Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, November 16, 2014

Không thể nào nhìn một đất nước thê thảm như thế này


Không th nào nhìn mt đt nước thê thm như thế này

bieu tinh 131114



image





Preview by Yahoo


QLB












Nguyên Thạch (Quanlambao) - Sự thất bại của các quốc gia toàn trị là ở thái độ cùng những chính sách độc tài, cả hai điều này đã đưa đến hệ quả thảm bại về nhiều mặt trên bình diện quốc gia. Ở Việt Nam, đất nước và thể chế hiện hành đã vấp phải những bước đi đầy chông gai bởi nó đã mang nhiều nghịch lý dẫn đến sự mất độc lập khó tránh khỏi của một quốc gia.

Là con dân nước Việt, cho dẫu là ở nước ngoài hay ở trong nước, thì tất cả đều có mối liên hệ cũng như trách nhiệm về một nơi mà chúng ta gọi là Quê Hương. Chúng ta không thể nào chấp nhận hay tự hào về tình trạng của đất nước ngày hôm nay.

Những tâm tư đau buồn này, nó không chỉ hiển hiện ở những người nghèo khó, kém may mắn như lớp dân oan khắp ba miền, những trẻ thơ trong hoàn cảnh gia đình túng thiếu thất học, những người già cả bệnh tật không nơi nương tựa, mà nó còn luôn hiện hữu trong tâm tư nơi số người giàu sang phú quí, có cơ ngơi ổn định và cuộc sống thành đạt.

Những trăn trở về đất nước, về xã hội và về con người, một quốc gia luôn đội đít sổ về những bảng xếp hạng của thế giới, một xã hội mà đa phần thành viên của nó luôn giữ thái độ thờ ơ vô cảm bởi vô vọng cho một guồng máy đầy tiêu cực. Kinh tế suy sụp, tham nhũng tràn lan từ nóc cho đến tận sàn, tận đáy, đạo lý suy đồi đến tận cùng của tàn độc, của gian ác, người dân trở nên quen dần và bình thường hóa với sự gian dối, lọc lừa, điêu ngoa, sa đọa...

Lối sống trong một bối cảnh như vậy, những tâm hồn còn mang chút suy tư, còn chút tinh thần và trách nhiệm thì sẽ cảm thấy rất khổ sở đắng lòng, luôn bị dằn vặt cào cấu và dĩ nhiên nhãn quang nhìn đời bằng những ánh mắt kém vui hoặc không còn nghĩa sống.

Người Việt Nam dẫu ở hải ngoại hay quốc nội, thảy đều có những chỉ số thông minh và hệ cơ bắp tương quan. Người Tàu ở Singapore hay Đài Loan hoặc China cũng vậy, người Hàn cũng thế, dù Nam hay Bắc thì cũng là Đại Hàn. Ai cũng hiểu rằng chính chế độ, chính thể chế chính trị đã tạo nên sự khác biệt giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, giữa Trung cộng lục địa và Đài Loan, Singapore. Cơ chế đã gây nên sự khác biệt về kinh tế, về nhân văn và lề lối sinh hoạt của một quốc gia giữa cộng đồng các quốc gia trên toàn thế giới và dĩ nhiên những điều đã nêu này, nó còn tùy thuộc vào địa lý, khu vực... nhưng quan trọng hơn cả là tùy thuộc vào thành phần lãnh đạo của quốc gia đó.

Một sự thật rất rõ nét mà chúng ta mục kích dường như mỗi ngày là khi xem tin tức, khi nhìn vào màn ảnh của TV, những nhà lãnh đạo của các quốc gia tiên tiến hay ngay cả những nhà lãnh đạo của các quốc gia ở mức trung bình thì ta cũng vẫn thấy ở những nhà lãnh đạo này tỏa ra những nét sáng sủa, thông minh, phong cách sang trọng lịch lãm. Ngược lại, khi nhìn các lãnh đạo của Việt Nam thì... xin lỗi nói ra thì mất lòng và hổ thẹn chứ những khuôn mặt lãnh đạo này chứa đầy những nét tối tăm thấp kém.

Hai hình ảnh trên đã nói lên điều gì? Hẳn mọi người cũng đã có kinh nghiệm trong cuộc sống, dáng dấp và phong cách cũng như trình độ của một người sẽ nói lên người ấy ở vị thế, tầng lớp nào trong xã hội. Trong phạm trù quốc gia cũng thế, tư duy và phong cách của những nhà lãnh đạo sẽ nêu lên khá đầy đủ tầm cỡ, nhân văn, mức sinh hoạt về mọi mặt nơi mà người lãnh đạo ấy đại diện.

Quay về những thực thể mà tất cả chúng ta nếu còn cảm thấy rằng mình vẫn còn là một người Việt và vẫn còn có những ước nguyện, hoài bão cho một Quê Hương tương lai thì chúng ta không thể không khỏi đau lòng hoặc thậm chí đôi khi tuyệt vọng!

Hãy nói thật với nhau về những hiện tình của đất nước. Hãy nhìn nhận với nhau về những mối nguy hại rất nguy hiểm. Hãy cùng nhau phân tách cũng như cố gắng chia sẻ những thực trạng thê thảm của một Việt Nam hôm nay.

- Nền độc lập của Tổ Quốc: Ngoài những bưng bít, giấu giếm có chủ ý của đảng CSVN, những chỉ dấu phổ thông mà những con mắt cùng cái đầu bình thường cũng có thể nhận thấy được là Tổ Quốc của chúng ta đã và đang lung lay trên nguy cơ mất nước toàn diện. Không phải một cách vô cớ mà chúng ta muốn dấy nên phong trào "Chúng tôi muốn biết", phòng trào này ngoài việc cảnh tỉnh khối dân tộc hãy cảnh giác về những thái độ phản trắc của đảng CSVN cùng guồng máy toàn trị hiện hành mà họ luôn xảo mị dưới chiêu bài "bí mật quốc gia". Chuyện của quốc gia là chuyện đại sự, sự tồn vong của quốc gia là bổn phận và trách nhiệm của toàn dân, nhà nước hay đảng phái chính trị chỉ là những cơ quan thừa hành ý nguyện của tập thể dân tộc. Đảng phái chính trị và guồng máy đại diện cho dân chúng phải có bổn phận trình báo mọi hiện tình thuộc phạm vi quốc gia cho toàn thể quốc dân được biết để từ đó quần chúng sẽ chia sẻ gánh lo và cùng nhau tìm cách giải quyết vấn đề.

Sự thất bại của các quốc gia toàn trị là ở ở thái độ cùng những chính sách độc tài, điều này đã đưa đến hệ quả thảm bại về nhiều mặt trên bình diện quốc gia. Ở Việt Nam, đất nước và thể chế hiện hành cũng đã vấp phải những bước đi đầy chông gai, trở ngày bởi nó đã mang nhiều nghịch lý, những nghịch lý này chắc chắn sẽ đưa đến sự mất độc lập ắt phải có của một quốc gia.

- Về kinh tế: Ai cũng biết là Việt Nam hôm nay đã sa lầy vào sự lụn bại của kinh tế, trong khi nền sản xuất đã và đang thoi thóp trong cạnh tranh mà rõ nét nhất là phải đối mặt với sự lũng đoạn của người "bạn" lân bang Tàu cộng. Bao kế hoạch, bao công trình hầu hết đã bị thâu tóm và bị chỉ đạo bởi các thế lực kinh doanh dưới kế sách của Hoa Nam nhằm phục vụ cho mưu lược xâm chiếm toàn diện của họ.

Tài nguyên bị sử dụng một cách bất hợp lý đưa đến cạn kiệt cũng như tác hại nghiêm trọng về môi sinh, chất độc hại được có điều kiện xâm nhập từ kẻ thù nhằm ngấm ngầm tiêu diệt dân Việt với đầy dẫy bệnh hoạn và khuyết tật về cả hai mặt cơ thể lẫn tinh thần.

Với sự chi trả cho một hệ thống cầm quyền cồng kềnh cùng sự lãng phí của nó trong khi mức thu nhập của quốc dân được xem là không đáng kể, thu nhập kém, đưa đến tình trạng đóng thuế thấp hoặc trốn thuế, thực trạng này tự nó đã không là những nền tảng vững chắc cho việc chi trả lương phạn (mà riêng VN thì còn gọi là lương lậu) cùng những tiện ích tối thiểu cần kíp khác. Bên cạnh gánh nặng không thể kham này là căn bệnh tham nhũng dường như là bất trị, tài sản của quốc gia vốn dĩ đã èo uột, lại càng rơi vào tình trạng ngụp lặn không lối thoát.

Có một vấn đề được xem là nan giải và rất nhức nhối, đó là vấn đề ngoại tệ. Hơn 4 triệu người Việt ở nước ngoài, bất luận là tỵ nạn chính trị hay ra khỏi VN với lý do di dân hay vì mục đích đi làm, hầu hết những người này thảy đều biết họ là những cánh tay vươn xa về tận bên kia để cưu mang, giúp đỡ bởi mối liên hệ không thể thoát. Họ dư hiểu rằng chính đồng tiền của họ gởi về là cứu sống và giữ cho chế độ tồn tại mãi cho đến hôm nay và không biết cho đến tận bao giờ!. Thực tế về việc gởi tiền về VN, thật sự chúng ta đã cũng như đang gặp phải khó khăn. Để có được giải trình cho vấn đề nan giải này, thiết nghĩ chúng ta chỉ còn có cách là hãy giới hạn tối đa bằng mọi cách mà chúng ta có thể giới hạn được. Việc cố gắng giới hạn này, nó sẽ giúp thu ngắn ngày về trên một Quê Hương tự do và nhân bản.

Hiện tại nguồn dự trữ của ngân sách đã thật sự nguy ngập đến mức báo động, nền kinh tế theo định hướng XHCN đã đến hồi lụn bại và sẽ đưa đến sự phá sản toàn bộ. Mức báo động về "nợ công" đã đến lúc khẩn cấp, nếu trì trệ, không còn cách giải quyết thì sẽ xảy ra vấn đề vỡ nợ, điều đó nếu có xảy ra thì nó còn đồng nghĩa với sự mất mặt, mất uy tín (Ừ mà cộng sản có mặt, có uy tín đâu mà mất nhỉ) và kéo sự sụp đổ chế độ.

- Về Quân sự: Như mọi người đã biết, sau cái ngày được gọi là "Thống nhất đất nước" Việt Nam đã phải luôn đối đầu với bọn bành trướng phương Bắc và quân đội VN gần như chuốc lấy sự thất bại qua các cuộc chạm trán bằng quân sự. Gần đây, ngoài những nhân vật lãnh đạo trong Bộ chính trị và Trung ương đảng CSVN đã bạc nhược khuất phục Thiên triều một cách không nên có qua "Mật Nghị Thành Đô 1990" và những chuyến quì gối đi chầu, nhà cầm quyền Trung Cộng còn gặt hái được ngay cả tham vọng thâu tóm quyền bính của bạo lực đó là nắm luôn cả Bộ quốc phòng và Bộ công an, hai thế lực mà theo quan điểm của những người cộng sản là: "Lực lượng bạo lực chuyên chính", lực lượng này sẽ sẵn sàng dùng bạo lực, vũ khí để đàn áp và tiêu diệt bất cứ sự chống đối nào đối nghịch với chế độ.

Trước sự qui hàng của hai hệ thống có thiết bị vũ trang bằng súng đạn, tàu bay, tàu ngầm, dùi cui và nhà tù... Trong khi người dân trong tay không hề sở hữu được một tất sắt, câu hỏi được đặt ra trước 2 lực lượng bất cân xứng này là: Chúng ta phải làm sao?.

