Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, September 20, 2014

Cải cách ruộng đất và các di sản

 

Nguyễn Hưng Quốc - Cải cách ruộng đất và các di sản

Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

Phỏng vấn ông Lê Hùng về thỏa ước Thành Đô



Lần đầu tiên, cuộc cải cách ruộng đất của đảng Cộng sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc cải cách ruộng đất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động cải cách ruộng đất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.
alt
Chính sách cải cách ruộng đất được đảng Cộng sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đảng Cộng sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là cải cách ruộng đất theo đường lối của Mao Trạch Đông.
Đấu tố chủ nhân trước tòa án nhân dân. Nguồn: Franz Faber. Rot Leuchtet der Song Cai. 1955. Berlin, Kongress Verlag
Nội dung chính của cải cách ruộng đất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc cải cách ruộng đất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.
Ở đây, có mấy điều đáng nói.
Thứ nhất, dưới sức ép của các đoàn cố vấn Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam quy định một cách máy móc số lượng địa chủ chiếm 5,68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.
Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Để luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.

Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.
Bàn về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của đảng Cộng sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ đảng Cộng sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, vì thiếu ngân sách, đảng Cộng sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của cộng sản. Cả Trường Chinh, Phạm Đồng và Lê Đức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.

Bên cạnh sự độc ác, đảng Cộng sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Cộng tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Cộng, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.
Tòa án Nhân dân Đặc biệt. Nguồn: Franz Faber. Rot Leuchtet der Song Cai. 1955. Berlin, Kongress Verlag
Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Cộng nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.

Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng.

 Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc cải cách ruộng đất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ. Qua các cuộc tố cáo và hảnh quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.
Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động cải cách ruộng đất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, đảng Cộng sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.

Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.

Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.


Vũ Thị Phương Anh/VNTB - Vâng, lịch sử chẳng phải để hận thù …

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014


Tôi đã chẳng viết bài này nếu không đọc được phản ứng của “cô ấy” trên facebook.

“Cô ấy” là một phóng viên trẻ, là tác giả của bài viết có tựa đề “Lịch sử không phải để thù hận” vừa đăng trên VnExpress cách đây vài ngày, liên quan đến cuộc triển lãm cải cách ruộng đất vừa mới mở ra đã bị đóng cửa, có lẽ vì … nhạy cảm.

Khi nghe về cuộc triển lãm, tôi đã tự nhủ là sẽ cố tránh, không nói gì hoặc viết gì để gợi thêm những ký ức đau lòng đã tạm lắng nhiều thập niên, nay đang được dịp tuôn ra. Vì tôi đã nghe quá nhiều về những “ông đội” đằng đằng sát khí, những cuộc đấu tố vào ban đêm với đèn đuốc sáng trưng và tử khí ngút trời.


Sinh ra và lớn lên ở miền Nam, từ thời tiểu học tôi đã được xem bộ phim “Chúng tôi muốn sống”, bộ phim mà những người đã trải qua thời cải cách ruộng đất như bố mẹ tôi đánh giá khá cao vì tính chân thực. Tôi nhớ mình chỉ xem được một lúc rồi bỏ dở vì sợ hãi, và mãi đến bây giờ tôi vẫn không bao giờ muốn xem lại dù bộ phim ấy có đầy trên Internet.

Tôi cũng có người thân là nạn nhân trực tiếp của cải cách ruộng đất. Bác họ tôi – chị họ của bố tôi – bị kẹt lại ở Nam Định khi bác trai đưa mấy người con vào Hải Phòng trước, chờ người đưa bác gái ra sau để cùng di cư vào Nam nhưng không được, đành bỏ bác lại ở quê. Bác gái, một người chăm chỉ làm ăn và hà tiện đến “vắt cổ chày ra nước”, bị quy là địa chủ vì có chút của ăn của để hơn người. Hai bác ở vậy chờ nhau suốt 21 năm; luật đạo của Công giáo không cho phép lấy vợ, lấy chồng khác khi người phối ngẫu chưa qua đời. Sau năm 1975, bác gái vào đoàn tụ với gia đình ở miền Nam, và mỗi khi có dịp thì bác lại tuôn ra hàng tràng ký ức của một thời mà bác không bao giờ quên được.

Những ký ức rùng rợn, những hành động bạo tàn, những con người độc ác … tôi nghe mãi cũng nhàm. Tôi chẳng bao giờ kể lại, cũng chẳng bao giờ muốn nhớ. Nhưng, giống như nhân vật trong bài báo, bác tôi không thể quên. Dù bác chẳng có vẻ gì là thù hận với những kẻ đã đấu tố bác ngày xưa. Kể xong, bác chép miệng, “số phận của họ rồi sau cũng chẳng ra gì. Ông trời có mắt”.

“Ông trời có mắt” là đạo đức căn bản của người Việt Nam. Với đạo đức ấy, những người nông dân hiền lành đã sống với nhau hàng nghìn năm trong tình làng nghĩa xóm, và có lẽ đã chỉ (lỡ dại một lần) làm những điều trái đạo lý vì bị cuốn theo cuộc cách mạng trời long đất lở lúc ấy mà thôi.

Người ta cần tha thứ và quên đi để sống. Vì không ai có thể sống an lành với một vết thương sâu hoắm và nhức nhối trong lòng. Vì vậy, dù còn nhiều điều không đồng ý với bài viết của tác giả, tôi đã không tranh luận. Cũng như tác giả, tôi hiểu cải cách ruộng đất là một vấn đề lớn và còn quá nhiều câu hỏi mà một cuộc triển lãm nhỏ không thể trả lời hết. Tôi cũng hiểu có nhiều điều vẫn chưa thể trưng ra, vì nếu không có câu trả lời ổn thỏa thì sẽ xoáy thêm vào một vết thương chưa lành trong lịch sử dân tộc Việt.

Nhưng tôi thật sự ngạc nhiên khi đọc được phản ứng trên facebook của tác giả, mà bạn bè tôi đã chép lại một đoạn[1] và đề nghị tôi bình luận. Đoạn ấy như sau:

“Ôi thế các ông các bà muốn gì ạ? Không cho bày thì bảo bưng bít. Không cho nói thì bảo bị bịt mồm. Giờ người ta bắt đầu cất lời, hé sạp hé mẹt thì các ông các bà chửi xối xả là bày ra cho nhục nhã. Tư liệu đấy, hiện vật đấy, các ông các bà tự hiểu lấy, đừng vin vào mấy nhời phi lộ rất quan phương của nhà chức trách rồi bảo bị bóp méo, bảo ngoan cố tranh công chối tội.”

Tôi đã chẳng ngạc nhiên khi đọc trong bài báo những lời ca ngợi thành quả của CCRĐ. Tôi hiểu tác giả có lẽ phải có phần bênh vực sau khi đã thẳng thắn nhắc đến nỗi đau của nạn nhân. Tôi đã tin dụng ý của tác giả là muốn ủng hộ sự bạch hóa dần dần một vấn đề gai góc và đau thương trong lịch sử Việt Nam. Nhưng khi tác giả khẳng định “tư liệu đấy, hiện vật đấy, các ông bà tự hiểu lấy”, và nhớ lại những gì đã được trưng bày trong cuộc triển lãm, tôi bỗng hiểu rằng tác giả rất chân thành tin cuộc CCRĐ là cần thiết. Chân thành khi nói về niềm vui của các nông dân “dắt con trâu ra đồng với tư cách chủ nhân ông”, “ăn cơm trên bộ tràng kỷ mát lạnh xa lạ mà ba đời cha ông mình không dám mơ ước”. Dù những tài sản này không phải là thành quả của sức lao động của chính họ, mà là kết quả của cuộc cách mạng “đánh đổ giai cấp địa chủ bóc lột”, như những văn kiện của Đảng đã rành mạch chỉ ra.

