩm.
Phong trào “Nhân văn Giai phẩm”
Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân văn Giai phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).
Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là”sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết”. Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.
Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: “Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn nghệ– VN) rằng: “Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai phẩm Mùa xuân nó làm”.
Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: “Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang”.Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong Ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân văn, nhưng vô hiệu”.
Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, “đầu sỏ”. Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo.Thông qua tờ báo Nhân văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị… “.

Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân văn Giai phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.

Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. 

Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu, v.v. Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.
Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.
Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1).Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2).Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (3).Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi”.
Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.
Sau này có lần Nguyễn Hữu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!”.
Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam?
Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài– tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?” – “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… – phiên tòa bao gồm những người ủng hộ Chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn – họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.
Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”.
Mối tình bi thương
Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.
Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.

Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngả màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị… không thích đua đòi”.

Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?… Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”… Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.
Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời… Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.

Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.

Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm Chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được một vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.

Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.
Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của mình như sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. 

Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “Tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. 

Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “Vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”…

Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”…

Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.

Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.

Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau.
Trường Sa
Tháng 4 năm 2014 
L.T.B.


P/v nhà báo Phạm Chí Dũng về chuyến đi thăm VN của Đại Tướng Mỹ


P/v nhà báo Phạm Chí Dũng về chuyến đi thăm VN của Đại Tướng Mỹ


Trung Quốc chỉ đạo cứu Nguyễn Tấn Dũng ?
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Ngoại trưởng Mỹ: Pháp luật là chìa khóa giải quyết tranh chấp Biển Đông
  • Viện Lowy: Các nước cần liên minh ứng phó với TQ
  • Mỹ sẽ giám sát 'các đảo đá, đảo san hô, và bãi cạn' ở Biển Đông
  • Ngoại trưởng Mỹ ca ngợi mối quan hệ với Việt Nam
  • Mỹ kêu gọi các nước có tranh chấp ở Biển Đông duy trì hòa bình
  • Trung Quốc phản đối đề nghị của Mỹ về Biển Đông
  • Mỹ tố cáo Trung Quốc gây căng thẳng ở Biển Đông

Ðường dẫn

14.08.2014
Thưa quý vị, tướng lãnh cao cấp nhất quân lực Hoa Kỳ, Đại Tướng Martin Dempsey, đang có mặt tại Việt Nam trong một chuyến đi thăm lịch sử, được thực hiện trong bối cảnh căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn cao, và làn sóng phẫn nộ dâng trào trong công chúng Việt Nam sau khi Bắc Kinh kéo giàn khoan 981 của nước này vào hoạt động trong vùng biển Việt Nam vẫn còn, cho dù Bắc Kinh đã rút giàn khoan ra khỏi khu vực tranh chấp trước thời hạn loan báo.
Tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Martin Dempsey duyệt hàng quân danh dự cùng Tướng Đỗ Bá Tỵ trong buổi lễ chào đón tại Bộ Quốc phòng ở Hà Nội, ngày 14/8/2014.

Chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, tin rằng chuyến công du của Đại Tướng Dempsey là dấu hiệu tích cực mới nhất trong quan hệ giữa hai nước cựu thù, diễn ra tiếp theo sau chuyến đi thăm Việt Nam của hai nghị sĩ Mỹ, kể cả Thượng nghị sĩ John McCain, một cựu tù nhân chiến tranh từng bị giam cầm tại nhà giam Hỏa Lò ở Hà nội– mà tù binh Mỹ dí dỏm đặt cho cái tên “Hanoi Hilton”. 

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt ngữ-VOA, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đề cập đến một kịch bản có khả năng diễn ra, kịch bản Miến điện, dù xác suất hãy còn rất thấp, nhưng thể hiện một sự mong mỏi rằng những căng thẳng hiện tại với Trung Quốc có thể chuyển thành một cơ hội để Việt Nam thoát khỏi vòng ảnh hưởng của nước láng giềng khổng lồ từ lâu vẫn không từ bỏ ý đồ xâm chiếm bằng cách dần dần gậm nhấm lãnh thổ Việt Nam.

 Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn sau đây với Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, do Hoài Hương thực hiện.