- Về Xã hội: Dưới ách khống chế của CƠ CHẾ toàn trị, sự bưng bít cấm cản thông tin đa chiều, tà sách kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, cùng bao sách lược mụ mị đã đưa đến hậu quả là trình độ dân trí thấp, cộng với thái độ buông xuôi và vô vọng, con người ta chỉ biết phản xạ theo bản năng sinh tồn ngoài (without) căn bản của đạo lý và niềm tin. Một xã hội như vậy là một xã hội chết, một xã hội tê liệt toàn diện.

Nêu lên những bức ảnh của xã hội hiện tại, tác giả không nhằm mục đích bi quan hóa vấn đề nhưng thực tế thì xã hội của chúng ta là thê thảm đến như vậy để thấy rằng nếu tất cả không cảnh tỉnh, không nhận diện được những nguy cơ đang rình rập để vồ lấy chúng ta và sát hại bất cứ lúc nào.

Thời gian sẽ không còn bao lâu, sẽ không cho phép chúng ta chần chờ gì thêm. Hãy nhen nhúm và hãy dồn hết mọi nghị lực để dấy nên một cuộc cách mạng cứu dân cứu nước. Trong những thứ tệ hại thì con người nên chọn những cái tệ hại nào ít tổn hại nhất. Thực trạng của Việt Nam hôm nay, đàng nào chúng ta cũng phải chết, chấp nhận cái chết cho tương lai của dân tộc được tồn tại hay tất cả sẽ chết trong sự mất mát toàn diện, đó là Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới như hình ảnh của Nội Mông, của Tân Cương hay Tây Tạng mà chúng ta đã nhìn thấy.






Vit Nam đã mất ch quyền bin vào tay Trung cng

QLB
Phạm Trần (Danlambao) - Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã bằng lòng đổi chủ quyền Biển Đông để được sống yên ổn bên cạnh nước láng giềng Trung Quốc sau kỳ họp lần thứ 7 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội ngày 27/10/2014.

Kết quả này thật ra đã được đồng ý trên nguyên tắc giữa hai Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting,ASEM ). 

Tuy nhiên, thỏa hiệp mới đã được chi tiết hóa rõ hơn tại phiên họp chung tại Hà Nội giữa 2 phái đoàn của Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì và phía Việt Nam do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh dẫn đầu.

Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy phía Việt Nam đã tự ý phổ biến nhiều bức hình tươi cười, chứa đựng sự thỏa mãn của ông Dương Khiết Trì chụp chung với các ông Phạm Bình Minh, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Những hình ảnh của ngày 27/10 đã khác một trời một vực với những tấm hình chứa nhiều nỗi bất bình, cố nén trong căm tức của Lãnh đạo Việt Nam với ông Dương Khiết Trì khi ông này sang Hà Nội ngày 18/06/2014 để nói như ra lệnh cho phía Việt Nam phải chấm dứt ngay lập tức các hoạt động phá rối hoạt động tìm kiếm dầu của giàn khoan Hải Dương 981, do Bắc Kinh tự đặt sâu trong vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam từ ngày 02/05/2014 đến ngày 17/07/2014.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi thăm Ấn Độ cùng ngày họ Dương họp ở Hà Nội (27/10/2014) khiến Nhân Dân nhật báo của Trung Cộng bực mình, ngụ ý nói ông Dũng muốn mở rộng hợp tác kinh tế với Tân Đề Ly (New Delhi) để giảm lệ thuộc vào Bắc Kinh. Báo này đăng bài bình luận của Tô Hiểu Huy, Phó Chủ nhiệm Sở Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế còn lên án việc phái đoàn Nguyễn Tấn Dũng ký thỏa hiệp khai thác dầu khí chung ở Biển Đông với Ấn Độ là vi phạm “chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Hải”. 

Nhưng đâu là sự thật?

Sự thật là ông Nguyễn Tấn Dũng đã “bắt cá hai tay” để chứng tỏ Việt Nam giữ vững đường lối ngoại giao độc lập, không chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh để có lợi, nhưng mặt khác thì ông Dũng cũng đã để lộ ra “lá bài hai mặt” của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Cộng ở thế yếu, vì Việt Nam đã chịu làm theo “ý muốn của Trung Quốc”.

Tiêu biểu là trong cả 2 cuộc họp ở Hà Nội và ở Milan (Italy), phía Việt Nam đã không đề cập đến, hoặc có nói thì cũng chỉ trong tư thế “nói nhỏ cho nhau nghe”, những vụ tầu cá Việt Nam liên tục bị tầu Trung Cộng tấn công hoặc đâm chìm ở vùng biển Hoàng Sa mà báo chí Việt Nam, ngay cả Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chỉ được phép gọi là “tầu lạ” hay “tầu nước ngoài”!

Việc Trung Cộng không ngừng củng cố, xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa chiếm của Việt Nam năm 1974 và biến các đảo Gạc Ma và 7 bãi đá khác chiếm của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo nhân tạo, xây sân bay, bãi tầu, căn cứ quân sự phòng thủ cũng không thấy ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong cuộc họp với Lý Khắc Cưởng.

Thái độ nhu nhược này cũng diễn ra trong các cuộc họp giữa các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Phạm Bình Minh với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì tại Hà Nội ngày 27/10 (2014). Những vi phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo Việt Nam và hành động vô nhân đạo, bất chấp sinh mạng của ngư dân Việt Nam và luật pháp quốc tế của phía Trung Cộng cũng đã không được báo chí của đảng CSVN và Bộ Ngoại giao nói đến trong dịp này.

Nếu cứ tin vào ngôn ngữ của nhà nước và báo chí Việt Nam thì không có chuyện gì xảy ra giữa Việt Nam và Trung Cộng trước và trong thời gian ông Dương Khiết Trì có mặt ở Hà Nội.

Như vậy, thiệt thòi cuối cùng đã thuộc về nhân dân Việt Nam, chủ nhân của đất nước nhưng quyền này đã bị đảng cướp mất từ lâu nên cứ è cổ ra mà gánh chịu hậu quả bởi những quyết định sai lầm trong quan hệ ngoại giao với Trung Cộng.

Lời hứa của Nguyễn Tấn Dũng

Trước hết hãy nói về chuyện ở Milan, Ý Đại Lợi, ngày 16/10 (2014) ông Dũng đã nhân danh Chính phủ cam kết với Lý Khắc Cường những điều sau đây, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam:

Ông: “Khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quý trọng giữ gìn và mong muốn củng cố quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và tăng cường hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”

Ông: “Đề nghị hai bên duy trì gặp gỡ và tiếp xúc cấp cao để tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, đồng thời kịp thời chỉ đạo giải quyết thỏa đáng các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước.”

Ông cũng đã đồng ý: “Hai bên nhất trí triển khai thực chất 03 nhóm công tác hợp tác về xây dựng cơ sở hạ tầng, hợp tác về tiền tệ và bàn bạc hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ hai nước.” 

“Về vấn đề Biển Đông”, Bản tin Bộ Ngoại giao nói tiếp, “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh đề nghị hai bên kiểm soát tốt tình hình trên biển, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, thúc đẩy các cơ chế đàm phán tiến triển, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc; tôn trọng Luật pháp quốc tế, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.”

Về phía ông Lý Khắc Cường, Bộ Ngoại giao cho biết ông ta đã: “Khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc luôn kiên trì phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với Việt Nam, luôn mong muốn xử lý thỏa đáng các vấn đề khó khăn phát sinh trong quan hệ hai nước, cùng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”

Sau cùng, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông Lý Khắc Cường “đã phản hồi tích cực đối với những đề xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian tới.”

Tất nhiên là phải “phản hồi tích cực” vì những gì ông Nguyễn Tấn Dũng nói ra từ miệng mình, trong tư cách một Thủ tướng Việt Nam, đã đáp lại đúng lập trường bất di bất dịch của Trung Cộng gọi là “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông) qua tuyên bố “Biển của ta, gác tranh chấp cùng khai thác”.

Chủ trương coi lãnh thổ của người khác cũng là của mình đã được Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được các thế hệ lãnh đạo thừa kế của Trung Cộng tuyệt đối tuân thủ và thi hành qua chiều bài “tự vẽ” ra hình Lưỡi Bò, hay “đường 9 đoạn” rồi chuyển sang “10 đoạn” chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông.

Hai ông Trọng - Sang

Vì vậy mà ta không lạ khi thấy trong ngôn ngữ cuối cùng sau một ngày họp giữa Dương Khiến Trì và Phạm Bình Minh, phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không gay gắt như khi hai ông Trọng tiếp họ Dương ngày 18 tháng 6 năm nay (2014).

Hồi đó, ông Trọng đã “khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi.” (Thông tấn xã Việt Nam, TTXVN).

Theo tin Chính phủ Việt Nam thì trong cuộc gặp Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014, hai ông Trọng và Sang đã:"Khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc; nhấn mạnh việc giữ gìn, củng cố và làm cho mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh là trách nhiệm chung của cả hai bên, phù hợp với lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân hai nước và cũng có lợi cho cục diện hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới."

Hai Lãnh đạo Việt Nam cũng: “Đề nghị Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương cần tiếp tục phát huy tốt hơn vai trò định hướng, góp phần thiết thực thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh.”

Ông Sang không gặp Dương Khiết Trì ngày 18/06/2014, nhưng trong lần gặp hôm 27/10 (2014) vừa qua, Chủ tịch nhà nước CSVN nói: “Vấn đề trên biển hết sức hệ trọng đối với mỗi nước cũng như quan hệ hai nước. Đây không chỉ là vấn đề giữa hai Đảng, hai nước mà còn là vấn đề giữa nhân dân hai nước. Nếu hai Đảng, hai nước không kiểm soát được bất đồng trên biển thì quan hệ hai Đảng, hai nước không những bị ảnh hưởng mà tình cảm của nhân dân hai nước cũng bị tổn thương.”

Tại buổi tiếp này, ông Dương Khiết Trì “khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn mong muốn tăng cường trao đổi cấp cao, củng cố hữu nghị nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển quan hệ tốt đẹp, ổn định lâu dài với Việt Nam, đồng thời sẵn sàng cùng với Việt Nam đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, giao lưu nhân dân…”

Ông Dương Khiết Trì nhấn mạnh: “Việc xử lý thỏa đáng bất đồng là phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa tích cực đối với ổn định và phát triển của khu vực.”

Sự thật đã phơi ra

Qua những câu chữ đấy tình “vừa là đồng chí vừa là anh em” ngọt xớt này, tuy vắng bóng 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.) nhưng bên trong vẫn thấy bóng dáng của “những nỗi xót xa” hiện ra nguyên hình trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì sau đây:

1) “Hai bên cho rằng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hai nước.” 

2) “Hai bên thực hiện nghiêm chỉnh nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, căn cứ “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển. Dựa trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, sớm triển khai công việc khảo sát chung, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này như Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã nhất trí với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc gặp tại Mi-lan, I-ta-li-a ngày 16/10/2014.

Ở đoạn này, cả hai bên Việt Nam và Trung Cộng đều không giải thích hay làm cho rõ “khảo sát chung” những cái gì, khoáng sản, dầu khí, hay cả các tài nguyên, ngư trường khác nữa?

Và tại sao Việt Nam lại đồng ý “khảo sát chung” với Trung Cộng khi Bắc Kinh không có chủ quyền ở vùng Biển Đông? 

Ngoài ra, nguy hiểm hơn, Việt Nam còn đồng ý “đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này”?

Như vậy là rõ ràng thỏa hiệp Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 đã vượt ra khỏi thỏa hiệp giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh.

Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”

Ông Đỗ Văn Hậu-Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam-Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung. 

Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam-Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”

Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ năm 2000, cũng như “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Tổng bí thư đảng Lê Khả Phiêu ký với Trung Cộng ngày 30/12/1999 đã không được đem ra thảo luận tại Quốc hội trước khi ông Phiêu đặt bút ký nên toàn dân, cho đến bây giờ (2013), vẫn chưa được biết tường tận về những điểm lợi và hại của hai văn kiện quan trọng này.

