Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, September 7, 2014

Quyền được biết


Quyền được biết

Huỳnh Anh Tú: Chúng Tôi Muốn Biết








Song Chi - ...Phong trào “Chúng tôi muốn biết” do Mạng lưới Blogger Việt Nam phát động... Hình ảnh những con người khác nhau, phần lớn là những khuôn mặt quen thuộc của các cựu tù nhân lương tâm, nhà bất đồng chính kiến, nhà hoạt động nhân quyền, các thanh niên, sinh viên, blogger... cầm những tấm biểu ngữ với dòng chữ “Tôi muốn biết - I want to know”, “Được biết là quyền công dân - It’s our right to know” v.v... 

Chỉ giản dị thế thôi, nhưng phong trào thật sự có ý nghĩa... Từ “tôi muốn biết”, sẽ chỉ là một khoảng cách ngắn đi đến chỗ “tôi muốn thay đổi”, và “chúng tôi muốn sống tốt đẹp hơn”. “We want to change. Can we change? Yes, we can”. Như thông điệp ứng cử của Tổng thống Barack Obama trước đây...

 

*

 

Mọi chế độ độc tài và không chính danh đều tồn tại dựa trên sự dối trá và bạo lực. Điều đó cũng không khác, trong trường hợp của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.

 

Đảng và nhà nước cộng sản vừa tổ chức kỷ niệm 69 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2 tháng Chín, 1945-2 tháng Chín, 2014). Cũng là 69 năm đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo ở miền Bắc và 39 năm trên toàn đất nước, sau ngày 30 tháng Tư, 1975.

 

Nhìn lại quãng thời gian dài đó, người dân Việt Nam toàn bị đảng cộng sản lừa dối. Đảng viết lại lịch sử, đổi trắng thay đen, đánh tráo các khái niệm. Đảng vẽ ra những cái bánh Tự Do, Độc Lập, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội tươi đẹp để mỵ dân. Đảng sử dụng học thuyết Marxism-Leninism mà thế giới đã vứt vào sọt rác từ lâu, cộng với tư tưởng Hồ Chí Minh do đảng cố nặn ra, để trói buộc từ tư tưởng cho tới tâm hồn của nhân dân.

 

Người dân còn bị đảng cộng sản bịt mắt, bịt tai, bịt miệng không cho nhìn/nghe/nói lên những sự thật.

 

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet, sự giao lưu hội nhập với thế giới bên ngoài, nhiều người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau đã dần dần tìm biết được nhiều điều.

 

Sự thật về nhân vật lãnh tụ Hồ Chí Minh, về tính chính danh và công lao giành lại độc lập cho đất nước, dân tộc, công lao đánh Pháp đuổi Mỹ của đảng cộng sản, nhất là sự thật về cuộc chiến tranh chống “đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước”.

 

Sự thật về mối quan hệ bất xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung trong suốt mấy chục năm qua, khi từ tài nguyên của đất nước cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải thiêng liêng bị mất hoặc được dâng, cúng cho “người bạn láng giềng phương Bắc”.

 

Sự thật về thực trạng xã hội mọi mặt của đất nước cũng như vị trí của Việt Nam hiện tại đang đứng ở đâu trên thế giới…

 

Mọi thứ dần dần được phơi bày.

 

Sự thật chính là điều mà mọi chế độ độc tài toàn trị trên thế giới đều sợ hãi.

 

Nhưng dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng và nhà nước cộng sản, vẫn chỉ mới có một phần sự thật của lịch sử bị rò rỉ. Rất nhiều thông tin, sự kiện liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, đã và đang xảy ra, vẫn còn trong vòng bí mật. Trong đó có những thông tin, sự kiện vô cùng nghiêm trọng, ví dụ như những Hiệp định được ký kết bí mật giữa hai đảng, hai nhà nước cộng sản Việt-Trung bao lâu nay, đặc biệt là Hội nghị Thành Đô 1990 mà người dân chỉ có thể đồn đoán.

 

Từ trước đến nay, đảng và nhà nước cộng sản luôn luôn hành xử như thể đất nước này là của riêng của đảng, đảng muốn làm gì thì làm, nhân dân không được quyền hỏi, không được quyền biết.

 

Đã đến lúc người dân phải đòi lại cho mình cái quyền chính đáng là quyền được biết.

 

Thời gian qua rất nhiều lần các nhân sĩ, trí thức, các cá nhân, tổ chức dân sự khác nhau đã thực hiện quyền được biết đó thông qua việc gửi các loại kiến nghị đòi hỏi nhà cầm quyền phải có câu trả lời, hoặc phải hành động. Tất nhiên, nhà cầm quyền không bao giờ hồi đáp cũng như hoàn toàn không muốn đối thoại.

 

Và những ngày gần đây lại nổi lên hai sự việc. Một là phong trào “Chúng tôi muốn biết” do Mạng lưới Blogger Việt Nam phát động. Hình ảnh những con người khác nhau, phần lớn là những khuôn mặt quen thuộc của các cựu tù nhân lương tâm, nhà bất đồng chính kiến, nhà hoạt động nhân quyền, các thanh niên, sinh viên, blogger... cầm những tấm biểu ngữ với dòng chữ “Tôi muốn biết - I want to know”, “Được biết là quyền công dân - It’s our right to know” v.v...

 

Chỉ giản dị thế thôi, nhưng phong trào thật sự có ý nghĩa. Bởi, đất nước này là của hơn 90 triệu con dân Việt Nam. Mọi chủ trương, chính sách, hành động của đảng và nhà nước, nhân dân phải được biết, nhân dân có quyền tham gia bàn bạc, phủ quyết hoặc chấp nhận. Nếu đảng và nhà nước nào đi ngược lại điều đơn giản này thì phải bị loại trừ.

 

Sự kiện thứ hai là kiến nghị của một số cựu sĩ quan Lực lượng vũ trang nhân dân gửi Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ CHXHCN Việt Nam, trong rất nhiều đòi hỏi đối với nhà cầm quyền, cũng lại có “quyền được biết”:

 

Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và lực lượng vũ trang phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ ràng với Nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo và các hợp đồng kinh tế ảnh hưởng lớn đến an ninh và chủ quyền của Quốc gia. Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây... Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990...

 

Một điều chắc chắn rằng kiến nghị này cũng sẽ rơi tõm vào cái hố đen mịt mùng của sự im lặng, từ phía nhà cầm quyền. Như từ trước đến giờ vẫn thế.

 

Nhưng, khi nhà cầm quyền càng tiếp tục đánh bài lờ, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

 

Thứ nhất, ngay trong những người còn cố biện minh, còn cố tin vào đảng và nhà nước cộng sản, cũng sẽ cảm thấy sự hồ nghi và đánh giá của nhân dân dành cho cái đảng này, nhà nước này là đúng. Nghĩa là một đảng cầm quyền không chính danh, độc tài và bán nước.

 

Nếu sự mất mát lòng tin ấy không chỉ trong nhân dân, giới trí thức, bất đồng chính kiến mà từ các cựu sĩ quan gửi thư kiến nghị, lan rộng ra cả trong quân đội, công an, đảng viên, từ người lính đến tướng tá, thì số phận của đảng cộng sản thực sự rủi ro. Quân đội mà nổi dậy đòi đảo chính, làm cách mạng thì nhà cầm quyền tiêu tùng.

