Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, February 24, 2015

Duyệt lại sự thật lịch sử


---------- Forwarded message ----------
From: HOLLY NGO <

Duyệt lại sự thật lịch sử

Theo sử sách của Đảng Cộng Sản, ngày 11-11-1945 Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương và ngày 3-9-1969 Hồ Chí Minh về chầu tổ Mác-Lê. Ngày nay sự thật lịch sử cho biết Đảng Cộng Sản Đông Dương không tự giải tán năm 1945, và Hồ Chí Minh đã về chầu tổ Mác- Lê ngày hôm trước, 2 tháng 9, 1969.

Đại bất hạnh của Việt Nam là có Hồ Chí Minh theo Chủ Nghĩa Cộng Sản  Photo courtesy: www.frontpagemag.com

Cali Today News - Cũng vào ngày 2 tháng 9 (1945) Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập. Thực ra Việt Nam chưa độc lập năm 1945. Và ngày 2 tháng 9 không phải là Ngày Quốc Khánh. Chiếu Công Pháp Quốc Tế, Việt Nam chỉ thâu hồi chủ quyền độc lập ngày 8 tháng 3, 1949 do Hiệp Định Elysee. Trong năm này, 11 quốc gia khác tại Á Châu cũng giành được độc lập bằng đường lối chính trị và ngoại giao, không bạo động võ trang và không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản. 

Tháng hai năm 2000, nhà cầm quyền Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Trong dịp này họ viện dẫn những thành quả đã đạt được trong nửa thế kỷ vừa qua, và tự ban cho mình tư cách độc quyền lãnh đạo quốc gia từ trước tới nay và từ nay về sau. 

Gạt bỏ mọi thành kiến và mọi luận điệu tuyên truyền, chúng ta chỉ căn cứ vào những tài liệu lịch sử và những văn kiện pháp lý để đưa ra những nhận định liên quan đến chủ trương đường lối của Đảng Cộng Sản. 

Dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, Đảng Cộng Sản chủ trương đấu tranh bạo động võ trang, vọng ngoại và liên kết với Quốc Tế Cộng Sản. Trên bình diện dân tộc đây là một sai lầm chiến lược khiến 3 triệu thanh niên nam nữ thuộc 3 thế hệ phải hy sinh xương máu trong 3 cuộc Chiến Tranh Đông Dương: 

- Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất chống Pháp và Quốc Gia Việt Nam trong 8 năm (l946-l954) 

- Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai chống Thế Giới Dân Chủ (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Đồng Minh) trong 20 năm (l955-l975); và  

- Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba tự chống lẫn nhau trong 10 năm, chiến tranh Miên Việt kết thúc năm 1989 do sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc. 

Trong số 14 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu, chỉ có 3 nước Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương đã đấu tranh bạo động võ trang và liên kết với Quốc Tế Cộng Sản. Trái lại, tất cả 11 quốc gia khác đã đấu tranh ôn hòa, hợp tác và thương nghị với đế quốc cũ để giành tự trị trong giai đoạn đầu và độc lập trong giai đoạn sau. Cũng vì vậy họ đã tiết kiệm được nhiều hy sinh xương máu và thời gian giành độc lập được rút ngắn còn từ 1 đến 4 năm sau Thế Chiến II, thay vì 40 năm như trường hợp Việt Nam.

 Năm 1919 tại Hội Quốc Liên (tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc), Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xướng quyền Dân Tộc Tự Quyết để khuyến cáo các Đế Quốc Tây Phương từng bước trả tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Từ đó trào lưu tiến hóa tất yếu của lịch sử là sự giải thể tiệm tiến của các Đế Quốc Tây Phương. Cũng trong năm này Đế Quốc Anh đã trả chủ quyền độc lập cho Canada tại Bắc Mỹ và A Phú Hãn tại Nam Á. 

Năm 1941, khi Thế Chiến II còn đáng tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế Quốc Tây Phương Anh Mỹ Pháp Hòa Lan đã hội nghị tại Newfoundland Canada để công bố Hiến Chương Đại Tây Dương theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi Chiến Tranh kết thúc.  
Mùa xuân 1945, với sự đầu hàng của Đức Quốc Xã, 50 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và ban hành Quyền Dân Tộc Tự Quyết trong Điều Thứ Nhất và Điều 55 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. 

Trung thành với Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945, trong 4 năm, từ 1946 đến 1949, các Đế Quốc Tây Phương Mỹ Anh Pháp Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu: 

Độc lập năm l946: Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp. 

Độc lập năm l947: Ấn Độ và Đại Hồi thuộc Anh. 

Độc lập năm l948: Miến Điện, Tích Lan và Palestine thuộc Anh.  

Độc lập năm l949: Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên thuộc Pháp, và Nam Dương thuộc Hoà Lan.  

Như vậy lịch sử đã chứng minh rằng, tại Á Châu, đấu tranh không bạo động và không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản là đường lối khôn ngoan và hữu hiệu nhất để giành tự trị và độc lập cho quốc gia. Ngược lại, đứng vào hàng ngũ Quốc Tế Cộng Sản để đấu tranh võ trang nhằm lật đổ các Đế Quốc Tây Phương là một sai lầm chiến lược. Vì đây không phải là chiến tranh giành độc lập mà là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ. Kinh nghiệm dân gian cho biết nơi nào trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết: 3 triệu thanh niên nam nữ tại Triều Tiên, 3 triệu tại Việt Nam, 2 triệu tại Miên Lào và 1 triệu tại A Phú Hãn đã hy sinh thân sống, không phải để giành độc lập cho quốc gia, mà để cho Đảng Cộng Sản cướp chính quyền.

CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP

Trung thành với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản, Đảng Cộng Sản Đông Dương phủ định chủ nghĩa dân tộc. Họ không chủ trương đấu tranh giành độc lập vì quốc gia dân tộc và không quan niệm độc lập quốc gia như một cứu cánh tối hậu, một mục tiêu chiến lược phải tranh thủ với bất cứ giá nào, với bất cứ hy sinh nào, kể cả việc hy sinh những quyền lợi riêng tư của đảng phái. Lịch sử đã chứng minh rằng Đảng Cộng Sản chỉ sử dụng cuộc đấu tranh giành độc lập như một chiêu bài, một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là Cướp Chính Quyền. Họ đã chống đối và phá hoại bất cứ giải pháp độc lập nào không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. 

Tại Pháp, tháng 3, l947, Hội Đồng Chính Phủ Ramadier và Hội Đồng các Chính Đảng (lãnh đạo Quốc Hội gồm cả Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản ) công bố Quyết Nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam theo đó Pháp không chủ trương tái lập thuộc địa tại Á Châu. Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất (ba miền cùng chung một lịch sử, một chủng tộc, một văn hóa và một ngôn ngữ). 
Đặc biệt là, cũng trong năm 1947, sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long, Pháp đã chính thức đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc.(1) (Everyone’s United Nations, ấn bản năm 1986, trang 332). 

Chủ quyền độc lập của Việt Nam được thừa nhận bởi Hiệp Định Élysée ngày 8-3-1949 ký kết giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại. 

Hiệp Định Élysée là một văn kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử ngoại giao của các quốc gia văn minh trên thế giới. Thông thường các hiệp ước và hòa ước quốc tế đếu do các ngoại trưởng ký. Riêng Hiệp Định Élysée đã được chính Tổng Thống Vincent Auriol tự tay ký, với sự kiến thị của Thủ Tướng Henry Queille, của ngoại Trưởng Schuman, của Bộ Trưởng Quốc Phòng Ramadier và Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Paul Coste-Floret. Từ đó, chiếu công pháp quốc tế, Việt Nam được hòan toàn độc lập, các hiệp ước thuộc địa và bảo hộ ký với Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 đã bị Hiệp Định Élysée bãi bỏ.  