Quốc hội của Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng đã nhắm mắt phê chuẩn Hiệp định này vào năm 2004 mà không có bất cứ cuộc điều tra hay nghe điều trần của Chính phủ nên cũng mập mờ như dân!

Do đó, sau khi có loan báo từ Bắc Kinh nói rằng hai phía Việt-Trung đã thỏa thuận “gia hạn” và “sửa đổi” hợp tác giữa hai tập đoàn dầu khí của hai nước trên Vịnh Bắc Bộ thì mọi người mới biết rằng Việt Nam đã chịu để cho Trung Cộng được quyền cùng khai thác dầu khí bên trong phần biển thuộc về Việt Nam, dù khu vực khai thác chung nằm trên đường ranh giới phân định giữa hai nước!

Ông Đỗ Văn Hậu giải thích tiếp rằng: “Thỏa thuận hợp tác giữa PVN và CNOOC được ký lần đầu từ năm 2006 phù hợp với Hiệp định đã ký kết giữa hai nước về phân định Vịnh Bắc Bộ. Thỏa thuận này đã được gia hạn 3 lần và lần này là lần thứ 4 với thời hạn đến năm 2016. 

Theo đó, Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận với nhau về một vùng biển nằm trên Vịnh Bắc Bộ, nằm trên đường phân định hai quốc gia; cùng thăm dò và cùng khai thác khi phát hiện có dầu khí. Ngoài việc gia hạn, thỏa thuận lần thứ 4 này đã thống nhất mở rộng khu vực thăm dò chung nằm trên đường phân định hai quốc gia trên Vịnh Bắc Bộ lên gần 3 lần so với lần đầu năm 2006. 

Khu vực này được chia đều qua đường phân định trên Vịnh Bắc Bộ, một nửa nằm phía Việt Nam và một nửa nằm bên phía Trung Quốc. Trên khu vực này, hai Tổng công ty của hai Nhà nước sẽ cùng nhau tiến hành thăm dò, nhằm phát hiện các cấu tạo địa chất có chứa dầu khí. Khi phát hiện có dầu khí thì 2 bên sẽ tiếp tục bàn thảo, để cùng nhau hợp tác khai thác.” (Thống tấn xã Việt Nam, TTXVN, 20-6-2013)

Giờ đây, Việt Nam và Trung Cộng lại đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này” là vùng biển nào, nếu không là vùng còn lại của Biển Đông vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam thì của ai ?

Không có bất cứ bản tin nào của phía Việt Nam hay của Trung Quốc gỉải thích rõ về điểm quan trọng này, ngoài việc ông Phạm Bình Minh đã: “Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc; nhấn mạnh hai bên cần triển khai hiệu quả những thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc của đồng chí Lê Hồng Anh, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8/2014) về việc khôi phục giao lưu hợp tác, kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp.”

Điều này có nghĩa phía Việt Nam đã đồng ý “giữ nguyện hiện trạng” ở Biển Đông, hay nói cách khác là “quân đâu đứng nguyên ở đó”, có nghĩa công nhận sự có mặt của quân Trung Cộng trên vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.

Bộ trường Quốc phòng Phùng Quang Thanh mới họp từ Bắc Kinh về (từ 16 đến 19/10/2014) đã xác nhận với báo chí ở Hà Nội ngày 20/10 (2014).

Đáp câu hỏi: Hai bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?

Tướng Thanh: “Chúng tôi có trao đổi phải giữ nguyên hiện trạng trên biển Đông và phải thực hiện đầy đủ tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông - DOC. Quan điểm chung là các bên không mở rộng tranh chấp, không cắm mốc mới. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.

H: - Phía Trung Quốc có đưa ra cam kết nào về việc giữ nguyên hiện trạng, thưa ông?

Tướng Thanh: "Hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực."

Bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm: “Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng nêu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông, khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên thông qua các biện pháp hòa bình để cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp, bất đồng tại Biển Đông trên cơ sở tuân thủ các nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì bày tỏ, Trung-Việt là hai nước láng giềng quan trọng của nhau, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn kiên trì phương châm hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Với sự nỗ lực chung, hai bên đã khắc phục được những khó khăn gặp phải trong thời gian vừa qua. Hiện quan hệ song phương đang từng bước khôi phục, hai bên cần nắm chắc phương hướng phát triển quan hệ hai nước, xử lý thỏa đáng và kiểm soát tốt bất đồng trên biển, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác song phương. Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì nhất trí tăng cường chỉ đạo các cơ quan hữu quan Trung Quốc tích cực triển khai các thỏa thuận đã đạt được tại Phiên họp lần này.”

Như vậy xem ra Dương Khiết Trì đã “mát lòng mát dạ” sau khi chỉ mất một ngày họp ở Hà Nội với ông Phạm Bình Minh mà xem ra không tốn bao nhiêu công sức.

Bởi vì: “Hai bên cho rằng, quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Hai bên sẽ cùng nhau nỗ lực thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không ngừng củng cố và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển ngày càng đi vào chiều sâu. 

- Hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy giao lưu hợp tác giữa hai nước; đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc; khẩn trương thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ để tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực liên quan.

- Hai bên nhất trí thực hiện nghiêm túc 3 văn kiện về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, phối hợp giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý biên giới.”

Nghe qua thì có vẻ hòa bình, hữu nghị đấy nhưng kẻ bị thiệt trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 không phải là đảng CSVN mà thuộc về số phận hẩm hiu của nhân dân Việt Nam, những người đã không những chỉ mất quyền làm chủ đất nước vào tay đảng mà còn bị Lãnh đạo Việt Nam đầy vào chân tường khi không giữ được tài sản của Tổ tiên để lại cho đời sau. -/-

(10/014)


Đ M chưa khai, chưa được chết

QLB
Nguyên Thạch (Quanlambao) - (Lời nhắn cho Đỗ Mười trước khi đi gặp Các Mác Lê Nin và Hồ Chí Minh)

Nhắn với Đỗ 10 là: Đ M không được chết
Nếu phải chết thì Đ M phải khai hết chớ quên
Mật Nghị Thành Đô như thế nào?
Kê ra cho hết rồi ký tên
Cố giấu giếm thì Đ M xuống âm phủ sẽ đền trọng tội.


 
Kêu thư ký viết cho rõ rồi chuyển tới "Cuốc Hội"
Liệt kê đầy đủ những tên bán nước, những kẻ tội đồ
Đứng đầu danh sách là tên phản tặc họ Hồ
Lê Đức Thọ, Lê Duẩn, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Lê Hồng Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng cùng bao nhiêu tên bưng bô Thái thú.



Đ M hãy quì xuống thú tội rằng ĐCSVN là những tên rừng rú
Phản bội tổ tiên, đần đú đê hèn
Một đảng chuyên cướp bóc hành hạ dân đen
Xảo trá lừa mị...biến người dân thành trâu thành ngựa để dể chèn dễ trị.


 



Đối với đảng, Độc lập, Tự do là cái con c...nên chẳng có gì trân quí
Tất cả chỉ đồng tâm quyết chí qui Tàu
Mật Nghị Thành Đô hứa gom một sao dâng cho mẫu quốc thành cờ máu sáu sao
Hoàng Trường Sa, biển đất...sẽ trao cho đại quốc.


Đ M, Đỗ 10, trước khi chết hãy khai ra sự thật
Đừng như tên Hán gian Hồ Chí Minh, tướng hèn Võ Nguyên Giáp sống cất, chết mang theo
Nghiệp chướng của Đỗ 10 đã bị âm hồn của cả triệu con heo
Xuống âm phủ chúng sẽ bám theo đòi nợ.


 


Đ M Đỗ 10 nay đất nước trước dầu sôi lửa bỏng không được chết một cách vô cớ
Khi mọi âm mưu chứng cớ chưa khai ra
Đỗ 10 phải biết nhận lầm lỗi như bao kẻ khác vì tất cả đang ngụp lặn trong cõi "ta bà"
Phải thành khẩn thì mới mong được thứ tha trọng tội

Đ M, đừng như những thằng cộng sản khác đến lúc chết vẫn còn giữ tật nói dối.



 
Nguyên Thạch

TRUNG QUC NI DY KHP NƠI !

Ảnh của Binh Thanh Nguyen.
 SỰ SỤP ĐỔ KHÓ TRÁNH KHỎI CỦA CHẾ ĐỘ
QLB

Facebook
Không riêng các tỉnh tự trị có mâu thuẫn truyền thống, bạo loạn diễn ra hàng ngày ở hầu hết các tỉnh thành trung tâm, với cường độ ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng.

  Người Trung quốc tận dụng mọi lý do vớ vẩn nhất để có cớ nổi dậy phản kháng lại chính quền, trong các cơn giận giữ của họ, thì công an và cán bộ địa phương thường là đối tượng đầu tiên phải hứng chịu cơn cuồng nộ, có từ 2 đến 3 ngàn cảnh sát, nhân viên công lực, cán bộ địa phương bị giết trong 2 năm 2012-2013, nhiều trường hợp bị đám đông dân chúng hành hạ rất dã man trước khi bị giết.

  Việc rất khó tìm ra hung thủ trực tiếp hành hạ, giết hại công an chứng tỏ sự chán ghét chế độ, căm thù công an của người Trung quốc xuất hiện tại tất cả các tầng lớp nhân dân .

 Một vụ nổi dậy điển hình mới sảy ra hôm qua 19-4-2014 tại Ôn Châu - Triết Giang có ít nhất 4 công an TQ đã bị giết rồi bị đập nát thi thể


https://www.facebook.com/kpop.yeughet/posts/4527
267

28207461
Người Di Ngô Nhĩ khốn khổ
https://www.facebook.com/kpop.yeughet/posts/452473531566114…

Táng tận lương tâm
https://www.facebook.com/kpop.yeughet/posts/452393508240783?notif_t=like

Lộ diện sự bất nhân dối trá qua những bức ảnh
https://www.facebook.com/kpop.yeughet/posts/452393508240783?notif_t=like

Việt nam Tỉnh tự trị của TQ ?
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=452674811545986&set=a.124290151051122.37909.100004104140367&type=1


Ảnh của Binh Thanh Nguyen.


Ảnh của Binh Thanh Nguyen.


Ảnh của Binh Thanh Nguyen.

Ảnh của Binh Thanh Nguyen.


Theo Facebook




Hoa Kỳ ban hành qui chế tị nạn cho trẻ em các nước Trung Mỹ


Hoa Kỳ ban hành qui chế tị nạn cho trẻ em các nước Trung Mỹ

Phó tổng Thống Joe Biden loan báo chương trình mới hôm thứ Sáu tại Ngân hàng Phát triển Liên-Mỹ ở Washington.
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Trẻ vị thành niên cư trú bất hợp pháp gây căng thẳng cho toà án Mỹ
  • Lực lượng Vệ binh Quốc gia bang Texas được triển khai tới biên giới Mexico
  • Các nhà lập pháp Mỹ tìm hiểu gốc rễ khủng hoảng di dân ở biên giới
15.11.2014
Chính quyền Obama đang tiến hành một chương trình mới nhằm ban qui chế tị nạn tại Mỹ cho một số trẻ em sống tại El Salvado, Guatemala và Honduras.

Phó tổng Thống Joe Biden loan báo chương trình mới hôm thứ Sáu tại Ngân hàng Phát triển Liên-Mỹ ở Washington.
Ông nói: “Chúng ta đang tiến hành điều chúng ta xem như là một tiến trình tị nạn trong nước cho một số thiếu niên tại Guatemala, Honduras và El Salvador đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế về tị nạn. Bắt đầu vào đầu tháng 12, chương trình này sẽ cho phép cha mẹ cư ngụ hợp pháp tại Mỹ yêu cầu cấp qui chế tái định cư tị nạn cho con cái hiện vẫn còn tại một trong 3 quốc gia này mà không phải trải qua những chuyến vượt biên nhiều gian khổ.”