 

Thứ hai, sự im lặng đánh bài lờ của đảng chỉ khiến cho các loại tin vỉa hè, tin ngoài luồng hay tin đồn khác nhau, càng có đất sống, sinh sôi nảy nở ở đất nước này. Đã là tin vỉa hè, tin đồn thì khó mà ngăn ngừa hay dập tắt được. Một xã hội mà tin đồn luôn luôn nhanh nhạy, phong phú hơn, mạnh hơn tin chính thức, chứng tỏ xã hội đó không có sự công khai, minh bạch đồng thời cũng chứng tỏ sự bất lực của nhà cầm quyền.

 

Những thông tin chưa được xác thực sẽ tàn phá lòng tin còn sót lại, nếu có, của người dân đối với nhà cầm quyền nhanh hơn bao giờ hết.

 

Và cuối cùng, trong những sự kiện có liên quan đến hai quốc gia, khi nhà cầm quyền Việt Nam không tìm mọi cách giải thích, thông tin chính thức cho người dân thì chỉ làm lợi cho Trung Cộng.

 

Bắc Kinh thừa biết Hà Nội khiếp sợ sự thật, luôn tìm cách che chắn sự thật trước nhân dân, cho nên cứ lâu lâu họ lại tung ra tin này tin khác. Từ những thông tin úp mở về nhân thân của ông Hồ Chí Minh cho đến các thỏa thuận, ký kết bí mật giữa hai đảng, càng làm cho nhà nước Việt Nam bị “mất điểm” trong mắt nhân dân và thế giới.

 

Về phía người dân Việt Nam, từ “tôi muốn biết”, sẽ chỉ là một khoảng cách ngắn đi đến chỗ “tôi muốn thay đổi”, và “chúng tôi muốn sống tốt đẹp hơn”.

 

“We want to change. Can we change? Yes, we can”. Như thông điệp ứng cử của Tổng thống Barack Obama trước đây.

 

Song Chi FB

 

danlambaovn.blogspot.com


Cô giáo Xuân Mai - Tôi muốn biết



Từ thoát Trung, thoát…, đến thoát “hệ lụy”?

Hạ Đình Nguyên

Có ba vấn nạn cho Việt Nam hôm nay:

– Trung Quốc Cộng sản đang là một đe dọa nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam.
– Thể chế nhà nước Việt Nam đang là một thể chế bất hợp lý, độc tài và tham nhũng.
– Ý thức hệ mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang theo đuổi, chính xác là một ảo tưởng.
Vận nước cũng giống quy trình của một đời người: “Một thời để yêu, một thời để chết” (tên một tác phẩm của Maria Remarque). Nói theo phong cách triết học hiện đại thế kỷ 20: Một thời dấn thân (s’engager), một thời tháo gỡ (desengager).

Việt Nam đang tuột vào con dốc ứng với vế hai của quy trình, một thời để chết, hoặc một thời tháo gỡ. Do đó, các từ ngữ thoát Trung, thoát Cộng, hay thoát Ảo… xuất hiện, và có chỗ đứng chính đáng của mình, nó biểu hiện nổi trăn trở của một giai đoạn có nhiều nguy cơ biến động, mà Việt Nam đang đối diện.

Đó là những từ ngữ đang nhảy múa trong đầu mỗi người dân hôm nay. Cái nào trước cái nào, cái nào chính, cái nào phụ đang là sự tính toán của những người làm chính trị, hoặc là những người quan tâm đến thời cuộc. Đảng Cộng sản Việt Nam với khoảng ba triệu cái đầu sáng tối khác nhau, cũng không dễ có sự thống nhất đơn giản.

Thoát Trung
Chiếc giàn khoan HY 981 đã mở tung nắp đậy chiếc quan tài lịch sử, từ đó bật lên tiếng kêu thất thanh “thoát Trung” của dân Việt. Tiếng kêu ấy ngày càng trở nên khẳng định và quyết liệt, nhắm vào kẻ xâm lược, đồng thời liền theo đó, xuất hiện một câu hỏi lớn của nhân dân về vai trò và trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay.

Câu hỏi đó vừa có tính chất lịch sử, vừa là dự báo cho một chuyển biến mới, mà Đảng Cộng sản Việt Nam không thể không tự trả lời mình, và trả lời cho dân chúng, cũng là cho quá khứ và cho tương lai.

Thoát Trung là một nhận thức đã trở thành ý chí, gần như một khẩu hiệu tự phát của các tầng lớp nhân dân được lan truyền nhanh chóng trong cả nước, kề từ sau ngày 2 tháng 5, khi chiếc giàn khoan HY981 xuất hiện, hạ neo ở vùng lãnh hải Việt Nam.
Sự kiện giàn khoan minh chứng một cách công khai, trắng trợn âm mưu của Tàu chiếm đoạt Biển Đông, uy hiếp chủ quyền Việt Nam. Từ đây, Tập Cận Bình cũng đã mặc nhiên công khai xé toạc “thông cáo chung” giả dối mà Hồ Cẩm Đào ký kết với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, một cách đáng mỉa mai thay, qua đó xác định Tàu là nước đối tác “chiến lược và toàn diện”. Với nó, Tàu đã trùm bóng đen lên đầu Việt Nam.

Thì ra, những sự thật lịch sử đau lòng ẩn bên dưới các “thông cáo chung” đã từng úp mở và che đậy, nay đã được phơi bày: Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các thông tin tiết lộ về hội nghị Thành Đô, từ hồi ký của cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ, từ Wikileaks, từ báo Hoàn Cầu và truyền thông nhà nước Trung Quốc, đã hội tụ và khắc họa nên một bức tranh sự thật, dù Đảng Cộng sản Việt Nam chưa công khai bạch hóa cho dân chúng biết, nhưng sự thật có vẻ ê chề ấy được minh chứng và lý giải qua các thực tế diễn ra hơn hai thập kỷ trên khắp đất nước Việt Nam.

Đó là vấn đề “xét lại” – một từ ngữ từng nhuộm máu đó đây – toàn diện, mang tính đồng loạt, hay đúng hơn, là sự bừng tỉnh cộng đồng sau cơn mê dài, là cái phần đuôi còn lại của một thời kỳ xã hội chủ nghĩa đã sang trang. Nó trở thành nỗi lo âu và giận dữ chính đáng, cấp bách, rộng lớn, của nhiều thành phần dân chúng, cả cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền. Nó không hề là một “phản ứng” cục bộ, sự vụ, lẻ tẻ để có thể đáp ứng dễ dàng, hay là lời giải thích dễ dãi, hoặc là bị bóp chết từ trong trứng nước nếu ai đó muốn.