Thật đau lòng khi giai cấp mà cách mạng cần phải tiêu diệt (trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ) có cả những người như ông bà của tác giả và bà bác của tôi. Từ lúc nào, những người nông dân hiền lương bỗng chốc trở nên độc ác, căm hờn trong những cuộc đấu tố dã man, và làm sao họ vẫn có thể vui mừng hớn hở khi được chia “quả thực”, khi các xác chết máu me của những người mới hôm qua còn là láng giềng vẫn còn nằm phơi ở ngoài kia hoặc chỉ mới được chôn lấp sơ sài ….

Không, tôi không nhắc lại để thù hận. Nhưng tôi và tất cả mọi người Việt Nam có lương tri đều cần trả lời câu hỏi: “Vì sao?”

Vì sao cùng trên một đất nước, cùng một nền văn hóa, cùng là người Việt da vàng máu đỏ, cùng với mục tiêu mang lại sự công bằng về sở hữu ruộng đất, giúp người nông dân làm chủ luống cày, mà ở miền Nam thì mọi việc xảy ra hiền hòa, êm ả, còn miền Bắc thì lại xảy ra những cảnh tượng đau lòng đến vậy? Để mãi đến 60 năm sau, thời gian đủ dài để hầu hết những người đã tận mắt chứng kiến cải cải cách ruộng đất đã không còn tồn tại, mà khi nhắc đến thì cải cách ruộng đất vẫn còn là một sự nhức nhối không nguôi?

Câu hỏi ấy chắc chắn một lúc nào đó phải được trả lời. Những sai lầm của giai đoạn đau thương ấy – và di hại mãi về sau của nó – chắn chắn rồi sẽ phải được phân tích cặn kẽ và sòng phẳng. Để bài học lịch sử được hiểu rõ, chứ không thể mãi né tránh.

Bởi, khi chúng ta không chịu học từ những sai lầm của lịch sử, thì lịch sử sẽ bắt chúng ta trở thành nạn nhân của chính những sai lầm ấy, cho đến khi bài học được học thuộc.


Người gieo hạt trong CCRĐ


Theo United Nations - Thông điệp của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nhân ngày quốc tế về dân chủ

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Ban-ki-moon

15 tháng 9 năm 2014 - Khi gần đến lễ kỷ niệm ngày Quốc tế về Dân chủ năm nay, chúng ta có thể thấy rằng thế giới có vẻ hỗn loạn hơn bao giờ hết. Tại nhiều khu vực và bằng nhiều cách khác nhau, các giá trị của Liên Hợp Quốc - trong đó bao gồm một số quyền cơ bản nhất và các quyền tự do được ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc - đang bị thách thức nghiêm trọng.

Những vụ bùng phát bạo lực gần đây đã củng cố một sự thật mà chúng ta đã chứng kiến nhiều lần qua thời gian và một lần nữa lại được chứng minh: Ở những nơi mà một mô hình xã hội văn minh chưa được coi trọng, và ở những nơi mà các Chính phủ không đáp ứng nhu cầu của người dân và có trách nhiệm, hòa bình, bình đẳng và thịnh vượng chung sẽ không thể đạt được. Chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để trao quyền cho các cá nhân, tập trung giúp đỡ hàng tỷ người đang trong hoàn cảnh khó khăn, thiệt thòi, thất nghiệp, vô vọng và thất vọng cùng cực. Chúng ta cần phải đảm bảo rằng tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe và họ có thể tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tương lai của chính mình.

Đó là lý do tại sao thông điệp ngày hôm nay của tôi hướng tới những người sẽ ở vị trí đi đầu của thế giới sau năm 2015, và những người tự bản thân họ đang đứng trước một bước ngoặt lớn trong cuộc sống của mình: những bạn thanh niên. Cứ một trong số năm người trên thế giới hiện nay đang trong độ tuổi từ 15 và 24. Trong lịch sử, chưa bao giờ sự chuyển đổi từ thanh thiếu niên đến tuổi trưởng thành phải đối mặt với những thách thức to lớn như vậy. Tuy nhiên các bạn cũng gặp rất nhiều may mắn được tạo ra bởi các cơ hội.  Các bạn có quyền để kết nối mà điều này không thể tưởng tượng được khi Liên Hợp Quốc được thành lập gần 70 năm trước đây. Các bạn được kết nối với những vấn đề quan trọng. Bất công. Phân biệt đối xử. Vi phạm quyền con người. Các bài giảng về sự thù ghét. Sự cần thiết phải đoàn kết nhân loại.

Tôi kêu gọi các thành viên của thế hệ thanh niên đông đảo nhất trong lịch sử hãy đối đầu với những thách thức và xem xét đến những gì các bạn có thể làm được để giải quyết chúng. Hãy quyết định số phận của các bạn và biến những giấc mơ của các bạn trở thành một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người. Hãy góp phần xây dựng những xã hội dân chủ mạnh mẽ và tốt hơn. Hãy đoàn kết làm việc cùng nhau, hãy sử dụng tư duy sáng tạo của các bạn, hãy trở thành những nhà kiến trúc sư cho một tương lai mà không ai bị tụt lại phía sau. Hãy giúp thiết lập thế giới của chúng ta vì một tương lai tốt đẹp hơn.

Nhân ngày Quốc tế về Dân chủ năm nay, tôi kêu gọi các bạn thanh niên ở khắp mọi nơi trên thế giới hãy dẫn dắt cho một sự thúc đẩy lớn lao để có được một nền dân chủ toàn diện trên toàn thế giới.



 Tội nghiệp cho tiếng Việt dưới chế độ vc

Kính thưa quý vị,

Bởi vậy tôi thấy rất tội nghiệp cho tiếng Việt của vc, riết rồi nó tối đen, nó rối nùi, nghĩa là nó làm cho tiếng Việt mất nét trong sáng, thanh lịch và duyên dáng sẵn có của nó. 

Tiếc thay, thưa, đây mới là vấn đề quan trọng . Tiếc thay người Việt trong nước bị "nhiễm", bị lây do ở chung với vẹm nên thấm đòn, bởi hàng ngày đài phát thanh, TV, sách báo cứ ra rả gieo vào đầu họ . Nhưng người Việt tỵ nạn cs ở hải ngoại và nhất là giới báo chí, truyền thông hải ngoại, tại sao cũng dùng thứ chữ nghĩa rối mù và "quằn quện" lai căng, lai chệt đôi khi vô nghĩa của vẹm ? Câu nói của ca sĩ Thu Phương mà ông Đỗ Hưng nêu ra sau đây là một trường hợp để chúng ta có dịp nhìn lại tiếng Việt sau 40 năm bị vc đầu độc như thế nào .

Đúng như vậy, những chữ tỏa sáng, nắm bắt, màu sắc ... trong câu nói của "ca sĩ" ( xin xem phần góp ý của ông Đỗ Hưng sau đây ) nó chỉ khiến cho câu nói của cô trở nên ngây ngô . Nhưng một khi được cô "ca sĩ" nói lên thì sẽ có nhiều người "tiếp thu" và học hỏi, bắt chước theo . Đó là cái đáng sợ của sự lan tràn của tiếng vc, do cố ý hay vô tình của cộng đồng người Việt chúng ta ở hải ngoại .