Cũng trong năm l949 Trung Cộng đã dùng võ trang thôn tính lục địa Trung Hoa. Theo sách lược của Quốc Tế Cộng Sản, việc cộng sản hóa Trung Hoa sẽ mở đầu cho việc nhuộm đỏ hai bán đảo Đông Dương và Trìêu Tiên. Trước nguy cơ này, các cường quốc Tây Phương chủ trương giữ vững Việt Nam trong hàng ngũ Thế Giớí Dân Chủ chống lại âm mưu thôn tính của Quốc Tế Cộng Sản. 

Chiếu Hiệp Định Elysée tháng 3, 1949, Việt Nam là một quốc gia liên kết với Pháp trong tổ chức Liên Hiệp Pháp nên giữa Việt Nam và Pháp có nghĩa vụ an ninh hỗ tương. Nay Quốc Gia Việt Nam bị đe doạ về an ninh quốc nội (nội loạn) và an ninh quốc ngoại (ngoại xâm), nên Pháp có nghiã vụ phải mang quân hay điều quân để bảo vệ biên thùy của Việt Nam đồng thời là biên thùy của Liên Hiệp Pháp và của Thế Giới Dân Chủ.  

Mặc dầu vậy Đảng Cộng Sản đã phủ nhận nền độc lập này. Họ tiếp tục chiến đấu võ trang để được độc quyền yêu nước và độc quyền lãnh đạo quốc gia. 
Để vận động toàn dân tham gia kháng chiến, Đảng Cộng Sản tuyên truyền rằng Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa. Do đó họ phải chiến đấu võ trang chống Pháp để giành lại độc lập cho quốc gia. 

Đây là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì từ năm 1947 các Hội Đồng Chính Phủ và Chính Đảng Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa tại Á Châu và tán thành nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Trước đó, năm 1946, Pháp đã trả độc lập cho Syrie và Liban theo chủ trương của Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945.. Và trong năm 1947, như đã trình bầy, Pháp đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Tháng 3, 1949, bằng Hiệp Định Elysée, Tổng Thống và Quốc Hội Pháp đã chính thức thừa nhận chủ quyền độc lập và thống nhất của Quốc Gia Việt Nam.

CUỘC THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 

Năm l975 Đảng Cộng Sản không có công thống nhất đất nước. Vì theo quốc tế công pháp, Quốc Gia Việt Nam đã được độc lập và thống nhất từ năm l949 chiếu Hiệp Định Élysée ngày 8-3-l949.  

Một tháng rưỡi sau, chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, ngày 23-4-l949, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất (với 45 phiếu thuận và 6 phiếu chống).  

Tuy nhiên Đảng Cộng Sản đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Vì Hiệp Định Élysée không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó họ vẫn tiếp tục chiến đấu võ trang và đã ký Hiệp Định Genève chia đôi đất nước để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm l954. Và rồi, với sự yểm trợ của Quốc Tế Cộng Sản, họ lại tiếp tục chiến đấu võ trang để thôn tính Miền Nam năm l975.  

Kể từ năm 1955, Đảng Cộng Sản tuyên truyền rằng Mỹ đã thay thế Pháp để thống trị Miền Nam. Do đó họ phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước. Đây cũng là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì quân đội Hoa Kỳ chiến đấu tại Triều Tiên và Việt Nam không phải để thống trị hai quốc gia này mà để bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ. 

Tấm bản đồ Việt Nam ông cha chúng ta đã đổ bao xương máu để tạo lập nên hồi đầu thế kỷ 19. Sau này, vì yếu thế, chúng ta phải nhượng cho Pháp 6 tỉnh Miền Nam. Năm 1949 đồng bào Miền Nam đã hành sử quyền dân tộc tự quyết để thâu hồi chủ quyền lãnh thổ và bồi đắp tấm bản đồ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Tuy nhiên, bằng chiến tranh võ trang, Hồ Chí Minh đã cầm tay xé đôi tấm bản đồ năm 1954 để cướp chính quyền tại Miền Bắc. Và rồi, năm 1975, cũng bằng chiến tranh võ trang, Đảng Cộng Sản đã cướp chính quyền tại Miền Nam. Rồi họ lấy băng keo dán 2 mảnh dư đồ lại và tuyên bố rằng: “Đảng Cộng Sản có công thống nhất đất nước! 

Chúng ta đưa ra những nhận định này trên cương vị người nghiên cứu sử học và luật học, chứ không với tư cách cán bộ tuyên truyền cho một chủ thuyết hay một chế độ chính trị nào.

CÁC PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TẠI Á CHÂU

Muốn có cái nhìn khách quan và trung thực, chúng ta hãy đối chiếu công cuộc đấu tranh giành độc lập tại Việt Nam với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại Á Châu. 

 Sau Thế Chiến II, trong số 14 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu, chỉ có 3 nước Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương là đã đấu tranh võ trang, bạo động và liên kết với Quốc Tế Công Sản. Trái lại các đảng quốc gia tại 11 nước Á Châu khác đã chủ trương đấu tranh ôn hòa, không bạo động và không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản.
  
Một năm sau Thế Chiến II, từ l946 đến l949, tất cả các đế quốc Tây Phương như Mỹ, Pháp, Anh và Hoà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu.

1946: Phi Luật Tân độc lập 

Hoa Kỳ đi tiền phong trong cuộc giải phóng thuộc địa. Nguyên là một cựu thuộc địa, Hoa Kỳ có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhân dân Hoa Kỳ có cảm tình với những phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Á Phi.  

Đầu thập niên 1930, Luật Sư Quezon, lãnh tụ Đảng Quốc Gia Phi Luật Tân đến Hoa Thịnh Đốn vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành quy chế tự trị và độc lập cho Phi Luật Tân. Năm l934 Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thông qua Luật Tydings-McDuffie Act công nhận Phi Luật Tân là một quốc gia tự trị (dominion) từ 1935.

 Trong đạo luật này có khỏan quy định rằng, 10 năm sau, đúng Ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ (4 tháng 7, 1945) Phi Luật Tân sẽ được hoàn toàn độc lập. Tuy nhiên tới ngày đó, Chiến Tranh Thái Bình Dương chưa kết thúc, nên Phi Luật Tân chỉ được tuyên bố độc lập ngày 4-7-1946 (trễ một năm vì lý do chiến cuộc). 

Trong thời chiến tranh, Luật Sư Quezon được mời tham gia Ủy Ban Chiến Tranh vùng Thái Bình Dương, và người phụ tá của ông, Luật Sư Roxas hoạt động tình báo cho Tướng McArthur. Khẩu hiệu đấu tranh của Đảng Quốc Gia Phi Luật Tân là “Độc Lập do Hợp Tác” (Independence through Cooperation).

1946: Syrie và Liban độc lập. 

Nếu Hoa Kỳ có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, thì Pháp cũng là quốc gia có truyền thống Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái tiến bộ nhất trong lịch sử loài người. 

Tại Syrie và Liban, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc là Đảng Nhân Dân tại Syrie và Luật Sư Dabbas tại Liban. Dabbas đã từng du học tại Paris, nơi đây ông hay biết rằng, bên cạnh các đảng bảo thủ chủ trương duy trì thuộc địa còn có Đảng Xã Hội Pháp chủ trương giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa. 