“Thoát Trung” mang ý nghĩa cụ thể: thoát ra khỏi vòng vây chiến lược “đại cục” của Trung Quốc về các hình thái xâm lược bằng sức mạnh mềm, và sức mạnh bạo lực đang diễn ra, được thể chế hóa, công khai hóa qua các “thông cáo chung” và các ký kết khác của hai bên, bao gồm mọi mặt, từ tư tưởng Đại Hán mang danh chủ nghĩa xã hội, hình mẫu thể chế chính trị, các âm mưu hợp tác để phá hoại kinh tế, hợp tác chiến lược để bao vây cô lập quân sự, kiềm chế quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước khác, v.v. (như lời “mật truyền” của Mao).

Thoát Trung là sự tháo gỡ ra khỏi các ràng buộc thâm căn cố đế về mặt trái của nó, từ lúc khởi đầu cuộc chiến tranh đến nay, và giờ đây, sự tháo gỡ không phải là dễ dàng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, vì cơ chế của bộ máy, vì gắn liền với tư duy ý thức hệ đã từng thấm sâu, và các ràng buộc vật chất khác. Thoát Trung là giành lại quan hệ bình đẳng của một Quốc gia có chủ quyền, không lệ thuộc.

 Thoát Trung không có ý nghĩa là chống lại nhân dân Tàu, tuyệt giao về văn hóa, hay lập tức cắt đứt về kinh tế, như một thế lực nào đó muốn suy diễn quá đà, nhằm kín đáo chống lại xu thế “thoát Trung”. Cũng như tư tưởng “cảnh giác” phương Tây và Mỹ, là nhằm mục đích níu kéo quan hệ 16 chữ, tiếp tục thực hiện khẩu hiệu “thế lực thù địch” rất mập mờ, để trấn áp phong trào chống xâm lược Tàu và đòi hỏi dân chủ. Đó là luận điệu yêu nước ngụy trang, nêu cao tinh thần tự chủ giả vờ, thực chất là bảo thủ, không muốn dân chủ, sợ hãi thay đổi, vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm thế lực ẩn danh.

Không người Việt Nam nào còn mơ hồ về âm mưu bành trướng Đại Hán khi nhìn vào thực tế, khi hiểu “Giấc Mơ Trung Hoa” mà Tập Cận Bình đang ra sức thực hiện, và hiểu rõ lời của Mao Trạch Đông truyền cho hậu duệ của họ, qua tài liệu mật được bạch hóa. “ …chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” (Xem: “Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao” – Một thế giới, ngày 19–8–2014)

Thoát Trung là vươn lên ý thức độc lập, làm chủ lấy mình, mở rộng liên kết thế giới với tư cách đầy đủ của một Quốc gia, không để rơi vào con đường độc đạo u ám dẫn đến lệ thuộc Trung Quốc như nó đã diễn ra. Thoát Trung là nhu cầu thực tế có ý nghĩa sống còn của Việt Nam hôm nay.

Thoát Cộng
Có câu hỏi, tại sao phải thoát Trung? Việt Nam đã tự mình “theo Tàu”, tựa gối gá vai vào Tàu, chứ từ lâu Việt Nam đã đứng riêng một cõi Trời Nam, qua bao sóng gió vẫn quyết giữ nền độc lập của mình. Chính vì ý thức hệ Cộng sản mới dẫn dắt đến sự lệ thuộc ngày nay, mới có tình nghĩa giang hồ anh em khắng khít, mới có phương châm 16 chữ, mang ý nghĩa sự đồng hóa, như trải thảm vàng để đón mời. Nó xóa bỏ sự riêng biệt tất yếu để một Quốc gia có thể tồn tại, phản bội Tuyên ngôn độc lập qua Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Phương châm 16 chữ (thập lục tự phương châm) của Giang Trạch Dân (tặng cho Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991) là một bài thơ xâm lược, thông qua “lý tưởng” Cộng sản. Nó được nâng lên thành “16 chữ vàng”, phản bội dân tộc, mà Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thuận tung hô, bộc lộ tính tự nguyện, khó thể biện hộ!

Nếu những thế hệ Cộng sản tiền phong của Đảng Cộng sản Việt Nam, nóng lòng vì giải phóng dân tộc, mà “ngộ” phải chủ nghĩa Vô sản Quốc tế, thì có thể lấy trào lưu thời cuộc mà biện minh. Nhưng nay thời đại đã khác, lạc hậu văn minh đã rõ, sao còn bám theo? Soi vào tấm kính chiếu hậu, thấy hàng loạt các nước Cộng sản đã giã từ sân khấu. Còn soi vào hiện tại thì kìa, Trung Quốc, cấp “Đảng Lãnh Đạo” đang no nê và nghiêng ngã, dân chúng của họ thì khốn cùng và phẫn nộ – một lò lửa đang chờ bùng nổ.

Còn gì nữa mà mơ hồ về cái gọi là chủ nghĩa xã hội?
Việt Nam Cộng sản là một dấn thân tự nguyện, đâu thể đổ hết cho Tàu? Cái âm mưu đành rằng của họ, nhưng cái mê lầm là của ta.
Thoát Trung, lại có nghĩa là thoát Ý thức hệ Cộng sản, là nguồn cơn dẫn đến lệ thuộc. “Lý tưởng tương thông” là chiếc cầu cho quân xâm lược bước qua. Thoát Trung là cấp bách nhưng căn nguyên chính là thoát Cộng, đâu phải là không quan trọng!

Thoát ảo
Có người cho rằng, cũng không có Cộng sản đâu để mà thoát! Tự xưng là Cộng sản, nhưng trong lòng không tin vào ý thức hệ này, và thực tế, nó đang tồn tại như một tấm bảng hiệu.

Có phải dân Việt Nam có bản chất là mơ mộng? Là ưa thích cái mà mình không có? Việt Nam thoát thai từ một xã hội phong kiến lạc hậu, chưa từng là nước phát triển, làm gì có “công nhân” để gọi là giai cấp “tiên tiến”, rồi đến đội ngủ “tiền phong”? 

Đảng Cộng sản Việt Nam ban đầu có bản chất và sức mạnh là yêu nước, “ý thức hệ” là chuyện mơ màng tạm thay cơm áo trong lúc khó khăn. Niềm tin mơ mộng đó là biểu hiện của khát vọng tự do, đã có vai trò hỗ trợ cho cuộc chiến đấu thành công, nhờ đó có thêm súng đạn và lương khô. Về bản chất của “ý thức hệ’ là giai cấp, thì Việt Nam cũng đã trải qua kinh nghiệm đẫm máu về cải cách ruộng đất, cũng như “ba ngọn cờ hồng” của Trung Quốc, cũng như hàng triệu đầu lâu của phong trào Cộng sản Polpot tại xứ Chùa Tháp.

Trên thực tế, từ trước đến nay, chỉ có “Đảng Cộng sản” yêu nước chứ không hề có chủ nghĩa Cộng sản, dù là một chút mầm mống khả tín. Cái quả có trước cái nhân, nó từ trên trời bay xuống, không có nền tảng, nó nằm chơ vơ trên chiếc đệm rơm sơ sài dễ cháy. Đấu tranh giai cấp thực sự là tai hoạ gây hận thù, chứ không thể động lực cho tiến bộ.
Cuộc trường kỳ kháng chiến đã đi đến kết thúc “thắng lợi”. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang làm gì với thắng lợi đó, cho hiện tại và tương lai, với cái thành tựu duy nhất làm hành trang mang theo, là những nhịp đập rực lửa chủ nghĩa “anh hùng” đẫm máu?

