Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, September 29, 2014

Cách mạng không cách mạng


Cách mạng không cách mạng

Người Dân Việt Nam với Quyền được biết

 




Timothy Garton Ash * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Vào cuối năm 1989, bạn bè tôi ở trung Âu bất ngờ khám phá ra rằng kỳ diệu thay họ đã thực hiện được hai điều: trước tiên, họ đã phá hủy không chỉ một đế quốc, mà là một đế quốc được trang bị vũ khí hạt nhân. Thứ hai, họ đã sáng tạo ra cuộc cách mạng kiểu mẫu mới - kiểu mẫu mới 1989 thay thế kiểu mẫu cũ 1789.

Trong suốt 200 năm qua, cách mạng có nghĩa là bạo lực. Tôi nhớ một cuộc tranh luận tưởng chừng như diễn ra trong mơ giữa những nhà lãnh đạo Cách mạng Nhung ở Prague. Vấn đề được họ nêu ra là: "Chúng ta nên thực sự gọi sự kiện này là một cuộc cách mạng? Vì cách mạng có nghĩa là bạo lực nhưng chúng ta không muốn bạo lực, vì vậy có lẽ chúng ta không nên thực sự gọi sự kiện này là một cuộc cách mạng?"

Nhưng ta vẫn có đám đông cách mạng, ta có hàng trăm ngàn người trên đường phố Budapest, Prague, và Warsaw, và hiện diện trong những đám đông này là sự trải nghiệm kỳ lạ nhất trong đời. Tôi xin kể lại với các bạn một thời điểm: 300.000 người trên Quảng trường Wenceslas ở Prague, Vaclav Havel đang nói chuyện với Alexander Dubcek từ ban công của tờ báo Tiếng Tự do - tờ báo chính thức đã ngả sang phía cách mạng, và bất ngờ người nào đấy - người mà mãi mãi chẳng một sử gia nào sẽ biết tên tuổi - lấy chùm chìa khóa từ trong túi ra, giơ chúng lên cao, và bắt đầu lắc. Trong vòng một hay hai phút, 300.000 người lấy chìa khóa của họ ra lắc. Tôi có thể nói với các bạn rằng âm thanh của những chiếc chìa khóa của 300.000 người là âm thanh kỳ lạ nhất như tiếng của 300.000 cái chuông Tàu. Hành động ấy đã trở thành thói quen cách mạng. Đám đông cũng cực kỳ sáng tạo và tự phát. Họ luôn luôn nghĩ ra những cử chỉ thể hiện mới như những chìa khóa.

Khác với đa phần các cuộc cách mạng trước đây, từ 1789 và 1917 đến 1956 ở Hungary, quần chúng không có ý định sát hại ai, họ không có ý định đi đốt Cung điện Mùa Đông và treo cổ hay xử bắn Nga Hoàng. Họ chỉ có mặt ở đấy, và họ biết họ có mặt ở đấy để tạo ra những áp lực ôn hòa lên những chế độ cai trị, buộc chế độ phải thương lượng với nhóm lãnh đạo đối lập ở bàn tròn. Biểu tượng cao quý của năm 1989 không phải là máy chém mà là bàn tròn. Bàn tròn Ba Lan đặc biệt được đóng cho dịp này: ta vẫn có thể đi xem và chạm vào bàn tròn ấy trong dinh tổng thống ở Warsaw.

Đây là sự chuyển tiếp đến dân chủ thông qua thương lượng mà đòi hỏi sự thỏa hiệp sáng suốt. Điều mới mẻ ở hình thức cách mạng này không phải đâu là nơi cuối cùng ta đến mà cách ta đến đấy. Điều độc đáo của cuộc cách mạng mới không nằm ở cứu cánh mà ở phương tiện. Tôi tin một trong những nhận thức quan trọng về 1989 sẽ đảo ngược sự hợp lý của cách mạng thiên tả - cực đoan (Jacobin-Bolshevik). Không chỉ vì cứu cánh không biện minh phương tiện - mà là lập trường của cách mạng thiên tả - cực đoan cũ. Chính phương tiện ta dùng thực sự quyết định nơi cuối cùng ta đến.

Một trong những nhà lãnh đạo của năm 1989 ở Ba Lan, Adam Michnik, đã diễn đạt tuyệt vời điều này. Ông nói: điều chúng ta đã học được từ lịch sử Châu Âu là những ai bắt đầu bằng cách tấn công chiếm ngục Bastille cuối cùng sẽ xây nhiều ngục Bastille mới của riêng mình. Vì vậy ta phải bắt đầu như cách ta định hành xử. Tôi tin điều ấy hoàn toàn đúng: có sự tương quan sâu sắc giữa phương tiện ta dùng, cách mạng ôn hòa, và loại chế độ và xã hội ta xây dựng sau đó.

Lúc này, ta chắc có lẽ nói về 1989: đồng ý, đây đúng là sự kiện trọng đại nhưng sự kiện ấy chỉ là một loạt sự kiện rất đặc biệt liên quan đến sự sụp đổ của Liên Xô, chỉ là một thắng lợi bất ngờ, thoáng qua, và hy hữu. Một điều chúng ta biết chắc trong 20 năm qua thực sự không phải là như thế mà thực sự là một kiểu mẫu cách mạng mới. Trong cuốn sách mới ra của mình, tôi thuật lại hai trường hợp tôi đã chứng kiến trong thập niên vừa qua: Cách mạng Cam ở Ukraine và lật đổ Slobodan Milosevic ở Serbia. Tội phạm chiến tranh Châu Âu lớn nhất trong thời đại chúng ta cuối cùng đã bị chính nhân dân mình đánh văng ra khỏi quyền lực, mà hầu như chẳng phải bắn phát súng nào; họ đã tống khứ Milosevich trong một cuộc cách mạng nhung.

Chúng ta cũng có thể nói về Slovakia, Croatia, Georgia hay Nam Phi - mà cách riêng của mỗi nước rất giống cuộc cách mạng nhung, với nhiều yếu tố của cách mạng kiểu mẫu 1989. Không phải tất cả các nước này đều thành công - ngược lại, cách mạng nhung ở Miến Điện vào năm 2007 cho đến nay vẫn không thành công.

Có một vài vấn đề với kiểu mẫu cách mạng mới này. Theo quan điểm của tôi, vấn đề lớn nhất là, khác với năm 1789 hay 1917, ta không có khoảnh khắc vỡ bờ cách mạng - khoảnh khắc khi đầu vua bị chém bay, rồi những tiếng ồ vang lên sung sướng từ dân chúng, và mọi người đều biết đã có sự thay đổi lớn lao. Một đường vạch rõ ràng giữa quá khứ và tương lai. Ta không có khoảnh khắc ấy trong một cuộc cách mạng nhung, trong sự chuyển tiếp qua hiệp ước. Cho nên, nhiều năm về sau, người ta vẫn còn thấy thiếu cái gì đấy: đâu là thời khắc đoạn tuyệt tuyệt vời với quá khứ?

Timothy Garton Ash là giáo sư ở đại học Oxford và là sử gia và nhà bình luận Anh nổi tiếng.

Nguồn:

Trích dịch từ bài nói chuyện của tác giả tại Hay Festival, 2009. Bài được đăng lại trên tạp chí AnhIndex on Censorship số ra ngày 18/9/2009. Tựa đề của người dịch.





"Quyền Được Biết" là trách nhiệm, bổn phận của chúng ta


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Không phải ngẫu nhiên từ định chế bao quát của mình mà Liên Hiệp Quốc chọn ngày 28 tháng 9 hàng năm là ngày “Quốc tế quyền được biết” (International Right to Know Day).

Mà từ trước đó vào năm 2002 hơn 100 quốc gia và 60 tổ chức quốc tế về tự do thông tin ngôn luận trên khắp thế giới tụ họp tại thủ đô Sofia của Bulgaria thành lập mạng lưới FOI - Freedom of Information – (Tự do thông tin). Đây là một mạng lưới toàn cầu hoạt động nhằm cổ xúy quyền được tiếp cận thông tin cho tất cả mọi người, không phân biệt quốc gia, cũng như thúc đẩy những chính phủ mở rộng, minh bạch và có trách nhiệm với công dân nước mình.

Quyền được tiếp cận thông tin là một quyền làm người quan trọng và thiết yếu nằm trong tuyên ngôn nhân quyền được LHQ quy định mà nguyên tắc của nó khi tuân thủ sẽ góp phần tạo nên sự minh bạch cho mọi nhà nước.

Quyền Được Biết” cũng tạo ra những cơ hội cho mọi công dân tham gia và giám sát tích cực, hiệu quả cho những quyết định liên quan đến sự điều hành đất nước, bảo vệ nhân quyền của từng cá thể và cộng đồng.

Tại Việt Nam quyền này của người dân, vô hình chung, đã bị triệt tiêu trong quá khứ bởi sự cai trị khắc nghiệt, nó chỉ được thực hiện hạn hẹp tượng trưng không đáng kể trong vài năm gần đây, chủ yếu là để tuyên truyền với quốc tế dưới chế độ độc tài toàn trị CSVN nơi mà giữa thế kỷ 21 truyền thông đa phương tiện nối mạng toàn cầu, thế giới như dưới một mái nhà, văn minh nhân loại như hoàng kim nhưng người dân Việt Nam chỉ được biết những gì mà đảng CS và nhà nước tay sai của nó cho phép biết thông qua 100% các tờ báo do nhà nước quản lý và một “quốc hội nhân dân” nhưng 97% đại biểu là đảng viên CS!?.

Tại sao đồng đẳng cùng là nhân loại trong cộng đồng thế giới, là chủ nhân của một đất nước mà năng lượng để vận hàng guồng máy nhà nước ấy là do chúng ta đóng góp thì chúng ta lại không được biết những điều tưởng chừng như phải được biết nếu không muốn nói là xin chúng ta được biết!? Như đơn cử vài trường hợp….