Năm 1936 Mặt Trận Bình Dân nắm chính quyền, Thủ Tướng Xã Hội Léon Blum ký hiệp ước với Syrie và Liban để trả tự trị cho 2 quốc gia này. Và 10 năm sau, năm 1946 quân đội Liên Hiệp Pháp triệt thoái để trả độc lập cho Syrie và Liban (Thời gian này tại Trung Đông chưa có nguy cơ xâm nhập của Staline).

1947: Ấn Độ và Đại Hồi độc lập. 

Sau các Đế Quốc Hoa Kỳ và Pháp, đến lượt Đế Quốc Anh bắt đầu tự giải thể. Tới Thế Chiến II, Anh Quốc đã thành lập được một đế quốc hùng mạnh nhất từ cổ chí kim chạy từ Bắc Mỹ qua Âu Châu, Phi Châu, Á Châu và Úc Châu. Người Anh thường tự hào nói: “Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh”. Vậy mà 2 năm sau Thế Chiến II, năm 1947, Đế Quốc Anh bắt đầu tự giải thể. 

Tại Ấn Độ, 3 nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc là các Luật Sư Gandhi, Nehru và Jinnah. Các vị này đã từng du học tại Anh, nơi đây họ hay biết rằng, bên cạnh Đảng Bảo Thủ chủ trương duy trì thuộc địa, còn có Đảng Lao Động Anh chủ trương giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa như Đảng Xã Hội Pháp.  
Năm 1947 Thủ Tướng Lao Động Clement Attlee trả độc lập cho Ấn Độ và Đại Hồi, và qua năm sau, 1948, trả độc lập cho Miến Điện, Tích Lan và Palestine, mặc dầu mọi phản kháng của Churchill, lãnh tụ Đảng Bảo Thủ. 

Khác với Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng Quốc Hội Ấn Độ chủ trương đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động, không vọng ngoại và nhất là không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản.  

Với một dân số quá đông (gần 400 triệu, so với 20 triệu ở Việt Nam năm 1945), trong một xã hội chậm tiến, nghèo đói, thất học, với những mâu thuẫn trầm trọng về tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, đẳng cấp và giai cấp, cuộc đấu tranh tại Ấn Độ 10 lần khó hơn tại Việt Nam. Vậy mà, dưới sự lãnh đạo của Gandhi, Ấn Độ đã giành được độc lập 2 năm sau Thế Chiến II, trong khi dân tộc ta đã phải hy sinh xương máu ròng rã trong 40 năm.

1948: Miến Điện, Tích Lan và Palestine độc lập. 

Người anh hùng dân tộc Miến Điện là Aung San (thân phụ bà Aung San Suu Kyi hiện lãnh đạo phong trào Dân Chủ tại Miến Điện). Cũng như Gandhi, Aung San tình nguyện chiến đấu trong Quân Đội Hoàng Gia Anh. Cùng với U Nu, ông thành lập Liên Đoàn Nhân Dân Tự Do Chống Phát Xít để hợp tác với Đế Quốc Anh, chống Nhật...

Năm l948 Miến Điện được trao trả độc lập. 
Tại Tích Lan Hiến Pháp năm l931 ấn định thời gian tập sự tự trị là 15 năm. Với chủ trương “Thiện Chí và Hợp Tác” (Good Will and Cooperation), Đảng Quốc Gia Tích Lan đã giành được tự trị năm l945 và độc lập năm l948. Cũng trong năm này Palestine thoát quyền giám hộ của Đế Quốc Anh.

1949: Nam Dương độc lập. 

Sau các Đế Quốc Mỹ, Pháp, Anh đến lượt Đế Quốc Hoà Lan tự giải thể năm l949. Phong trào giải phóng dân tộc Nam Dương được phát động bởi giới trí thức du học Hòa Lan. Trong khi Đảng Cộng Sản theo sách lược bạo động võ trang thì Đảng Quốc Gia Nam Dương chủ trương đấu tranh ôn hòa bất bạo động bằng canh tân và giáo dục. Sukarno lập Câu Lạc Bộ Văn Hoá Bandung và Hatta lập Hội Giáo Dục Quốc Gia Nam Dương để nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí. Hatta du học 10 năm tại Hoà Lan và Luật Sư Sjahrir đã từng gia nhập Đảng Lao Động Hoà Lan trong thời gian du học.  

Năm 1942 Nhật chiếm đóng Nam Dương, Sukarno hợp tác với Nhật. Tháng 8, l945 Nhật đầu hàng Đồng Minh, Sukarno tuyên bố Nam Dương độc lập. Nhưng rồi quân đội Hòa Lan theo chân quân đội Anh sang giải giới quân đội Nhật, Sukarno chủ trương thương nghị với Hoà Lan.  

Trong những năm l946 và l948, Đảng Cộng Sản Nam Dương phát động chiến đấu võ trang để phá thương nghị. Thời gian này nước láng giềng Phi Luật Tân đã được độc lập. Tổng Thống Truman vận động Liên Hiệp Quốc áp lực Hoà Lan phải hòa đàm với chính phủ Sjahrir. Lúc này Hoa Kỳ đang thực thi Kế Hoạch Marshall để tái thiết Âu Châu thời hậu chiến nên tiếng nói của Hoa Kỳ có trọng lượng đối với Hòa Lan. Hội Nghị Bàn Tròn La Haye được triệu tập dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Tháng 12-1949, do Hiệp Ước La Haye, Hoà Lan thừa nhận chủ quyền độc lập của Nam Dương. (2)

STALINE THIẾT LẬP ĐẾ QUỐC SÔ VIẾT 

Như vậy từ 1946 đến 1949 tất cả các đế quốc Tây Phương như Mỹ, Pháp, Anh, Hoà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu. 

Trong khi đó tại Đông Âu Staline thiết lập Đế Quốc Sô Viết bằng cách thôn tính 3 nước Baltic là Lithuanie, Lettonie và Estonie. Sau đó Liên Xô dựng “Bức Màn Sắt” tại 7 nước Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie, Bulgarie, và Roumanie. Từ đó, chiến tranh lạnh hay chiến tranh ý thức hệ bộc phát giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ. 

Các nhà lãnh đạo phe Thế Giới Dân Chủ như Truman, Churchill và De Gaulle nhất quyết không trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương vì họ không muốn Staline mở rộng bức màn sắt từ Đông Âu qua Đông Á.

 Riêng tại Việt Nam, De Gaulle cũng nhất quyết không trao Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh vì Nguyễn Ái Quốc là cán bộ của Staline tại Đông Dương.
Cũng vì vậy hồi tháng 12-1945 De Gaulle đã mời Cựu Hoàng Duy Tân từ đảo Réunion tới Paris thương nghị.  
Nhiều tài liệu lịch sử cho biết De Gaulle đã chấp thuận trên nguyên tắc để Duy Tân về nước đầu năm l946. Trước đó, hai bên sẽ ký một hiệp ước công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Chính Phủ Việt Nam sẽ được toàn quyền quản trị về mặt nội bộ. Tuy nhiên vì lúc này Đảng Cộng Sản đã cướp chính quyền tại Miền Bắc, nên quân đội Pháp còn phải ở lại Việt Nam một thời gian với tư cách quân đội Liên Hiệp Pháp để yểm trợ Việt Nam giải quyết các vấn đề an ninh quốc nội (nội loạn) và an ninh quốc ngoại (ngoại xâm). Theo quy chế Liên Hiệp Pháp, giữa Pháp và Việt Nam có nghĩa vụ an ninh hỗ tương. Do đó quân đội Pháp có nghĩa vụ bảo vệ biên cương của Việt Nam, đồng thời là biên cương của Liên Hiệp Pháp. 