VOA: Xin Tiến sĩ một nhận định về ý nghĩa của chuyến đi thăm mà báo chí thế giới mô tả là lịch sử của Đại Tướng Tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ tới Việt Nam?      
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Tôi cho đây là một tín hiệu khả quan, tín hiệu này đã bắt đầu từ hồi tháng Tư năm 2013, về cuộc giao lưu hải quân đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Việt Nam tại Đà Nẵng với 3 tàu quân sự của Hạm Đội 7.
Bấm vào để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn nhà báo Phạm Chí Dũng

VOA: Dạ thưa chuyến đi này diễn ra giữa lúc Việt Nam đang cần tới Hoa Kỳ như một lực đối trọng – có thể nói là duy nhất để đối phó với chính sách bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Có dấu hiệu cho rằng Hoa Kỳ sắp sửa tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam, thì theo ông có những sự mặc cả nào ở hậu trường trước khi điều đó diễn ra và liệu có nhà bất đồng chính kiến nào sắp được thả ra trong cuộc mặc cả này không ạ? 
     
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là đã có một sự mặc cả, và tôi cho trên cả sự mặc cả, đó là một sự thỏa thuận giữa hai nhà nước với nhau. Điều đó đã được tuyên bố một cách rõ ràng bởi ông John McCain trong chuyến đi thăm Hà nội vừa qua. Dân chủ và nhân quyền luôn luôn là điều kiện tiên quyết đi kèm với các hiệp ước về an ninh và kinh tế giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ. Và gần đây cũng có những dư luận, mặc dù chưa chính thức mà là thông tin ngoài lề cho là trường hợp có khả năng được trả tự do trong thời gian tới, nhiều khả năng nhất là Điếu Cày Nguyễn văn Hải; thứ hai là một blogger vừa bị bắt vào tháng Năm vừa qua là ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, và một người nữa mà người ta cũng khó hình dung ra là Trần Huỳnh Duy Thức với án như vậy là 16 năm, cũng có thể được ra. Đó là những dư luận không chính thức, ngoài lề thôi, nhưng mà dù sao điều đó phản ánh một sự trông chờ vào Hoa Kỳ và nhà nước Việt Nam đương nhiên phải trả một cái giá nho nhỏ, là thả những nhân vật bất đồng chính kiến và tù nhân lương tâm. Và cho dù nếu không phải là những nhân vật mà tôi vừa nhắc tới thì cũng sẽ có những nhân vật khác thế chỗ vào. Và có thể hy vọng rằng có một chút nhen nhóm nào đó nó giống như là tái lập kịch bản của Miến Điện cách đây 3 năm.
VOA: Dạ thưa ông có quá lạc quan hay không khi nghĩ là Việt Nam có thể đi theo kịch bản Miến Điện?    
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Tôi mới chỉ nói là nhen nhóm mà thôi. Xác suất cho sự nhen nhóm đó cho tới nay theo tôi chỉ mới có khoảng từ 2 tới 3%. Nhưng mà dù sao so với trước đây vẫn còn khả quan hơn vì trước đây không có phần trăm nào cả. Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu từ sự kiện giàn khoan Hải Dương 981của Trung Quốc đi vào vùng biển của Biển Đông, và sau đó gây ra hàng loạt sự kiện tiếp theo kể cả về mặt đối ngoại và thế đối trọng mà chị vừa nhắc, đề cập tới Mỹ là đối trọng duy nhất đối với Trung Quốc, không chỉ liên quan tới Việt Nam mà cả trên thế giới hiện nay. Điều đó cho thấy có một khả năng nhà nước Việt Nam phải nhìn vào kịch bản Miến Điện như là một tiền lệ đã có sẵn và họ chỉ việc áp dụng mà thôi.
VOA: Thưa theo chỗ ông biết thì trong giới lãnh đạo cao cấp hiện nay - trong Bộ Chính Trị ấy, có nhân vật nào đang vận động để Việt Nam nắm lấy cơ hội này để mà thay đổi và hòa nhịp với thế giới không ạ?      

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Chuyến đi của ông Phạm Quang Nghị rõ ràng là đã đạt được một thỏa ước, một thỏa thuận nào đó, cho dù thỏa thuận đó là không công khai. Nhưng mà cuối cùng thì đã dẫn đưa tới chuyến đi của ông John McCain và của ông Sheldon Whitehouse đến Việt Nam. Sự xuất hiện của hai nghị sĩ đó cho thấy phía sau họ là cả một Quốc hội Hoa Kỳ. 

Mà nhà nước Việt Nam bây giờ lại đang rất cần tới sự vận động của quốc hội Hoa Kỳ, trước mắt là để giảm áp lực chống chế về việc gây sức ép không muốn cho Việt Nam tham gia vào Hiệp định Đối tác Thương mại Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương- TPP .
*
Thưa quý vị, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng là Chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam (Independent Journalists Association of Vietnam - viết tắt là IAJV). Ban Việt ngữ- VOA xin chân thành cảm tạ Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

Tại sao Trung Quốc rút giàn khoan?