- Trong 190 quốc gia trên thế giới chỉ có chế độ CSVN là một trong 5 nước CS còn sót lại duy trì song song 2 nhà nước (nhà nước đảng và nhà nước dân) trong một quốc gia suốt từ trung ương đến địa phương, có bao giờ chúng ta được CP hay Quốc Hội minh bạch báo cáo cho biết ngân sách mà đảng CSVN hàng năm đã “ngốn” là bao nhiêu chưa? Dù kinh phí hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam được bố trí trong dự toán cấp ngân sách trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định (Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002)

Nếu biết rằng Tổng chi ngân sách nhà nước VN năm 2013 ước tính 986 nghìn tỷ đồng (tính tròn).(*)

Không thể tìm ra con số chính thức, nhưng chúng ta ước đoán khiêm tốn ngân sách “đảng” nó phải “ngốn” vài phần trăm trong tổng chi này thì cũng đã lên tới vài trăm ngàn tỷ đồng cho một số (chỉ một số thôi) trong khoảng 4 triệu đảng viên CSVN ăn trên ngồi đó với mỗi một công việc duy nhất là chỉ đường cho đoàn tàu CS chạy trên đường ray XHCN đến ga “thiên đàng” cuối cùng (nhưng không biết ở đâu)!?. 39 năm, kể từ 1975, cả một “thái sơn” mồ hôi nước mắt nhân dân đã “bốc hơi” một cách vô ích mà hiếm có một quốc gia nào trên thế giới này (dù là giàu có) chịu hao tốn một cách vô lý như vậy!.

Tuy nhiên còn hơn thế, có một thứ mà chúng ta rất “cần phải biết” khi giá trị của nó còn vượt qua mọi vật chất, tiền bạc… Đó là sự “hưng vong” của dân tộc, khi mà 90% các quốc gia CS quốc tế hùng mạnh, đã từ bỏ CNXH quay về với dân chủ tư bản hay đa nguyên chính trị gần 30 năm rồi thì tại sao các chóp bu CSVN vẫn cứ khư khư giữ lấy thứ CNXH lạc hậu này mà không một lời tham khảo ý kiến toàn dân? Dù họ đã “sáng tạo” dùng vài trăm tỷ đồng để làm chi phí lấy ý kiến sửa đổi Hiến Pháp?

Điều mà chúng ta có “quyền phải biết” và phải được trả lời một cách minh bạch là tại sao nghịch lý như vậy? Nếu đất nước này không phải là của riêng họ (vài trăm chóp bu CSNN)!?.

Chúng ta cương quyết có “quyền phải biết” và họ (Các chóp bu CSVN) phải dứt khoát trả lời, cùng một bản chất sự việc như nhau, thì tại sao CP/Philippines hoàn tất hồ sơ khởi kiện tranh chấp biển đảo lãnh hải với bọn bá quyền Trung Quốc còn Việt Nam chúng ta thì không? dù tuyệt đối công luận thế giới khuyến khích? Có thể các chóp bu CSVN vong bản thì không, nhưng 90 triệu dân Việt không phải 100% đồng lòng – Chúng ta có “quyền phải biết” họ nhân danh ai? trên cơ sở nào?.

Ngay trong những người vẫn hay biện minh, cố tin vào đảng và nhà nước cộng sản, đến lúc này cũng cảm thấy có sự hồ nghi nên cũng đã vượt qua sự sợ hãi để đòi hỏi “quyền được biết”, cụ thể là Thư ngỏ của 61 đảng viên ngày 20-07-2014, và kiến nghị của 20 tướng tá quân đội nhân dân ngày 4-9 về hiệp định biên giới năm 1999, hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, nhất là về nội dung hội nghị Thành Đô năm 1990 vốn làm cho họ cũng phải hoang mang. Thì bổn phận và trách nhiệm của chúng ta là đòi hỏi có “quyền được biết”, biết để nhận diện ai là kẻ thù đích thị của dân tộc, biết để chung lòng thắp lên khát vọng cho quê hương.



 

Một cuộc thăm viếng ý nghĩa


Dân Làm Báo - Vào 11 giờ trưa ngày 23-9 đã có một cuộc tiếp xúc giữa bàJennifer Neidhart de Ortiz - Tham tán chính trị nhân quyền của đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, tại nhà riêng của nhà văn tại Hải Phòng.

Buổi tiếp xúc được dự kiến bắt đầu vào lúc 10 giờ sáng và kết thúc lúc 11 giờ. Tuy nhiên, vì tình trạng giao thông buổi tiếp xúc đã muộn 1 giờ, và vì nẩy sinh một số vấn đề mới cần trao đổi, cuộc tiếp xúc kéo dài đến tận hai giờ chiều.

Trong buổi tiếp xúc này, bà Tham tán tòa đại sứ Hoa Kỳ đã hỏi nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa khá chi tiết về chế độ biệt giam đối với tù nhân lương tâm trong nhà tù Nam Hà nơi nhà văn bị giam giữ và chính ông đã trải qua những lần biệt giam. Nhà văn cũng đã có một cơ may về thời gian để kể khá chi tiết mà trước đó không có. Bà Jennifer đã rất xúc động khi cảm nhận được tinh thần của câu chuyện mặc dầu phải qua người phiên dịch. Bà hỏi nhiều chi tiết về blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải, và nguyên nhân nào dẫn đến cuộc tuyệt thực kéo dài của anh tại nhà tù số 6 (Thanh Chương, Nghệ An). Bà nói rằng nhà văn có thể gợi ý cho bà về ba tù nhân lương tâm cần được trả tự do để bà cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ “làm việc” với phía Việt Nam lần này.

Gần kết thúc buổi tiếp xúc, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã nói: “Mong bà lưu tâm rằng những thông tin tôi vừa đưa ra sẽ bị chính quyền độc tài Việt Nam phản bác là bà đã lấy chúng từ một kẻ bất mãn, kẻ vi phạm phát luật Việt Nam. Hai nữa là tôi biết chính phủ Hoa Kỳ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trên toàn thế giới, hạt nhân của Bắc Triều, I-Ran, chủ nghĩa khủng bố tại Trung Đông và Bắc Phi, và gần đây là cuộc khủng hoảng tại Ukraine, nhưng tôi mong không vì thế mà Hoa Kỳ quên vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.”

Bà Jennifer đã nói sẽ cố gắng tối đa trong phạm vi quyền hạn để nhân quyền tại Việt Nam được cải thiện.

Bà Jennifer Neidhart de Ortiz và gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa




Vấn  Đề  Hòa  Giải  Hòa  Hợp  Dân  Tộc
VŨ  TRÍ

Nhiều năm trước đây đã có dư luận báo chí đề cập đến vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc và sau đó lại có sự lên tiếng của Nguyễn Hộ, một đảng viên cao cấp kỳ cựu CSVN, công khai kêu gọi hòa giải hòa hợp, gây nhiều sôi nổi chống đối tán thành trong dư luận đồng bào và các tổ chức đấu tranh ở hải ngoại. Vậy hòa giải hòa hợp dân tộc là gì ?
Theo định nghĩa thì trong nhóm từ ngữ này có hai hành động khác nhau là hòa giải và hòa hợp. Nói đến hòa giải là mặc nhiên nhìn nhận có bất đồng ý kiến, có thù hận nên mới cần hòa giải. Nói đến hòa hợp là mặc nhiên nhìn nhận không còn bất đồng ý kiến, không còn thù hận nên mới hòa hợp được. Do đó cần đặt vấn đề hòa giải cho thật rõ ràng chính xác trước khi đặt vấn đề hòa hợp vì phải có hòa giải rồi mới hòa hợp được. Vậy hòa giải về việc gì ? Hòa giải giữa ai với ai ? Hòa giải như thế nào ? Tại sao phải hòa giải ?
1. Trước hiện tình đất nước và trong công cuộc đấu tranh, có ba nguyên nhân và sự việc đưa đến bất đồng ý kiến, hận thù là : tranh chấp cá nhân, tranh chấp tổ chức, đấu tranh giai cấp.  Mỗi sự việc đều có những lý do riêng biệt của nó nhưng "tranh chấp cá nhân và tranh chấp tổ chức" không phải là những sự việc có tầm vóc hận thù dân tộc... nên chưa cần bàn đến. Chỉ có "đấu tranh giai cấp" do đảng CSVN chủ trương và áp dụng trong nhiều chục năm qua... gây ra biết bao nhiêu tan thương đổ nát hận thù dân tộc.
Do đó, hòa giải ở đây là hòa giải hận thù dân tộc, hòa giải giữa đảng CSVN và dân tộc Việt-Nam hay nói rõ hơn là hòa giải giữa tập đoàn độc tài lãnh đạo cộng sản với thành phần dân tộc bị trị, bị cộng sản trả thù đàn áp khủng bố tù đày giết hại cướp của....
Vậy hòa giải như thế nào ? Đảng CSVN đã gây hận thù dân tộc, đảng CSVN phải công khai nhìn nhận sai lầm tội lỗi, công khai xin lỗi đồng bào dân tộc Việt-Nam. Theo nguyên lý ở đời : ai gây hận thù phải xin hòa giải với nạn nhân hận thù... chớ không bao giờ có việc người bị hành hung đàn áp khủng bố tù đày lại đến xin hòa giải với kẻ hành hạ mình. Và sự hòa giải chỉ có thể thực hiện và chấp nhận khi nào các nguyên nhân gây ra hận thù được giải tỏa, được xóa bỏ... nghĩa là khi nào "đấu tranh giai cấp" không còn ở Việt-Nam
Và tại sao phải hòa giải ?  

Từ trước đến nay, đảng CSVN  luôn luôn chủ trương giai cấp đấu tranh, vô sản chuyên chính và độc quyền lãnh đạo. Đây là những nguyên nhân đã gây ra chiến tranh với bao nhiêu tàn phá hận thù chia rẽ... đưa đến tình trạng suy thoái đất nước xã hội ngày nay. Nếu tình trạng này kéo dài, dân tộc Việt-Nam sẽ đi về đâu ? Do đó, vì tương lai đất nước, vì sự sống còn và quyền lợi dân tộc, những nguyên nhân đã gây ra phân hóa và hận thù dân tộc phải được xóa bỏ, giải quyết tận gốc rễ của nó.... nghĩa là CSVN phải công khai tuyên bố hủy bỏ giai cấp đấu tranh, hủy bỏ vô sản chuyên chính, hủy bỏ  độc quyền lãnh đạo. Và chỉ khi nào những sự hủy bỏ này được thực hiện, được pháp chế định... đồng bào dân tộc mới tin.