Tương lai là hướng đến hình mẫu Đại Hán xã hội chủ nghĩa, hay gương sáng siêu độc tài, siêu phong kiến Bắc Triều Tiên? Hay là mô hình xã hội chủ nghĩa vừa siêu thực, vừa bí hiểm mà “đến cuối thế kỷ cũng chưa chắc hoàn thiện”? Và liệu rằng cái anh hùng trong quá khứ có còn không? Và nó có thay khoa học làm động lực tiến lên “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được không?
Đảng Cộng sản Việt Nam lại đang có niềm tin với những khẳng định tự hào rất cần xem lại:
– Cuộc chiến đấu gian khổ, giành từng mảng rừng xanh, từng cái buôn làng, từng con suối nhỏ đến con sông lớn, rồi giành được nửa nước, rồi cả nước. Thế là hoàn thành “giải phóng đất nước”? Công thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam vinh quang, lại quên rằng nhiều triệu thanh niên đã ngã xuống và cả dân tộc đã chịu đau thương mất mát trong suốt cuộc chiến tranh khốc liệt, bất kể là giai cấp nào?
– Nhân danh giai cấp vô sản, làm đại diện cho giai cấp vô sản, đã tiến lên thành hữu sản, cũng là đại diện giai cấp vô sản theo nghĩa di truyền. Thế là hoàn thành đấu tranh giai cấp? nghiễm nhiên quay lại khai thác triệt để nhân dân – ngay thành phần nông dân và công nhân nghèo khổ mà mình xưng là đại diện – bằng những chính sách có lợi cho tầng lớp cầm quyền.

– Tiến hành thể chế “chuyên chính vô sản” với mục tiêu gì? Để kiềm giữ lâu dài không cho giai cấp “tư sản ngóc đầu dậy”? Để cho chủ nghĩa tư bản “tiếp tục giãy chết”, bằng cách dắt dìu con cháu mình nối nghiệp, cũng lâu dài là đại biểu giai cấp vô sản theo nghĩa di truyền? Với nhiệm vụ “cao cả và khó khăn” của chuyên chính vô sản, là phải tiếp tục kiên trì dù cho đến cuối thế kỷ, dưới sự dẫn dắt bởi một đội ngũ tiên tiến và tiền phong do Đảng chọn lựa, cũng trên cơ sở “truyền thống” của mình?!

Với những niềm tin trên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành chủ nhân ông đích thực, rất chiến lược và toàn diện của đất nước!

Nhưng tất cả đều là ảo tưởng, vì nó phản khoa học, nghịch với thời đại, và không đúng với thực tế. Vì thế phải thoát ảo tưởng này.

Việt Nam ngày nay, với thân phận tủi nhục và đắng cay, đang ngước nhìn lên Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Indonesia…, họ không cần đến một thứ chủ nghĩa siêu phàm viển vông nào. Người Việt hôm nay còn đang mơ ngày được hít thở bầu không khí của Campuchia, Myamar, tuy là còn rất nhiều bụi bặm nhưng không độc hại bằng không khí ở Bắc Kinh, Bình Nhưỡng, Hà Nội.

Nay Đảng Cộng sản có nên tiếp tục mang bảng hiệu “cộng sản” nữa không, khi mà chẳng có cái “chủ nghĩa cộng sản” ở đâu cả? Không có đâu cả! Hay là tự mình bất chấp thời đại, dựng lên một cõi trời riêng xã hội chủ nghĩa?

Giờ đây, không còn băn khoăn là thoát cộng, mà là thoát ảo tưởng của chính mình.

Thoát hệ lụy
Có nhận xét rằng, hiện tại Đảng không hề có ảo tưởng, nên chuyện “thoát ảo” cũng là viển vông. Ngược lại, Đảng Cộng sản Việt Nam rất thực tế, dù rằng không còn mấy ai thực lòng – ngay ở cấp lãnh đạo – tin vào lý tưởng có bản chất là ảo tưởng của ý thức hệ, gọi tên là Mác–Lênin. Một số lãnh đạo Đảng từng nói, phải “tập trung bảo vệ Đảng”, ấy là cái cụ thể, tức là bảo vệ cơ cấu quyền lực và lợi ích hiện hữu của mình, tệ nhất cũng là cái “sổ hưu”. Vấn đề là quá thực tế, chứ không phải ảo.

Thế hệ kế thừa đang dùng hình tượng Hồ Chí Minh làm nền, khỏa lấp hệ thống lý luận đã hoàn toàn đổ vỡ, để làm điểm tựa cho niềm tin của thể chế. Nhưng sự vay mượn hình bóng Hồ Chí Minh – hay là khai thác, tận dụng triệt để – không đem lại tác dụng bao nhiêu, vì thời đại này đã vượt qua giai đoạn của “tệ sùng bái cá nhân”. Nếu là vĩ nhân, hãy để vĩ nhân tự tỏa sáng. Sự phục chế thô thiển sẽ làm cho bức tượng không còn nguyên trạng. Đảng vẫn tự hào là đang tồn tại như một thực thể hùng mạnh, nắm trong tay bộ máy An ninh, Quân đội, hệ thống Tư pháp và Nhà tù cùng với các nguồn lực quốc gia, đủ sức để dập tắt bất cứ sự đề kháng nào trong nhân dân nếu có. Ngoài ra thì có đủ các ban bệ, đoàn thể bao quanh, như vây và cánh.

Tuy nhiên, thực tế không diễn ra như ý muốn.

Người anh cả Trung Quốc, vốn đồng sàng nhưng dị mộng, khi giở tấm khăn vàng ra, là con dao đã kề vào cổ!

Trong nước, quyền và lợi đã làm tha hóa tầm nhìn, sinh ra “suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống” trong Đảng, với số lượng “không phải là ít”. Từ đó, đất nước đã phủ kín một màu tham nhũng chứa đầy xung đột, dưới muôn hình vạn trạng, vừa tinh vi, vừa trắng trợn đã tác động làm xã hội băng hoại đến mọi ngõ ngách.

Với chiến dịch chống tham nhũng, người dân không tin ngay từ lúc nó khởi động, vì tham những là con đẻ của thể chế, và thể chế ấy không thể tự chống mình, nên nó chỉ là cuộc giành giật để thay lớp tham quan này bằng lớp tham quan khác. “Hạ cánh an toàn” là câu nói trên miệng quan chức, phổ biến, công khai, có nghĩa như một lời chúc mừng, là sở nguyện giữ thành quả thu được sau một canh cờ gian bạc lận. Lẽ ra phải được hiểu đó là một câu nói nhục nhã của cánh làm quan, biểu hiện bản chất một cỗ máy u ám và đầy cạm bẫy.

Đại bộ phận thanh niên thì cam chịu, thờ ơ, mất phương hướng và không muốn vào Đảng. Một cây tầm vông được hơ quá lửa, uốn ngược lại, thành ra bị gãy, ví như: “Thanh niên e dè [vào đảng] là còn kỳ vọng vào Đảng” như lời phát biểu đủ độ vô duyên của một cựu quan chức từng hãnh tiến một thời, là bí thư Thành đoàn TP HCM – Nguyễn Chơn Trung.