Kế hoạch này đi trước một cuộc chiến về di trú Tổng thống Barack Obama chắn chắn phải đối đầu với đảng Cộng hòa tại Quốc hội.

Chủ tịch Hạ viện, dân biểu Cộng hòa John Boehner đã nói các nhà lập pháp sẽ tranh đấu bằng mọi cách nếu Tổng thống đi theo con đường này.




Đời Mồ Côi


Biểu tình hiếm thấy của sinh viên tại Myanmar



Biểu tình hiếm thấy của sinh viên tại Myanmar

Một sinh viên biểu tình trước cổng Đại học Yangon cầm một cái bát úp, biểu tượng của sự chống đối ở Myanmar, Yangon, Myanmar, ngày 15 tháng 11, 2014. (Steve Herman/VOA )
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Tổng thống Obama: Myanmar chưa hoàn tất cải cách
  • Tổng thống Obama kêu gọi Myanmar đẩy nhanh cải cách
  • Thượng đỉnh ASEAN không đạt nhiều tiến bộ trong các vấn đề then chốt
  • Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN khai mạc tại Myanmar
15.11.2014
Sinh viên học sinh tại thành phố Yangon xuống đường biểu tình sang ngày thứ hai để phản đối luật giáo dục mới của Myanmar.
Các nhóm dân quyền nói rằng luật mới cho phép trung ương kiểm soát các trường đại học và gạt bỏ những nỗ lực nhằm mang lại quyền tự quản cho các học viện bậc cao.
Hàng trăm sinh viên học sinh đã tuần hành hôm thứ Sáu trong lúc Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đang đi thăm Myanmar, còn gọi là Miến Ðiện.
Hôm thứ Bảy, các sinh viên đã tuần hành đến cổng trường đang khóa lại của Đại học Yangon. Các sinh viên đã leo qua cổng để vào trường khi các giới chức của trường không mở khóa cổng cho cho họ.
Các sinh viên hô to “Hãy bắt chúng tôi đi” trong lúc họ tiếp tục cuộc biểu tình tại địa điểm của văn phòng liên đoàn sinh viên của trường đại học, đã bị quân đội phá hủy cách đây 26 năm.
Các sinh viên đã cúi đầu tưởng nhớ những người biểu tình của các thế hệ đi trước, đã bị các lực lượng thực dân Anh và chế độ quân nhân Miến Ðiện giết hại.
Các sinh viên đã rời khuôn viên trường trong ôn hòa, nhưng nói rằng họ sẽ tiếp tục phản đối.
Cuộc biểu tình đòi dân chủ trong giáo dục đã diễn ra tại cùng khuôn viên trường học nơi mà Tổng thống Obama đã gặp gỡ các sinh viên chỉ một ngày trước đó.


Saturday, November 15, 2014

Các bài về huyền thoại tắm máu ở Việt Nam của Gareth Porter

Các bài về huyền thoại tắm máu ở Việt Nam của Gareth Porter

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm lược: Vào thập kỷ 1970, Gareth Porter, một học giả phản chiến Mỹ, viết hai bài về chương trình cải cách ruộng đất ở Bắc Việt trong thập kỷ 1950 và cuộc thảm sát Huế vào Tết Mậu Thân 1968, gọi hai vụ này là huyền thoại. Hai bài này có đầy rẫy xuyên tạc và hoàn toàn không có nghiên cứu học thuật. Porter có nhiều ngụy biện luận lý trong lý luận và phản ảnh việc ngụy tạo sự kiện ác hiểm để thỏa mãn quan điểm chính trị của mình.

*

Vào thập kỷ 1970, Gareth Porter, một học giả phản chiến Mỹ, viết một số bài báo chống lại chiến tranh Việt Nam (Wikipedia 2014a). Porter là một trong nhiều học giả phản chiến Mỹ gồm có Noam Chomsky, Edward Herman, and Marilyn Young. Một trong những chuyên môn của Porter là săn lùng thông tin thống kê cung cấp bởi những người Việt Nam và người Mỹ chống cộng, tìm kiếm lỗi hoặc sai lầm để tố cáo những tác giả này nói dối, ngụy tạo, hoặc phóng đại. Mặc dù mục đích tìm ra sự thật là đáng khen, phương pháp một chiều của Porter thiếu sót nghiêm trọng và khiến ông ta thành một tay tuyên truyền cho cộng sản, dùng các thủ đoạn rẻ tiền và độc hại để tấn công người khác. 

Có hai huyền thoại mà Porter nêu ra: việc tắm máu trong chiến dịch cải cách ruộng đất tại Bắc Việt (năm 1953 - 1956) và vụ thảm sát Huế năm 1968 (Wikipedia 2014). Như sẽ được trình bày sau, sự thật về chương trình cải cách ruộng đất đẫm máu và vụ thảm sát Huế đã được biết từ nhiều năm. Dầu vậy, các bài của Porter vẫn được dùng là tài liệu tham khảo cho vài nguồn, kể cả Internet, và được cộng sản Việt Nam khai thác tối đa trong tuyên truyền của họ.

A. Chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1953 - 1956

Trong bài tựa đề "Huyền thoại tắm máu: Xem xét lại cuộc cải cách ruộng đất của Bắc Việt Nam" ấn hành vào năm 1973, Porter (1973a) cáo buộc Hoàng Văn Chí, tác giả cuốn sách chi tiết về cuộc cải cách ruộng đất (Hoàng 1964), là "dịch sai và trình bày sai be bét" về "các văn bản chính thức của các tài liệu liên quan đến những sai lầm của chiến dịch cải cách ruộng đất" (Porter 1973a, 9). Porter khẳng định rằng Chí và những người khác, kể cả chính phủ miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ của Mỹ, đưa ra tuyên truyền tấn công chiến dịch cải cách ruộng đất để Tổng thống [Nixon] có thể dùng nó là một lý do chính để duy trì sự hiện diện quân sự Mỹ tại Việt Nam" (Porter 1973a, 12). Porter đặc biệt chỉ ra "chính Hoàng Văn Chí, đã vi phạm các hành vi có tội nghiêm trọng nhất và nhiều nhất" trong "huyền thoại 'tắm máu' bằng cách lạm dụng bằng chứng tài liệu quan trọng" (sđd., 3). 

Porter dò qua quá trình làm việc của Chí, cáo buộc Chí làm việc cho CIA và kết luận "mục đích của Chí là tuyên truyền chứ không phải là lịch sử chính xác" (sđd., 3). Những lời Porter chỉ trích về sách của Hoàng Văn Chí bị Teodoru (1973) bác bỏ cực lực trong một phiên điều trần quốc hội trước Tiểu ban Điều tra hành chính của Đạo luật An ninh nội bộ và các luật an ninh nội bộ. Ngoài lập luận riêng của mình và phân tích bài viết của Porter, Teodoru cung cấp một bài ghi nhận cuộc phỏng vấn với Hoàng Văn Chí (Hoàng 1972). Porter (1973b) sau đó trình bày phản biện lại Teodoru và lập luận của Chí trong lời khai trước cùng một Tiểu ban. Độc giả nên tham khảo các tài liệu này để biết thêm chi tiết. Trong phần sau đây, tôi sẽ tập trung thảo luận phần lớn về sự phân tích định lượng của Porter trên ước tính số người bị giết chết trong chiến dịch cải cách ruộng đất tại Bắc Việt từ 1953 đến 1956.

Dùng nguồn từ chính phủ VNDCCH, Porter cho ra hai con số về số làng trong chiến dịch và ước tính số địa chủ và tỷ lệ phần trăm địa chủ bị hành quyết. Từ đó, Porter đi đến ước lượng khoảng 800 - 2.500 địa chủ bị hành quyết. Dựa vào những ước tính này, Porter cáo buộc Chí ngụy tạo lớn lao trong việc tính toán tổng số các vụ hành quyết. Theo Porter, Chí cho rằng 5% tổng số dân hoặc 675.000 người đã thiệt mạng trong vụ thảm sát (sđd., 11).

Thật là mỉa mai trong khi Porter tìm lỗi với các bản dịch và diễn tả của Chí, chính Porter lại còn vi phạm những xuyên tạc và ngụy tạo thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Không kể sự tấn công cá nhân hạ cấp vào Chí, cái gọi là lịch sử chính xác của Porter lại đầy những ngụy tạo thâm hiểm và xuyên tạc trắng trợn, như được phân tích dưới đây.

Trước hết, Porter dùng tỷ lệ 5% tổng số dân, ước tính là 13,5 triệu, được đưa ra trong sách của Chí để tính toán tổng số các vụ hành quyết và tính ra là 675.000 người (sđd., 11), con số mà sau này ông ta gọi là vô lý. Khi đi đến con số này dựa trên câu "5% tổng dân số," Porter phạm nghiêm trọng ngụy biện luận lý về trích dẫn ra khỏi bối cảnh. Thực ra, Chí đưa ra tỷ lệ 5% khi thảo luận về mặc cảm tội lỗi của những người đã tham gia trong vụ thảm sát: "Khi ép họ tố cáo và giết địa chủ, đảng muốn các nông dân chia sẻ tội lỗi máu... Cái mặc cảm tội lỗi ám ảnh tâm trí các nông dân sau vụ thảm sát khoảng 5 phần trăm tổng dân số được mô tả mỹ từ hóa trong văn học chính thức cộng sản là 'ý thức của nông dân là chủ của chính vận mạng mình' "(Hoàng 1964, 212). Rõ ràng từ văn bản trên Chí có ý nói "5% tổng số dân" là số lượng chủ quan trong tâm trí của nông dân thi hành các hành quyết, đã dẫn đến cái mặc cảm tội lỗi ám ảnh họ. Khái niệm "5% tổng số dân" này được đảng tạo ra để đưa cái mặc cảm tội lỗi vào đầu những nông dân thi hành các hành quyết. Chí không bao giờ nói 5% tổng số dân này khách quan đại diện cho tổng số người bị hành quyết.

Bằng chứng cho ý tưởng chủ quan trong đầu những nông dân thi hành các vụ hành quyết được đưa ra trong suốt văn bản. Chí không chế ra "5%." Con số này đến từ báo cáo của Trường Chinh đề cập trong sách (Hoàng 1964, 151). Báo cáo này được dùng là tài liệu đào tạo cho các khóa học đào tạo chỉnh huấn. 

Theo Chí, những người theo học khóa huấn luyện đã hoàn tất lớp với ấn tượng rằng tất cả địa chủ sẽ bị hành quyết khi họ nghe những gì Hồ Chí Minh nói khi Hồ đến nói chuyện trong khóa học. Hồ (Hoàng 1964, 158-159) nói, "bọn đế quốc như loài hổ trong khi địa chủ giống như bụi cây, nơi những con hổ ẩn núp. Vì vậy, để đuổi theo con hổ ra khỏi chúng ta, chúng ta nhất thiết phải tiêu diệt tất cả các bụi cây cùng một lúc." Rõ ràng là "tiêu diệt tất cả các bụi cây," mà bụi cây đại diện cho địa chủ, có nghĩa là giết chết tất cả các địa chủ, hoặc 5 % dân số. Nói cách khác, những người được huấn luyện về nhà với ý tưởng rằng 5% dân số sẽ bị hành quyết, và đó là lý do tại sao họ mang mặc cảm tội lỗi. 

Trong bối cảnh của đoạn văn đó, được hỗ trợ bởi tường trình của Trường Chinh, câu "khoảng 5% tổng số dân" rõ ràng đề cập đến sự tin tưởng chủ quan của những người tham gia trong vụ thảm sát. Tuy nhiên, Porter đã trích dẫn nội dung bài viết này hoàn toàn ra khỏi bối cảnh, dùng nó để đi đến con số 675.000, và kết tội Chí phóng đại ước tính số người chết.