Giàn khoan của Trung Quốc được rút khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Căng thẳng Mỹ-Trung gia tăng vì vấn đề Biển Đông
  • Mỹ sẽ giám sát 'các đảo đá, đảo san hô, và bãi cạn' ở Biển Đông
  • Mỹ kêu gọi các nước có tranh chấp ở Biển Đông duy trì hòa bình
  • Trung Quốc phản đối đề nghị của Mỹ về Biển Đông
  • Mỹ tố cáo Trung Quốc gây căng thẳng ở Biển Đông

Hình ảnh/Video

Video

Ấn Độ kêu gọi tự do hàng hải ở Biển Đông

Video

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 12/8/2014

Ðường dẫn

14.08.2014
Trung Quốc đã rút giàn khoan ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần 1 tháng trước kế hoạch và căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc dường như lắng xuống sau động thái này, nhưng vấn đề Biển Đông lại nóng lên vào cuối tuần vừa qua khi các bộ trưởng ngoại giao ASEAN nhóm họp ở Myanmar.

 Linh Đan của VOA Việt Ngữ đã nói chuyện với các nghị sỹ Mỹ và 1 số chuyên gia để tìm hiểu xem đâu là nguyên nhân chính cho việc Trung Quốc rút giàn khoan? Việc đó có dấy lên một lo ngại về lâu dài cho khu vực và thế giới không và Việt Nam cần làm gì để đối phó với Trung Quốc nếu họ tiếp tục gây xung đột với các nước trong khu vực và đe dọa an ninh hàng hải quốc tế?

Theo các chuyên gia, có nhiều nguyên nhân khiến Trung Quốc rút giàn khoan sớm hơn dự định ban đầu khoảng 1 tháng nhưng có một điều khá rõ là Trung Quốc muốn giảm sức ép từ phản ứng của quốc tế và tránh việc Việt Nam sẽ tiến hành những bước tiến mạnh mẽ hơn để đối phó với họ.

Việc các nhà lãnh đạo đảng của Việt Nam dự định nhóm họp để ra quyết định về việc thực hiện các hành động pháp lý đối với Trung Quốc và cuộc họp của các bộ trưởng ASEAN tại Myanmar cuối tuần qua được coi là những yếu tố chính khiến Trung Quốc rút giàn khoan sớm hơn dự kiến.
Giáo sư Carl Thayer

Giáo sư Carl Thayer của trường Đại học New South Wales, một trong những chuyên gia về Việt Nam nói với VOA Việt Ngữ:
“Trung Quốc và các nhà ngoại giao của họ biết rằng Việt Nam chuẩn bị nhóm họp trong 1 cuộc họp quan trọng của ủy ban Trung Ương Đảng để thông qua việc tiến hành các hành động pháp lý chống lại Trung Quốc và có thể tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ. Do đó Trung Quốc đi trước một bước bằng cách dời giàn khoan đi sớm hơn và giúp khởi đầu các cuộc thương lượng với lãnh đạo Đảng Việt Nam.

Giáo sư Thayer cho rằng Trung Quốc cũng bị áp lực bởi sự chỉ trích của chính quyền Obama trước những hành động khiêu khích của họ trên Biển Đông và diễn đàn ASEAN tại Myanmar, nơi Mỹ dẫn đầu một chiến dịch để “đóng băng” các hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Mối quan tâm lớn nhất của Trung Quốc là né tránh tình trạng bị cô lập… Họ bị sức ép từ ASEAN, từ các tiếp cận pháp lý của Mỹ và đó là mối lo lắng nói chung của Trung Quốc. Do đó Trung Quốc dời giàn khoan đi để chuyển sự đối đầu vật chất trên biển thành sự đối đầu ngoại giao.”

Giáo sư Jonathan London của trường Đại học Thành Thị Hồng Kông, cũng là một chuyên gia về Việt Nam, cho rằng Trung Quốc bị “bất ngờ về phản ứng không chỉ của Việt Nam mà của toàn khu vực và thế giới.”