Khoảng cách giữa Đảng và dân chúng ngày càng rộng, mặc cho những lời hô của lãnh đạo: “Lấy lại niềm tin của nhân dân”, trong khi guồng máy tham những cứ vận hành, các công cụ bạo lực không ngớt trấn áp và truy bức công dân mà không cần một thứ luật pháp nào (mới nhất: vụ án Bùi Minh Hằn, vụ khủng bố Đại tá Nhà văn Phạm Đình Trọng…).

Ở cấp dưới thường nói khi hành sự: “do trên chỉ đạo”, trên bảo: “do ở dưới làm”, mọi sự thật chạy vòng quanh như kiến bò miệng chén. Người dân không thể biết được ai chịu trách nhiệm về cái gì. Chỉ có một từ ngữ đứng ra thay mặt mọi thứ: “Đảng” cùng với hào quang quá khứ của nó! Nó vô hình vô bóng, nhưng bàng bạc khắp không gian, nó vừa là kẻ gieo hồng ân, vừa là bóng dáng thần chết, tùy theo sự phân chia dòng chảy.

Các hoạt động văn hóa, xã hội thấm đẫm nhang khói kinh doanh, báo chí Đảng thì rất kiệm lời tử tế, lại đầy khí thế hằn học, mang chất giọng của quan tòa.

Nếu các thế hệ Cộng sản trước đây thiếu thốn vật chất, nên lấy tinh thần làm sức mạnh, thì nay ngược lại, vật chất/quyền lực đã phủ lấp, làm tê liệt tinh thần, đưa lẽ sống xuống mức thô lậu, rơi vào hệ lụy thảm hại – một sự tha hóa ở quy mô cộng đồng dân tộc.

Bốn “thoát” trên đây đều là yêu cầu của thực tế, là suy nghĩ của dân chúng, vì họ không chịu nằm yên để cho “Đảng lo”. “Đảng lo” vốn là não trạng “bao cấp tư tưởng” bị trương phình đột biến, từ khi chiếc lưỡi bò Trung Quốc xuất hiện. Người dân nghĩ rằng họ phải làm chủ cuộc sống của mình, bằng cách tham gia vào tiến trình vận hành toàn diện của đất nước, theo một thể chế phải có sự hiện diện tiếng nói đích thực của người dân, không cam chịu bị chăn dắt như một bầy cừu, bởi một cỗ máy đã quá lỗi thời, nằm trong tay độc quyền của một nhóm người ẩn trú trong cái vô hình gọi là Đảng.

Đâu là lý do mà Đảng lo sợ “mất niềm tin” của nhân dân? Lẽ nào, “mất niềm tin” là do nhân dân tự mình muốn “không tin”?

Trong kinh của đạo Thiên Chúa khuyên tín hữu, hãy lấy tay chỉ vào mình và nói: “Lỗi tại ta!”. Kinh Phật thì bảo, phải ngẫm lại tấm thân mình chỉ là một thứ “giả hợp” của ba thứ “Tham – Sân – Si”. Còn “Đức tin” của người Cộng sản Việt Nam hiện nay thì sao? Xin hãy tự định nghĩa thật lòng, thử xem mình là gì? Có còn là phẩm chất “anh hùng, dũng cảm, trí tuệ” trước Tàu? Có còn là “tiền phong, gương mẫu” trước nhân dân?

Ông Tổng Bí thư và ông Chủ tịch Nước vẫn “đều đều” báo động “mất niềm tin của nhân dân”, nhưng có thể chưa nói đầy đủ ý nghĩa của cụm từ này. “Mất niềm tin” bao hàm cả nghĩa: không trọng về tài, không tôn về đức. 

Mà còn hơn thế, là căm hận, nếu Tàu còn đưa người vào đất nước, thực phẩm độc hại còn tiếp tục tuồn qua, tài nguyên còn bị lấy đi, đất biển còn bị mất thêm, kiêu binh còn hoành hành, dân dao búa côn đồ còn nổi lên… với bài hợp ca: “cướp đêm là trộm, cướp ngày là quan”!

Cái lỗi sẽ không do duy nhất bất cứ một thành viên nào, mà do trong thể chế không có mặt nhân dân. Cái lỗi của nhân dân là không có mặt trong thể chế. Nhân dân đang thức giấc về cái lỗi của mình.

Một đòi hỏi vừa phải: Minh bạch – Thực hiện dân chủ – Cùng nhân dân chấn hưng đất nước, bảo vệ chủ quyền.
Phải biến “một thời để chết”, thành một thời để yêu chân và thiện.
Việt Nam đang ở trong một cơ may. Cả thế giới đang tạo vòng vây, cô lập bọn hung hăng Đại Hán, Việt Nam không còn là đối tượng để trở thành bãi chiến trường như thế kỷ trước.
Nhưng là ở cạnh chiến trường.
Tùy theo sự chọn lựa: Việt Nam độc tài, hay Việt Nam dân chủ?
Còn nhân dân thì đã chọn, và xu thế thời đại cũng đã rõ.
Cái thoát cô đọng cuối cùng, là thoát hệ luy của một thể chế bất hợp lý, độc tài và tham nhũng.
2–9–14
H. Đ. N.

Đọc ‘Chính Luận’ của Trần Trung Đạo: Để biết hiểm họa Trung Cộng và hiện trạng Việt Nam

Huỳnh Kim Quang - Không phải đợi đến khi nhà cầm quyền Cộng Sản Bắc Kinh ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 1 tháng 5 năm 2014 người ta mới thấy hiểm họa mất nước của Việt Nam lộ ra như một thực tế không thể chối cãi, trước đó lâu lắm, nhà thơ và nhà văn Trần Trung Đạo đã nhìn thấy rất rõ từng đường đi nước bước xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam qua nhiều bài khào luận chính trị sâu sắc và thực tế được phổ bỉến trên các cơ quan truyền thông hải ngoại mà nay được tập hợp lại trong tác phẩm “Chính Luận” của ông, vừa được Cổ Loa xuất bản tháng 6 năm 2014.

“Chính Luận” của Trần Trung Đạo dày 600 trang với 44 bài khảo luận chính trị viết bằng khối óc và trái tim của người tri thức Việt Nam chân chính để báo động hiểm họa mất nước trước tham vọng xâm lược của Trung Cộng. 

Thật vậy, đọc từng bài trong 44 khảo luận chính trị của Trần Trung Đạo người đọc sẽ thấy tác giả viết bằng nhận thức tỉnh táo và tinh tường với những dẫn chứng cụ thể về từng sự kiện, từng vấn đề được nêu ra. 

Điều gây ấn tượng nổi bật trong tất cả những bài khảo luận chính trị của Trần Trung Đạo trong cuốn “Chính Luận” là tác giả đã viết với tâm thức chân chính và tấm lòng xây dựng của một người tri thức Việt Nam có đầy đủ nhiệt huyết và niềm tin về một đất nước và dân tộc tươi sáng trong tương lai, mà niềm tin ấy tác giả đặt trọn vào tuổi trẻ Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà tác giả Trần Trung Đạo đã ghi ngay nơi trang đầu của “Chính Luận” là “Tặng tuổi trẻ Việt Nam.”