Thứ hai, Porter ban đầu thừa nhận Chí khẳng định "không ai có thể đánh giá chính xác con số người chết thực sự" từ cải cách ruộng đất, nhưng Porter ngụ ý Chi chỉ cần nói "5% tổng số dân" và để những người khác làm toán khi ông "tình cờ [đề cập] trong chương sau vụ thảm sát khoảng 5% tổng số dân" (Porter 1973a, 11). Porter sau đó tình nguyện làm toán cho Chí, và "dựa vào tổng số dân ước tính khoảng 13,5 triệu người vào năm 1956, đại diện cho tổng số 675.000 người" (sđd., 11). Porter cố tình thực hiện tính toán này mặc dù Chí rõ ràng nói rằng không ai biết chính xác số lượng người chết thực thụ. Thực ra, Chí phải dựa vào một nguồn khác để cung cấp ước tính "100.000 người chết" (Hoàng 1964, 166). Ước tính này rõ ràng ít hơn nhiều so với số lượng 675.000 Porter đã cố gắng đưa vào miệng Chí. Trong suốt sách của ông, Chí nhiều lần nói rằng ước tính chính xác của số người chết chưa được biết, nhưng Porter cố tình cáo buộc Chí cho ra 675.000 người đã thiệt mạng. Nếu Chí đã muốn nói 675.000 người đã thiệt mạng, ông có thể tự làm các tính toán đơn giản đó. Ông không cần phải cung cấp nửa thông tin và để người khác làm toán như thể ông không biết dân số ở miền Bắc Việt Nam vào thời điểm đó. Bằng cách không đếm xỉa gì đến việc Chí khẳng định rằng không ai biết số người chết và bằng cách tính toán một cách trí trá con số 675.000 là ước tính số người chết, chính Porter là người tạo ra huyền thoại về cuộc tắm máu, không phải Chí.

Thứ ba, Porter cố ý bỏ qua ước tính của Chí về tổng số người chết, rồi thay thế tính toán của mình cho con số 675.000, và tuyên bố rằng đó là những gì Chí nói. Cần lưu ý rằng Porter tỉ mỉ trong việc trình bày phân tích để tính toán con số huyền thoại. Porter có vẻ xem xét kỹ lưỡng sách của Chí với độ chính xác phẫu thuật để tìm thấy một lỗi nào đó. Tuy nhiên, Porter lại bỏ lỡ câu quan trọng nhất trong sách Chí cho biết ước lượng riêng của Chí về số người chết. Chí viết, "hàng trăm và hàng ngàn người đã bị giết một cách oan uổng, bị bỏ tù hay bị chết đói mà không có đảng toàn lực nhấc tay giúp đỡ bất kỳ người nào" (Hoàng 1964, 213. Nhấn mạnh thêm). Chí nêu rõ rằng có "hàng trăm và hàng ngàn người" (hundreds and thousands of people) đã bị giết chết, không phải "hàng trăm ngàn người" (hundreds of thousands of people) đã bị giết chết. Chắc chắn, một tác giả với khả năng giỏi ngôn ngữ tiếng Anh như Chí không thể nhầm lẫn giữa "hàng trăm ngàn" với "hàng trăm và hàng ngàn." Nhóm chữ "hàng trăm và hàng ngàn người" (hàng trăm hàng ngàn người) cho biết một số lượng lớn ở mức độ hàng trăm hoặc hàng ngàn, nhưng chắc chắn không phải là hàng trăm ngàn. Chí đã có cơ hội để nói "hàng trăm ngàn" trong câu này, nhưng ông đã không. 

Porter có thấy câu đó không? Tất nhiên, ông ta phải nhìn thấy nó. Câu đó ở trang 213, chỉ có một trang sau đoạn trích "5% tổng số dân." Thực ra, câu đó ở trong đoạn văn ngay sau câu trích "thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch" (Hoàng 1964, 213), mà Porter trích dẫn (Porter 1973, 14 ghi chú 35). Nếu Porter tin Chí nhầm lẫn nói "hàng trăm và hàng ngàn người" thay vì "hàng trăm ngàn," ông ta nên trích câu đó mà không cần phải đi qua chuyện tính toán và đã có thể phê bình về khả năng ngôn ngữ tiếng Anh của Chí. Sự kiện Porter không đề cập đến câu này rõ ràng cho thấy rằng Porter biết Chí ước lượng là "hàng trăm" hoặc "hàng ngàn," nhưng quyết định không báo cáo ước lượng đó. Bằng cách bỏ qua ước lượng của Chí và thực hiện tính toán riêng của mình trong nỗ lực cho thấy Chí nói 675.000 người đã thiệt mạng trong chiến dịch cải cách ruộng đất, Porter phạm một tội cao nhất trong nghiên cứu học thuật: trắng trợn bóp méo lời của học giả khác để đạt mục tiêu cá nhân của mình.

Thứ tư, Chí thực sự cho biết một ước tính cho toàn thể chương trình cải cách ruộng đất bao gồm các trường hợp tử vong mà không trực tiếp do hành quyết và có thể do một số yếu tố khác gây ra. Chí viết: "Chiến dịch chính yếu trong giai đoạn chống phong kiến ​​là cải cách ruộng đất (1953-1956), trong đó một nửa triệu người Việt Nam (4% dân số của miền Bắc Việt Nam) đã hy sinh" (Hoàng 1964, 72). Cần lưu ý rằng Chí không viết một nửa triệu người địa chủ Việt Nam đã bị giết. Nhóm chữ chính là "một nửa triệu người Việt Nam đã hy sinh." Điều này bao gồm tất cả các trường hợp tử vong là kết quả của, và thêm vào, vụ thảm sát địa chủ ở miền Bắc Việt Nam. Những cái chết nào khác? Chí mô tả tống tiền và các vật giá trị (Hoàng 1964, 174-177), số người chết trong các nhà tù và các trại tập trung, tự tử (sđd., 166) và chính sách cô lập (sđd., 166, 189-191). Chí mô tả chính sách cô lập là một chính sách trong đó "các thành viên của gia đình địa chủ bị ngăn cản làm việc" và kết quả là, "phần lớn họ chết đói, trẻ em và người già trước và sau cùng là những người khác" (Hoàng 1964, 190). 

Chí trích dẫn phát biểu của Nguyễn Mạnh Tường trong đó nói rằng "trong quá trình phá hủy loại địa chủ, chúng ta không phân biệt các loại điều trị, chúng ta đã gây ra cái chết khủng khiếp cho những người già hoặc trẻ em mà chúng ta không có ý định tiêu diệt" (Hoàng 1964, 190; Nguyễn 1956). Trên cùng một hướng, Teorodu (1973) cho biết năm nguyên nhân tử vong khác hơn hành quyết: tù, tự tử, kinh hãi và căng thẳng, khổ sai, và chính sách "cô lập." Teorodu (sđd.) lưu ý rằng phần lớn các địa chủ bị đấu tố là những người lớn tuổi không có đủ sức mạnh thể chất và cảm xúc mạnh để sống qua khỏi những căng thẳng về tinh thần và thể chất. Porter tranh chấp có chính sách "cô lập" và trích dẫn báo chính thức Nhân Dân của đảng viết, "Không nên có tiếp xúc với người bị cầm tù, nhưng có thể có thăm viếng với các thành viên khác trong gia đình" (Porter 1973a, 11). Thật ngạc nhiên khi Porter xưng là có lịch sử chính xác trong khi ông ta bác bỏ tường trình của Chi và chọn báo cáo chính thức của chính phủ Bắc Việt. Một khía cạnh quan trọng hơn là Porter chọn không trích dẫn câu của Chi "một nửa triệu người Việt (4 phần trăm dân số miền Bắc Việt Nam) đã hy sinh," và thay vì đó chọn dùng số 675.000 người, như tính toán hiểm ác của ông, để kết luận rằng Chí nói 675.000 địa chủ đã thiệt mạng. Porter chắc chắn biết sự khác biệt giữa "người Việt" và "địa chủ người Việt," và sự khác biệt giữa "hy sinh" và "tàn sát," nhưng ông cố ý bỏ qua câu đó của Chí để ông không phải đối phó với việc tìm cách bác bỏ nó.

Tất cả các xuyên tạc và phân tích méo mó của Porter trên được thấy trong sách của Chí, mục tiêu của tấn công của Porter, và bài viết của Porter. Người ta không cần đi xa hơn hai tài liệu này. Thảo luận trên tập trung hoàn toàn vào luận lý về phân tích của Porter và những lời chỉ trích về sách của Chí. Nếu Porter, một học giả có bằng tiến sĩ từ Đại học Cornell uy tín, còn gặp rắc rối hiểu sách của Chí và cố tình bóp méo và ngụy tạo nó, làm sao người ta có thể tin tưởng những gì ông ta trích dẫn và dựa vào ngoài sách của Chí? Thực vậy, một số cáo buộc khác của ông ta củng cố sự dối trá và xuyên tạc của ông ta. Việc ông ta dựa vào cái gọi là báo cáo chính thức từ chính phủ VNDCCH cho thấy rõ ràng sự thiên vị và thành kiến ​​chống lại Chí và chính phủ miền Nam Việt Nam.

Thông tin đang có hiện nay thiết lập ước tính của Porter thấp xa so với con số thực. Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên, không cung cấp đầy đủ thông tin thống kê, bao gồm số hành quyết thực sự, và chắc là con số này sẽ không bao giờ được biết chính xác. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam cung cấp thống kê liên quan đến địa chủ và các phân loại địa chủ. Theo tài liệu từ chính phủ Việt Nam, tổng số địa chủ là 172.008, trong đó 123.266 bị điều trị sai ("bị oan") (Đặng 2005, 85). Mặc dù chính phủ CHXHCNVN không bao giờ cho biết con số 172.008 là tượng trưng cho tổng số địa chủ hoặc tổng số địa chủ bị hành quyết, rõ ràng là con số 172.008 là tổng số địa chủ bị hành quyết. Đó là vì tổng số địa chủ là một con số cao hơn nhiều theo tính toán từ các thông tin cung cấp bởi chính phủ CHXHCNVN. Có 3.314 làng với 10 triệu người (sđd.). Trong sự sửa chữa sai lầm, chính phủ CHXHCNVN công nhận họ đặt số phần trăm địa chủ là 5,68% dân số địa phương (sđd.). Do đó, với dân số 10 triệu, 5,68% sẽ là 568.000 địa chủ. Vì rõ ràng 568.000 là tổng số địa chủ được chính phủ đặt ra, con số 172.008 không thể là tổng số địa chủ; do đó con số 172.008 phải là tổng số địa chủ bị hành quyết. 

Ngoài khía cạnh định lượng về các vụ hành quyết, Porter còn có nhiều buộc tội, bao gồm bản dịch sai của Chí về bài diễn văn của Võ Nguyên Giáp (thí dụ, dịch động từ "xử lý" là "torture (tra tấn)" thay vì "discipline (kỷ luật))" (Porter 1973, 9), sự bịa đặt của Chí về khẩu hiệu cộng sản "thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch" như trích dẫn từ một bài diễn văn của Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường của khoa sư phạm trường Đại học Hà Nội (sđd., 7). Teorodu (1973) và Chí (Hoang 1972) trả lời đầy đủ những lời buộc tội của Porter. 