Rất tiếc là mùa Giáng Sinh 1945 Duy Tân đã tử nạn máy bay trên sa mạc Trung Phi trên đường từ Paris về đảo Reunion thăm nhà. Nhiều người cho đây là vụ phá hoại. Nguyên nhân phi cơ phát hỏa là vì "hết xăng". Đây là một nguyên nhân hy hữu vì không một phi hành đoàn nào chịu cất cánh nếu máy bay không chứa đủ săng nhớt. 
Việc Duy Tân mất đi là một đại bất hạnh cho Việt Nam cũng như cho Pháp. Vì nếu đầu năm l946 Duy Tân về nước lập chính phủ quốc gia giành tự trị, độc lập và thống nhất cho Việt Nam thì chiến tranh Việt Pháp sẽ có cơ tránh được. Hồ Chí Minh sẽ không còn được độc quyền yêu nước và có lẽ chẳng còn ai muốn gia nhập Đảng Cộng Sản nữa (năm 1945 Đảng Cộng Sản chỉ có 5 ngàn đảng viên).  

Lúc này Đảng Cộng Sản Pháp đã thông báo cho Staline và Hồ Chí Minh biết De Gaulle đã có giải pháp quốc gia về Việt Nam. Cũng vì vậy, ngày 11- 11-1945, Hồ Chí Minh giả bộ giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương. Rồi thành lập chính phủ liên hiệp quốc gia với sự tham gia của Cách Mạng Đồng Minh Hội (với Nguyễn Hải Thần) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (với Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam) để làm bình phong thương nghị với Pháp. 

Ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, nhân danh chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny và chấp thuận mọi điều khỏan mà De Gaulle đã thỏa thuận với Duy Tân: Việt Nam là một nước tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. 15 ngàn quân Pháp được đồn trú tại Bắc Kỳ trong thời hạn 5 năm.  

Sau đó ngày 14-9-l946 tại Paris, Hồ Chí Minh đã đến nhà riêng của Moutet để xin ký Thỏa Ước Tạm Thời (Marius Moutet là đồng chí cũ trước khi Hồ Chí Minh bỏ đảng Xã Hội để gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp).  
Tuy nhiên mặc dầu lúc này De Gaulle đã từ nhiệm, các nhà lãnh đạo Thế Giới Dân Chủ vẫn nhất quyết không trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương.  

Theo chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang ngày 19-12-1946. 

Bằng hành động gây chiến này Hồ Chí Minh đã vi phạm Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny và Thỏa Ước Tạm Thời Moutet. 

Do đó, 3 tháng sau, tháng 3, 1947, Hội Đồng Chính Phủ Ramadier cùng Hội Đồng các Chính Đảng Pháp công bố Quyết Nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam, theo đó Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất. 

Ngoài ra, cũng trong năm 1947 tại Liên Hiệp Quốc, Pháp đã chính thức đăng ký 3 nước Đông Dương (Việt Miên Lào) là những quốc gia độc lập. 

Như vậy từ năm 1947 Pháp đã quyết định trao trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam và đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (Sở dĩ Việt Nam không được gia nhập Liên Hiệp Quốc vì gặp sự phản kháng của Liên Xô hành sử quyền phủ quyết.)  

Năm 1947, nếu Hồ Chí Minh là người yêu nước, nếu Nguyễn Ái Quốc là nhà ái quốc biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi đảng phái, thì ông ta đã phải ngưng chiến cho phe quốc gia có điều kiện hòa đàm và ký kết với Pháp một hiệp ước để giành lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam.  

Tuy nhiên Hồ Chí Minh không phải là người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc không phải là nhà ái quốc nên ông ta vẫn tiếp tục đẩy tới chiến tranh võ trang để phá vỡ mọi giải pháp độc lập quốc gia. 

Mặc dầu vậy các Chính Phủ Pháp kế tiếp vẫn trung thành với Quyết Nghị của các Hội Đồng Chính Phủ và Chính Đảng Pháp năm 1947. 

Tháng 12, 1947, Cao Ủy Bollaert ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long với Quốc Trưởng Bảo Đại để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Hiệp Ước Sơ Bộ này được chính thức hóa bởi Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long tháng 6,1948 ký kết giữa Cao Ủy Bollaert và Chính Phủ Quốc Gia Lâm Thời, với sự bối thự của Quốc Trưởng Bảo Đại. 

Theo Hiệp Ước này Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam được tự do tiến hành thủ tục thực hiện thống nhất quốc gia chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết.
  
Và tại Điện Elysée (Paris) Tổng Thống Vincent Auriol, nhân danh Tổng Thống Cộng Hòa Pháp và nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée ngày 8-3-1949 Công Nhận Việt Nam Thống Nhất và Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp. 
Do Quyết Nghị ngày 23-4-1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.  

Ngày 6-6-1949, theo thủ tục khẩn cấp, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysée về khoản giao hoàn Nam Kỳ cho Quốc Gia Việt Nam. Ngày 2-2-1950 Quốc Hội Pháp phê chuẩn toàn bộ Hiệp Định Elysée với 12 Phụ Ước và 30 Đính Ước bổ túc. Cũng trong tháng này Hoa Kỳ, Anh Quốc và Thái Lan chính thức thừa nhận Quốc Gia Việt Nam do Chính Phủ Bảo Đại đại diện. 

 Chúng ta không nên có thành kiến cho rằng gia nhập Liên Hiệp Pháp là vi phạm chủ quyền quốc gia. Vì các nước Ấn Độ, Đại Hồi, Canada, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan v.v... cũng là những quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Anh. 

Về mặt an ninh quốc phòng, nếu năm 1949 Việt Nam không gia nhập Liên Hiệp Pháp thì quân đội viễn chinh Pháp phải rút khỏi Việt Nam (như tại Syrie và Liban năm 1946). Và chỉ trong một vài tuần lễ (như tại Nam Hàn năm 1950), phe Quốc Tế Cộng Sản sẽ nhuộm đỏ toàn thể bán đảo Đông Dương. 

Khách quan mà xét, năm 1949 độc lập trong Liên Hiệp Pháp là giải pháp tối ưu cho Việt Nam. Chúng ta có thể sử dụng các chuyên viên Pháp là những người am hiểu phong tục tập quán, biết rõ dân tình nước ta, lại có những kinh nghiệm về khai thác nông lâm súc, công kỹ nghệ thương mãi, xây cất cầu cống, đường sá, sông ngòi, hải cảng, cồn đảo... Ngoài ra họ còn có thể cố vấn chúng ta để xây dựng môt nền giáo dục phổ thông, một nền hành chánh hiện đại và một nền tư pháp độc lập để tiến tới tam quyền phân lập và dân chủ pháp trị. 

Về mặt phát triển chúng ta có sẵn thị trường Liên Hiệp Pháp để xuất cảng các hàng hóa và các nông, lâm, khoáng sản... Do đó, năm 1949, độc lập trong Liên Hiệp Pháp là giải pháp tối ưu cho Việt Nam.
Nhưng rồi Đảng Cộng Sản đã đưa dân tộc ta vào con đường chông gai chết chóc trong suốt 40 năm (từ 1949 đến 1989). 

Đại hạnh của Ấn Độ là có Gandhi theo Chủ Nghĩa Dân Tộc. 

Đại bất hạnh của Việt Nam là có Hồ Chí Minh theo Chủ Nghĩa Cộng Sản 

HIỆP ĐỊNH ĐÌNH CHIẾN GENÈVE VÀ HIÊP ĐỊNH HÒA BÌNH PARIS. 

Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Genève ngày 20-7-1954 (Geneva Armistice Agreement) giống Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-l953 tại Triều Tiên (Panmunjom Armistice Agreement). 