Vừa rồi BS Nguyễn Hy Vọng cũng có nhắc đến vấn đề tiếng Việt của "trí thức" vc ở Hà Nội và ông đã chịu khó ra công "lượm rác" ( có hàng đống to ) trong một cuốn từ điển tiếng Việt của các "học giả" trong nước mà khi đọc lên chúng ta không thể nào chịu nổi cái dốt nát, ngu si, đần độn của họ . Mời quý vị đọc bài viết đó của BS Nguyễn Hy Vọng . Tôi chỉ xin trích ra đây một ví dụ, trong muôn ngàn ví dụ khiến chúng ta cười ra nước mắt và đau lòng cho tiếng Việt của chúng ta :

Đây là câu giải thích cái miệng trong cuốn từ điển tiếng Việt của vẹm ( có bổ sung và sửa chữa của nhiều học giả, ghê quá ! )

MIỆNG : là một bộ phận hình lỗ ở phía dưới của mặt ( trời đất quỷ thần ơi !!! ) 

chữ nghĩa vc
Đọc xong tôi muốn nói với các" trí thức" Bắc kỳ vc rằng :

"Nếu mấy ông có im cái miệng thì cũng không ai nói mấy ông câm, chứ đừng có viết sách, viết từ điển để dạy con trẻ ăn nói dốt nát và bẩn thỉu như thế này ! "
Cách ăn nói và viết lách của vc bây giờ dần dần khiến tiếng Việt của chúng ta đi xa nguồn gốc dân tộc . Đôi khi đọc một bản tin, nhất là tin chiến sự hay tin thể thao, tôi không hiểu người viết muốn nói cái gì . Dường như là họ cố nhồi nhét cho được nhiều tiếng vay mượn lai căng, nhất là vay mượn của chệt cộng như : tiếp cận, hiển thị, cá thể đối tượng ( dùng sai chỗ ) điạ bàn, động thái, bình ổn, chế tác, vĩ mô, động viên, tiến độ, đáp án, hiện trường v.v... để loè thiên hạ rằng ta đây "có chữ" chăng ? 

Thử hỏi khi đọc câu " Một cá thể bọ xít hút máu người tại tỉnh ... " có làm cho chúng ta phì cười thương hại hay không ? Tại sao chỉ cần nói : "Một con bọ xít " là đủ, mà lại ... chê, không chịu nói ???

Hay là câu " Các triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết là ..." thì vc lại khoái nói : "Các triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết bao gồm ... " Phải là bao gồm thì mới oai . Khổ thật !
Và những câu ngô nghê như :

Anh ta làm như thế là muốn thể hiện . Nhưng thể hiện cái gì mới được ? 

Hay là :

Anh ấy đi suốt . Suốt là suốt ngày, suốt tháng hay suốt năm ? Giống như kiểu nói " Tôi điện cho anh, anh điện cho tôi " vậy . Điện đâu có nghĩa là cái máy để gọi đi xa .

Trường hợp này giống chữ viện trong "bệnh viện" . Vc hay nói "nằm viện, nhập viện, xuất viện" Chữ viện dùng một mình như vậy không đủ và không đúng mà phải nói là bệnh viện hay dễ hiểu và bình dân hơn là nhà thương . Viện có nghĩa là một cơ sở, một nơi chốn . Còn cơ sở ấy, nơi chốn ấy để dùng vào việc gì thì chúng ta sẽ có một chữ đi theo để chỉ rõ như : thẩm mỹ viện, thư viện, viện bào chế thuốc, y viện ( như Tổng Y Viện Cộng Hoà của chúng ta xưa ) viện dưỡng lão, viện tế bàn, viện cô nhi, dưỡng trí viện ( Biên Hoà ), viện ... uốn tóc ( hi hi ), viện bảo tàng v.v... 
Nói nằm viện không không như vc và bây giờ người ta thường nói, không sợ bị hiểu lầm là vào nằm trong viện ... bảo tàng sao ? 

Ngoài ra một chữ mà từ 40 năm nay chúng ta thường thấy người Bắc 75 dùng sai là chữ chất lượng . Nó sai hoàn toàn và sai xa lắc mà cho tới hôm nay, người ta vẫn dùng, ngay trong những bài viết rất khá . Biết sai mà không sửa thì làm sao thế hệ con cháu chúng ta, chúng nó sử dụng tiếng Việt cho hay, cho trong sáng và thanh lịch được ?
Xin phép được nhắc lại, mong quý vị thứ lỗi : chất là cái phẩm chất của một vật ( qualité, quality ) còn lượng là số lượng, đong, đếm, đo lường được ( quantité, quantity )

Nói : 

"Món hàng này chất lượng quá" có phải là tự mình hạ thấp cái ..."chất lượng" ăn nói tiếng Việt của mình không ??? Nói như vậy, theo ca sĩ Thu Phương là không có "màu sắc", không "toả sáng" đấy quý vị ạ . Xin lỗi quý vị, mong miễn chấp khi tôi dùng chữ chất lượng ở đây nhé .

Tôi cũng có nghe và đọc những cách dùng chữ của người VN bây giờ như "đỉnh, điểm, chuẩn ... " Ví dụ trong câu :

Anh ấy ăn nói đỉnh thật . Hay là : Chị nói tiếng Pháp rất chuẩn . Xin thưa, phải nói lại là : Ăn nói hay, ăn nói hùng hồn, minh bạch và : Chị nói tiếng Pháp rất đúng văn phạm, hay đúng giọng . 

chữ nghĩa vc
Chuẩn là một nửa của chữ chuẩn mực, chuẩn xác, tiêu chuẩn . Còn đỉnh là chỗ cao nhất của một vật như đỉnh núi hay đỉnh cao trí tệ loài khỉ ... Không thể nói " Ăn nói rất đỉnh " được, khó nghe quá . Tội nghiệp cho tổ tiên, ông bà cha mẹ chúng ta quá . Còn câu sau đây của vc nữa nè :

Trời âm u, có khả năng là sẽ mưa đấy . Người VNCH sẽ nói :
Trời âm u, sắp mưa đến nơi rồi . Có lẽ dưới "góc độ" của vc, chúng ta ăn nói bình dân quá chăng ?
À, tôi lại nhớ ra chữ góc độ nữa . Cái gì cũng góc với độ, chắc vẹm khoái môn hình học ? Xem một chương trình dạy nấu ăn ở VN mà cũng độ này, độ nọ những khi không cần thiết như :
Làm như thế này để tạo độ mỏng cho cái bánh .

Chúng ta chỉ cần nói : Ép bột và cán mỏng thì bánh sẽ đẹp hay gì gì đó, cần gì mà độ mặn, đồ ngọt, độ dầy với độ mỏng ... và ghê hơn nữa là chữ xử lý bị lạm dụng hết cỡ thợ mộc luôn :
Làm bột xong, sẽ xử lý đến rau . Kinh quá đi mất, nổ quá đi . Rửa rau hay bày rau ra dĩa thì nói bà nó ra là rửa rau, nhặt rau, bày rau, chớ xử lý cái con khỉ mốc gì . Khổ quá !