2. Chúng ta đừng bao giờ tin CSVN. Qua kinh nghiệm quá khứ, lời nói và việc làm của CSVN không bao giờ đi đôi. CSVN đã nhiều lần kêu gọi đoàn kết liên hiệp, hòa giải hòa hợp.... nhiều lần lợi dụng tình cãm dân tộc lòng yêu nước làm chiêu bài  tiêu diệt người quốc gia, lừa gạt quốc tế.... cụ thể như :
          - Thời kỳ 1945-46 : CSVN kêu gọi đoàn kết liên hiệp thành lập Mặt Trận Việt Minh chống thực dân Pháp để rồi phản bội thanh trừng "trí phú địa hào", bắt tay với Pháp loại trừ các đảng phái quốc gia.

          -  Thời kỳ sau Hiệp Định Genève 1954 : CSVN kêu gọi hiệp thương thống nhất, hòa hợp gia đình... nhưng rồi thành lập Mặt Trận Giải phóng Miền Nam, gây chiến tranh, đánh phá chia rẽ dân tộc, gây tan thương ly tán cho bao nhiêu triệu gia đình từ Nam đến Bắc. Lời kêu gọi hòa hợp của CSVN đã bị đảo ngược thành chia rẽ hận thù.

          - Thời kỳ hòa đàm 1968-1973 : CSVN cũng kêu gọi hòa giải hòa hợp và chánh thức ký kết Hiệp Định Paris 73 trước dư luận quốc tế, chấp nhận hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng rồi tung quân đánh chiếm miền Nam, hành hạ tù đày trả thù đồng bào miền Nam. Ngay cả đối với cái tổ chức con đẻ của họ là Mặt trận Giải phóng miền Nam, sau ngày 30 tháng 4-75, CSVN cũng đã phản bội, giải tán tổ chức loại trừ đồng chí... nên mới có sự việc chống đối của Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn..v.v.....

Tóm lại, khi nào CSVN kêu gọi đoàn kết liên hiệp, hòa giải hòa hợp.... là lúc họ yếu, là vì nhu cầu giai đoạn của họ chớ không bao giờ họ có thực tâm cả. CSVN chỉ lợi dụng hòa giải hỏa hợp để làm chiêu bài đánh động tình cãm dân tộc, xoa diệu chống đối, lừa gạt dư luận.... cứu nguy đảng và chế độ của họ mà thôi.
3. Thực tế của vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc hiện nay như thế nào ?  Cho đến nay, chưa bao giờ CSVN kêu gọi hòa giải. Đổ Mười, Võ văn Kiệt chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN nhưng đảng và nhà nước cộng sản vẫn tiếp tục quản thúc giam cầm  những người khác chánh kiến, từ chính trị đến tôn giáo.
Chỉ có vài phe nhóm, tổ chức, mặt trận, phong trào nào đó... gọi là đấu tranh chống cộng ở trong và ngoài nước và vài chục đảng viên cộng sản thất sủng về hưu... lên tiếng kêu gọi hòa giải hòa hợp dân tộc, lấy chiêu bài này làm thủ thuật tiến thân vì tham vọng quyền hành hay vì hận thù cá nhân.
Họ kêu gọi hòa giải hòa hợp với những ai ? Với những thành phần mà họ gọi là bị bịp bị gạt, với những người cộng sản thức tỉnh lương thiện tiến bộ.... nghĩa là với những người đã từng gây ra chiến tranh gây ra hận thù dân tộc, đã từng trách nhiệm tình trạng đất nước ngày hôm nay.
Và họ kêu gọi ai hòa giải hòa hợp với những thành phần bị bịp bị gạt, với những người thức tỉnh lương thiện tiến bộ ? Có thể hiểu là họ kêu gọi đồng bào thầm lặng, thành phần đa số dân tộc. Kêu gọi như thế tức là họ gián tiếp gây hậu thuẩn cho CSVN, làm lợi cho CSVN thay vì đánh phá CSVN. Họ đang ve vãn CSVN để tiến thân. Họ đang cùng những người cộng sản gọi là bị bịp bị gạt thức tỉnh lương thiện tiến bộ hình thành thực thể đối lập giả tạo. Họ đang chạy theo và tôn vinh những người cộng sản thất sủng không có thực quyền, chỉ chống đối miệng, đả kích vì mất quyền lợi. Họ có tội với dân tộc.
4. Người Việt quốc gia tự do chúng ta đừng bao giờ tin những lời kêu gọi hòa giải hòa hợp của các phe nhóm tổ chức mặt trận phong trào này vì đó là những chiêu bài làm lợi cho CSVN mà thôi. Thái độ của  chúng ta cần được minh định như sau :
          - Đối với CSVN, dứt khoát không có hòa giải hòa hợp vì bản chất của cộng sản là dối láo tráo trở thủ đoạn, luôn luôn sử dụng hòa giải hòa hợp làm chiêu bài lừa gạt, cứu nguy đảng và chế độ.
          - Đối với những người cộng sản gọi là bị bịp, thức tỉnh lương thiện tiến bộ... đang lên tiếng chống đối tập đoàn đồng chí lãnh đạo của họ, chúng ta cũng không hòa giải hòa hợp vì không thể tin tưởng họ... nhưng chúng ta cũng không chống đối  đả kích họ, để cho họ tiếp tục đánh phá lẫn nhau.
          - Đối với các phe nhóm tổ chức mặt trận phong trào gọi là chống đối CSVN nhưng đang vận động cho chiêu bài hòa giải hòa hợp, kêu gọi chuyên viên về cộng tác xây dựng đất nước... chúng ta nên lưu ý cảnh giác họ đừng tiếp tay cho cộng sản, làm hại dân tộc.
          - Đối với những tổ chức đảng phái đấu tranh chống cộng và đa số đồng bào thầm lặng, chúng ta tiếp tục vận động kêu gọi kết hợp tạo lực đấu tranh, thống nhứt quan điểm lập trường đường lối để sẵn sàng đáp ứng mọi diễn biến, yểm trợ quốc nội.
5. Tóm lại và để kết luận, vấn đề hòa giải hòa hợp không cần đặt ra với dân tộc Việt-Nam. Vấn đề hận thù dân tộc là do CSVN gây ra với những nguyên nhân giai cấp đấu tranh, vô sản chuyên chính và độc quyền lãnh đạo. Ngày nào các nguyên nhân này không còn ở Việt-Nam thì mặc nhiên dân tộc Việt-Nam tự động đoàn kết hợp lực xây dựng đất nước.
Muốn có hòa giải hòa hợp dân tộc, những ai đã gây ra hận thù phân hóa dân tộc phải có những hành động thay đổi thực sự và công khai xin lỗi quốc dân đồng bào để chứng minh thực tâm  thay vì nói miệng hứa suông, lừa gạt dư luận với những từ ngữ "sẽ làm, sẽ có" như trong nhiều chục năm qua mà thực sự là không có gì hết.
Giữa đồng bào dân tộc Việt-Nam, không bao giờ có hận thù nên không đặt hòa giải hòa hợp làm vấn đề... mà chỉ tha thiết muốn có một đời sống tự do dân chủ công bằng tiến bộ.
VŨ  TRÍ
Paris, ngày 27 tháng 11 năm 1999

8 thứ trưởng ngoại giao!


Nguyễn Văn Tuấn - Mới đọc tin tức thấy VN mới bổ nhiệm thêm 2 thứ trưởng ngoại giao (1). Như vậy, tính đến nay, VN đã có 8 thứ trưởng ngoại giao. Nếu tính trung bình mỗi bộ ở VN có 5 thứ trưởng, thì với 23 bộ hay tương đương, VN đã có hơn 110 thứ trưởng! Một con số kinh khủng! Trong một nước người dân còn nghèo xơ xác, mà có một đội quân thứ trưởng nhiều như ở VN thì chắc chắn sẽ còn nghèo hơn nữa.

Ở VN, có lẽ do "tàn dư" của Pháp để lại (?), nên có quá nhiều chức danh phó. Thủ tướng thì có một lô phó thủ tướng. Bộ trưởng có hàng tá thứ trưởng. Dưới bộ có cục, vụ cũng lại thêm một lô trưởng và phó. Chưa hết, cấp tỉnh/thành, quận/huyện, phường/xã, thậm chí ấp, cũng có hàng lô trưởng và phó. Rồi từ đại học, bệnh viện, trung tâm, đến phòng ban trong các trung tâm đó đều có trưởng và nhiều phó. Tôi ngạc nhiên tại sao bao nhiêu năm nay mà VN không cải cách bộ máy hành chính cho tinh giản hơn, mà lại làm cho nó phình ra.

Đó là chưa nói trong hệ thống đảng, cũng có bộ máy song song với chính quyền. Tức là họ bên đảng cũng có trưởng và phó. Tất cả đều do người dân trả lương! Như vậy, người dân đóng thuế phải cưu mang hai bộ máy trong một nước. Một bộ máy ra mặt, còn một bộ máy không ra mặt (đứng sau chỉ huy) nhưng chẳng chịu trách nhiệm trước công chúng.

Ở các nước phương Tây mà tôi biết thì rất hiếm có phó. Như ở Úc, chỉ có thủ tướng và 1 phó thủ tướng. Mà, vai trò ông phó thủ tướng Úc cũng không "sáng chói" như phó thủ tướng ở VN. Còn cấp bộ, Úc hoặc là có 1 thứ trưởng hoặc chẳng có thứ trưởng nào. Cấp bang (thường có dân số gấp 5-10 lần một tỉnh ở VN) cũng hiếm thấy phó. Như bang NSW tôi đang ở, tôi thậm chí không biết ai là phó thủ hiến, cũng có thể bang không có chức danh này. Còn cấp bộ trưởng bang thì cũng hiếm thấy có phó, chỉ có 1 trưởng thôi. Vậy mà guồng máy hành chính của họ chạy rất trôi chảy và phục vụ dân thật sự chứ không phải "hành là chính" như ở VN.

Ở VN người ta dịch chữ "thứ trưởng" là deputy, còn ở nước ngoài (như Mĩ chẳng hạn) thứ trưởng có chức danh là assistant. Chữ deputy dĩ nhiên là oai hơn assistant. Có lẽ cách dịch của VN là muốn nâng cao vai trò của thứ trưởng. Trong thực tế, tôi nghĩ assistant có lẽ thích hợp hơn, vì thứ trưởng là phụ tá cho bộ trưởng.