Hiệp Định Genève là một hiệp ước thuần túy quân sự có tác dụng “đình chiến và ấn định một giới tuyến quân sự tạm thời”. Tại vùng giới tuyến thuộc quyền kiểm soát của quân đội bên nào thì chính quyền bên ấy phụ trách việc quản trị hành chánh. 

Vì là một hiệp ước quân sự, Hiệp Định Genève chỉ mang chữ ký của 2 tướng lãnh: Đại diện Quân Đội Bắc Việt là Thiếu Tướng Tạ Quang Bửu (là người đã ký cả 3 Hiệp Định Geneve với tư cách đại diện cho cả Kmer Đỏ và Pathet Lào). Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương do Thiếu Tướng Henri Delteil đại diện.
Vì không tham chiến ở Việt Nam nên Hoa Kỳ không ký vào Hiệp Định Genève.

Quốc gia Việt Nam cũng không ký. Chiếu Hiệp Định Elysée 1949, Việt Nam là một hội viên liên kết của Liên Hiệp Pháp. Khi có chiến tranh, quân đội Việt Nam và quân đội Pháp sẽ cùng chiến đấu dưới danh nghĩa quân đội Liên Hiệp Pháp. Một Bộ Tham Mưu Hỗn Hợp được thành lập với một tướng lãnh Pháp làm tư lệnh hành quân và một tướng lãnh Việt Nam làm tham mưu trưởng. Vì Hiệp Định Genève là một hiệp ước thuần tuý quân sự, nên về phía Liên Hiệp Pháp chỉ cần có chữ ký của vị tư lệnh hành quân Henri Delteil là đủ. 

Ngày hôm sau, 21-7-1954, một Bản Tuyên Ngôn Sau Cùng khuyến cáo hai miền Nam Bắc tổ chức tổng tuyển cử năm l956. Tuy nhiên tuyên ngôn không phải là hiệp ước. Vì đây chỉ là bản Tuyên Ngôn Ý Định (declaration d’intention) không mang chữ ký của bất cứ phái đoàn nào (kể cả Bắc Việt) nên không có giá trị pháp lý (Cũng như các bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Bảo Đại ngày 11-3-1945, của Hồ Chí Minh ngày 2-9-1945 và của Sukarno ngày 17-8-1945).

Vả lại cũng trong ngày 21-7-1954, Ngoại Trưởng Quốc GiaViệt Nam Trần Văn Đỗ và Trưởng Phái Đoàn Hoa Kỳ Bedell Smith đã ra tuyên cáo minh thị phản kháng sự áp đặt các giải pháp chính trị trong một hiệp ước quân sự, mà không có sự thỏa thuận của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam. 

Hiệp Định Đình Chiến Genève, theo danh xưng, chỉ là một bản hiệp ước thuần tuý quân sự để định ranh giới ngưng bắn theo một giới tuyến (vĩ tuyến 38 tại Triều Tiên, vĩ tuyến 17 tại Việt Nam). Nó không áp đặt những giải pháp chính trị. Vấn đề thống nhất Nam Bắc là một vấn đề chính trị thuộc quyền dân tộc tự quyết sẽ do hai quốc gia ấn định sau này (như trường hợp Triều Tiên: sau hơn 60 năm vẫn chưa có giải pháp chính trị). Do đó Việt Nam Cộng Hoà không vi phạm Hiệp Định Genève khi khước từ tổng tuyển cử năm 1956.  

Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 (Paris Peace Agreement) trái lại, là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị. Trước hết về mặt nghi thức nó mang chữ ký của các đại biểu các quốc gia hay chính phủ kết ước: 

Trần Văn Lắm, Ngoại Trưởng Việt Nam Cộng Hòa 
Williams Roger, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ 

Nguyễn Duy Trinh, Ngoại Trưởng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Nguyễn Thị Bình, Ngoại Trưởng Chính Phủ Lâm Thời “Nước” Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. 
Điều 15 Hiệp Định Hòa Bình Paris quy định rằng: “Việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam đồng thỏa thuận” [theo nguyên tắc nhất trí] 

 Vậy mà hai năm sau, năm 1975, khi chữ ký của họ còn chưa ráo mực, Bắc Việt phát động chiến tranh võ trang để thôn tính Miền Nam. Hội trường đã nhường chỗ cho chiến trường, thương nghị thỏa thuận đã bị bạo lực cưỡng chế, và phương pháp hòa bình đã bị chiến tranh võ trang xoá bỏ.
 Đây là một vi phạm thô bạo Hiệp Định Hòa Bình Paris.  
Luật pháp văn minh của loài người đã bị thay thế bởi luật rừng xanh.

KẾT LUẬN 
Nói tóm lại: 
1) Phủ nhận chủ nghĩa dân tộc, Đảng Cộng Sản đã phạm sai lầm chiến lược khi theo Quốc Tế Cộng Sản để đấu tranh bạo động võ trang khiến dân tộc ta phải hy sinh xương máu ròng rã 40 năm. 
2) Đảng Cộng Sản không có công giành độc lập năm 1954 vì Việt Nam đã được độc lập từ 1949 chiếu Hiệp Định Elysée.  
3) Đảng Cộng Sản không có công thống nhất đất nước năm 1975 vì Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 khi Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất. 
4) Trên bình diện dân tộc 3 cuộc Chiến Tranh Đông Dương là những cuộc chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa. 
5) Vì vậy Đảng Cộng Sản không có tư cách và không có tính chính thống để độc quyền lãnh đạo quốc gia. Và chế độ CS phải được giải thể để người dân được quyền mưu cầu hạnh phúc trong chế độ Dân Chủ Pháp Trị, trong đó các dân quyền và nhân quyền được tôn trọng, kinh tế quốc gia được phát triển và công bằng xã hội được thực thi. 

Ls Nguyễn Hữu Thống





__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Việt Cộng sợ cái gì nhất? (phần 1)


http://ichef.bbci.co.uk/news/ws/660/amz/worldservice/live/assets/images/2015/02/02/150202141451_nghi_640x360_toikhongthich.jpg

http://meetville.com/images/quotes/Quotation-Thomas-Jeferson-ignorance-democracy-Meetville-Quotes-188249.jpg

https://pbs.twimg.com/media/B6Vjs-0CAAAIvt2.jpg:large
http://inspirationboost.com/wp-content/uploads/2013/05/Abraham-Lincoln-Friends-Quotes.jpg

Chương trình phát thanh ngày 23/02/2015

[RadioCTM] - Trong chương trình phát thanh ngày 23/02/2015, kính mời quý thính giả theo dõi các tiết mục: Bình Luận – Đặc Ký Truyền Thanh – Việt Nam Ngày Nay. (23/02/2015)

Kẻ thù của tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam

[Nguyễn Hưng Quốc] - Kẻ thù của dân chủ ở Việt Nam, trước hết, là chế độ độc tài. Nhưng tại sao chế độ độc tài ấy vẫn cứ vững mạnh? Câu trả lời dĩ nhiên không phải vì cái chế độ ấy…vững mạnh. Vấn đề, bởi vậy, cần được đẩy xa hơn: Tại sao chế độ ấy vẫn vững mạnh, tiếp tục vững mạnh; và dù bị dân chúng... (23/02/2015)

4 giờ sáng, ngày mùa đông

[Nhạc sĩ Tuấn Khanh] - Suốt trong nhiều năm, tôi cứ bị đánh thức dậy bởi tiếng chuông nhà thờ cách nhà một dãy phố. Buổi sáng, khi chung quanh vẫn còn tối đen, tiếng chuông nhà thờ văng vẳng luôn trở thành một người bạn bí mật nhắc tôi về nhiều thứ, thức tỉnh tôi. Đặc biệt, những ngày cuối năm, tr... (23/02/2015)