Kính thưa quý vị,

Nhận thấy sự thâm độc do lây truyền chữ nghĩa vc làm cho tiếng Việt của chúng ta thành ra dị hợm, buồn cười và về lâu sau có thể sẽ biến thành một thứ tiếng nói rất xa với tiếng của ông bà, tổ tiên chúng ta để lại (tuy ai trong chúng ta cũng hiểu được rằng, bất kỳ thứ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng phải chịu sự thay đổi và phát triển theo tiến trình phát triển của nhân loại trên mọi lãnh vực, từ đó sẽ có những chữ mới được sáng tạo ra và được thừa nhận để ghi vào từ điển . Nhưng đó là với ngôn ngữ của các quốc gia tự do đã phát triển . Họ có Hàn Lâm Viện để làm công việc duyệt xét tiếng mới, chữ mới cho vào số vốn có sẵn trong ngôn ngữ của họ . Nhưng trường hợp của VNcs thì không, bằng chứng là sau 40 năm cưỡng chiếm miền Nam, vc đã làm bại liệt, tiêu tan nền tảng trong kho tàng văn hóa dân tộc như thế nào, hẳn không ai có thể phủ nhận ) 

Vì vậy, người-Việt-không-cs chúng ta ở hải ngoại hãy cố gắng giữ gìn cách ăn, cách nói của chúng ta, của các thế hệ cha ông chúng ta và truyền đạt lại cho con cháu chúng ta . Đừng để bị đồng hóa, bị lây nhiễm những thứ độc hại từ văn hoá chết bầm, văn hóa của tiến sĩ giấy, thạc sĩ rừng, cử nhân chích heo hay hoạn lợn, khi ra nước ngoài thì múa may như một tên hề mà một tiếng bonjour không nói được, để mang nhục quốc thể . Đừng để bị cái thứ văn hóa khom lưng, cúi lạy người "nước lạ" anh em 4 tốt để trở thành con khỉ trong gánh hát xiệc Sơn Đông . Đừng để bị nhồi sọ bởi cái thứ văn hoá nhổ ra rồi liếm lại ( chửi Mỹ rồi đi rước Mỹ về ) của bọn bán nước cầu vinh hiện nay .



 Đời Mồ Côi

Em sinh ra đã không hề biết mẹ
Hàng ngày Em theo chị để ăn xin
Ngày đầu đường đêm ghế đá công viên
Sống lay lắt nhờ đồng tiền thiên hạ.













Nhiều khi đói sữa thay bằng nước lã
Hai chị em vật vã dạ cồn cào
Dế ve Sầu nướng lót dạ đêm thâu
Mong trời sáng xin cơm thừa hàng quán.













Cha chết sớm mẹ bị người ta bán
Sang bên Tàu vào động bán dâm
Nhà cửa ruộng nương
Đảng qui hoạch chẳng bồi thường
Nghe người nói cán bộ phường chia chác














Mình sống được nhờ tấm lòng cô bác
Nín đi nào chị sẽ hát ầu ơ
Mất mẹ cha đời đói rét bơ vơ
Đừng khóc nữa em thơ xin hãy hiểu.













Chuyện xui xẻo đẩy đưa đời cô lựu
Chị bị tông xe nằm ngất bên đường
Khi mọi người đưa chị đến nhà thương
Chị đã chết từ trên đường nhập viện.
















Kẻ tông chị là đảng viên say xỉn
Sợ liên quan chúng đã biến vào đêm
Hết họ hàng giờ chỉ còn mình em
Nên ánh mắt mới buồn lên đến thế.















Anh xin lỗi mấy tháng rổi mới kể
Chỉ mong sao ánh mắt bé vơi buồn
Trẻ ăn mày không được đảng yêu thương
Nhưng còn có những trại cô nhi viện


MUA ĐÀN BÀ VN : Không ưng được đổi lại

Đây là thời đại siêu xa lộ tin tức, đâu phải chúng muốn làm gì thì làm.

Linh Nguyên


Ngốc ơi là ngốc . Một lũ cán ngố đứng xếp hàng một để ... ngửi . Đúng là một đám hề ! 
Còn mụ "y tế" thì ... nếm . Chán ơi là chán ! Kết quả là đã 40 năm , VN vẫn còn thù lù hàng đống thực phẩm độc hại và bẩn cuả bọn Chệt cộng tống sang . Hiện nay VNcs đang đứng đầu bảng thế giới về ung thư , thì mụ "y tế " có "nếm" cho lắm , cũng bằng thừa . 
Xem kết quả , biết việc làm .

HY.
              

Cán Ngố Gộc đi thanh tra kiểm soát...

Bó tay Bó tay ! Hết ý, hết ý kiến.

Cùng nếm, ngửi, gõ với các Bộ trưởng Ngố: Kim Tiến - Khôi Nguyên - La Thăng:

Mụ Kim Tiến, Bộ trưởng Y té (giếng) Ngố đi kiểm tra thực phẩm ở chợ như vầy nè !!!!
  
            

Chị Kim Tiến, bộ chưởng Y tế đi kiểm tra thực phẩm ở chợ


Anh Phạm Khôi Nguyên, bộ chưởng bộ Tài Nguyên và
Môi trường và bầu đoàn đi kiểm tra chất lượng môi trường"
 Chỉ bọn quan chức Việt Nam mới có hành động kỳ quặc và ngu xuẩn thế này!
Ối trời ơi là ông Tiến sĩ ! Ông nghè Phạm Khôi Nguyên ơi
 Anh Đinh La Thăng, bộ chưởng bộ Rao Thông đi kiểm tra độ lún của mặt đường



CHÂN DUNG 'CÁC ĐẦY TỚ NHÂN DÂN'



Ngạo mạn, dâm ô chính là Lê Duẩn
Già mà lắm con là lão Đỗ Mười
Mưu mô quỷ quyệt là Lê Đức Anh
Nhẫn nhục sống lâu là Võ Nguyên Giáp
Chưa nói đã cười là Nguyễn Minh Triết
*

Giả danh Mác xít là Lê Khả Phiêu
Cái gì cũng nhặt là Tô Huy Rứa
*
Không bộ nào chứa là Nguyễn Thiện Nhân
Vì gái quên thân là Nông Đức Mạnh
Thức thời, né tránh là Nguyễn Hải Chuyền
Miệng lưỡi dịu mềm là Vương Đình Huệ
Thiểu năng trí tuệ là Đinh La Thăng
*
Ghét trung yêu nịnh là Lê Hồng Anh
Phát biểu lăng nhăng là Phạm Vũ Luận
Quen đánh giặc miệng là Trương Tấn Sang
*
Thầy gét bạn khinh là Hồ Đức Việt
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Đổi trắng thay đen là Trương Vĩnh Trọng
Triệt suy phù thịnh là Trần Đình Hoan
Đã dốt lại tham là Lê Thanh Hải
*
Ăn vụng nói dại là Đinh Thế Huynh
Cạn nghĩa cạn tình chính là Tô Lâm
Juda phản chúa là Nguyễn Đức Tri
Tình duyên lận đận là chị Kim Ngân
Vừa béo vừa dâm là Tòng Thị Phóng
*
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Lên chức nhờ cha là Nguyễn Thanh Nghị
Mặt người dạ thú là Phạm Quý Ngọ
Tính tình ba phải là Phạm Gia Khiêm
Chưa từng thanh liêm là Nguyễn Thế Thảo
*
Ăn tiền tàn bạo là Nguyễn Đức Nhanh
Chạy trốn an toàn là Dương Chí Dũng
Nghìn tỉ tham nhũng là Vinashin
‘Bà con’ Thủ Tướng là Phạm Thanh Bình
Ngậm thị ăn tiền là Vũ Huy Hoàng
*
Xôi thịt mê gái là Trịnh Đình Dũng
Lừa thầy phản bạn là Trương Hòa Bình
Ăn no kín tiếng là Cao Đức Phát
Móc ngoặc đi đêm là Ngô Xuân Dụ



Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu

image
Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...


Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)
















Ha ha ha !
Hố hố hố !
Không biết làm thịt em nào trước đây?
xem thêm


Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-



Sốc - Lính Trung cộng hành hạ tra tấn tù binh VN vô cùng tàn bạo dã man


Nhà báo Bùi Tín phản bác luận điệu xuyên tạc của báo QĐND ngày 26-08-2012.