Trong những năm gần đây, VN có quá nhiều tiến sĩ, giáo sư/phó giáo sư. Nhưng song song với sự tăng trưởng của guồng máy học thuật, VN còn có một sự tăng trưởng khác: số tướng tá trong quân đội và công an. Có lẽ chưa bao giờ trong thời bình mà VN có nhiều tướng tá như hiện nay. Cũng chưa bao giờ có chuyện cảnh sát giao thông đứng đường mang hàm trung tá! Ngày xưa, quân nhân mang hàm trung tá hay đại tá đã có thể là tỉnh trưởng (như chủ tịch UBND ngày nay), nhưng ngày nay, hàm đại tá quá nhiều và chẳng còn uy danh như ngày xưa. Không biết mấy nước khác thì sao chứ ở Úc này tôi không thấy công an / cảnh sát mang hàm cấp tướng. Sự hiện diện của nhiều tướng trong ngành công an ở VN cũng là một nét đặc thù về thể chế của VN: công an trị. Nay đến sự hiện diện của đội quân thứ trưởng thậm chí còn nhiều hơn tướng lại thêm một nét đặc thù khác của VN: đó là ôm đồm và ham quản lí.

Tại sao VN có quá nhiều thứ trưởng? Một phần có lẽ là do "truyền thống" từ thời Pháp thuộc để lại. Một phần khác là để tăng cường quản lí, vì bộ máy công quyền VN thích tập trung quyền lực và thích quản lí người dân. Một phần khác, chức danh "phó" có lẽ là một hình thức thưởng công hay dàn xếp giữa các phe phái, một cách chơi cờ người. Cũng có thể giải thích rằng VN có nhiều phó là phản ảnh sự incompetence của bộ trưởng. Có lẽ vì incompetence nên bộ trưởng phải cần nhiều phụ tá. Dù lí do nào hay cách giải thích nào thì sự hiện diện của đội quân thứ trưởng phản ảnh một bộ máy cồng kềnh, quan liêu, và kém hiệu quả.

Nguyễn Văn Tuấn


 

 

 Đời Mồ Côi

 

Em sinh ra đã không hề biết mẹ

Hàng ngày Em theo chị để ăn xin

Ngày đầu đường đêm ghế đá công viên

Sống lay lắt nhờ đồng tiền thiên hạ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhiều khi đói sữa thay bằng nước lã

Hai chị em vật vã dạ cồn cào

Dế ve Sầu nướng lót dạ đêm thâu

Mong trời sáng xin cơm thừa hàng quán.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cha chết sớm mẹ bị người ta bán

Sang bên Tàu vào động bán dâm

Nhà cửa ruộng nương

Đảng qui hoạch chẳng bồi thường

Nghe người nói cán bộ phường chia chác

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mình sống được nhờ tấm lòng cô bác

Nín đi nào chị sẽ hát ầu ơ

Mất mẹ cha đời đói rét bơ vơ

Đừng khóc nữa em thơ xin hãy hiểu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyện xui xẻo đẩy đưa đời cô lựu

Chị bị tông xe nằm ngất bên đường

Khi mọi người đưa chị đến nhà thương

Chị đã chết từ trên đường nhập viện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kẻ tông chị là đảng viên say xỉn

Sợ liên quan chúng đã biến vào đêm

Hết họ hàng giờ chỉ còn mình em

Nên ánh mắt mới buồn lên đến thế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh xin lỗi mấy tháng rổi mới kể

Chỉ mong sao ánh mắt bé vơi buồn

Trẻ ăn mày không được đảng yêu thương

Nhưng còn có những trại cô nhi viện

 

Uyển Thi 

danlambaovn.blogspot.com

 

MUA ĐÀN BÀ VN : Không ưng được đổi lại

http://m.9gag.com/gag/6699050

Đây là thi đi siêu xa l tin tc, đâu phi chúng mun làm gì thì làm.

Linh Nguyên

 

 

Ngốc ơi là ngốc . Một lũ cán ngố đứng xếp hàng một để ... ngửi . Đúng là một đám hề ! 

Còn mụ "y tế" thì ... nếm . Chán ơi là chán ! Kết quả là đã 40 năm , VN vẫn còn thù lù hàng đống thực phẩm độc hại và bẩn cuả bọn Chệt cộng tống sang . Hiện nay VNcs đang đứng đầu bảng thế giới về ung thư , thì mụ "y tế " có "nếm" cho lắm , cũng bằng thừa . 

Xem kết quả , biết việc làm .

 

HY.

              

 

Cán Ngố Gộc đi thanh tra kiểm soát...

 

Bó tay Bó tay ! Hết ý, hết ý kiến.

 

Cùng nếm, ngửi, gõ với các Bộ trưởng Ngố: Kim Tiến - Khôi Nguyên - La Thăng:

Mụ Kim Tiến, Bộ trưởng Y té (giếng) Ngố đi kiểm tra thực phẩm ở chợ như vầy nè !!!!

            


Chị Kim Tiến, bộ chưởng Y tế đi kiểm tra thực phẩm ở chợ

 


Anh Phạm Khôi Nguyên, bộ chưởng bộ Tài Nguyên và
Môi trường và bầu đoàn đi kiểm tra chất lượng môi trường"

 Chỉ bọn quan chức Việt Nam mới có hành động kỳ quặc và ngu xuẩn thế này!

Ối trời ơi là ông Tiến sĩ ! Ông nghè Phạm Khôi Nguyên ơi

 Anh Đinh La Thăng, bộ chưởng bộ Rao Thông đi kiểm tra độ lún của mặt đường

 

 

 

CHÂN DUNG 'CÁC ĐẦY TỚ NHÂN DÂN'

 

 

 

Ngạo mạn, dâm ô chính là Lê Duẩn

Già mà lắm con là lão Đỗ Mười

Mưu mô quỷ quyệt là Lê Đức Anh

Nhẫn nhục sống lâu là Võ Nguyên Giáp

Chưa nói đã cười là Nguyễn Minh Triết

*

 

Giả danh Mác xít là Lê Khả Phiêu

Tham nhũng đớn hèn là cậu y tá (Nguyễn Tấn Dũng)

Ác thú lộng hành là Nguyễn Văn Hưởng

Gian manh, trí trá  Nguyễn Sinh Hùng

Cái gì cũng nhặt là Tô Huy Rứa

*

Không bộ nào chứa là Nguyễn Thiện Nhân

Vì gái quên thân là Nông Đức Mạnh

Thức thời, né tránh là Nguyễn Hải Chuyền

Miệng lưỡi dịu mềm là Vương Đình Huệ

Thiểu năng trí tuệ là Đinh La Thăng

*

Định hướng tối tăm là Nguyễn Phú Trọng

Ghét trung yêu nịnh là Lê Hồng Anh

Phát biểu lăng nhăng là Phạm Vũ Luận

Quen đánh giặc miệng là Trương Tấn Sang

Hán tặc chính danh là Hoàng Trung Hải

*

Thầy gét bạn khinh là Hồ Đức Việt

Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh

Đổi trắng thay đen là Trương Vĩnh Trọng

Triệt suy phù thịnh là Trần Đình Hoan

Đã dốt lại tham là Lê Thanh Hải

*

Ăn vụng nói dại là Đinh Thế Huynh

Cạn nghĩa cạn tình chính là Tô Lâm

Juda phản chúa là Nguyễn Đức Tri

Tình duyên lận đận là chị Kim Ngân

Vừa béo vừa dâm là Tòng Thị Phóng

*

Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh

Lên chức nhờ cha là Nguyễn Thanh Nghị

Mặt người dạ thú là Phạm Quý Ngọ

Tính tình ba phải là Phạm Gia Khiêm

Chưa từng thanh liêm là Nguyễn Thế Thảo

*

Ăn tiền tàn bạo là Nguyễn Đức Nhanh

Chạy trốn an toàn là Dương Chí Dũng

Nghìn tỉ tham nhũng là Vinashin

‘Bà con’ Thủ Tướng là Phạm Thanh Bình

Ngậm thị ăn tiền là Vũ Huy Hoàng

*

Xôi thịt mê gái là Trịnh Đình Dũng

Lừa thầy phản bạn là Trương Hòa Bình

CướpGiết la làng là Thống đốc Bình

Ăn no kín tiếng là Cao Đức Phát

Móc ngoặc đi đêm là Ngô Xuân Dụ

 

 

 

Coi Tây Tng trong tay Tu đ chun b cho VN ri mai cũng trong tay Tu

 

La trong Vùng đt ca Tuyết: Các v t thiêu Tây Tng

image
Preview by Yahoo

Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

 

Mt v ni sư b đi x tàn nhn:

 

 

 

 

Coi Tây Tng trong tay Tu đ chun b cho VN ri mai cũng trong tay Tu ...

 

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=kpc3wmwKit0

 

Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979

http://www.youtube.com/watch?v=eEBkpsCwsDY

 

Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

http://www.youtube.com/watch?v=eQdFGr7NQ4o&list=PLCABD020D6B200061

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

https://www.youtube.com/watch?v=NTZGFJyF2pQ 

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

https://www.youtube.com/watch?v=LSpiyHxlK5I 

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

https://www.youtube.com/watch?v=P2Zbrz4iJbc

 

 

 

 

 

image

http://baomai.blogspot.com/2014/07/van-hoc-va-chinh-tri.html

 

 

 

image

http://baomai.blogspot.com/2014/07/israel-mot-at-nuoc-than-ky.html

 

image

http://baomai.blogspot.com/2014/07/ung-song-bang-su-doi-tra.html

 

image

http://baomai.blogspot.com/2014/07/hcm-chinh-la-thieu-ta-ho-quang-thuoc.html

 

 

 

Ha ha ha !

http://lh3.googleusercontent.c...

Xem Ẩn

Hố hố hố !

http://lh6.googleusercontent.c...

Xem Ẩn

Không biết làm thịt em nào trước đây?

http://lh4.googleusercontent.c...

Xem Ẩn

http://lh4.googleusercontent.c...