Ông nói với VOA Việt Ngữ:
“Những phản ứng của Việt Nam và quốc tế trong đó có Mỹ, Nhật… đã gây áp lực lên Trung Quốc và nếu nhìn một cách tổng thể có thể thấy lợi thế của Trung Quốc trong vấn đề này đã giảm xuống bởi vì toàn khu vực và thế giới thấy hành động của Trung Quốc là bất chính đáng.”
Thượng nghị sĩ John McCain và Kelly Ayotte (trái) nói chuyện tại cuộc họp báo trong thủ đô Washington
Trong lúc chính phủ Việt Nam vẫn chưa thống nhất để đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp trên biển với Trung Quốc bằng luật pháp quốc tế, thì chính phủ Hoa Kỳ đã có những động thái để cảnh báo và răn đe Trung Quốc như ra các tuyên bố phản đối đường 9 đoạn và việc đặt giàn khoan trong vùng lãnh hải mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền và gần đây nhất là ra nghị quyết về an ninh và tự do hàng hải ở châu Á Thái Bình Dương, gọi tắt là SR412.

Thượng nghị sỹ Mỹ Kelly Ayotte nói với VOA rằng việc Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết SR412 có tác động đến quyết định dời dàn khoan của Trung Quốc:

“Chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ tôn trọng chủ quyền của các nước khác và tự do đi lại trên biển của tất cả các nước cho mục đích thương mại. Chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào vấn đề này ở Quốc hội Mỹ.”

Thượng nghị sỹ Benjamin Cardin, một trong những nhà bảo trợ của Nghị quyết SR412 và gần đây đã có chuyến thăm tới Việt Nam hồi tháng 5, nói ông hy vọng nghị quyết sẽ có ảnh hưởng tới các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông trong tương lai.

Ông nói với VOA Việt Ngữ:
“Chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc muốn có một mối quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ và Hoa Kỳ cũng muốn có một mối quan hệ tốt hơn với Trung Quốc. Đã có những tiến triển lớn và Trung Quốc quan tâm chú ý tới những gì chúng tôi làm ở Quốc hội và chúng tôi cũng quan tâm tới những gì họ làm.”

Theo tiến sỹ London, nghị quyết SR412 “sẽ ảnh hưởng tới môi trường chiến lược xoay quanh vấn đề tranh chấp biển Đông Nam Á.”:

“Những bước Trung Quốc làm và những gì Mỹ làm sẽ có sự quan trọng của nó qua một thời gian rất lâu trong tương lai và vì thế tôi thấy chính phủ Mỹ - cụ thể là những lãnh đạo của Thượng Viện và Hạ Viện, kể cả tổng thống Barack Obama – đều thấy là vấn đề biển Đông Nam Á là một vấn đề hết sức quan trọng mà sẽ yêu cầu sự quan tâm theo dõi của cả chính phủ Mỹ trong thời gian tới. Vì thế mà việc Thượng Viện Mỹ ra tuyên bố cũng phản ánh điều đó.”
Nghị quyết SR412 được Thượng Viện Mỹ thông qua ngày 10 tháng 7, gần một tuần trước khi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Một dự thảo nghị quyết tán đồng bán vũ khí cho Việt Nam cũng được đệ trình lên Hạ Viện Mỹ tuần trước.

Cuối tuần vừa rồi, Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain cũng có chuyến thăm làm việc tại Việt Nam nhằm trao đổi các vấn đề an ninh song phương và khu vực. Cùng đi với ông McCain, một người góp tiếng nói mạnh mẽ trong cải thiện quan hệ Việt-Mỹ và là cũng là một trong những người giới thiệu nghị quyết SR412 ra Thượng Viện, có thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse. Chỉ vài ngày trước đó một thượng nghị sỹ khác của Mỹ là ông Bob Corker cũng đến Hà Nội để bàn thảo các vấn đề tương tự.

Tháng trước, ủy viên bộ chính trị và đồng thời là bí thư thành ủy Hà Nội, Phạm Quang Nghị, đã đến Mỹ và gặp gỡ một số chính sách cao cấp của Washington, trong đó có ông McCain, trong một chuyến công du được coi là nhằm thúc đẩy tiến trình xích lại gần hơn với Hoa Kỳ của Hà Nội. 

Việt Nam cũng đang ráo riết đàm phán với Mỹ để có thể tham gia vào hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương, được coi là một bước tiến quan trọng giúp Việt Nam giảm bớt sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Tuy nhiên vấn đề nhân quyền của Việt Nam đang là rào cản chính cho việc thương thảo này.


Có lẽ Việt Nam và Mỹ đang xích lại gần nhau hơn nhưng, theo các chuyên gia, các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam còn chưa đồng lòng về việc có nên thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc về chính trị và liên minh với Hoa Kỳ hay không. 

Nhiều người cho rằng để đối phó với các sách lược lâu dài của Trung Quốc, Hà Nội cần phải nghiêm chỉnh xem xét tới việc này.

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link