SỐNG VỚI BỌN "ĐỈNH CAO TỘI ÁC" VIỆT CỘNG, "CHÚA TRÙM THAM NHŨNG" 
TỤI MÌNH CŨNG KHỐN NẠN VỚI CHÚNG NÓ, NÓI CHI CON NGƯỜI -






 

__._,_.___

Posted by: hung vu 

Vai Trò Của Các Mạng Truyền Thông Xã Hội


Vai Trò Của Các Mạng Truyền Thông Xã Hội 

Tư pháp VN dàn dựng vụ án để hại LS Lê Quốc Quân

https://www.youtube.com/watch?v=QYr0cS5kFG4


TS. Nguyễn Hưng Quốc 
September 11, 2014
0 Bình Luận

Tôi chơi facebook đã được trên 5 tháng. Càng chơi càng thích. Thế giới facebook đa dạng vô cùng. Nhảm nhí: nó có thừa. Khoe khoang để tự sướng: cũng có thừa. Nhưng tôi chỉ chú ý nhiều nhất đến các trang facebook nghiêm túc, ở đó, người viết và người đọc bày tỏ những thao thức về tình hình chính trị Việt Nam.

Phải nói ngay, những bài viết cũng như những ý kiến phản hồi về chính trị như vậy khá giống nhau. Khác ở góc nhìn. Khác ở giọng điệu. Và khác ở tiểu tiết. Nhưng nhìn chung, tất cả đều nhắm vào hai vấn đề chính: Một, lên án sự độc tài và bày tỏ ước vọng dân chủ hóa để đất nước được tự do và phát triển; và hai, lên tiếng báo động trước âm mưu xâm lấn của Trung Quốc và phê phán thái độ nhu nhược và bất lực của chính quyền Việt Nam.

Bản thân tôi, từ mấy tháng vừa qua, cũng chỉ tập trung vào hai vấn đề chính ấy.
Từ góc độ một nhà văn, chỉ quanh đi quẩn lại với hai loại đề tài ấy, nguy cơ rất dễ thấy: trùng lặp, đơn điệu và nhàm. Tôi biết vậy nhưng lại không thể thoát được. Có hai lý do: Một, đó là những ám ảnh lớn cứ đau đáu trong lòng; và hai, tôi nghĩ, trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, mọi tiếng kêu gào đều cần thiết. Bởi không phải ai cũng hiểu tất cả những thảm họa đất nước đang đối diện. Nếu hiểu, chưa chắc mọi người đã biết phải làm gì. Hơn nữa, tiếng kêu gào, tự nó, cũng là một thứ vũ khí.

 Một tiếng kêu gào đơn độc của một cá nhân là một sự tuyệt vọng của nạn nhân. Nhưng khi tiếng kêu gào ấy được vang âm và bắt gặp sự đồng điệu của đám đông, nó sẽ trở thành một bản hùng ca của những người ra trận. Khi cả hàng triệu người cùng gào, tiếng kêu của họ sẽ trở thành những bài ca chiến thắng.

Nhưng làm cách nào để cả triệu người cùng gào? Có hai điều kiện: Một, do một tác nhân bên ngoài khiến mọi người phẫn nộ và quên cả sợ hãi để dám xuống đường gào thét phản đối lại bạo quyền (như những gì đã xảy ra ở Trung Đông và Bắc Phi vào đầu năm 2011); và hai, khi mọi người ý thức rõ những bất công mà mình đang gánh chịu là một sự phi lý, không thể chấp nhận được (như những gì xảy ra tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối thập niên 1980). Điều kiện thứ nhất có thể đến một cách bất ngờ, không thể lường trước; còn điều kiện thứ hai thì cần thời gian để chín muồi  Các trang truyền thông xã hội có thể góp phần đắc lực để thúc đẩy quá trình chín muồi của điều kiện thứ hai này.

Để làm được điều ấy, người ta không cần phải kích động hay xúi giục ai cả. Các trang truyền thông xã hội, khi cố gắng vạch trần bộ mặt thật của chế độ, chỉ nhắm đến một mục tiêu đơn giản và rất khả thi: giành quyền viết lại lịch sử. Ở đây có hai khía cạnh cần chú ý: Một, như nhiều học giả từng ghi nhận, lịch sử bao giờ cũng được viết bởi những người thắng cuộc; và hai, lịch sử ấy nhắm vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất, huyền thoại hóa các chiến công của họ, và thứ hai, bôi nhọ kẻ thù. Ở cả hai khía cạnh này, chính quyền Việt Nam, từ năm 1954 và đặc biệt, từ năm 1975, khi cả nước được thống nhất, được chính quyền Việt Nam thực hiện một cách đầy tự giác và triệt để. 

Họ bôi nhọ chính quyền miền Nam là ngụy quyền và Mỹ, kẻ từng giúp chính quyền miền Nam, là đế quốc và thực dân kiểu mới. Họ cũng tích cực tô vẽ hình ảnh của họ như những bậc anh hùng được cả thế giới ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến nổi nhiều người ngoại quốc từng nằm mơ thấy mình là người Việt, dĩ nhiên, là Việt xã hội chủ nghĩa. Không những anh hùng, họ còn là những con người mới xã hội chủ nghĩa đẹp đẽ, nói theo hai câu thơ của Tố Hữu: “Còn gì đẹp trên đời hơn thế / Người với người sống để yêu nhau” hoặc một câu thơ của Chế Lan Viên: “Ôi ta là ta mà ta vẫn cứ mê ta”.

Từ trước đến gần đây, chính quyền là những kẻ duy nhất có quyền viết lịch sử. Quyền ấy, không ai được chia sẻ cả. Ngay cả những người từng nắm giữ những chức vụ cao cấp với họ cũng không được quyền chia sẻ. Đó là lý do tại sao cuốn hồi ký Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Trần Văn Trà, vị tướng trong quân đội của họ, cũng bị thu hồi. Lý do? Nó lệch ra ngoài, dù chỉ một chút, thứ lịch sử chính thống của họ. Đó cũng là lý do tại sao gần đây, chính quyền Việt Nam ra lệnh tất cả các cuốn hồi ký, của bất cứ người nào, cũng phải qua kiểm duyệt trước khi được in. Các loại sách khác có thể được xuất bản qua phương thức liên kết với tư nhân hay tổ chức xã hội. Trừ hồi ký.

Bây giờ, với sự phát triển ào ạt của các trang mạng xã hội như blog hay facebook, người dân có thể lên tiếng bày tỏ quan điểm cũng như kinh nghiệm của mình, thế độc quyền của những người cai trị bị thách thức. Họ không thể kiểm duyệt hay cấm đoán hết được. Những câu chuyện người thật việc thật, hoàn toàn có thực, được tung lên internet. Qua những câu chuyện ấy, người ta có thể nhìn thấy chính quyền mang một bộ mặt khác hẳn. Họ độc đoán. Họ tàn bạo. Họ có những chính sách lầm lẫn một cách tai hại. Hay nói theo cách nói cô đúc được lưu hành trên internet lâu nay: Họ “lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân”; còn về chiến lược, họ loay hoay giữa hai hướng: theo Mỹ thì mất đảng, theo Trung Quốc thì mất nước, họ thà chọn mất nước.

Với những lịch sử như thế, vai trò độc quyền của những kẻ chiến thắng bị hẹp lại; các huyền thoại của họ, do đó, có nguy cơ bị phá vỡ dần dần. Với một chế độ độc tài, huyền thoại là một trong những trụ cột chính trên đó người ta xây dựng quyền lực. Khi huyền thoại bị phá vỡ hoặc xói mòn, nền tảng của chế độ cũng lung lay.
Làm chế độ lung lay, dù một cách tiệm tiến, tự nó, đã là một thành tích quan trọng rồi.