Việt Cộng sợ cái gì nhất? (phần 1)

[Ngô Nhân Dụng] - Cộng Sản Việt Nam đang sợ cái gì nhất? Việt Cộng sợ mạng lưới các người tranh đấu cho dân chủ tự do trên Internet đoàn kết và phát triển. Sau khi bị áp lực phải trả tự do cho nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ trang Blog Quê Choa, một tin khác đang đe dọa sinh mạng của đảng: Câu L... (23/02/2015)


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, February 23, 2015

Bồi đắp đảo nhân tạo tại Trường Sa : Ba ý đồ của Trung Quốc

 

Báo Nga dự định cho đăng tài liệu liên quan đến vụ xâm lăng Ukraine

10 Richest Countries



image





Preview by Yahoo


Nhật báo Novaya Gazeta
Nhật báo Novaya Gazeta
·    
·    
·    
·  

Tin liên hệ

Anh: Nga là mối nguy ‘thực sự và hiện hữu’ cho các nước Baltic

Bộ trưởng Quốc phòng Anh Michael Fallon nói rằng căng thẳng giữa Moscow và NATO đã nóng lên và NATO phải sẵn sàng đẩy lùi hành động gây hấn đe dọa Estonia, Latvia và Lithuania
23.02.2015
Biên tập viên của một nhật báo độc lập hàng đầu của Nga nói rằng ông dự định sẽ ấn hành bài báo được cho là văn kiện chiến lược chính thức của Điện Kremli phác thảo cuộc xâm lăng Ukraine năm 2014.
Biên tập viên Dmitri Muratov của báo Novaya Gazeta nói rằng tài liệu này dường như đã được chuẩn bị mấy tuần trước khi tổng thống thân Nga Victor Yanukovych bị mất chức hồi tháng 2 năm 2014 tiếp sau các cuộc biểu tình chống chính phủ kéo dài nhiều tuần lễ trong thủ đô Kyiv.
Ông Muratov tiết lộ tin này trong một cuộc phỏng vấn do đài phát thanh Ekho Moskvy của Moscow thực hiện. Ông không cho biết làm thế nào ông có được tài liệu này, nhưng nói ông tin rằng đây là văn kiện xác thật.

Ông Muratov trích dẫn tài liệu năm 2014 nói rằng Moscow buộc phải can thiệp ở Ukraine để bảo vệ việc có thể bị mất thị trường khí đốt của Nga ở Ukraine. Ông nói tài liệu cũng ghi nhận những rủi ro đối với kinh tế Nga và các giới tiêu dùng Tây Âu, nếu Nga mất các đường ống dẫn khí đốt xuyên qua Ukraine đến các thị trường phương Tây.
Ông cũng nói rằng các bằng chứng cho thấy văn kiện chiến lược này được chuẩn bị trong thời gian giữa ngày 4 tháng 2 và 15 tháng 2 năm 2014. Đến 22 tháng 2 ông Yanukovych mới từ bỏ chức vụ tổng thống và chạy trốn sang Nga. 

Báo Novaya Gazeta, do nhà cựu lãnh đạo Xô viết Mikhail Gorbachev sáng lập, nổi tiếng với các vụ điều tra năng nổ về tình trạng tham nhũng trong điện Kremli và đã được đề cử Giải Nobel Hòa bình năm 2015. Từ 2001 đến nay đã có 6 ký giả của báo này bị giết, trong số này có bà Anna Politskovskaya, một người lên tiếng chỉ trích điện Kremli. Bà bị bắn chết ở cự ly gần vào năm 2006 sau khi cho đăng các bài báo chỉ trích điện Kremli về các hành động của quân đội Nga ở Chechnya.

Thủ tướng Ấn thăm vùng biên giới, Bắc Kinh tức tối phản đối
mediaThủ tướng Ấn Narendra Modi đến bang Arunachal Pradesh để khánh thành cơ sở đường sắt và năng lượng - Reuters /Pawan Kumar
Hôm qua, 21/02/2015, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã triệu mời Đại sứ Ấn Độ tại Bắc Kinh để bày tỏ thái độ « cực lực bất bình » và « kiên quyết phản đối » việc Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vừa đi thăm một bang ở vùng biên giới dưới quyền kiểm soát của Ấn Độ, nhưng bị Trung Quốc đòi chủ quyền.
Hãng tin Pháp AFP trích dẫn một bản tin Tân Hoa Xã công bố vào khuya hôm qua cho biết là Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân (Liu Zhenmin) đã nhận định rằng hành động của Thủ tướng Ấn Độ đã « phương hại đến chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi của Trung Quốc ». 
Bắc Kinh đã phản đối tức tối và gay gắt như trên sau sự kiện Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, vào hôm thứ Sáu 20/02 đã đến thăm bang Arunachal Pradesh để khánh thành một số hạ tầng cơ sở đường sắt và năng lượng. 
Đối với Bắc Kinh, các hành động của lãnh đạo Ấn Độ đã « làm trầm trọng thêm một cách giả tạo các tranh chấp biên giới, và đi ngược lại với sự đồng thuận (giữa hai nước) về sự cần thiết phải xử lý thỏa đáng vấn đề này ». 
Và như thông lệ, ông Lưu Chấn Dân tái khẳng định quan điểm của Trung Quốc là « chưa bao giờ công nhận cái gọi là ‘bang Arunachal Pradesh’ do Ấn Độ đơn phương thành lập ». 
Cho đến nay, Ấn Độ và Trung Quốc vấn bất đồng với nhau về việc phân định biên giới tại hai khu vực cụ thể, trong đó có bang Arunachal Pradesh đã được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ từ thời Anh Quốc chiếm đóng Ấn Độ, nhưng đã bị Trung Quốc kiên quyết đòi lại. Tranh chấp bang này là nguyên nhân dẫn đến một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu vào năm 1962. Tuy bị thua, nhưng Ấn Độ vẫn giữa được quyền kiểm soát bang Arunachal Pradesh sau khi lực lượng Trung Quốc rút lui. 
Bắc Kinh "giận cá chém thớt" ? 
Chuyện Bắc Kinh phản đối New Delhi về vấn đề biên giới không phải là điều hiếm hoi, nhưng phản ứng lần này đặc biệt gay gắt, thể hiện qua việc triệu mời Đại sứ lên bộ Ngoại Giao. 
Một số nhà phân tích cho rằng Trung Quốc đã « giận các chém thớt », muốn nhân dịp này để biểu lộ thái độ bực tức trước kết quả chuyến thăm Ấn Độ vào tháng trước của Tổng thống Mỹ Barack Obama.
Nhân chuyến công du đó, Hoa Kỳ và Ấn Độ đã ký kết một bản tuyên bố chung về hợp tác liên quan đến toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. 
Bắc Kinh đặc biệt khó chịu khi văn bản này nêu rõ sự quan ngại của Mỹ và Ấn Độ về tình hình an ninh ở Biển Đông.