Xem Ẩn

xem thêm

 

 

 

 

 

Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-

 

 

Sốc - Lính Trung cộng hành hạ tra tấn tù binh VN vô cùng tàn bạo dã man

https://www.youtube.com/watch?v=GwhBJ6Y-Aks 

 

Nhà báo Bùi Tín phn bác lun điu xuyên tc ca báo QĐND ngày 26-08-2012.

 

https://www.youtube.com/watch?v=I2jL0S8GnoQ

 

 

 

 

SỐNG VỚI BỌN "ĐỈNH CAO TỘI ÁC" VIỆT CỘNG, "CHÚA TRÙM THAM NHŨNG" 

TỤI MÌNH CŨNG KHỐN NẠN VỚI CHÚNG NÓ, NÓI CHI CON NGƯỜI -

 

 

__._,_.___

Posted by: hung vu 

Tập Cận Bình Và Giấc Mơ Trung Hoa

 

Tập Cận Bình Và Giấc Mơ Trung Hoa

Nguyễn Cao Quyền 
September 13, 20140 Bình Luận

Sau khi nhậm chức chủ tịch nước (Trung Quốc) vào đầu năm 2013, Tập Cận Bình sang Mỹ gặp Tổng Thống Obama ở California. 

Trong các trao đổi ngoại giao giữa hai vị lãnh đạo người ta để ý là họ Tập đã dùng đến thuật ngữ “Giấc mơ Trung Hoa”. Tác động ngoại giao này nhằm tạo nên một bầu không khí thân thiện và hoà hõan giữa hai nước nhưng đồng thời nó cũng muốn tỏ ra một sự ngang hàng giữa Bắc Kinh và Washington trên bàn cở chính trị thế giới.

Người ta cũng còn nhớ là vào thời gian năm 1983, Tập Cận Bình cũng đã có một lần sang Mỹ. Hối đó ông đến ở nhà một gia đình nông dân quen thuộc tại Muscatine (Iowa) khoảng hai tuần lễ. Và có thể là trong hai tuần lễ đó ông đã tiếp cận với “Giấc mơ Hoa Kỳ” của người Mỹ và tư tưởng này đã khiến ông xây dựng trong đầu óc mình một mô hình về “Giấc mơ Trung Hoa” cho giới trẻ Trung Quốc.
Thật ra thì hai giấc mơ này khác nhau một trời một vực nếu ta tìm hiểu sâu xa thực tế liên quan đến nội dung của hai thuật ngữ đó. Sự khác biệt này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong những đoạn viết tiếp theo để độc gỉả tiện theo dõi.

Giấc mơ Hoa Kỳ và người dân Trung Quốc ngày nay.
“Giấc mơ Hoa Kỳ” là một đặc điểm của Hiệp Chủng Quốc. Đỏ là một tổng hợp những lý tưởng mà người Mỹ trân qúy đeo đuổi thực hiện, những lý tưởng đã đưa đến thành công và thịnh vượng, những lý tưởng đã mang lại sự thăng tiến xã hội qua sự cần cù và cố gắng làm việc.
Theo sự định nghĩa của James Truslow Adams trong tác phẩm Epic Of America xuất bản năm 1931 thì: “Giấc mơ Hoa Kỳ” là một giấc mơ về một mảnh đất trên đó cuộc sống được giàu sang hơn và có ý nghĩa hơn cho tất cả mọi người, một mảnh đất trên đó mọi người đều có cơ hội thăng tiến theo đúng khả năng và ước vọng của mình.
Giấc mơ đó không hoàn toàn chỉ là một giấc mơ về xe hơi nhà lầu, về lương cao và công ăn việc làm dễ kiếm, mà là còn là một giấc mơ về một trật tự xã hội trong đó người dân, nam cũng như nữ, đều có thể phát triển toàn diện bằng khả năng mà tạo hóa ban cho, và mỗi người đều được những người khác nhìn nhận mà không quan tâm gì đến lý lịch, nơi sinh và nguồn gốc.

“Giấc mơ Hoa Kỳ”, xuất hiện trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc, công bố rõ rệt rằng : “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng (All men are created equal) và họ được Thượng Đế ban cho những quyền bất khả chuyển nhượng, trong đó có : cuộc sống, sự tự do và sự mưu cầu hạnh phúc”.

Người di dân nào đến Mỹ cũng ưu tiên dành thời gian để đi thăm tượng “Nữ thần Tự Do” tại New York. Nữ thần Tự Do tượng trưng cho những cơ hội mới trong cuôc sống con người, và là biểu tượng của giấc mơ mà người Mỹ nào cũng trân qúy và ôm ấp.

“Giấc mơ Hoa Kỳ” đã lan tỏa ra khắp năm châu bốn bể nên làn sóng di dân của nhân loại sang miển “đất hứa” vẫn tiếp tục gia tăng không ngừng nghỉ cho đến ngày nay. Ngay cả tại những vùng mà kinh tế đang phát triển, một số người dành dụm được ít tiền cũng chuẩn bị ra đi để tránh khỏi phải sống cực nhục dưới những chế độ chuyên chế vô nhân đạo.

Tại Trung Quốc ngày nay, người ta tính rằng giai cấp trung lưu đã đạt tới con số 500 triệu dân, và con số này tiếp tục gia tăng cùng nhịp độ với sư phát triển kinh tế. Trong đám người này, một số đông đã chuyển tiền và cho vợ con sang Mỹ. Số sinh viên Á Châu, trong đó đa số đến từ Trung Hoa lục địa, đã đạt tới mức kỷ lục trong năm nay (2014-2015) tại các đại học Hoa Kỳ. Đó là chưa nói đến số tiền khổng lồ chuyển từ Hoa Lục vào các ngân hàng của Hiệp Chủng Quốc. Đây là một vài khía cạnh liên quan đến thực tế rất dễ kiểm soát, nói lên tính phổ quát của thuật ngữ “Giấc Mơ Hoa Kỳ” đối với thế giới bên ngoài.

Tập Cận Bình và “Giấc Mơ Trung Hoa”
Năm 2010 , tác giả Helen H. Wang xuất bản một cuốn sách nhan đề “Giấc Mơ Trung Hoa”. Chuốn sách in lại nội dung phỏng vấn 100 người thuộc giới trung lưu Trung Quốc. Mặc dầu không đưa ra một định nghĩa nào chính xác về thuật ngữ “Giấc Mơ Trung Hoa” nhưng cuốn sách vẫn được trao tặng giải thưởng Eric Offer.

Năm 2011 cuốn sách được dịch ra tiếng Trung Hoa và bán hết ngay. Năm 2012 cuốn sách được in lại lần thứ hai và Helen H Wang tặng cho Tom Friedman một ấn bản. Căn cứ vào ấn bản này, Tom Friedman viết cuốn : “China needs Its Own Dream” và cuốn sách này, sau khi được chọn đăng trên tờ The New York Times, đã trở thành tác phẩm đợc đón nhận rộng rãi nhất tại Trung Quốc.
Cuốn sách ảnh hưởng cả đến một số người lãnh đạo trí thức trong Trung Nam Hải. Tập Cận Bình định nghĩa như sau : “Giấc Mơ Trung Hoa” của tôi là sự trẻ trung hóa, sự phục hồi sinh lực của quốc gia chúng ta. Hiện nay tôi đang lo tổ chức hai lễ kỷ niệm lớn : lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập ĐCSTQ vào năm 2021 và lễ kỷ niệm 100 năm ngay thành lập Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vào năm 2049”
Tháng 5 năm 2013 Tập Cận Bình kêu gọi : “ mọi tầng lớp trong ĐCSTQ phải hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. Thanh niên phải đặc biệt chú trọng đến tuổi trẻ của mình, phải sống với tinh thần tiên phong khai phá, phải dành mọi khôn ngoan và nỗ lực cho việc thực hiện “Giấc Mơ Trung Hoa”.

Theo Robert Lawrence Kuln, tác gỉả cuốn “How China´s leaders think “ thì “Giấc Mơ Trung Hoa” gồm bốn tiếu chuẩn cần đạt tới : 1/ một nước Trung Hoa hùng mạnh về các phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao, khoa học và quân sự, 2/ một nước Trung Hoa văn minh, công bằng và ngay thẳng, có văn hóa cao và đạo đức tốt 3/ một nước Trung Hoa hài hòa và ổn định giữa các giai cấp trong xã hội 4/ một nước Trung Hoa tươi đẹp, vơi môi trường sống trong sạch sẽ và ô nhiễm tối thiểu.

Ý kiến trên đã được Tập Cận Bình nói trước đám đông ngày 29/11/2012 và nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Vì thế, ĐCSTQ muốn đưa định nghĩa này vào các sách giáo khoa. Thật ra “Giấc Mơ Trung Hoa của họ Tập không phải là giấc mơ cuả người Mỹ mà là giấc mơ Đại Hán.

Tập Cận Bình hung bạo hơn Hồ Cẩm Đào. Năm 2013 Tập Cận Bình với tư cách là Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương đã tuyên bố với quân đội : “Theo giấc mơ Trung Hoa là cố gắng không ngừng đi theo con đường đã vạch, với ý chí cương quyết không bao giờ rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, lịch sử Trung Quốc của họ Tập là lịch sử của Hán tộc đi gây chiến khắp nơi, từ Tây Tạng, Mông Cổ, Hồi Ngột, đến các nước vùng Đông Nam Á như Triều Tiên, Việt Nam, Miến Điện.

Tập Cận Bình và cải cách chống tham nhũng
Đối với ngời dân Trung Quốc thì “Giấc Mơ Trung Hoa” chẳng qua chi là “Giấc Mơ Hoa Kỳ” du nhập vào Trung Quốc cho nên phải coi đó là những giấc mơ cá nhân. Người dân Trung Quốc mong mỏi nền kinh tế của đất nước được phát triển liên tục, phong trào đô thị hóa được tiếp tục lâu dài, bộ máy cai trị được giảm thiểu tối đa, quyền hành của nhà nước cũng như lợi ích phe nhóm đươc đưa xuống mức thấp nhất. Những người Trung Quốc tự do định nghĩa giấc mơ Trung Hoa là giấc mơ hiến trị, giấc mơ về một tương lai pháp trị và tam quyền phân lập.