Té ra những kết tội của Porter hoàn toàn sai lầm và chính ông ta mới là người ngu xuẩn khi các bằng chứng được nêu ra. Tra tấn quả thật được dùng trong chiến dịch cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh tuyên bố rằng một số cán bộ "vẫn phạm lỗi bằng cách dùng tra tấn" (trích dẫn trong Duiker 2000, 478). Trong khi ông ta dùng nhóm chữ "một số cán bộ," rõ ràng là tra tấn phải được rất là thông thường mới khiến Hồ khiển trách công khai như vậy. Hồ cho thấy chuyện đó thông thường khi ông ta hỏi, "Tại sao chúng ta, những người đang có một chương trình công bằng và cơ sở căn bản công bằng, lại dùng những phương pháp tàn bạo như thế?" (trích dẫn trong sđd.). Cũng nên lưu ý là từ "tra tấn" không được Hồ dùng. Thay vì vậy, ông ta dùng "nhục hình" (Đặng 2005, 86). Tuy nhiên, ông ta cũng nói, "Đánh người ta đau quá thì không có người ta cũng phải nhận là có" (sđd.). Ý nghĩa của "nhục hình," do đó, là "tra tấn." Về câu của Nguyễn Mạnh Tường, bây giờ chuyện đã xác định là ông ta quả thực là có nói câu đó. Rõ rệt, Tường nói, "Khi đưa ra khẩu hiệu 'thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch' thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng đằng khác nữa" (Nguyễn 1956; Nguyễn 2011, 324).

Huyền thoại về cuộc tắm máu như Porter nói thực ra là một huyền thoại tạo bởi chính ông ta. Việc ông ta tấn công Hoàng Văn Chí có đầy rẫy sai lầm, ngụy tạo, và xuyên tạc và không có sự ngay thẳng và trung thực của một học giả. Ông ta phạm nhiều nguỵ biện luận lý, gồm có trích dẫn ra khỏi bối cảnh, kêu gọi tới thẩm quyền, và tấn công cá nhân. Chuyện ông ta tấn công Chí chưa từng thấy trong một tác phẩm học thuật. Ngoài ra, Chí không phải là người duy nhất mà ông ta tấn công. Ông ta còn tấn công Bernard Fall, một sử gia Mỹ đáng trọng. Ông ta thậm chí còn tranh cãi cái ước tính khoảng 100.000 người chết của Gerard Tongas, được trích dẫn trong sách của Chí, là "đại diện cho con số lưu hành bởi những người vẫn còn hy vọng cho sự trở lại nguyên trạng của thời kỳ thuộc địa" (Porter 1973, 10). Việc ông ta tấn công cá nhân về những người này rất là nghiêm trọng đến độ Teorodu (1973) tin rằng Porter phạm tội vu khống. Tuy nhiên, người ta không cần phải nhìn vào những cáo buộc khác để đánh giá hiệu lực bài phân tích của Porter. 

Phần thảo luận trên rõ ràng cho thấy phân tích và lập luận của Porter là trắng trợn và không có chút học thức nào. Người ta không thể không tự hỏi liệu ông ta quá ngu xuẩn đến độ ông ta không thể hiểu được sách viết bằng tiếng Anh đơn giản của Chí hoặc ông ta quá cuồng tín trong lập trường phản chiến đến độ ông ta đã phủi sự thật qua một bên. 

Bây giờ sự thật về số địa chủ bị hành quyết đã được cộng sản Việt Nam công bố, Porter trở thành trò cười cho thiên hạ.

Robert F. Turner, bây giờ là giáo sư luật tại Đại học Virginia, chỉ trích thậm tệ bài của Porter về cải cách ruộng đất và cuộc tấn công Chí. Turner (1972, 33) nói, "Porter đã cho ra một bài tuyên truyền cẩu thả không thể tưởng tượng được." Theo Turner, nỗ lực của Porter trong việc làm mất tiếng Chí "thật phi lý đến độ không đáng phê bình" (sđd., 34). Turner chứng minh Porter "sai" hoặc "lầm lẫn" trong các chỉ trích Chí. Turner ghi nhận, "Ông Porter thiếu thành thật nếu ông chối là ông biết con cái địa chủ thường là nạn nhân cho 'công lý' trong các cuộc cải cách ruộng đất của cộng sản Việt Nam" (sđd., 39). Dùng bằng cớ Porter biết rõ các hành động cộng sản giết trẻ em qua việc chính Porter phỏng vấn một hồi chánh viên Việt cộng cao cấp, Turner (sđd.) mỉa mai nói, "[Porter] mất trí nhớ hoặc mất tư cách." Turner không trả lời hết mọi lời kết tội Chí của Porter vì ông không coi bài của Porter "đáng thì giờ cho một phân tích chi tiết" (sđd.)

B. Vụ thảm sát Huế

Gareth Porter, cùng với đồng nghiệp mình, tiếp tục chống chiến tranh bằng cách đăng một loạt bài báo (Porter 1974; Herman và Porter 1975) cáo buộc các cơ quan Nam Việt Nam và Hoa Kỳ bịa đặt bằng chứng trong báo cáo số người chết trong vụ thảm sát ở Huế năm 1968. Porter (1974, 2) khẳng định rằng tiểu đoàn 10 chiến tranh chính trị của Quân Lực VNCH có "một nhiệm vụ rõ rệt. . . làm mất uy tín Mặt trận giải phóng quốc gia mà không màng đến sự thật." Ông ta khẳng định thêm rằng câu chuyện về 'thảm sát' do báo chí Hoa Kỳ báo cáo vào năm 1968 và 1969 là dựa trên lời của tiểu đoàn 10 chiến tranh chính trị QLVNCH. Giống như trong tài năng trước đây của ông ta về cải cách ruộng đất, các bài của Porter cho thấy sự sai lệch và thành kiến nghiêm trọng chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam và cơ quan thông tin quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam. Ngoài ra, như sẽ được chứng tỏ dưới đây, bài viết của Porter một lần nữa cho thấy sự bất tài và hiểm độc của ông ta trong việc phân tích các sự kiện, bằng chứng, và tường trình của nhân chứng.

Trước hết, Porter báo cáo, "Đại tá tỉnh trưởng Phạm Văn Khoa công bố vào cuối tháng hai là 300 nhân viên chính phủ dân sự đã bị hành quyết bởi cộng sản và đã được tìm ra trong các hầm chôn tập thể ở phía đông nam thành phố" (Porter 1974, 2). Khoa thực ra công bố vào ngày 11 tháng hai (Braestrup 1994, 212), không phải cuối tháng hai. Ngoài ra, cấp bậc Khoa là Trung tá, không phải là Đại tá; và họ của ông là Phan, không phải Phạm. Quan trọng hơn, Khoa không phải là một nhân chứng đáng tin cậy và không thể nào đại diện cho cả chính phủ VNCH. Theo một nghiên cứu của Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội Hoa Kỳ, Khoa được cho là đã biết đến khoảng 48 giờ trước cuộc tấn công (Villard 2008, 79). Ông ta "đã được tìm thấy ẩn núp trong xà nhà của bệnh viện sáu ngày sau khi cuộc tấn công bắt đầu, ban đầu khẳng định rằng cuộc tấn công làm ông ta ngạc nhiên nhưng sau đó giải thích rằng ông muốn quân Cộng sản vào thành phố để họ có thể bị mắc kẹt và bị tiêu diệt" (sđd.). Thông tin tình báo cũng cho thấy rằng "Khoa triệu tập một phiên họp bí mật vào ngày 30 tháng 1 để thông báo các người cộng tác chính trị và kinh doanh của ông về một cuộc tấn công trên bộ sẽ diễn ra vào ngày hôm sau" (sđd.). "Chính quyền miền Nam Việt Nam sa thải Khoa giữa tháng Ba cho hoạt động kém hiệu quả của ông" (sđd.) Những chi tiết này cho thấy sự bất tài của Porter trong việc điều tra tin tức. Dùng một sĩ quan đã bị chính quyền sa thải là nhân chứng sáng chói đại diện cho chính quyền cho thấy Porter không những ngu ngốc mà còn nham hiểm.

Porter (sđd.) nói thêm rằng nhiếp ảnh gia Pháp Marc Riboud đã bị "liên tục từ chối cho phép" thấy các hầm chôn và khi "bản đồ tọa độ của các hầm chôn cuối cùng được phát hành, không có hầm chôn nào giống như hầm chôn được Đại tá Khoa mô tả." Chỉ cần đọc báo cáo của Porter về chuyện này, người ta có thể thấy một vài lỗi. Porter nói Marc Riboud đã không được phép nhìn thấy các hầm chôn, nhưng ông ta không hoặc không muốn đưa ra lý do tại sao Riboud không được phép. Ông ta không nói rõ Riboud xin phép ai và ai từ chối cho phép. Porter (sđd.) cũng nói thêm rằng khi Riboud có thể đi đến địa điểm đó thì viên phi công từ chối đáp xuống, tuyên bố rằng khu vực này "không an toàn." Riboud có được phép bay trên trực thăng không? Viên phi công, có lẽ đã đồng ý bay Riboud tới nơi đó, có sai không khi ông cho biết khu vực không an toàn? Porter viết rằng không có hầm chôn nào giống như cái hầm chôn được Đại tá Khoa mô tả. Hầm chôn nào? Theo Porter, Khoa nói "những hầm chôn tập thể phía đông nam thành phố." Làm sao mà dạng số nhiều của "những hầm chôn tập thể" trở thành dạng số ít của "cái hầm chôn được Khoa mô tả"? Và "giống như" theo nghĩa nào? Trong hướng đông nam? Bằng chứng, sau này sẽ được đưa ra, cho thấy quả thực có nhiều hầm chôn ở phía đông nam thành phố. Porter có đang tìm một hầm chôn duy nhất chứa khoảng 300 người? Nhưng Khoa đã cho biết có nhiều hầm chôn tập thể (không cho biết rõ rệt là có bao nhiêu). Chỉ cần đoạn văn đó thôi, Porter đã cho thấy ông ta không có chút khả năng viết một báo cáo đơn giản bằng tiếng Anh minh bạch. 

Hơn nữa, Porter đang cố chứng minh chuyện gì trong đoạn này? Ông ta có đang cố gắng chứng minh rằng tỉnh trưởng Nam Việt Nam đã không muốn cho phép các nhiếp ảnh gia tới xem các hầm chôn bởi vì viên tỉnh trưởng bịa đặt có các hầm chôn này và không có bằng chứng hỗ trợ lời tuyên bố của viên tỉnh trưởng? Nếu vậy, Porter đã thất bại thảm hại vì đã phạm ngụy biện luận lý non sequitur. Chẳng có một dính dáng độc nhất giữa chuyện viên tỉnh trưởng muốn hoặc không muốn cho phép các nhiếp ảnh gia tới xem các hầm chôn với chuyện Riboud không thể đến xem các hầm chôn. Có thể có hàng chục lý do tại sao Riboud không thể thấy các hầm chôn hoặc bị từ chối để xem chúng. Các xác chết có thể đang được phục hồi và kiểm tra danh tính đang được thực hiện. Thân nhân của những người bị mất tích có thể nôn nóng tìm kiếm xem những người thân yêu của họ có nằm trong số những người chết. Chuyện chụp ảnh các xác chết của dân trong khi thân nhân của họ đang than khóc vi phạm truyền thống Việt Nam tôn trọng người chết và dàn xếp việc chôn cất tử tế. Riboud có thể không cung cấp giấy tờ thích hợp. Riboud có thể xin phép làm chuyện khác hơn là chụp ảnh. Riboud có thể xin phép thẩm quyền sai. Có cả đống lý do. Nếu có một lý do chính đáng nào hỗ trợ kết luận của Porter, ông ta đã không cho biết lý do đó.