Tôi Hãnh Diện Có Quá Khứ Làm Người Tị Nạn Cộng Sản Việt Nam

Bai viết của Thầy Phạm Cao Dương cho học trò thầy (là tôi người đang viết mấy giòng này) những bồi hồi, làm mắt tôi rưng rưng và tôi cảm thấy tôi hãnh diện biết bao khi có một quá khứ làm người Tị Nạn Cộng Sản Việt Nam.
Chúng ta sinh sống trên quê hương thứ hai là chúng ta đươc tái sinh để làm người. Quê hương VN trên mỗi bước chân của người Việt tị nạn Cộng Sản và của con cháu những người Việt này . Chúng ta chạy ra Biển Đông tìm tự do chứ không tìm miếng cơm manh áo như các đợt di dân trong lich sử nước Mỹ. Chi có khối người VN chạy giặc Cộng trôi nổi trên Biển Đông sau ngày 30 tháng tư 1975 đã cho thế giới biết thế nào là sự tàn ác ác của Cộng Sản Việt Nam và cho quê hương thứ hai biết thế nào là sức mạnh của chứng ta.
Con cháu chúng ta hiện nay và mãi mãi vẫn là những công dân đóng góp rất nhiều cho quê hương: bất cứ nơi nào chúng ta có tự do và được quyền sống trên thế giới. Cộng đồng vũng mạnh, người Việt có tiếng nói mạnh.
Quốc gia Ái Nhĩ Lan chỉ có 4 triệu 800 ngàn người sống tại quê. 20% dân Mỹ là gốc Ái Nhĩ Lan và 22 Tông Thống trong số 44 Tổng Thống Mỹ có giòng máu Ái Nhĩ Lan.
Chúng ta không phải về VN để chứng tỏ là người yêu nòi giống Việt. Hãy sống và làm được những gì quan trọng để mỗi lá phiếu của khối người VN Hải ngoại là những lá phiếu quan trọng mà bât cứ ai cũng cần lá phiếu của chúng ta.
Cám ơn Thầy với bài viết cho em hãnh diện hơn rằng em vẫn thấy quanh em còn có những người yêu quê hương nòi giống Việt Nam đích thực .
Kính chúc Thầy luôn có sức khỏe cho lòng chúng em những đứa học trò ngây thơ ngày nào biết mình vẫn còn có một quê hương và những bậc thầy yêu mến.
Kính.
Thu Hương
sinh viên Văn Khoa 65/68 và Đại Học Sư Phạm Saigon khóa 1970
Cô Thu  Hương thân mến,
Tôi rất muốn gọi Cô Thu Hương là “Thu Hương” như gọi các sinh viên cũ của tôi hơn nửa thế kỷ trước và xưng là “thày”.  Nhưng vẫn thấy bất tiện.  Hồi đó Cô chỉ là một thiếu nữ mới lớn, trên dưới hai mươi, mới vào ngường cửa đại đọc và bây giờ mọi chuyện đã đổi khác rồi. Tạm thời gọi Cô bằng “Cô” vậy.
Cảm ơn Cô đã quan tâm tới bài tôi viết.  Bây giờ tôi xin thưa với Cô như thế này:
Ý chính của tôi liên hệ tới chủ đề “Dựng Tượng Đức Thánh Trần ở Little Saigon” là  qua ba tiếngĐức Thánh Trần mà tôi dùng, tôi muốn khơi dậymạch sống đầy sinh lực, đầy linh khí đã và đang tiềm tàng, ẩn náu trong mỗi một con người Việt Nam chúng ta dù chúng ta ở bất cứ nơi nào trên thế gióimà bây giờ chúng ta rất cần vì sau bao nhiêu đau thương, chếtchóc, nước mắt tràn ngập Biển Đông, chúng ta đã có được một Việt Nam thứ hai, mộtViệt Nam Trẻ với lãnh thổ trải rộng toàn cầu, chỗ nào cũng có Việt Nam nếu có người Việt.  

Chúng ta đã có được môt Siêu Quốc gia Việt Nam trên đó mặt trời không bao giờ lặn mà người Anh hồi thế kỷ 19, và người Tầu hiện tại không có được vì nó không hình thành bằng xâm lăng, chém giết và đô hộ hay do tha hương cầu thực hay bành trướng kinh tế làm giàu.  Siêu quốc gia của chúng ta hình thành bằng sự đau khổ, tủi nhục, bằng máu và nước mắt của hàng triệu dân tị nạn đã liên tục bỏ nước ra đi từ sau biến cố 1975 với hàng nửa triệu bỏ thây ngoài biển cả hay chết thê thảm nơi rừng rậm hoang vu, vào không có lối ra ở Kampuchea, không ai biết đến.  Chúng ta không bao giờ được quên điều đó.  Quên là vô ơn, là có tội. 

Siêu quốc gia của chúng ta là món quà Trời cho ngàn năm một thuở chỉ dân ta mới có cái may có được.  Nó hợp với sinh hoạt của thời đại mới giữa lúc biên giới, giữa các nước mỗi ngày một mờ nhạt dần trước sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, kinh tế và thương mại.  Nó sẽ giúp cho Việt Nam thoát khỏi tình trạng nhược tiểu để có cơ hội vươn lên nếu chúng ta biết nắm bắt.  Nhưng vì nó hình thành bởi con người nên cần phải có sư tin tưởng của chính con người vào tương lai của chính mình, con cháu mình và cả dân tộc mình.  Sau ngót bốn mươi năm tranh đấu để sinh tồn, để phát triển, các cộng đồng của chúng ta đã bắt đầu đứng vững.  Các con cháu chúng ta đã bắt đầu thành công và lập nên sự nghiệp không nhỏ,  với sự đóng góp rất là khiêm nhượng của chúng ta.   

Chúng ta đã quá quan tâm đến quá khứ và đến Việt Nam ở bên kia mà quên đi chính con em của chúng ta ở bên này.  Bây giờ thì chúng ta phải nghĩ lại và sửa đổi.  Việc chỉnh trang lại những nơi mình đang ở là một việc làm vô cùng quan trọng.   Chỉnh trang từ hình thức, vật chất tới tinh thần, từ cách suy tư,  tín ngưỡng cao, thấp để người trẻ có thể tìm thấy một cái gì đó mà trở về với chính mình và với cộng đồng của mình và người già có chỗ để nương dựa trong lúc tuổi xế chiều.  chúng ta có đầy đủ tư do đển làm điều này, nếu chúng ta muốn.  Các nhà cầm quyền đia phuơng không bao giờ ngăn cản chúng ta cả nếu đó là hợp pháp. 