Ý nghĩa chính của “Giấc Mơ Trung Hoa” ngày nay là tính “khả trì” (sustainable) của nền kinh tế Trung Quốc. Tính “khả trì” này cần thiết để cho lòng dân khỏi mất tin tưỡng vào sự lãnh đạo của Đảng. Họ Tập ý thức được điều đó và ngay sau khi nắm uy thế cao nhất của đất nước, họ Tập đã tập trung tối đa vào vấn đề chống tham nhũng.
Khi còn là phó chủ tịch nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng : “ĐCSTQ chỉ là nơi tập trung những thành phần giá áo túi cơm cần phải được trong sạch hóa”. Ông cho rằng những tệ nạn trong đảng cầm quyền 63 năm qua là : thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc, vô trách nhiệm ở những mức độ khác nhau. Tệ nạn này làm mất uy tín của Đảng đối với dân chúng. ĐCSTQ đã biến thành nơi chia chác quyền lợi. Vào đảng để vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng, vì đất nước vì nhân dân.

Tại Trung Quốc hiện nay, tham nhũng được giới lãnh đạo coi là một thảm họa đe dọa sư tồn vong của chế độ. Tập Cận Bình nhậm chức khi vụ án Bạc Hy Lai- Cốc Khai Lai đang làm dư luận sôi động. Mức án tử hình cho Cốc Khai Lai và tù chung thân cho Bạc Hy Lai làm hàng ngũ cao cấp của Đảng run sợ.

Đầu năm 2014 vụ án Chu Vĩnh Khang lại còn gây rung động nhiều hơn vì chức vụ của Chu cao hơn và quan trọng hơn chức vụ của Bạc Hy Lai. Số cán bộ liên quan đến Chu Vĩnh Khang bị cất chức và bị bắt giam không ngừng. Hàng trăm người đã bị tống giam. Họ toàn là cán bộ cao cấp trong ngành công an và ngành dầu khí.

Hàng trăm nhà kinh doanh lớn và tỷ phú đỏ cũng bị sờ gáy, trong số đó có Lưu Hán và Ngô Bích, lừng danh ở Tứ Xuyên, có quan hệ chặt chẽ với Chu Vĩnh Khang và con trai Chu Vĩnh Khang là Chu Bân.

Thế giới đang choáng váng bởi chiến dịch “Đả Hổ Diệt Ruồi” của Tập Cận Bình. Ông Tập đã tước bỏ nguyên tắc “bất khả xâm phạm” dành cho các nhân vật lãnh đạo cao cấp trong Bộ Chính Trị của ĐCSTQ khi bắt giữ Chu Vĩnh Khang. Một câu hỏi được nêu ra là sau ho Chu thì sẽ đến lượt ai ?

Báo Bí Mật Trung Hoa xuất bản tại Mỹ cho rằng trong niềm say sưa của cơn săn hổ Tập Cận Bình đã bước thêm bước nữa cao hơn và đó là : Tăng Khánh Hồng. Họ Tăng là cánh tay phải của Giang Trạch Dân. Ông là Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương của ĐCSTQ trong giai đoạn 1999-2002. Với vị trí này ông đưa phe cánh vào những chức vụ quan trọng của Đảng và hướng dẫn Giang hoàn tất triết lý chính trị được gọi là thuyết “Ba Đại Diện”.

Sự nghiệp của Tăng Khánh Hồng lên nhanh như diều gặp gió. Ông từng làm bí thư thứ nhất của ĐCSTQ trong thời gian 2002-2007, rồi phó chủ tịch nước trong thời gian 2003-2008. Những năm nói trên ông là nhân vật quyền lực số hai tại Trung Quốc. Năm 2009 ̣ đánh dấu sự suy đồi của gia đình họ Tăng khi con trai ông bị tố cáo tham nhũng 32,4 triệu đô la Úc để mua một biệt thư sang trong tại Sydney.
Ngày 26/7/2014 tin Tăng Khánh Hồng bị quản thúc tại gia đã được Tân Tử Lăng xác nhận. Trước khi họ Tăng bị quản thúc, tờ Epoch Times loan tin là Giả Khánh Lâm, nguyên ủy viên Bộ Chính Trị cũng đã bị bắt giam vì tội tham nhũng .
Giới quân sự cũng không được yên thân. Tướng Từ Tài Hậu bi sa lưới trước tiên về tội mua quan bán chức, rồi gần đây hơn là đến lượt tướng Quách Bá Hùng bị điều tra vì tội tham nhũng. Có tin đồn là Quách Bá Hùng, nguyên phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, đang điều phối một kế hoạch chống lại chiến dịch đánh tham nhũng của Tập Cận Bình. Nếu kế hoạch của Quách Bá Hùng thất bại và hồ sơ chống tham nhũng của Tập Cận Bình hoàn tất, thì vụ án khổng lồ này sẽ làm rung chuyển thế giới.

Bản chất “Giác Mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình
“Giấc Mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình không giống “Giấc Mơ Hoa Kỳ” cùa Obama và cũng không phải là giấc mơ của người Trung Quốc hiện nay. Cải cách “Săn hổ đuổi ruồi” mà họ Tập đang thực hiện, vẫn mang tính “bảo thủ” như những lời trăn trối của Đắng Tiểu Bình trước khi qua đời. Họ Tập chưa bao giờ quên nội dung của Tài Liệu Mật số 9, được luân lưu trong hàng ngũ những nhà lãnh đạo Trung Quốc trong tháng 7 năm 2012.

Tài liệu nói trên, nhắc nhở phải cố hết sức tránh 7 điều cấm kỵ liên quan đến những giá trị phương Tây, trong đó có: chủ nghĩa dân chủ đại nghi, tính phổ quát của những nhân quyền và những xã hội dân sự Họ Tập chắc cũng không quên lời dặn của Đặng Tiêu Bình là : muốn thành công trong mọi dự tính cải cách thì phải tạo dựng được một chính quyền trung ương vững mạnh.

Điểm đặc biệt khiến những nhà quan sát theo dõi và ghi nhận là ngay từ lúc trở thành nhân vật “số một” của Trung Quốc thì họ Tập đã nắm trong tay cả bốn quyền lực quan trọng nhất của đất nước : Tổng Bí Thư Đảng, Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương và Ủy Viên Thường Vụ Bộ Chính Trị. Và để tuân theo những lời trăn trối của Đặng Tiểu Bình, họ Tập đã đàn áp mạnh mẽ phong trào “Dân Tộc Mới” ( New Citizens Movements).

Những tai hại trước mắt của tham nhũng : một vài thí dụ
Phúc trình năm 2004 của Tổ Chức Transparency International đã nêu ra trường hợp của ba viên chức tham nhũng nhất thế giới là ; Suharto của Nam Duong, Ferdinand Marcos của Phi Luật Tân, Mobutu Sese Seko của Dân Chủ Cộng Hòa Congo. Ba lãnh tụ này đã cướp của dân nghèo tổng cộng là 50 tỹ Mỹ Kim.

Theo phúc trình được phổ biến gần đây nhất của Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc thì những viên chức tham nhũng của Trung Quốc vào khoảng 18.000 người đã chuyển ra nước ngoài 160 tỷ Mỹ Kim. Con số này tương ương với toàn bộ ngân sách giáo dục Trung Quốc trong khoảng thời gian 1978-1998.

Ngoài sự mất mát về tài chính, tham nhũng đã gây ra những hậu quả sấu xa về an toàn thực phẩm vì các viên chức được hối lộ đã không thi hành luật lệ. Phúc trình năm 2007 của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ước tính rằng có khoảng 300 triệu người mắc bệnh liên quan đến thực phẩm mỗi năm, và đây không phải là tai họa duy nhất.
Hối lộ còn gây ra nạn xập cầu làm chết không biết bao nhiêu người, và những chất phế thải từ những nhà máy hóa học làm độc hại môi trường không phải là những việc mà chính phủ có thể làm ngơ. Hối lộ che đậy những bê bối này, gây thiệt hại đến sinh mạng và sức khoẻ của dân tộc.

Thời điểm để thử nghiệm dân chủ
Có hai khía cạnh của nền kinh tế Trung Quốc báo hiệu lúc này là lúc phải thử nghiệm dân chủ. Một là, GDP theo đầu người (giữa 4000 và 6000 Mỹ Kim), đã đạt tới mức phải bắt đầu dân chủ hóa. Hai là, nếu lơ là với vấn đề dân chủ hóa thì sự phát triển “nóng bỏng” của Trung Quốc sẽ chậm lại và làm gia tăng những tranh chấp nội bộ. Tham nhũng sẽ trở thành một gánh nặng không chịu nổi.

Khi kinh tế phát triển, người ta sẵn sàng chịu đựng một vài hối lộ. Nhưng khi kinh tế không phát triển được nữa thì cùng một mức tham nhũng như trước cũng không ai dung thứ. Nếu Trung Quốc tiếp tục giữ sinh hoạt chính trị hiện nay thì các nguồn tài chánh thất thoát ra nước ngoài sẽ gia tăng và niềm tin vào tương lai kinh tế của đất nước sẽ giảm xuống.

Tập Cận Bình đang đứng trước thời vận đề làm một việc ích quốc lợi dân : đó là việc hoàn chỉnh tiến trình phát triển kinh tế mà Đặng Tiểu Bình đã khởi xướng. Không có một quốc gia nào lại chỉ chấp nhận những thành tố căn bản của nền dân chủ mà lại không chấp nhận tất cả. Trung Quốc đã đạt được tiến bộ kinh tế và xã hội lớn lao trong vài thập niên qua. Giờ đây đã đến lúc phải thử nghiệm dân chủ.
Nhiều học giả đã chứng minh là những chế độ dân chủ tốt hơn các chế độ độc tài trong việc cung cấp dịch vụ công cộng. Và các quốc gia chuyển tiếp sang chế độ dân chủ sẽ thấy mình tiến bộ ngay lập tức. Một Trung Quốc dân chủ có thể sẽ không làm tốt hơn cho Trung Quốc về mức phát triển tính theo GDP như hiện nay, nhưng chắc chắn sẽ làm cho mức phát triển đó toàn diện hơn và đồng đều hơn.

Những lợi ích không chỉ đến với chính phủ và một số ít những nhà tư bản thân thuộc mà sẽ đến với tất cả mọi người bởi vì một chế độ dân chủ hoạt động vững vàng sẽ đem lại thành quả tốt đẹp cho tất cả mọi thành phần dân chúng.