Thứ hai, Porter cáo buộc rằng có những mâu thuẫn trong các báo cáo của ban chiến tranh chính trị VNCH về số lượng các hầm chôn và số lượng trung bình xác chết trong mỗi hầm chôn, từ 14 hầm chôn tới 22 hầm, và từ 66 - 150 xác tới 200 xác (Porter 1974, 3). Lời buộc tội của Porter về sự mâu thuẫn trong báo cáo số người chết ở khu vực tai họa, chẳng hạn như sau một trận chiến dữ dội, quả thật là ngây thơ đến độ ngu xuẩn. Trận chiến vừa hoàn thành, người tị nạn đang trở về nhà, và chính phủ đang đưa người lao động làm việc cứu trợ giúp người tị nạn định cư. Thật khó mà kiểm tra các xác chết nằm trên đường phố vì có thể có nhiều nhóm làm việc. Phát hiện và kiểm tra các hầm chôn người thậm chí còn khó khăn hơn. Hầm chôn có thể được phát hiện từng cái một và gần như không thể chắc chắn là tổng số cuối cùng đã đạt được và chính phủ chỉ có thể báo cáo những gì họ tìm thấy trong lúc công tác đang tiến hành. Thực vậy, bằng chứng (như sẽ được cho biết sau) cho thấy, tại các địa điểm đang nói (trường trung học Gia Hội) 14 hầm chôn được phát hiện có 101 xác và có thêm những xác chết sau đó được tìm thấy và tổng số xác cuối cùng lên tới 203 (Vennema 1976, 129). Bằng cách trình bày thông tin trong báo cáo trong lúc đang diễn tiến, trong khi công việc đang tiến hành và kết luận những con số khác nhau của các hầm chôn và số xác chết trong những báo cáo đang diễn tiến là tiêu biểu cho sự mâu thuẫn, Porter đã trình bày sai một cách thâm hiểm và diễn giảng sai bằng chứng để cho thích hợp với kết luận của ông ta.

Thứ ba, Porter viết rằng những phát hiện của nhân chứng đáng kể và có độ tin cậy cao nhất của cuộc thảm sát, bác sĩ Alje Vennema, cho thấy Vennema tuyên bố có 68 xác, thay vì lời tuyên bố chính thức là 477 (Porter 1974, 4). Tuy nhiên, bác sĩ Vennema tường trình khác hẳn những gì Porter báo cáo. Trong sách ông, Vennema thừa nhận rằng ông từng chống đối chiến tranh và thậm chí đã tỏ ra có cảm tình với Mặt trận giải phóng (MTGP) (Vennema 1976, Lời nói đầu), nhưng vụ thảm sát ở Huế năm 1968 đã thay đổi ông. Ông xuất bản cuốn sách vì ông cảm thấy rằng "sự thật về thành phố Huế nên được cho biết, để được ghi trong biên niên lịch sử cùng với tên của Lidice, Putte và Warsaw" (sđd.). Ông hy vọng để làm cho MTGP và chính quyền Hà Nội "nhận ra rằng phương pháp này - sự điên rồ của bạo lực, khủng bố, và thảm sát - không giải quyết vấn đề, và chỉ trì hoãn hòa bình và cuộc sống tốt hơn mà toàn dân Việt Nam mong mỏi" (sđd.). 

Không có ghi nhận về những gì Vennema nói vào năm 1968. Porter dựa trên một báo cáo chưa được công bố có nhan đề "Thảm trạng Huế" cho là được viết bởi Vennema (Porter 1974, 11, ghi chú 12). Porter thừa nhận rằng báo cáo chưa được công bố của Vennema đến "ngay lập tức sau Tết" (sđd., 4), và lưu ý rằng báo cáo chính thức, trong đó số lượng xác chết được dùng để so sánh với số của Vennema, được phát hành vào ngày 23 tháng 4 năm 1968. Không rõ khi nào Vennema viết báo cáo chưa được công bố của ông, nhưng Vennema cho biết "vào cuối tháng 3 năm 1968, khoảng 300 thi thể của những người bị Việt Cộng xử tử đã được phát hiện" và ông "rời Việt Nam vào tháng 4 năm 1968 "(Vennema 1976, Lời nói đầu). Do đó, có thể an toàn mà giả định rằng Vennema viết cái báo cáo chưa được công bố đó vào tháng ba năm 1968 hoặc thậm chí sớm hơn. Porter tuyên bố rằng theo Vennema, tổng số xác chết tại bốn địa điểm chính phát hiện ra ngay lập tức sau Tết là 68, thay vì tổng số chính thức công bố là 477" (Porter 1974, 4). Trên cơ sở này và "sự từ chối cho phép xác nhận báo chí cho quan sát đầu tay," Porter cho rằng miền Nam Việt Nam "có thể đã thổi phồng số lượng các vụ hành quyết thực sự của quân giải phóng mười lần hoặc nhiều hơn" (Porter 1974, 4 ). Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy một câu chuyện khác hẳn. Tường trình được Vennema công bố cho thấy số lượng xác chết là 300 tính đến cuối tháng 3 năm 1968, và sự khác biệt thời gian giữa tường trình của Vennema và báo cáo chính thức của viên chức Nam Việt Nam là ít nhất một tháng. Nói cách khác, Porter đã so sánh hai bản báo cáo, trên các sự kiện vẫn còn đang diễn ra, với một khoảng thời gian cách biệt ít nhất một tháng, và dùng sự khác biệt về số hầm chôn và xác chết là bằng cớ của mâu thuẫn. Hoặc Porter là một người ngu xuẩn hoặc ông ta bị thúc đẩy bởi sự nhiệt tình phản chiến mà ông ta sẵn sàng gạt sang một bên sự toàn vẹn và trung thực của một học giả và trình bày sai và xuyên tạc bằng chứng.

Tuy nhiên, điểm chính không phải là về những lời kết tội nhỏ nhặt và giả dối này. Điều quan trọng là lời tuyên bố cuối cùng của Porter rằng "câu chuyện chính thức về một sự tàn sát bừa bãi những người coi là không có cảm tình với Việt cộng là một bịa đặt hoàn toàn" (Porter 1974, 11). Porter nói rằng "không những số lượng xác chết phát hiện trong và xung quanh Huế đáng nghi ngờ, mà quan trọng hơn, nguyên nhân chết dường như được chuyển từ chính chuyện đánh nhau sang sự hành quyết bởi Việt cộng" (sđd.) Như sẽ cho biết dưới đây, lời tuyên bố của Porter đầy rẫy những xuyên tạc và phân tích sai lệch phục vụ cho mục tiêu phản chiến của ông. Sự tấn công Douglas Pike của ông ta cũng là chưa từng có và phản ánh một ác ý trắng trợn.

Porter dựa vào Vennema cho kết luận của ông ta rằng chính phủ miền Nam Việt Nam đã thổi phồng số các vụ hành quyết thực sự. Theo Porter, Vennema "tình cờ ở bệnh viện tỉnh Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết và là người điều tra riêng về các hầm chôn" (Porter 1974, 3). Vì vậy, tường thuật của Vennema nên tượng trưng cho các tường trình đáng tin cậy nhất về những gì đã xảy ra tại Huế và nên là bằng chứng duy nhất đáng tin cậy nhất. Chúng ta hãy nghe những gì Vennema thực sự nói về vụ thảm sát.

Về các hầm chôn phát hiện và số lượng xác người, Vennema tường thuật những địa điểm sau đây (Vennema 1976, 129-141; tường trình lại trong Cao-Đắc 2014a, 368-372, và Cao-Đắc 2014b, 357-360):

1) Trường trung học Gia Hội (Vennema 1976, 129-131): Tổng số hầm chôn: 14 và thêm một số lượng hầm chôn không rõ. Tổng số xác chết: 203, gồm cả nam giới (trẻ và già) và phụ nữ. Trong số người chết là một phụ nữ 26 tuổi "với chân và tay bị trói, một miếng giẻ nhét vào miệng" và những người "không có vết thương rõ ràng"; một cảnh sát 42 tuổi người đã bị chôn sống; một phụ nữ báo rao đường 48 tuổi, "cánh tay bà bị trói và một miếng giẻ nhét vào miệng" và những người không có vết thương trên cơ thể, có thể là đã bị chôn sống.

2) Chùa Theravada, được gọi là Tăng Quang Tự (sđd., 131-132): 12 rãnh có 43 xác. Trong số người chết là một thợ may, tay trói và bị bắn xuyên qua đầu, một số người bị trói tay sau lưng bằng giây thép gai, và một số có miệng nhồi với giẻ rách. "Tất cả những người chết là nạn nhân bị trả thù và báo oán" (sđd., 132).

3) Bãi Dâu Con Mo (sđd., 131): 3 rãnh với 26 xác.

4) Đằng sau một chủng viện nhỏ, nơi mà tòa án tổ chức các phiên xử (sđd., 133): 2 rãnh với 6 xác (3 người Việt Nam làm việc cho Đại sứ quán Hoa Kỳ, hai người Mỹ làm việc cho USOM, và một giáo viên trường trung học Pháp nhầm lẫn là Mỹ ). "Tất cả đều bị trói tay."

5) Quận Tả Ngạn (sđd.): 3 rãnh với 21 thi thể, "tất cả là đàn ông, với hai tay bị trói, và các lỗ đạn trên đầu và cổ."

6) Năm dặm về phía đông Huế (sđd.): 1 rãnh với 25 xác, tất cả bị bắn vào đầu, tay bị trói sau lưng."

7) Gần các lăng của hoàng đế Tự Đức và Đồng Khánh (sđd., 133-135): 20 rãnh với thêm số lượng rãnh nhỏ không rõ. Tổng cộng có 203 xác được phát hiện. Trong số người chết là một linh mục Pháp, Cha Urbain, người đã bị trói hai tay và không có vết thương trên cơ thể, và linh mục khác Pháp, Cha Guy, có một vết thương đạn trên đầu và cổ. Không có xác phụ nữ và trẻ em nào được tìm thấy, cho biết rằng "các nạn nhân bị giết tàn nhẫn và không phải trong hoạt động quân sự."

8) Cầu An Ninh (sđd., 135): 1 rãnh với 20 xác.

9) Cửa Đông Ba (sđd., 135): 1 rãnh với 7 xác.

10) Trường tiểu học An Ninh Hạ (sđd., 135): 1 rãnh với 4 xác.

11) Trường Vân Chí (sđd., 136): 1 rãnh với 8 xác.

12) Chợ Thông, một chợ (sđd., 136): 1 rãnh với 102 xác. "Đa số bị bắn và trói, trong đó có nhiều phụ nữ, nhưng không có trẻ em."

13) Trên mặt các ngôi mộ lăng vua Gia Long (sđd., 136): gần 200 xác đã được tìm thấy. Một số người có tay "bị trói sau lưng, và họ bị bắn xuyên qua đầu."

14) Nửa đường giữa chùa Tạ Quang và chùa Tu Gy Văn, 2,5 km về phía tây nam của Huế (sđd., 137): 4 xác người Đức (3 bác sĩ và vợ một bác sĩ).

15) Đông Gi, 16 km trực tiếp phía đông của Huế (sđd.): 110 xác, tất cả là đàn ông và "hầu hết bị trói tay và giẻ nhét vào miệng." 

16) Làng Vĩnh Thái, làng Phù Lương, và làng Phú Xuân, khoảng 15 km về phía nam và phía đông nam của thành phố (sđd., 137-138): 3 hầm chôn với hơn 800 xác (gồm có 135 ở Vĩnh Thái, 22 Phù Lương, 230 và sau 357 tại Phú Xuân): Hầu hết là nam giới với một số ít phụ nữ và trẻ em. Trong số người chết là Cha Bửu Đồng và hai chủng sinh.

17) Làng Thượng Hòa, phía Nam của lăng vua Gia Long (sđd., 139): 1 hầm chôn với 11 xác. "Các xác chết cho thấy cùng một loại vết thương ở đầu và cổ, có lẽ gây ra do hành quyết."

18) Làng Thủy Thành và Vĩnh Hưng (sđd.): hơn 70 xác, "đa số là nam giới với một số phụ nữ và trẻ em." "Có vài người chết có lẽ là trong thời gian chiến tranh vì họ có nhiều loại vết thương và thân thể bị cắt; những người khác trưng bày vết thương duy nhất ở đầu và cổ, nạn nhân của hành quyết."