Chúng ta phải trở về để  đến với con cháu chúng ta và chăm sóc cho họ.  Họ ở đâu, quê hương của chúng ta ở đó.  Vợ con, chồng con chúng ta ở đâu, nhà chúng ta ở đó. Sáng đi, chiều về, chúng ta lại về đó , “về nhà”.   Hãy dành một phần thì giờ, công, sức, tiền bạc cho con cháu chúng ta, cho chính quê hương trước mắt của chính chúng ta thay vì cho một nước Việt Nam quá già nua, cũ kỹ, cạn kiệt sinh lực, bạc nhược tinh thần nhưng con người ở đó vẫn một mực tin tuởng vào những gì lãnh đạo của họ chọn lựa và cho rằng mình đã chiến thắng, đã tiến bộ nếu không hơn thì cũng ngang với các nước tiền tiến trên thế giớivới đầy nhà chọc trời, với xa lộ chạy khắp lãnh thổ, với biệt thự nguy nga nhờ chiền thắng Miền Nam của họ.  
Đã đến lúc chúng ta phải  dùng thành ngữ bình dân “Bỏ đi Tám” hay “Tạm quên đi, Tám”, phải xét lại tất cả để khỏi phải hối tiếc là khi con cháu chúng ta còn nhỏ, còn nằm trong tầm tay chúng ta, chúng ta đã mải mê những chuyện khác hơn là chăm sóc họ, chơi với họ lúc chiều về hay bế ẵm họ, thay tã cho họ truyền lại linh khí của tổ tiên lại cho họ dạy họ học bài buổi tối trước khi họ có cuộc sống riêng, vượt khỏi tầm tay của chúng ta.  Bây giở thì tự họ đã ý thức được họ là ai, đã cố gắng, đã thành công và lập được sự nghiệp và đứng vững.  Phải chăng một lần nữa, đó là do Trời định, là do mạch sống chứa đựng đầy linh khí cuả ông cha chúng, tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam của chúng ta, của các em? là linh khí, là khí hạo nhiên trong mỗi con người chúng ta, trong mỗi con ngưòi các em?  Tôi không có câu trả lời, nhưng tôi vẫn tin ở tương lai lâu dài của dân tộc, ở “Sách Trời.”  Kẻ kia có muốn  chẳng làm gì được chúng ta.   Chúng ta đã đứng vững hơn hai ngàn năm. Không cò lý do gì chúng ta không đứng vững thêm vài ba ngàn năm nữa để dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn.

Cuối cùng tôi xin gửi Cô những câu thơ của Nguyễn Văn Giai mà  tôi được học ttrước đây, trích tứ bài Hà Thành Chính Khí Ca nói về Tổng Đốc Hoàng Diệu:
Một vùng chính khí lưu hình 
Rộng trong Trời Đất nhật tinh, sơn hà.
Hạo nhiên ở tại lòng ta.
 
Tấc gang son sắt hiện ra khi cùng. 
Hơn thua theo vận truân phong.
Ngàn thu để tiếng anh hùng sử xanh.

 Nhớ lại nhưng câu này, bây giờ tôi vẫn còn bồi hồi, xúc động.  Các cụ Nhà Nho chúng ta ngày xưa là thế đấy ! Chúng ta đứng vững ngàn năm là nhờ thế đấy!
Xin Cô Thu Hương coi đây như một bài học ngắn ngoài chương trình để bài giảng thêm vui của tôi bên cạnh những bài học ngày xưa.  
Mong Cô cho tôi thêm chi tiết để tôi liên lạc.

Thân mến,
Phạm Cao Dương, TS


“Thoát Trung”?!

Huỳnh Thục Vy
June 21, 20142 Bnh Luận
“Thoát Trung”?!
Gần đây tôi tình cờ đọc “Thoát Trung luận” của Tiến sĩ Giáp Văn Dương. Tôi khá ngạc nhiên với lời khẳng định “Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung”. Nếu khẳng định này đúng, thì hệ lụy của các “giá trị Á Đông” Khổng Nho không đến nỗi sâu sắc đến độ trở thành não trạng của người dân Việt Nam và nặng nề đến nỗi gây cản trở quá trình tiến về phía thế giới tự do của chúng ta hôm nay. Nói vậy không phải để thất vọng mà để nhận thức được rằng người Việt chúng ta phải nỗ lực một cách thành thật, kiên trì và thậm chí là đau đớn để thực sự “thoát Trung”.
“Thoát Trung” giả hiệu hay “tự Hán hóa”
Từ sau một ngàn năm Bắc thuộc, các chế độ quân chủ “nội địa” được thành lập và nối tiếp nhau cai trị đất nước theo mô hình phương Bắc từ chế độ khoa cử đến hệ thống quan. Quả thật, việc áp đặt tư tưởng ngoại lai bởi những kẻ xâm lược luôn khó khăn và gặp phải nhiều kháng cự hơn là bởi chính những “ông vua nước Nam” đầy tính chính đáng và có cả lực lượng quan lại đông đảo cai quản đến các vùng xa xôi nhất của đất nước. Thật nghịch lý là không phải 1000 năm Bắc thuộc mà chính là thời kỳ độc lập lại khiến văn hóa Trung Quốc nở rộ ở nước Nam. Chính cái thời kỳ được gọi độc lập này, tư tưởng Khổng nho chủ đạo trong nền văn hóa và chính trị Trung Hoa trở thành tư tưởng và văn hóa chủ đạo của Việt Nam, lấn át tư tưởng Phật giáo đã âm thầm bám rễ vào các làng xã Việt Nam ngay dưới thời còn bị đô hộ.

Sự kiện toàn bộ máy quân chủ tập quyền ở Việt Nam song hành cùng với sự thể chế hóa tư tưởng và văn hóa Khổng Nho. Năm 1070, đời Lý Thánh Tông, Văn miếu Quốc tử Giám được xây dựng, là nơi thờ các vị “Thánh hiền” và là trường đào tạo các trí thức Nho học để chuẩn bị nhân sự cho hệ thống quan lại. Thời Trần Thái Tông, Quốc Tử Giám này còn có điện thờ Chu Cơ Đán – khai quốc công thần của nhà Chu bên Trung Hoa xa xôi. Thời nhà Nguyễn, quần thể kiến trúc này còn được xây bổ sung thêm nơi thờ cha mẹ Khổng Tử, không những không liên hệ gì với dân nước Nam, mà còn là những nhân vật không mấy đáng lưu tâm.

Dù tôn giáo của các vị quân chủ Việt Nam là gì, não trạng và chính sách cai trị của họ đều mang bản chất Khổng Nho. Sự phụ thuộc về ý thức hệ của các triều đại quân chủ Việt Nam, về mức độ tuy có khác, nhưng về bản chất không khác cái cách mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã áp đặt chủ nghĩa cộng sản ngoại lai, theo mô hình Nga Sô rồi đến Trung Cộng, lên đất nước này. 

Các triều đại quân chủ Trung Hoa có thể năm lần bảy lượt xâm chiếm Việt Nam và các triều đại Việt Nam dù phải triều cống Trung Hoa để bày tỏ sự khiêm nhường và hiếu hòa của một quốc gia nhược tiểu. Nhưng họ không có áp lực đòi nhà nước quân chủ nước Nam phải bắt chước mô hình chính trị của họ, bắt trí thức khoa bảng nước Nam phải học tập tư tưởng Khổng Nho và người dân nước Nam phải thực hành tập quán luân lý và nghi lễ theo cách của người Hán. Thiết nghĩ, đây là một sự tự nguyện hoàn toàn sự lựa chọn của tầng lớp cai trị và thức giả ngày xưa đã trở thành di sản nặng nề của chúng ta hôm nay.

Tiến sĩ Dương còn nói thêm: “việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này”. Thiễn nghĩ, việc chuyển sang sử dung chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo phương Tây sáng tạo nên không hẳn là minh chứng cho tinh thần “thoát Trung” như cách lý giải gượng ép của tiến sĩ Dương; mà chỉ là một sự thuận tiện vì chữ quốc ngữ dễ học hơn và sẽ giúp cho những người thông thạo nó tiến nhanh đến các vị trí công quyền của chế độ thực dân Pháp hoặc đó là cách tốt để tiếp cận kho học thuật phương Tây. Ý thức thoát Trung nếu đã bùng phát mạnh mẽ từ thời đó thì Việt Nam đã không có diện mạo tri thức và văn hóa như hôm nay. Cay đắng thay một quá trình “tự Hán hóa” (theo cách gọi của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa)!