Tập Cận Bình muốn được coi là “Truyền Nhân” của Đặng Tiểu Bình. Tập không ngớt ca ngợi Đặng là người đã thay đổi “dòng chảy của lịch sử nhân loại”. Theo cách suy nghĩ này thì có lẽ Tập đang ấp ủ tham vọng trở thành một lãnh tụ có tầm cỡ để được nhân dân Trung Quốc xếp vào bộ ba Mao-Đặng-Tập. Muốn được như thế ngoài việc thắng lợi trong chiến tranh chống tham nhũng, Tập còn phải mang lại cho nhân dân Trung Hoa một nền dân chủ mà toàn dân đang mong đợi.

Nguyễn Cao Quyền
Tháng 9 năm 2014


Dân Tộc Trung Hoa Và Con Đường Dân Chủ


Dân Tộc Trung Hoa Và Con Đường Dân Chủ

Người Dân Việt Nam với Quyền được biết

https://www.youtube.com/watch?v=xsh8TnAx148



Nguyễn Cao Quyền 
September 27, 20140 Bình Luận

Dân Tộc Trung Hoa Và Con Đường Dân Chủ

Gần đây, trên tờ The Epoch Times xuất hiện một bài báo của tác giả Li Heming với tựa đề: “Beijing Leaders Considering End Of Communist Rule”, tạm dịch là : lãnh đạo Bắc Kinh đang lưu tâm đến việc chấm dứt nền cai trị cộng sản. Thông tin này đã nhanh chóng lưu hành tại thủ đô Trung Quốc và trên thế giới như một tin nóng gây sự chú ý và hy vọng của nhiều người. Nhân dịp này, những đoạn viết tiếp theo có chủ đích trình bày một cách nhìn về: “Dân Tộc Trung Hoa Và Con Đường Dân Chủ”.

Năm1978, khi cho lệnh mở cửa để tiếp nhận kinh tế thị trường và khuyến khích đầu tư ngoại quốc Đặng Tiểu Bình đã đưa ra khẩu hiệu: “Làm giàu là vinh quang”. Như vậy phải hiểu là họ Đặng đã chỉ cho phép phát triển kinh tế mà không đả động gì đến vấn đề dân chủ hóa. Vấn đề này, cho đến ngày nay, vẫn còn ở trong vòng cấm kỵ vì được coi như một đe dọa đối với sự ổn định cần thiết cho tiến trình phát triển. Cho nên mỗi khi nhìn vào Trung Quốc người ta thường tự hỏi liệu quốc gia này có thể vĩnh viễn và muôn thuở kháng cự lại xu thế không thể đảo ngược của vấn đề dân chủ hóa hay không.

Thật ra vấn đề dân chủ không xa lạ gì với Trung Quốc. Từ hơn 100 năm nay, giới trí thức Trung Quốc đã mang ánh sáng dân chủ vào đất nước này. Năm 1898 Phong Trào Cải Cách, do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chủ xướng, đã đặt Trung Quốc trên lộ trình dân chủ hóa qua hình thức quân chủ lập hiến. Tuy phong trào này không thành công vì các lực lượng phản động vẫn còn qúa mạnh trong nội bộ triều đình Mãn Thanh nhưng nó đã để lại những dấu ấn không hề phai lạt.

Ai cũng biết rằng vào thời ấy, một mẫu hình quân chủ lập hiến không thể chấp nhận được tại Trung Quốc vì triều đình Mãn Thanh vẫn còn ngồi đó. Người Hán chưa có một tổ chức nào để thay thế. Cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911, sau khi thắng lợi cũng chỉ biến Trung Quốc thành một nước cộng hoà, chứ không thành một quốc gia dân chủ theo mẫu hình Tây phương.

Nếu thời đó không có triều đình Mãn Thanh thì rất có thể Trung Quốc đã theo chân Anh Quốc và Nhật Bản. Sau khi nhà Mãn Thanh sụp đổ, nhiều hiến pháp đã được ban hành nhưng không một hiến pháp nào được tôn trọng để mang lại một nền dân chủ trong thực tế.

Tính từ năm 1908 thì đã có tất cả 11 hiến pháp ra đời với những điều khoản bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, nhưng chưa bao giờ các quyền tự do đó được mang ra áp dụng. Với một thành tích khó tin như vậy, thử hỏi ai có thể nghĩ rằng Trung Quốc sẽ có một nền dân chủ trong thế kỷ 21.

Các chính trị gia Tây phương tin rằng một khi nền kinh tế phát triển thì giai cấp trung lưu cũng phát triển theo và chính giai cấp này sẽ chuyển biến chế độ độc tài thành dân chủ. Đó là một nhận xét chủ quan, dường như không thể áp dụng cho trường hợp của Trung Quốc vì tại đây họ Đặng cũng như những người lãnh đạo bảo thủ kế nghiệp đều nhất quyết giữ cho Trung Quốc có một độc đảng cai trị và một nền chuyên chính vô sản lâu dài.

Đề đi sâu vào lãnh vực nghiên cứu triển vọng dân chủ hóa Trung Quốc chúng ta cần lược qua năm khu vực quan trọng được coi như những cản trở cho triển vọng dân chủ hóa. Những cản trở đó cần được triệt để khắc phục trước khi Trung Quốc muốn thật tâm ly khai với mẫu hình toàn trị.

Trung Quốc không phải là một quốc gia thuần nhất

Những thành phần cấu thành đất nước Trung Hoa có những đặc tính riêng biệt cho từng khu vực. Những đặc tính này đòi hỏi những mẫu hình phát triển khác nhau. Cho nên vấn đề tiên đoán tương lai chính trị của Trung Quốc không thể nào chính xác. Sự thiếu thuần nhất này khiến Trung Quốc không thể có một mô hình phát triển giống những quốc gia khác.

Tại Trung Quốc, cái gì xảy ra trong lãnh vực kinh tế không nhất thiết sẽ phải xảy ra trong các lãnh vực chính trị và xã hội. Chưa kể là trong lãnh vực kinh tế, những gì xảy ra tại vùng này cũng chưa chắc sẽ xảy ra tại các vùng khác. Trong lãnh vực xã hội cũng vậy. Không có gì bảo đảm rằng những chuyển biến trong lãnh vực này lại ảnh hưởng đến lãnh vực chính trị. Tại Trung Quốc những chuyển biến thuộc loại này không ảnh hưởng lẫn nhau để tái lập thế quân bình mà trái lại còn tạo thêm nhiều mâu thuẫn. Người Trung Hoa rất quen thuộc với những hiện tượng này.

Tôn Dật Tiên ví Trung Quốc như một “đĩa cát”, nghiã là không có những liên hệ hỗ tương mật thiết. Con người Trung Quốc, bị ảnh hưởng của giáo lý Khổng Nho, nên coi trọng cá nhân và gia đình hơn tổ quốc. Mọi xu hướng trên đất nước này đều không có tính cách lan tràn hoặc tích lũy.

Lý do căn bản để giải thích hiện tượng này là, vì quá rộng lớn, nên Trung Quốc có đặc tính của một nền văn minh (a civilization) hơn là một quốc gia (a nation state). Cái gì làm người Trung Hoa ngồi lại vời nhau là những yếu tố văn hóa, chủng tộc và văn minh chứ không phải là tinh thần quốc gia gắn bó như người ta thường thấy ở những nơi khác.

Nếu để ý kỹ, ta thấy rằng. tại Trung Quốc, khi chế độ Mao ra đi thì chế độ Đặng xuất hiện và giữa hai chế độ này không có một liên hệ tiếp nối nào cả. Có thể nói là căn cước (identity) của người Trung Hoa không xuất phát từ khung cảnh chính trị của quốc gia, cho nên họ không quan tâm đến những thay đổi chính trị ở trong nước và không để ý đến những thay đổi mang nhiều mâu thuẫn. Chính quyền trung ương không có phương tiện để kiểm soát hoặc động viên toàn khối dân chúng. Cho nên thường xảy ra những chiến dịch động viên vùng, mỗi khi cần đến . Nếu những chiến dịch này không thành công, người ta thường thấy một cuộc đàn áp tiếp theo.

Chính quyền trung ương ở Bắc Kinh có thể ra nghị định bắt toàn dân thi hành một vấn đề, nhưng nghị định này thường khi không được địa phương tuân lệnh, nếu không phù hợp với quyền lợi của họ. Các quan chức địa phương lý luận rằng chính quyền trung ương nói dối họ, vậy thì họ cũng có quyền nói dối lại bằng cách không tuân lệnh hoặc giả vờ tuân lệnh, và như vậy là “hòa”. Cho nên mâu thuẫn liên tục xảy ra và ngày càng chồng chất. Với tình trạng này, tại Trung Quốc, tiến bộ kinh tế không đưa đến tiến bộ chính trị, và tự do tuy không phát triển trong lãnh vực chính trị nhưng lại rất được thả lòng trong lãnh vực kinh tế.

Doanh gia được xếp hạng chót trong các nấc thang xã hội

Dân tộc Trung Hoa có nhiều năng khiếu về thương mại nhưng doanh gia lại bị Khổng Tử đánh giá như một giai cấp có đóng góp nhỏ bé nhất nếu xét về phương diện phát triển và lợi ích quốc gia. Từ ngàn xưa, cách xếp hạng của Khổng Tử bao giờ cũng là: sĩ, nông, công, thương, nghĩa là các con buôn đứng hạng chót. Cho nên thương nhân và doanh nhân ở Trung Quốc, dù cho có giàu sang tới mức nào đi nữa, bao giờ cũng mang mặc cảm tư ti.

Họ luôn luôn đứng ngoài chính trị và không bao giờ bàn tán đến luật pháp. Để né tránh những điều luật bất lợi cho công việc làm ăn, họ tìm cách đút lót và hối lộ để vượt qua trở ngại và không bao giờ nghĩ đến biện pháp ảnh hưởng vào luật lệ. Chính vì vậy mà tại Trung Quốc tham nhũng là một hiện tượng thường trực và bình thường, không bao giờ rập tắt được.