19) Khe Đá Mài (sđd.): 500 sọ. "Trong số rất nhiều những bộ xương có các mảnh quần áo bình thường, không phải vải kaki màu xanh của đồng phục Bắc Việt hoặc Việt Cộng. Tất cả các sọ đều trưng bày một vết nứt bị nén của xương trán giống nhau như là kết quả của một cú đánh với khí cụ nặng."

Danh sách trên của các hầm chôn cho thấy tổng cộng 19 hầm chôn và khoảng 2307 xác chết. Hầu hết trưng bày những vết thương gây ra bằng cách hành quyết và không phải bởi kết quả của chiến tranh. Nhiều người bị trói tay và giẻ nhét vào miệng. Vào cuối tháng 9 năm 1969, hàng trăm người vẫn còn mất tích (sđd., 140). Ngoài ra, Vennema lưu ý rằng "Ngoài các hầm chôn tập thể, có những sự giết người tàn nhẫn riêng rẽ" (sđd., 141).

Porter cố gắng đổ lỗi cho cuộc đánh nhau dữ dội tại một trong những bãi chôn nơi 22 xác được tìm thấy. Theo ông ta, "máy bay Mỹ ném bom xuống làng nhiều lần, phá hủy hàng trăm ngôi nhà và giết thường dân" và "khoảng 250 binh lính cộng sản đã bị giết trong trận đánh cả ngày (Porter 1974, 4). Ông ta viết thêm rằng "250 bộ xương được tìm thấy tại Khe Đá Mai (không phải 400 như lời của Pike) cũng bị giết trong trận chiến hoặc bởi B-52 Mỹ thả bom" (sđd., 5-6). Tuy nhiên, Vennema (1976, 140) xác định với độ chính xác của một bác sĩ rằng con lạch chứa 500 sọ người và "kiểm tra hồ sơ của quân đội Mỹ không tiết lộ bất kỳ hành động quy mô rộng hoặc B-52 thả bom trong khu vực ngoại trừ một trận đánh gần Lộc Sơn, khoảng 10 km cách khu vực này, vào cuối tháng Tư năm 1968." Vennema (sđd.) nói rằng "cho rằng bất kỳ người chết nào do bởi cuộc tấn công B-52 được vác qua địa hình gồ ghề để được chôn ở suối dường như không hợp lý." Ông (sđd.) tiếp tục khẳng định rằng "tất cả các sọ đều trưng bày một vết nứt bị nén của xương trán giống nhau như là kết quả của một cú đánh với khí cụ nặng" và "các xương khác không bị vỡ nứt thể hiện bằng chứng của gãy xương mà chắc chắn sẽ không phải là trường hợp nếu họ đã chết do bởi kết quả của chiến tranh."

Kết luận của Porter rằng "một số lớn xác phát hiện vào năm 1969 thực ra là nạn nhân của lực lượng không quân Mỹ và đánh nhau trên bộ hoành hành ở các thôn chứ không phải là do Việt cộng" (Porter 1974, 6) mâu thuẫn với lời khai của một bác sĩ nhân chứng mà chính Porter dựa nhiều vào (Cao-Đắc 2014a, 368-372; Cao-Đắc 2014b, 357-360).

Trong nỗ lực làm mất uy tín Douglas Pike, Porter (sđd.) tiếp tục lập luận rằng thuật ngữ "eliminate" được dịch từ chữ Việt "diệt" trong "diệt 1.892 tên tề" trong một tài liệu cộng sản bắt được không có nghĩa là "giết" hoặc "thanh lý," nhưng nó "đã được dùng trước đó bao gồm bị giết, bị thương hoặc bị bắt giữ giữa các lực lượng địch." Diễn giải chữ "diệt" của Porter thật không thể tưởng tượng được đến độ thành khôi hài. Tài liệu lấy được viết, "Chúng ta đã diệt 1.892 nhân viên hành chính, 39 cảnh sát, 790 tên bạo chúa, 6 đại úy, 2 trung úy, 20 thiếu úy và nhiều hạ sĩ quan." Trong bối cảnh của câu nói đó một mình, thuật ngữ "diệt" một cách rõ ràng có nghĩa là "giết chết" hoặc "gây ra cái chết." Những người cộng sản được biết hay dùng nững từ ngữ mơ hồ để họ sau này có thể lập luận theo tình hình nào thuận lợi cho họ. Ngoài ra, một trong những lý do đơn giản tại sao họ không dùng từ "giết chết" bởi vì nhiều nạn nhân không chết ngay, mà bị đập và chôn sống. Họ không có thời gian để kiểm tra xem nạn nhân đã thực sự chết.

Porter tiếp tục lập luận rằng "tề" từ trong "diệt 1,892 tên tề" có một ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả dân sự và quân sự (Porter 1974, 7), và do đó bản dịch "nhân viên hành chính" là không chính xác. Cố gắng của Porter cho thấy tài ông ta thông thạo tiếng Việt thật là buồn cười. Từ ngữ "tề" trong tiếng Việt, theo một cuốn từ điển Việt-Anh, có nghĩa là "làng tạm thời dưới sự kiểm soát của Pháp (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp)" (Bùi 2000, 1804), "tề ấp" có nghĩa là "hội đồng ấp"; "tề ngụy" có nghĩa là "hành chánh ngụy trong làng (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ)"; "tề xã" có nghĩa là "hội đồng xã." Từ ngữ "tề" luôn luôn mang một ý nghĩa dân sự liên hệ với các thôn, làng. Ngay cả không cần dùng một từ điển Việt-Anh, câu trên rõ ràng tách biệt 1892 "tề" ra khỏi phần còn lại của danh sách bao gồm các sĩ quan quân đội. Đó là một danh sách chia thành từng nhóm tất cả nạn nhân: "Chúng ta đã diệt A, B, C, D, và E." Giải thích rằng A bao gồm B, C, D, hoặc E bất chấp luận lý đơn giản. Một lần nữa, hoặc Porter cực kỳ ngu ngốc hoặc sự phản chiến nhiệt thành của ông ta đã làm ông ta mù quáng.

Trong mọi trường hợp, tài liệu lấy được cho thấy tổng cộng 2749 người đã bị "tiêu diệt" dường như phù hợp với số lượng tìm thấy bởi Vennema là 2307 xác và vẫn còn hàng trăm mất tích. Ước tính nạn nhân của vụ thảm sát bởi những người khác cho thấy số lượng cao hơn, khoảng 4.000 đến 6.000. Phần lớn, nếu không phải tất cả, các trường hợp này là kết quả của hành quyết có chủ ý, và không phải là kết quả của chiến tranh, kể cả B-52 thả bom.

Porter còn có nhiều cáo buộc khác, nhắm vào Douglas Pike. Tuy nhiên, phần thảo luận trên đủ để cho thấy sự thiên vị rõ ràng của Porter chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam và Pike nói riêng. Ngoài ra, phần thảo luận trên còn cho thấy Porter xuyên tạc và bóp méo bằng chứng một cách hiểm độc. Chính sự phân tích huyền thoại của ông ta là một huyền thoại được ông ta tạo ra. Thực ra, nó còn hơn là một huyền thoại bởi vì ông ta đã phát động cuộc tấn công cá nhân vào một số người, kể cả Douglas Pike. Vì những lý do này, các bài đăng của Porter không có giá trị.

C. Gareth Porter là kẻ bất tài, nham hiểm, vô đạo đức nhưng cộng sản Việt Nam rất thích ông ta

Nhiều học giả chỉ trích thậm tệ khả năng, học thức, và tư cách của Porter. Trong bài duyệt sách của Porter, “Perils of Dominance: Imbalance of Power and the Road to War in Vietnam,” xuất bản năm 2005, Robert Buzzanco, một giáo sư lịch sử, nghi ngờ tính chất sáng tạo của Porter (Buzzanco 2006, 939, 941) và gọi ông ta là "con ngựa chỉ biết một trò" (sđd., 941) cho quan điểm ông ta về Việt Nam. Một cách đáng kể, Buzzanco nhận ra thói quen của Porter dùng nguồn tiện lợi cho quan điểm mình, nói, "Porter dường như dựa vào vài cuộc phỏng vấn sau chiến tranh vì chuyện đó thích hợp với luận đề ông ta" (sđd., 942). Giá trị luân lý của Porter là ký giả cũng bị tấn công gần đây (Atzmon 2014). David Albright (2014), Chủ tịch Học Viện Khoa học và An ninh Thế giới, ghi nhận "sự bất tài và hành vi tội phạm nhà báo" của Porter, phát biểu rằng "ông ta là kẻ tuyên truyền không đếm xỉa gì đến sự thật," và "chính Porter là kẻ có quá trình xuyên tạc cố tình."

Cộng sản Việt Nam rất ưa thích những kẻ như Gareth Porter vì họ có cùng thói quen nói láo, lừa đảo, và xuyên tạc sự thật. Sự thật về chương trình cải cách ruộng đất đẫm máu và vụ thảm sát Huế đã được biết từ nhiều năm. Trong vô số tài liệu, Hosmer (1970) mô tả chi tiết tính chất tàn bạo của cộng sản Việt Nam trong việc hành quyết và bắt cóc viên chức và dân vô tội miền Nam trong cuộc chiến, kẻ cả những chi tiết rõ rệt về thảm sát Huế. Tuy vậy, chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn cố che đậy những tội ác này với dối trá và xuyên tạc trắng trợn, chẳng hạn như phim truyền hình 12 phần "Mậu Thân 1968" do đạo diễn Lê Phong Lan phát hình vào tháng 1 năm 2013 và cuộc triển lãm thất bại về cải cách ruộng đất vào tháng 9 năm 2014 (Cao-Đắc 2014c). Không ngạc nhiên là Lê Phong Lan liệt kê Gareth Porter, cùng với các học giả Mỹ phản chiến khác, trong bộ phim truyền hình.

D. Kết Luận

Trong thập kỷ 1970, Gareth Porter viết nhiều bài kết tội chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ là tạo ra các huyền thoại tắm máu trong cuộc cải cách ruộng đất trong thập kỷ 1950 tại Bắc Việt vả cuộc thảm sát Huế năm 1968. Các bài của Porter có đầy rẫy sai lầm, ngụy biện, xuyên tạc, và ngụy tạo sự kiện. Tuy vậy, các bài của ông ta vẫn được trích dẫn là tài liệu tham khảo cho nhiều nguồn, kể cả các nguồn trên Internet. Đặc biệt, cho tới nay, bài của ông ta về cuộc thảm sát Huế vẫn được trích dẫn trên Wikipedia tiếng Việt để hỗ trợ cho sự chối bỏ của cộng sản về cuộc thảm sát trong khi thông tin của Bác sĩ Vennema không được trích dẫn đầy đủ (Wikipedia 2014b). Ngược lại, trong cùng nhan đề thảm sát tại Huế, Wikipedia tiếng Anh cho một tường thuật đầy đủ hơn nhiều (Wikipedia 2014c), gồm có cả tường trình của Vennema và tài liệu của chính cộng sản xác nhận cuộc thảm sát hơn ba ngàn người. Bài của Porter không được trích dẫn trong Wikipedia tiếng Anh.

Việc duy trì sự chính xác lịch sử rất quan trọng để tội ác cộng sản Việt Nam được phơi bày. Những bài viết của Gareth Porter nên được bỏ đi vì những xuyên tạc trắng trợn và không chính xác. Cộng sản Việt Nam, với ngân sách và nhân viên tuyên truyền khổng lồ, đang cố ngăn cản mọi luồng thông tin tới và từ Việt Nam. Chúng muốn lừa đảo công chúng Việt Nam với những sự kiện xuyên tạc và bài vở hạ cấp như các bài của Porter. Một trong những mục tiêu quan trọng của những người hoạt động dân chủ, trong hay ngoài nước, là truyền bá rộng rãi thông tin chính xác và có thật tới công chúng tại Việt Nam.







Đời Mồ Côi

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link