Thoát khỏi tư tưởng Trung Hoa
Cuộc “thoát Trung” về chính trị, kinh tế có thể được thực hiện bằng chiến tranh (nếu Việt Nam có đủ sức?) hoặc bằng một sự thay đổi thể chế, khi một chính quyền bài Hoa, hoặc thân phương Tây được thành lập. Nhưng cuộc “thoát Trung” về tư tưởng thì khó khăn và dày vò hơn nhiều. “Thoát Trung” này cũng đồng nghĩa với sự “phương Tây hóa”, nghĩa là sự chắc lọc các giá trị công bằng – đa nguyên – tự do – dân chủ – nhân quyền. 

Cuộc “Thoát Trung” ngoạn mục và xứng đáng trong thời điểm hiện nay không phải là những cổ xúy cho chủ nghĩa dân tộc mà là sự “tự thắng” trong não trạng của giới trí thức Việt Nam, đặc biệt là giới trí đấu tranh đòi dân chủ đa nguyên. Vậy thì may ra cuộc “thoát Trung” của chúng ta mới bền vững và kể từ đó, lịch sử Việt Nam sẽ chuyển hướng mãi mãi khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa đến độ chúng ta có thể làm bạn với họ trong hòa bình và tôn trọng mà không mảy may lo sợ sự gần gũi này trở thành sự phụ thuộc.

Chế độ độc tài hiện nay không liên quan gì đến Khổng Nho, nhưng ít nhất, sự tồn tại dai dẳng của nó có sự trợ lực của những mầm mống Khổng nho còn bám sâu trong văn hóa người Việt – não trạng thèm khát nhưng vô cùng sợ hãi quyền lực. Thật vậy, ngay cả khi tính chính đáng của chế độ này bị thách thức liên tục qua những biến động của thế giới, qua thành tích Nhân quyền tồi tệ, qua thất bại trong việc đối phó với nguy cơ xâm lăng của chính quyền… người dân vẫn không ý thức được mình có quyền tước đi quyền lực từ tay tập đoàn cai trị. Và đáng thất vọng hơn là cách thể hiện của trí thức Việt Nam.

Sự khúm núm trước mọi thứ quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị khẳng định cái tàn tích dai dẳng của các “giá trị Á Đông”, mà chính xác hơn là tinh thần Khổng Nho còn sót lại lại ở vài quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam. Xu hướng cậy dựa quyền lực, thỏ thẻ van xin mà không dám đối mặt thẳng thắn với (chứ chưa nói là thách thức) kẻ cầm quyền cũng là một đặc trưng không thể lẫn lộn của phong cách “kẻ sĩ”. 

Tư tưởng Không Nho là của Trung Quốc, mô hình cộng sản biến thái “kinh tế thị trường định hướng XHCN” cũng là của Trung Quốc. Vậy thử hỏi khi hai gọng kiềm này vẫn còn kẹp chặt xã hội Việt Nam thì chúng ta làm sao để “thoát Trung”? Mọi cố gắng “thoát Trung” chỉ là sự vùng vẫy vô vọng của con cóc bị bỏ vào cái lồng rồi quăng xuống ao cứ cố tìm cách thoát khỏi cái ao mà không biết mình không thể làm gì được khi còn ở trong lồng. (Đây cách ẩn dụ từ một thân hữu của người viết). Vậy nên, đoạn tuyệt mối liên hệ về tư tưởng (cả tư tưởng “truyền thống” và tư tưởng cộng sản hiện đại) mới chính là cuộc thoát Trung thực chất nhất và cũng cần thiết nhất.
“Thoát Trung” hay “thoát Cộng”
Có lẽ do đã tuyệt vọng với việc dành lại quyền lực từ tay thiểu số độc tài đảng trị, người dân Việt Nam và nhất là trí thức cố gắng bù đắp vào khoảng trống bi đát trong cái tôi không được thỏa mãn của mình bằng cách chuyển hóa những bức xúc mãnh liệt bị đè nén thành những các biểu hiện mang đầy màu sắc chủ nghĩa dân tộc. Và có lẽ như thế người ta tìm thấy được vai trò cho sự tồn tại của mình. Nhà nước độc tài Việt Nam hiểu rõ tâm lý đó. 

Họ đè bẹp mọi khát khao tranh giành quyền lực chính trị của người dân, nhưng chân thành cổ vũ cho thứ chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo (theo cách gọi của bác sĩ Phạm Hồng Sơn). Họ còn nhiệt tình thúc đẩy cho sự chuyển hướng này. Nhưng một cách thông minh, họ chỉ giữ cho những xúc cảm đó ở mức độ đủ để làm nhòa đi thực trạng độc tài và vi phạm Nhân quyền, chứ không đến nỗi làm mất lòng người đàn anh và vượt ngoài sự kiểm soát của họ. Sự tràn ngập các thông tin về biển đảo trên truyền thông Nhà nước và Hội thảo “thoát Trung” trong thời gian qua là một minh họa cho những lời tôi vừa khẳng định.

Chính quyền độc tại hiện nay cho thấy họ đã kiên định lập trường “16 chữ vàng”. Mấy chục năm nay họ đã thành công trong việc “Hán hóa” chính họ và cả người dân Việt Nam một cách toàn diện bằng các chính sách chư hầu của mình. Nhưng dù cho họ có muốn tập hợp người dân để đoàn kết “thoát Trung”, thì cũng thật ngớ ngẩn nếu chúng ta lại thêm một lần nữa tái diễn sai lầm trong lịch sử bằng cách xếp hàng sau lưng họ. Tại sao phải tập hợp dưới ngọn cờ đảng cộng sản (hay bất cứ đảng nào khác) để thoát Trung? Nhiều người sẽ cho rằng cần sự đoàn kết để chống ngoại xâm. Bây giờ là thời đại nào rồi?

 Chiến tranh bằng vũ khí có tính sát thương cao, nếu không muốn nói là vũ khí nguyên tử đã vô hiệu hóa triệt để sức người. Nếu không có sức mạnh quân sự thì mọi sự đoàn kết đều không đáng nói đến. Vấn đề của Việt Nam bây giờ không phải là chiến tranh và tập hợp dưới ngọn cờ của phe phái nào để chống Trung Quốc; mà là phải dân chủ hóa để từ đó thay đổi chính sách đối nội, đối ngoại, để vẫn giữ vững chủ quyền quốc gia mà không leo thang một cuộc chiến tranh có nguy cơ hủy diệt đất nước.

Trong tình thế quốc gia lâm nguy, với nhiều cảm xúc hơn lý trí, sự đoàn kết theo tinh thần quốc gia dưới ngọn cờ quyền lực trung ương có lẽ là ưu tiên đối với nhiều thức giả Việt Nam. Trong mắt các vị ấy, một chế độ độc tài có vẻ tốt đẹp hơn, hoặc ít nhất là có thể chấp nhận được, nhờ lớp trang điểm chống xâm lược. Quả thật, nếu bộ sậu cầm quyền Việt Nam không lún quá sâu vào hồ sơ bán nước như hiện nay, nếu có một nhóm lãnh đạo nào trong Đảng cộng sản rút chân được khỏi vũng lầy bán nước để nhảy ra mà vỗ ngực cầm lấy ngọn cờ chính nghĩa chống ngoại xâm, có lẽ lịch sử sẽ lặp lại, Việt Nam sẽ không sao thoát nổi kịch bản 1945. 

Nói như thế để thấy rõ cái tâm thế của “Dân gần trăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”.Đất nước và người dân chờ đợi những kiến giải hữu ích từ giới trí thức Việt Nam khắp thế giới. Hoặc là chúng ta lại để cho thời thế đưa đẩy và chỉ việc nhắm mắt đưa chân?
Huỳnh Thục Vy Ngày 20 tháng 6 năm 2014






Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link