Chi tiết mà nói, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo xoay quanh 3 chủ đề chính:Hiểm họa Trung Cộng, hiện trạng Việt Nam và bàn về tẩy não dưới chế độ Cộng Sản trên thế giới và Việt Nam.

Phân tích về “hiểm họa Trung Cộng,” Trần Trung Đạo đã nêu ra các chính sách và chủ trương của một thứ “chủ nghĩa dân tộc cực đoan” mang màu sắc Đại Hán luôn luôn đi kèm theo tham vọng xâm lược đất đai và tài nguyên đối với các lân bang qua các nhà lãnh đạo Trung Cộng từ Đặng Tiểu Bình đến Hồ Cẩm Đào. Đặc biệt tác giả cũng nhấn mạnh đến sự tiếp tay của những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam với công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958 và Hội Nghị Thành Đô đầu thập niên 1990. Tác giả “Chính Luận” đã nhận định sâu sắc về nguyên nhân đưa đến hai sự kiện trên qua tâm thức thần phục Trung Cộng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam:

“Nửa thế kỷ trước, cả bộ chính trị lẫn trung ương đảng CSVN viễn du trong giấc mộng về một thiên đường quốc tế vô sản, trong đó con người mang quốc tịch Trung Hoa hay Việt Nam cũng không mấy khác nhau. Trung Cộng có chiếm Hoàng Sa cũng chẳng qua là giữ dùm cho Việt Nam, tốt hơn là để cho Mỹ chiếm. 

Nói như một chuyện cười nhưng đó là sự thật. Đảng Cộng Sản Việt Nam mang ơn Đảng Cộng Sản Trung Quốc sâu đậm. Như hầu hết tài liệu quốc tế và cả tài liệu chính thức của đảng, trong thập niên 1950, Việt Nam phụ thuộc vào Trung Cộng không những súng đạn, lương thực, chỉ huy, hậu cần, lãnh đạo mà cả tư tưởng và tinh thần.” (Chính Luận, trang 220)

Tác giả “Chính Luận” cũng đưa ra những bài học lịch sử từ các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Congo và Phi Châu và so sánh tình hình Việt Nam trước hiểm họa Trung Cộng. Tác giả cũng phân tích quan hệ Mỹ-Trung trong chính sách toàn cầu và đặc biệt tại Đông Nam Á để cho thấy chính sách của Mỹ đã thất bại như thế nào trước “sức mạnh mềm” của Trung Cộng và thái độ nào là khôn khéo mà Việt Nam cần chọn lựa để tự bảo vệ mình trước hiểm họa Trung Cộng. Tác giả Trần Trung Đạo nêu ra một vài chiến lược mà Việt Nam và các nước trong vùng Đông Nam Thái Bình Dương phải biết để đối phó với hiểm họa Trung Cộng. Tác giả nêu 3 điểm nổi bật như sau:

“Để đương đầu với hiểm họa Trung Cộng, các quốc gia trong vùng Đông Nam Thái Bình Dương phải biết (1) chiến lược hóa quốc tế vị trí của quốc gia mình, (2) liên kết thành một khối trong xung đột với Trung Cộng và (3) khai thác tối đa các mặt yếu của Trung Cộng.” (Chính Luận, trang 156, 157)

Tác giả cũng đã cảnh báo các nước bị hiểm họa Trung Cộng không nên chỉ biết ngồi đó rên rỉ mà phải quật cường đứng lên với ngọn cờ dân chủ để thoát Trung:

“Nếu không cùng hát đồng ca dân chủ và vươn lên cùng nhân loại mà quanh năm chỉ rên rỉ vài bài ai điếu rồi ngày đại tang cho dân tộc sẽ đến không xa.” (Chính Luận, trang 158)

Nói về hiện trạng Việt Nam, tác giả Trần Trung Đạo đưa ra hai hình ảnh tiêu biểu của xã hội Việt Nam trong vòng gần bốn thập niên qua, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975: một xã hội lụn bại và thụt lùi dưới gọng kềm nghiệt ngã của độc tài đảng trị Cộng Sản Việt Nam và niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc qua cuộc vận động tự do và dân chủ cho đất nước mà giới trẻ đang tích cực tham gia.

Với thảm họa Cộng Sản trên đất nước trong suốt gần 40 năm, tác giả “Chính Luận” viết rằng, “Sau 37 năm, tiếng súng đã vắng đi trên đất nước Việt Nam, non sông liền một dải nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là “thành phần phản động bám theo chân đế quốc,” và trong nước, những quyền căn bản như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được, hàng ngàn người yêu nước vẫn còn bị tù đày. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.” (Chính Luận, trang 334)

Với tương lai tươi sáng của dân tộc, Trần Trung Đạo nghĩ ngay đến nhu cầu không thể không có của một “cuộc cách mạng dân chủ Việt Nam.” Và ông đã bày tỏ niềm tin rằng, “Tôi, trái lại, tin rằng, cuộc cách mạng dân chủ Việt Nam tuy sẽ rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiên nhẫn với các tác động từ bên ngoài và vận động từ bên trong, khi xảy ra sẽ xảy ra trong nhanh chóng và không đổ máu bởi vì tuyệt đại đa số người dân, ở mức độ khác nhau, đều thấy những bất công phi lý đang diễn ra hàng ngày trên đất nước, đều chán ghét chế độ và đều có trong lòng chung một khát vọng dân chủ tự do.” (Chính Luận, trang 344, 345)

Tẩy não là chủ đề chính thứ ba trong “Chính Luận.” Giải thích về vai trò của chính sách tẩy não trong chế độ Cộng Sản, tác giả Trần Trung Đạo viết rằng, “Khái niệm tẩy não được biết đến từ lâu qua các tà đạo, chiến tranh, tình báo, tuy nhiên chỉ dưới các chế độ Cộng Sản kỹ thuật này mới được nâng lên thành quốc sách và được thực hiện một cách triệt để, có hệ thống, bao trùm mọi lãnh vực xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân.” (Chính Luận, trang 519)

Sau khi phân tích các chính sách tẩy não của chế độ Cộng Sản trên thế giới qua việc “tẩy não một người,” “tẩy não một dân tộc,” “tẩy não một quốc gia thù địch,” và đặc biệt chính sách tẩy não của Cộng Sản đã thực hiện tại Việt Nam trước và sau năm 1975 để đi đến kết luận rằng, “và Việt Nam hôm nay vẫn còn chịu đựng dưới chế độ độc tài trong khi đại đa số nhân loại sống trong tự do dân chủ không phải vì tài năng của giới lãnh đạo CS nhưng chỉ vì số người bị tẩy não còn quá đông.” (Chính Luận, trang 531)

Những gì người viết bài này nêu ra ở đây chỉ là một phần rất nhỏ và rất khái lược trong số 44 bài khảo luận chính trị trong tác phẩm “Chính Luận” dày 600 trang của Trần Trung Đạo.