Sau khi Đặng Tiểu Bình mở cửa để giao thương với ngoại quốc và đưa ra khẩu hiệu “làm giàu là vinh quang”, giới doanh nhân đã nhanh chóng trở nên đông đảo và giàu có. Mặc dầu vậy, họ đã không ảnh hưởng gì đến chính quyền bằng sức mạnh cứng (cách mạng bạo lực) mà chỉ dùng sức mạnh mềm (đút lót). Họ đã không xuất hiện trong Mùa Xuân Bắc Kinh và phong trào Bức Tường Dân Chủ của Ngụy Kinh Sinh. Sau sự kiện Thiên An Môn, họ cũng nhanh chóng ngả về phía chính quyền và vào hùa với quan điểm ổn định để phát triển.

Trái với nhận xét của các chính trị gia Tây phương, giai cấp trung lưu mới của Trung Quốc đã không có bất cứ một đóng góp nào cho tiến trình dân chủ hóa của đất nước. Tệ nạn tham nhũng vẫn còn đó và bảo đảm cho họ một phương cách làm ăn vừa an ninh vừa dễ dàng hơn. Vì thế ta đừng ngạch nhiên là không có tiếng nói nào nổi lên từ giai cấp trung lưu để đòi hỏi dân chủ đa nguyên. Vì đó chỉ là một chuyện bình thường hoàn toàn hợp với đặc tính của Trung Quốc.

Nhu cầu về một xã hội dân sự

Sự thiếu vắng một xã hội dân sự tại trung Quốc là một đặc thái khác, gần như có tính cách tuyệt đối. Không khí im lặng của giai cấp doanh nhân giàu có đứng về phía chính quyền đã là nguyên do của sự tệ hại này. Nếu không có xã hội dân sự thì không có cái gì có thể kìm hãm và hạn chế sự lạm quyền của trung ương.

Trở lại với lịch sử, ta thấy xã hội Trung Quốc ngày xưa hoàn toàn khác biệt với các xã hội Tây phương và Nhật Bản. Quyền hành của các vua Tây phương hay Nhật Bản, thời Trung Cổ, lúc nào cũng bị cạnh tranh bởi Nhà Thờ hoặc qúy tộc. Trái lại, sự cạnh tranh này chưa bao giờ xảy ra tại Trung Quốc, nơi mà Thiên Mệnh là tuyệt đối.

Đành rằng giáo lý Khổng Mạnh có cho phép chỉ trích và lên án các hành vi không xứng đáng của vua quan nhưng nếu suy nghĩ cho cùng thì việc đó cũng không thể coi là một động lực cải tạo, một động lực làm thay đổi chế độ (force of change). Đạo Khổng luôn luôn đứng về phía chính quyền và chưa bao giờ đứng về phía nhân dân.

Truyền thống ngăn cản vua quan làm bậy của thời cổ đại Trung Hoa vẫn còn tồn tại đến ngày nay, nhưng nó đã bị hoàn toàn cắt đứt sau vụ tàn sát Thiên An Môn năm 1989.

Vụ giết người dã man này chứng tỏ là nhà nước cộng sản đương thời đã tự cho cái quyền hành động man rợ đó và trên thực tế lúc nào cũng sẵn sàng tiêu diệt bằng súng đạn tất cả những sinh viên, trí thức, nhà văn nào dám chống lại chính quyền.

Để giảm bớt tình trạng căng thẳng này, gần đây Bắc Kinh đã đưa ra các chính sách hợp tác và dân chủ hóa nông thôn. Bằng cách cài người vào trong những hiệp hội nghề nghiệp và vào trong những cuộc bầu cử tại nông thôn để kiểm soát và thao túng, tập đoàn lãnh đạo Trung Nam Hải đã muốn giữ cho tình hình chính trị trong nước một bề ngoài ổn định. Tuy nhiên cả hai chính sách này đều nhằm mục đích thâm độc là chống không cho dân chủ phát triển.

Nhu cầu thay thế trật tự luân lý bằng trật tự chính trị

Muốn có một xã hội dân sự (civil society) vững chắc và phát triển Trung Quốc cần phải nhanh chóng thay thế trật tự luân lý bằng trật tự chính trị.

Trong tất cả các xã hội cổ đại và trung cổ, nguồn gốc của tính chính đáng của mọi chính quyền đều dựa trên ý niệm luân lý. Khi xã hội văn minh phức tạp xuất hiện đồng thời với những lợi ích cạnh tranh nó mang trong mình thì ý niệm trật tự luân lý phải nhường chỗ cho ý niệm trật tự chính trị, được thể hiện thể hiện trên thực tế bằng chế độ pháp trị. Ý niệm trật tự luân lý chỉ phù hợp với một xã hội có cấu trúc đơn giản. Đối với Trung Quốc, trật tự truyền thống là trật tự luân lý do Khổng Tử sáng tạo, và trật tự này đã kéo dài tới thời kỳ hiện đại. Nhưng rồi trật tự này cũng bị sói mòn qua thời gian và người Trung Quốc đã thấy ở chủ nghĩa Marx- Lenin một lợi khí mới để thay thế. Chủ nghĩa Marx-Lenin-Mao Trạch Đông không những đã thay thế giáo lý Khổng Tử mà còn khai thác cả những kẽ hở của giáo lý này đến mức tối đa.

Mao Trạch Đông chết, chủ nghĩa Mác-Lê-Mao cũng chết theo. Đặng Tiểu Bình cố cứu vãn tình thế bằng cách đưa ra chiêu bài “bốn hiện đại hóa” để xây dựng lại chính danh lãnh đạo. Tuy nhiên, vì chiêu bài này chưa rứt khoát được hẳn với cái căn bản trật tự luân lý của Khổng Tử nên chính danh lãnh đạo vẫn chưa vực dậy được.

Thời đại ngày nay là thời đại của cá nhân chủ nghĩa, của tự do và nhân quyền. Những giá trị này đã trở thành phổ quát và đã làm cho nhân loại tiến bộ. Ý niệm trật tự luân lý đặt trên căn bản gia đình lửng lơ giữa cá nhân và cộng đồng, sẽ không còn hợp thời với nền văn minh hiện đại. Cho nên nó không thể cung cấp chính danh cho tập đoàn cai trị của Trung Quốc hiện nay.

Sự ổn định bằng bạo lực chỉ có thể là một sự ổn định giả tạo, không giúp ích được gì cho nhu cầu dân chủ hóa chế độ và cho nhu cầu bồi đắp một nền kinh tế khả trì cần thiết cho vị thế siêu cường.

Đi tìm một căn bản cho chính danh lãnh đạo

Tại Trung Quốc hiện nay, sự phát triển kinh tế không đủ để chống đỡ cho chính danh lãnh đạo. Chiêu bài tạm thời: “Xây dựng một chế độ XHCN với đặc tính Trung Quốc” của Đặng Tiểu Bình, đã không còn sức lôi cuốn.

Để thay thế ý thức hệ cộng sản lỗi thời, nhiều người đã nghĩ đến chủ nghĩa dân tộc (nationalism). Tuy nhiên đối với Trung Quốc, tìm được một chủ nghĩa dân tộc có thể áp dụng cho mọi loại sắc tộc sống trên lãnh thổ không phải là chuyện dễ thực hiện.

“Ý thức về căn cước” của dân tộc Trung Hoa thường phát xuất từ niềm hãnh diện về một nền văn minh đã có một thời kỳ sáng chói. Tuy nhiên bên cạnh sắc thái này cũng còn những ý thức về thân phận thiểu số (bộ tộc) và ý thức về sự khác biệt giống nòi. Đất nước Trung Quốc là một lục địa rộng lớn có chung một nền văn minh nhưng được hợp thành bởi một số dân tộc khác nhau và ngang bằng nhau về phương diện kích thước. Cho nên ý thức về quốc gia-dân tộc không bình thường như đối với các quốc gia khác.

Chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Trung Quốc được những người cộng sản xây dựng trên một mặc cảm mà bất cứ người Trung Hoa nào cũng có. Đó là mặc cảm bị “ăn hiếp” trong hơn 150 năm bởi những thế lực nước ngoài. Mặc cảm này biến thành lòng hận thù ngoại nhân (xenophobia) được người cộng sản khai thác tối đa. Nói khác, đó là “tinh thần bài ngoại”, mẫu số chung của những người sinh sống trên Hoa lục hiện nay.

Tuy nhiên, tinh thần bài ngoại không thể nào dùng làm căn bản cho chủ nghĩa dân tộc vì chủ nghĩa này đòi hỏi phải có những tư tưởng, gía trị và khát vọng, vừa đặc trưng cho dân tộc vừa không đi ngược lại những tiêu chuẩn chung của nhân loại.


Người Trung Quốc biết họ có một lịch sử lẫy lừng và tiên tiến. Họ cũng không quên là đã có một thời gian bị sự thống trị của ngoại nhân, nhưng họ chưa chứng minh được là họ có những sắc thái cấu thành một quốc gia (nation-state) theo nghĩa bình thường như các quốc gia khác.

Quan điểm hiện tại của người dân Trung Quốc về ý niệm quốc gia là một quan điểm bệnh hoạn. Thế giới cần có một quan điểm lành mạnh hơn trong đó mọi sắc tộc trên đất nước Trung Hoa đều có chỗ đứng và được tôn trọng, để nhân loại có thể đón nhận vào cộng đồng thế giới.

Muốn đi đến một ý niệm quốc gia lành mạnh, Trung Quốc nhất thiết phải đi đến một hình thái dân chủ nào đó, một hình thái tượng trưng cho ý niệm quốc gia theo nghĩa tự nhiên và thông thường của cộng đồng quốc tế. Và muốn được như vậy, hệ thống chính trị lại phải “mở cửa” thêm lần nữa để mọi thành phần dân tộc có thể đi đến một mẫu số chung mà nhân loại chấp nhận được.

Với hơn 60 năm độc tài toàn trị, người ta có cảm tưởng là tại Trung Quốc ngày nay cả hai bên thống trị và bị trị đều đã chán ngấy trò chơi chuyên chính. Cho nên thời gian này đang được nhiều người nhận đinh là cơ hội chín muồi cho một cuộc chuyển hoán thuận lợi về phía dân chủ mà toàn dân mong đợi.

Nguyễn Cao Quyền

Tháng 9 năm 2014

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link