Ukraina : Mặt trận mới trong cuộc chiến khí đốt
mediaMột trạm dẫn khí đốt của Ukraina. Ảnh chụp ngày 21/05/2014.Reuters/路透社
Nguyên thủ hai nước Đức và Pháp bận tâm tới vấn đề hòa bình tại khu vực biên giới và miền đông Ukraina. Báo Le Figaro thông tin : « Hollande và Merkel liên kết trên vấn đề Ukraina » và « Mặt trận mới trong cuộc chiến khí đốt ». Thế nhưng, từ khi thỏa hiệp ngừng bắn được thông qua, chưa bên tham chiến nào tôn trọng. Tờ Le Nouvel Observateur đánh giá rằng : « Vừa mới kí đã bị quên lãng, hiệp định hòa bình « Minsk 2 » dường như chỉ là thời gian tạm nghỉ trước khi một cuộc leo thang mới nổ ra ».
Từ đêm dài thỏa hiệp tại Minsk, hai nguyên thủ quốc gia không ngừng trao đổi, đặc biệt là từ khi lệnh ngừng bắn đã nhiều lần bị vi phạm. Dù thế, họ vẫn đang chờ đợi những điều khoản của thỏa hiệp được thực hiện, như việc rút vũ khí nặng ra khỏi mặt trận hay trao đổi tù binh. Thế nhưng, theo Le Nouvel Observateur, cả hai phe ly khai và chính phủ đều kêu gọi nhau tôn trọng hiệp định và tuyên bố chỉ rút quân khi phe kia rút trước.
Thỏa thuận trên đã mở đường cho Nga, thông qua tập đoàn Gazprom, trực tiếp cung cấp khí đốt cho phe ly khai tại vùng Donbass mà không phải nhờ tới đường ống do Kiev kiểm soát. Thông tin này được Le Figaro đăng trong bài : « Mặt trận mới trong cuộc chiến khí đốt ». Với thành tích này, phe ly khai đã tiến một bước mới trong việc tách khỏi Ukraina và đảm bảo việc cung cấp khí đốt cho người dân tại vùng ly khai này.
Trước đó, tập đoàn Gazprom của Nga đã yêu cầu tập đoàn Naftogaz của Ukraina thanh toán hóa đơn cung cấp khí đốt cho vùng Donbass mà Ukraina không đặt hàng. Một chuyên gia đánh giá : « Vai trò của Gazprom không rõ ràng. Về mặt thương mại, tình trạng hiện nay rất vô lý và người ta không biết ai phải trả dự trữ khí đốt trên, vì cả hai nước cộng hòa tự xưng không có tiền thanh toán ».
Trong khi đó, Matxcơva chỉ trích « chiêu » khó hiểu của Kiev lấy cớ chiến đấu để ngừng cung cấp khí đốt cho khu vực ly khai. Ngoài đòn trừng phạt này của Ukraina, còn phải kể tới việc phong tỏa ngân hàng và hạn chế đi lại trong khu vực. Thế nhưng, thứ Sáu ngày 20/02/2015 vừa qua, các thủ lĩnh ly khai phủ nhận nối lại việc cung cấp khí đốt từ phía Ukraina. Phải chăng đây là cách để kêu gọi sự cứu trợ từ Matxcơva và tiếp tục chơi trò nói dối ?
Hy Lạp và Châu Âu đạt được một thỏa thuận có điều kiện
Đây là thông tin được Le Figaro đưa trên trang nhất. Tối hôm qua, sau nhiều cuộc thương lượng gay cấn, hai bên đã tìm được một thỏa thuận cho phép kéo dài thêm 4 tháng chương trình giúp đỡ quốc tế mà hiện Athènes đang nhận được. Để đổi lại, tối thứ Hai 23/02/2015 tới, Hy Lạp phải trình bày những cải cách cơ cấu của mình. Một đội ngũ chuyên gia sẽ phân tích những cải cách này trước khi gửi cho Eurogroupe xem xét.
Đánh giá kết quả của cuộc thương lượng này, Les Echos cho rằng « Hy Lạp co mình dưới sức ép của nước Đức » và « Giữa Berlin và Athènes, lòng tin cậy ‘nát thành cám’ ». Dù nhận được sự giúp đỡ của Châu Âu, phục hồi kinh tế tại Hy Lạp vẫn còn rất mong manh. Vì nước này có tới 25,8% dân thất nghiệp và 30% các khoản tiền mà ngân hàng cho các gia đình vay là những khoản rủi ro tín dụng.

Nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên: 'Bình Nhưỡng sẽ không tôn trọng thỏa thuận nhân quyền'

Đặc sứ Hoa Kỳ về vấn đề nhân quyền Bắc Triều Tiên Robert King, một trong các diễn giả tại hội nghị về nhân quyền do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược tổ chức trong thủ đô Washington
Đặc sứ Hoa Kỳ về vấn đề nhân quyền Bắc Triều Tiên Robert King, một trong các diễn giả tại hội nghị về nhân quyền do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược tổ chức trong thủ đô Washington
·    
·    
·    
·  

Tin liên hệ

NSA xác định Bắc Triều Tiên đứng sau vụ tấn công Sony Pictures

Giám đốc NSA Michael Rogers nói rằng những nguy cơ trên mạng khác với những mối đe dọa ngoài đời thực vì chúng vượt ra ngoài ranh giới địa lý
23.02.2015
Sungwon Baik
Một nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên tuyên bố nước ông sẽ không tôn trọng các thỏa thuận quốc tế về nhân quyền nữa.
Nhân vật ngoại giao ở New York này, yêu cầu không nêu danh tính, nói với đài VOA, ban tiếng Triều Tiên, hôm Thứ sáu rằng các hiệp định về nhân quyền ở Bắc Triều Tiên đã “không còn giá trị”, ý ông muốn đề cập đến các hành động Bình Nhưỡng hứa sẽ thực hiện hồi năm ngoái.
Vào tháng 5 năm 2014, chính phủ Cộng sản này đã đồng ý xem xét một số khuyến nghị của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Các khuyến nghị Bắc Triều Tiên thảo thuận xem xét bao gồm lời kêu gọi phê chuẩn các Hiệp ước Nhân quyền Liên hiệp quốc. Sau đó Bình Nhưỡng đề nghị thảo luận về nhân quyền với Liên hiệp Âu châu.

Nhà ngoại giao này nói rằng Hoa Kỳ đang sử dụng vấn đề nhân quyền như cái cớ để phá đổ hệ thống xã hội và chính trị của Bắc Triều Tiên.
Các tuyên bố của nhà ngoại giao này nhằm đáp trả một hội nghị về vấn đề nhân quyền Bắc Triều Tiên diễn ra ở Washington trước đây trong tuần. Hội nghị do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược, một nhóm nghiên cứu tư, tổ chức trong thủ đô Washington, và các diễn giả trong đó có ông Robert King, Đặc sứ Hoa Kỳ về các vấn đề nhân quyền Bắc Triều Tiên, Trước đó, phó đại sứ tại Liên hiệp quốc của Bắc Triều Tiên ở New York cảnh báo rằng Bình Nhưỡng sẽ đáp ứng “rất mạnh”đối với hội nghị này.  
Đầu năm ngoái, một ban chuyên viên của Liên hiệp quốc đã cho công bố bản phúc trình chỉ trích các điều kiện nhân quyền ở Bắc Triều Tiên, cáo buộc nước này phạm tội ác chống nhân loại. Phúc trình dẫn đến việc Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua một nghị quyết cứng rắn nhất nhắm vào Bình Nhưỡng về hồ sơ nhân quyền. Nghị quyết, được Liên hiệp Âu châu vận động, yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc xem xét đưa vấn đề nhân quyền của Bắc Triều Tiên ra Tòa án Hình sự Quốc tế.
Gần đây, một số nước Âu châu, kể cả những nước có các quan hệ thân cận với Bình Nhưỡng tham gia lời kêu gọi Liên hiệp quốc. Một viên chức tại Tòa Đại sứ Czech ở Washington nói với ban tiếng Triều Tiên đài VOA trong tuần này rằng chính phủ đã nêu vấn đề nhân quyền với ông Kim Pyong Il, em cùng cha khác mẹ của cố lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Il. Ông Kim nhậm chức Đại sứ Bắc Triều Tiên ở nước Cộng Hòa Czech hồi tháng trước.
Tham tán Công sứ Jaroslav Zajicek tại Tòa Đại sứ của Cộng hòa Czech ở Washington nói, “Tôi có thể bảo đảm với quý vị rằng điều này (vấn đề nhân quyền Bắc Triều Tiên) đã được nói đến trong một số cuộc họp đầu tiên của ông ấy tại Bộ Ngoại giao,”
Ông Zajicek nói thêm rằng đại sứ Bắc Triều Tiên không muốn thảo luận các vấn đề nhân quyền và muốn thảo luận các vấn đề kinh tế hơn.