Có thể nói mà không sợ bị thất thố rằng “Chính Luận” của Trần Trung Đạo là một trong những tác phẩm chuyên khảo về tình hình chính trị Việt Nam và mối quan hệ trở thành “hiểm họa” giữa Đảng CSVN và Đảng CSTC đầy đủ, sâu sắc và thực tế nhất mà người viết bài này đã từng đọc trong vòng mấy chục năm qua. 

Tác phẩm “Chính Luận” có giá trị đặc thù không phải chỉ ở thẩm quyền kiến thức của tác giả, ở tính chính xác của tài liệu được trưng dẫn, ở những nhận định nghiêm túc, khách quan và sát hiện thực, mà còn ở tâm thức chân thành, thiết tha và xây dựng đối với tiền đồ của đất nước và dân tộc Việt Nam của tác giả nữa.

Trước tình hình bất an và nguy cơ mất nước của Việt Nam vì tham vọng bá quyền xâm lược của Trung Cộng, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo là tài liệu quý giá cung cấp cho người đọc những điều cần biết về hiện tình Việt Nam, Trung Cộng và thế giới, cũng như con đường nào dẫn đến tương lai tươi sáng cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Xin chân thành cám ơn tác giả Trần Trung Đạo và xin trân trọng giới thiệu tác phẩm “Chính Luận” của Trần Trung Đạo đến tất cả bạn đọc. Sách đã được phát hành bởi công ty phát hành sách lớn nhất thế giới là Amazon. 





_______________________________________

Ghi chú: 

Một số buổi giới thiệu Chính Luận Trần Trung Đạo sẽ được tổ chức tại các thành phố dưới đây, kính mời quý đồng hương tham dự:

- Washington DC: 2 giờ chiều đến 5 giờ chiều ngày Thứ Bảy 13 tháng 9 năm 2014 tại Providence Center 7525 Marc Drive, Falls Church, VA 22042. 

- Sacramento, California: 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều ngày Thứ Bảy, 11 tháng 10 năm 2014 tại Trung tâm Sinh hoạt Cộng đồng người Việt Quốc gia Sacramento, 6270 Elder Creek Rd, Sacramento, CA. 

- San Jose, California: 2 giờ chiều đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 12 tháng 10 năm 2014 tại hội trường Yerba Buena High School 1855 Lucretia Ave, San Jose, CA 95122.

Đời Mồ Côi
Em sinh ra đã không hề biết mẹ
Hàng ngày Em theo chị để ăn xin
Ngày đầu đường đêm ghế đá công viên
Sống lay lắt nhờ đồng tiền thiên hạ.









Nhiều khi đói sữa thay bằng nước lã
Hai chị em vật vã dạ cồn cào
Dế ve Sầu nướng lót dạ đêm thâu
Mong trời sáng xin cơm thừa hàng quán.









Cha chết sớm mẹ bị người ta bán
Sang bên Tàu vào động bán dâm
Nhà cửa ruộng nương
Đảng qui hoạch chẳng bồi thường
Nghe người nói cán bộ phường chia chác









Mình sống được nhờ tấm lòng cô bác
Nín đi nào chị sẽ hát ầu ơ
Mất mẹ cha đời đói rét bơ vơ
Đừng khóc nữa em thơ xin hãy hiểu.









Chuyện xui xẻo đẩy đưa đời cô lựu
Chị bị tông xe nằm ngất bên đường
Khi mọi người đưa chị đến nhà thương
Chị đã chết từ trên đường nhập viện.











Kẻ tông chị là đảng viên say xỉn
Sợ liên quan chúng đã biến vào đêm
Hết họ hàng giờ chỉ còn mình em
Nên ánh mắt mới buồn lên đến thế.










Anh xin lỗi mấy tháng rổi mới kể
Chỉ mong sao ánh mắt bé vơi buồn
Trẻ ăn mày không được đảng yêu thương
Nhưng còn có những trại cô nhi viện


Cán Ngố Gộc đi thanh tra kiểm soát  ....Pó tay pó tay ! hết ý hết ý

Cùng nếm, ngửi, gõ với các bộ trưởng: Kim Tiến - Khôi Nguyên - La Thăng:

Chị Kim Tiến, bộ chưởng Y tế đi kiểm tra thực phẩm ở chợ


Anh Phạm Khôi Nguyên, bộ chưởng bộ Tài Nguyên và
Môi trường và bầu đoàn đi kiểm tra chất lượng môi trường"
 Chỉ bọn quan chức Việt Nam mới có hành động kỳ quặc và ngu xuẩn thế này!
Ối trời ơi là ông Tiến sĩ ! Ông nghè Phạm Khôi Nguyên ơi
 Anh Đinh La Thăng, bộ chưởng bộ Rao Thông đi kiểm tra độ lún của mặt đường


Đây là thi đi siêu xa l tin tc, đâu phi chúng mun làm gì thì làm.

Linh Nguyên


CHÂN DUNG 'CÁC ĐẦY TỚ NHÂN DÂN'



Ngạo mạn, dâm ô chính là Lê Duẩn
Già mà lắm con là lão Đỗ Mười
Mưu mô quỷ quyệt là Lê Đức Anh
Nhẫn nhục sống lâu là Võ Nguyên Giáp
Chưa nói đã cười là Nguyễn Minh Triết
*

Giả danh Mác xít là Lê Khả Phiêu
Tham nhũng đớn hèn là cậu y tá (Nguyễn Tấn Dũng)
Ác thú lộng hành là Nguyễn Văn Hưởng
Gian manh, trí trá là Nguyễn Sinh Hùng
Cái gì cũng nhặt là Tô Huy Rứa
*
Không bộ nào chứa là Nguyễn Thiện Nhân
Vì gái quên thân là Nông Đức Mạnh
Thức thời, né tránh là Nguyễn Hải Chuyền
Miệng lưỡi dịu mềm là Vương Đình Huệ
Thiểu năng trí tuệ là Đinh La Thăng
*
Định hướng tối tăm là Nguyễn Phú Trọng
Ghét trung yêu nịnh là Lê Hồng Anh
Phát biểu lăng nhăng là Phạm Vũ Luận
Quen đánh giặc miệng là Trương Tấn Sang
Hán tặc chính danh là Hoàng Trung Hải
*
Thầy gét bạn khinh là Hồ Đức Việt
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Đổi trắng thay đen là Trương Vĩnh Trọng
Triệt suy phù thịnh là Trần Đình Hoan
Đã dốt lại tham là Lê Thanh Hải
*
Ăn vụng nói dại là Đinh Thế Huynh
Cạn nghĩa cạn tình chính là Tô Lâm
Juda phản chúa là Nguyễn Đức Tri
Tình duyên lận đận là chị Kim Ngân
Vừa béo vừa dâm là Tòng Thị Phóng
*
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Lên chức nhờ cha là Nguyễn Thanh Nghị
Mặt người dạ thú là Phạm Quý Ngọ
Tính tình ba phải là Phạm Gia Khiêm
Chưa từng thanh liêm là Nguyễn Thế Thảo
*
Ăn tiền tàn bạo là Nguyễn Đức Nhanh
Chạy trốn an toàn là Dương Chí Dũng
Nghìn tỉ tham nhũng là Vinashin
‘Bà con’ Thủ Tướng là Phạm Thanh Bình
Ngậm thị ăn tiền là Vũ Huy Hoàng
*
Xôi thịt mê gái là Trịnh Đình Dũng
Lừa thầy phản bạn là Trương Hòa Bình
Cướp, Giết la làng là Thống đốc Bình
Ăn no kín tiếng là Cao Đức Phát
Móc ngoặc đi đêm là Ngô Xuân Dụ

Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)




 Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu

image
Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...


Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)
















Ha ha ha !
Hố hố hố !
Không biết làm thịt em nào trước đây?
xem thêm



Ảnh của
 Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-



Sốc - Lính Trung cộng hành hạ tra tấn tù binh VN vô cùng tàn bạo dã man




__._,_.___

Posted by: hung vu 

Sự khác nhau giữa người Việt Nam và người Nhật



Sự khác nhau giữa người Việt Nam và người Nhật


Thứ bảy, 06/09/2014, 22:44 (GMT+7)
(Kinh tế) - Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. 

Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.

·         >> 2 sự cố đáng xấu hổ của cầu lông Việt Nam

Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.
Người dân xếp hàng mua thực phẩm ba ngày sau thảm họa
Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi cái hay của người khác.

Một dân tộc đã từng đánh bại các đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả – đó là một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh.

Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật – đó là nhìn qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo….

Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: “Người Nhật là kho tàng của nước Nhật”. Tôi rất cám ơn đất nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu mạnh.

Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2 tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư.

Cùng là hai nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.

Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các diễn đàn Internet đặt câu hỏi: “Tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật”, phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ đang sống ở Việt Nam.

Đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi số phận của đất nước mình.

Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.

Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất xa. Trong cuốn “Niên Biểu” cụ Phan bội Châu đã kể lại kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905).

Những điều tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu: “Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!”.

Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm.

Thiên tai vừa rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923 và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn “tinh thần Nhật Bản” trong cơn nguy biến.

Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho 130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân nửa của Tokyo bị tiêu hủy.

Trong quyển “Thảm nạn Nhật Bản” (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời đó thuật lại: ”Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình”chứng tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu đời.

Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000 người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh.

Lần đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của Nhật Hoàng Hirorito: “Chúng ta phải chịu đựng những điều không thể chịu đựng nỗi”.

Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.

Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ “Phép lạ kinh tế” phát xuất từ hiện tượng này.

Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers) – vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng này muốn biến nước Nhật trở thành một “Nước Mỹ lý tưởng” hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu.

Tuy cuối cùng kết quả không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng MacArthur.

Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: “Người Nhật: Một Dân Tộc Vĩ Đại”.

Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài “Những điều người Nhật có thể dạy chúng ta” của ký giả Nicholas Kriftoff. Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: “Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không”.

Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình.
Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.
Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những căn nhà đổ nát không ai màng tới thì đừng nói chi đến chuyện hôi của.

Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ này.”

Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau bắt tay xây dựng lại.

Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối. Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt được kỷ lục này.

Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường dân đều tự tin rằng: “Chúng tôi sẽ phục hồi” như họ đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn thay đổi.
Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người viết – chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất nước.

Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ, đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ tinh thần kỹ luật và lễ phép.

Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫn bình thản chờ đợi thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỷ…

không phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh của người Nhật trong thiên tai vừa qua.

Trông người lại nghĩ đến ta!

Trong bài “Góc ảnh chiếu từ nước Nhật”, nhạc sĩ Tuấn Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:
“Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn”.

Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra? Bà Mạc Việt Hồng đã diễn tả bức tranh đó như thế này:
- Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.
- Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.
- Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.
- Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.
- Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.
- Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.
- Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.
- Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.
- Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.
- Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.…v.v….

Tôi không nghĩ là bà Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào.

Nói chung nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng “mạnh được yếu thua” hay “khôn nhờ dại chịu”, còn quan chức chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.

Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao người khác và rẻ rúng thân phận của mình – vì phải giữ lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với những quan điểm như thế.

Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt, cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm những gì.

Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó, nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp nhận để đầu hàng hoàn cảnh.

Gần một trăm năm nước đây, Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược bằng những toa thuốc cực đắng như “AQ chính truyện”, gần đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với “Người Trung Quốc xấu xí” cũng được nhiều đồng bào của ông cho đó là một đóng góp đáng kể.

Cuộc cách mạnh Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu “Người Nhật xấu xa” xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra khỏi căn bệnh lạc hậu.
Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc an thần.

Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như trong hơn nửa thế kỷ qua, và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.
Trong khi đó, người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh thần vọng ngoại mù quáng.

Chúng ta thù ghét sự hiện diện của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào lý thuyết và giải pháp của người ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.

Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, hoàn toàn trái ngược với các nhà cách mạng cùng thời, Phan Chu Trinh chọn giải pháp Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh. Theo ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ.

Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc nô lệ ở một hình thức khác.
Ông là một trong những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa mà ra.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài nước như VN, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới.

Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc, của VN chớ không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác. Lòng yêu nước mù quáng biến dân tộc VN trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối CS và Tự Do và luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc “bước ra khỏi cửa là thấy anh hùng”.
Những bi kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự chọn lựa đó.

Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản, kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa, nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay cả cụ Phan Bội Châu – một đồng chí thân thiết với cụ trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.

Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị dân, những điều tự hào không có thật. 

Ông là người nhìn thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc cứu chữa.

Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.

Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá lớn giữa hai đất nước.

Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc.

Vào thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ.

Đến thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để vươn lên thành một cường quốc kinh tế.

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn giáo, chủng tộc…

Mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ (mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng một thử thách.

Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình thường, trong lúc đó tại một nước khác – một bộ trưởng chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin lỗi quốc dân rồi từ chức (1)? tại sao một quốc gia nhỏ bé như Do Thái chưa tới 3 triệu dân (2) có thể chiến thắng cả khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh cho đến ngày hôm nay?

Trong lúc đó có những nền văn minh đã từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất … và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi dân tộc.

Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu,cho dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria, Venezuela, Angola, Libya… mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn là những nước nghèo.

Bước ngoặt quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức tường cung điện ở Huế.

Họ không thấy được thế giới đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương.

Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người Nhật thức tỉnh ngay.

Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm.

Đó là một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy mang về thay đổi đất nước.

Họ từ bỏ một cách dứt khoát tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Tây Phương.

Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của họ.

Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của một dân tộc nhược tiểu.

Nhưng tất cả những nỗi đau đó vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.

Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến.

Nhưng tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước khúc quanh của lịch sử.

Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ của người Pháp và đâu phải chịu tai họa văn hóa kéo dài đến hôm nay.
(Theo Tri Thức)

__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Quốc Khánh 2/9. Tranh Babui.



Quốc Khánh 2/9. Tranh Babui.

Chương trình phát thanh ngày 6/09/2014


Người Dân Muốn Biết

Những gáo nước lạnh cho ý thức

Với 7 triệu đồng, mua được bằng tiến sĩ



Posted by: Dien bien hoa binh

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link