Bồi đắp đảo nhân tạo tại Trường Sa : Ba ý đồ của Trung Quốc
mediaCông trình bồi đắp bãi ngầm Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) của Trung Quốc đang hoàn thiện. Nguồn : Chinatopix.com
 Bất chấp các tuyên bố mang tính trấn an của giới lãnh đạo, Trung Quốc vẫn tiếp tục kế hoạch khống chế Biển Đông mà chủ bài quan trọng vừa bị ảnh vệ tinh phương Tây lật ngửa : Thiết lập chuỗi đảo nhân tạo tại vùng quần đảo Trường Sa, làm căn cứ trú quân kiểm soát toàn vùng. Ngay sau khi chuyên san quốc phòng Jane’s Defense công bố loạt ảnh mới về các công trình xây dựng của Trung Quốc tại Trường Sa vào hôm 15/02/2015, giới chuyên gia quốc tế đã nhất loạt nêu bật các ý đồ bành trướng của Bắc Kinh.
Một cách cụ thể, với các công trình đang trên đường được hoàn thành tại nơi trước đây là bãi ngầm Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), Trung Quốc đã nâng thành 7 đơn vị, số đảo nhân tạo mà họ bồi đắp trên cơ sở các bãi đá hay rạn san hô mà họ đã cưỡng chiếm của Việt Nam hay Philippines.
Ngoài Đá Tư Nghĩa, Trung Quốc cũng đã bồi đắp, cải tạo và mở rộng các « đảo » như Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Ga Ven (Gaven Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef), Đá Én Đất (Eldad Reef) và Đá Vành khăn (Mischief Reef).
Căn cứ vào các thông tin mà Jane’s Defense tiết lộ, một nhà ngoại giao phương Tây đã phải công nhận rằng các công trình do Trung Quốc thực hiện mang quy mô to lớn hơn rất nhiều so với tưởng tượng trước đây, với hệ quả trước mắt là đối phó với các tham vọng của Trung Quốc « sẽ đặc biệt khó khăn » nếu đà này tiếp tục.
Câu hỏi mà nhiều người đặt ra Trung Quốc có thể sử dụng các đảo nhân tạo mà họ xây dựng trên Biển Đông vào mục đích gì ?
Dựa trên các công trình mà Bắc Kinh đã và đang cho xây dựng trên các đảo đó, ý đồ đầu tiên hết được cho là liên quan đến lãnh vực quân sự. Một chuyên gia phân tích đã không ngần ngại gọi mỗi đảo nhân tạo đó là một « tàu sân bay không thể đánh chìm ».
Đá Tư Nghĩa chẳng hạn, đã được thiết kế như một pháo đài, vừa có bãi đáp trực thăng, vừa có cầu tàu cho chiến hạm cập bến. Kiến trúc tương tự cũng được ghi nhận trên các đảo khác.
Chuyên gia phân tích của Jane’s Defense đã không ngần ngại gọi các đảo nhân tạo do Trung Quốc bồi đắp là một chuỗi pháo đài giúp Bắc Kinh tăng cường năng lực khống chế toàn khu vực, cả trên không lẫn trên biển. Một chuyên gia phân tích tại Hồng Kông cho rằng các đảo nhân tạo sẽ cho phép Trung Quốc dễ dàng sử dụng đội trực thắng của họ, rất hữu dụng trong công việc săn tìm tầu ngầm.
Ngay cả khi không sử dụng các đảo nhân tạo này vào mục tiêu quân sự chính thống, Bắc Kinh cũng có thể dùng chúng làm chỗ dựa cho lực lượng tàu bán quân sự và tàu dân sự từng được Trung Quốc dùng làm phương tiện áp đặt chủ quyền trên Biển Đông.
Theo chuyên gia Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, đảo nhân tạo tại Biển Đông sẽ không chỉ là kho tiếp tế nhiên liệu cho các chiến hạm Trung Quốc, mà còn là một nơi cung cấp hậu cần và điểm dừng cho các tàu đánh cá hay tàu cảnh sát biển Trung Quốc.
Ý đồ thứ ba được các chuyên gia nghĩ đến là khả năng Trung Quốc sẽ cho tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông sau khi các cơ sở quân sự, đặc biệt là phi đạo và radar trên các đảo nhân tạo này được hoàn tất và đi vào hoạt động.
Một trong những yếu tố khiến Bắc Kinh cho đến nay còn ngần ngại trong việc thiết lập vùng phòng không trên Biển Đông, chính là vì họ chưa đủ thực lực để buộc nước khác tôn trọng vùng này khi cần thiết.

Ngoại trưởng Mỹ: Nga có thái độ ‘trắng trợn và bất chấp đạo lý’ ở Ukraine

Ngoại trưởng Anh Phillip Hammond (trái) và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại 1 cuộc họp báo ở London, 21/2/2015.
Ngoại trưởng Anh Phillip Hammond (trái) và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại 1 cuộc họp báo ở London, 21/2/2015.
·    
·    
·    
·  

Tin liên hệ

Hình ảnh/Video

Video

Ukraine: Quân chính phủ rút khỏi thành phố Debaltseve (VOA60)

Video

Ukraine: Thỏa thuận ngừng bắn bị vi phạm (VOA60)

21.02.2015
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói rằng cộng đồng quốc tế hiện thảo luận về các biện pháp trừng phạt mới đối với Nga vì các vụ cướp đất ở Ukraine. 
Ông Kerry nói thêm rằng Nga đã có “hành động hết sức trắng trợn và bất chấp đạo lý” trong những ngày vừa qua. 
Phát biểu tại London trước khi hội đàm với Ngoại trưởng Anh Philip Hammond, ông Kerry cho biết Hoa Kỳ và các đồng minh không chấp nhận điều ông gọi là “thái độ không thể chấp nhận được” của Nga. 
Ông Kerry cũng nhắc tới việc Nga tìm cách tại Liên Hiệp Quốc, quy trách nhiệm cho chính quyền Ukraine đã gây ra tình trạng bất ổn ở miền đông Ukraine, trong khi tiếp tục điều ông Kerry gọi là hành động “cướp đất” tại vùng đó. 
Ông Kerry nói rằng trong thời đại hiện nay thì không thể giấu được chuyện Nga hỗ trợ các phần tử ly khai.
Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko hôm qua cáo buộc Điện Kremlin dính líu trực tiếp trong những vụ người biểu tình chống Nga thiệt mạng vì bắn tỉa hồi năm ngoái tại Quảng trường Maidan ở Kiev.
Ông đưa ra cáo buộc này vào dịp kỷ niệm năm đầu tiên sau vụ sát hại, nói rằng cơ quan an ninh của Ukraine nắm giữ bằng chứng.
Bộ Ngoại giao Nga gọi cáo buộc này "nhảm nhí" và "điên rồ."
Quân ly khai và chính phủ Ukraine đã cáo buộc nhau vi phạm lệnh ngừng bắn, trong đó có việc phiến quân chiếm thành phố đầu mối đường sắt quan trọng Debaltseve trong tuần này.


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link