Date: Fri, 10 Apr 2015 06:36:33 -0500
Subject: NEN VUI HAY NEN BUON.
From: lehuutu060
NÊN VUI HAY NÊN BUỒN? Sáng ngày 06.04.2015, tại thôn
Hòa lộc xã Kỳ trinh huyện Kỳ anh tỉnh Hà tĩnh đã xảy ra xô xát giữa người dân
và các lực lượng chức năng của tỉnh. 15 công an phải vào bệnh viện sơ cứu. Báo
Thanh niên cho biết một số người dân cũng bị thương tích.
Nhiều FBker coi đây là tín hiệu đáng mừng, là sự phản kháng cần có của những người
nông dân bị áp bức. Thậm chí là bước khởi đầu một cuộc cách mạng. Ôi !
Hà tĩnh quê tôi là một tỉnh nghèo, nghèo nhất nhì Việt nam. Cùng
với Nghệ an, đây là nơi xuất phát của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Những người
nông dân hiền lành, chất phác, lam lũ một thời đã nghe theo tiếng gọi của Đảng,
đứng lên giành lấy chính quyền từ tay thực dân phong kiến.
Cũng những người
nông dân ấy lại trung thành với chủ trương đường lối của Đảng. Thời chiến tranh
thì góp sức người, của cải vật chất để đánh Pháp đuổi Nhật, rồi giải phóng miền
Nam. Dù đói nghèo nhưng vẫn luôn ưu tiên cho chiến trường, "thóc không
thiếu một cân, quân không thiếu một người".
Những bà mẹ nghèo khó đã dỡ cả
nhà mình để lót đường cho xe ra tiền tuyến. Đây là quê hương của 10 cô gái Ngã
ba Đồng lộc, của anh hùng phá bom Vương Đình Nhỏ...Thời bình lại cuốc cào,
quang gánh đi đắp đập, đào kênh, nghe theo Đảng quyết tâm "vắt đất ra nước
thay trời làm mưa". Có thể nói không ngoa rằng, đây là cái nôi của cách
mạng vô sản, là nơi sinh ra và lớn lên của nhiều nhà cách mạng cộng sản nòi.
Đại đa số nhân dân vẫn luôn trung thành với Đảng.
Nhưng 40 năm hòa bình rồi, Đảng thực hiện đổi mới cũng 30 năm rồi mà vùng quê
tôi vẫn chưa thoát nghèo. Mùa hè thì hâm hấp gió Lào, mùa mưa lũ thì nước ngập
trắng đồng. Dù không còn đói ăn rách mặc như thời bao cấp xa xưa, nhưng cái
nghèo vẫn mãi đeo đẳng quê hương tôi. Vẫn có học sinh nghèo, chết vì đói trên đường
đến trường. Nam thanh nữ tú quê tôi vẫn phiêu bạt làm thuê
làm mướn làm dâu ở khắp xứ người. Vùng quê yên tĩnh chỉ còn lại chủ yếu là
người già và trẻ con.
Tại sao những người nông dân hiền lành chất phác, lam lũ với ruộng đồng ấy, nhất
mực trung thành với Đảng ấy lại có thể vùng lên phản kháng với cơ quan chức
năng của Đảng như thế? Tất cả là do chính cán bộ đảng viên của Đảng đã quen lối
hành xử xưa nay, luôn coi thường người dân thấp cổ bé miệng.
Từ việc cán bộ xã
đòi phải có hối lộ mới chịu dẫn đoàn cứu trợ lũ lụt đi cứu dân nghèo. Và khi
đoàn cứu trợ vừa quay gót thì những ông cán bộ đáng kính ấy liền tước đoạt luôn
tiền cứu trợ của những người dân khốn khổ. Tất cả những hành vi đê hèn ấy đã
khiến người dân uất ức, sự phẫn nộ đã được tích tụ để có sự phản kháng như vừa
qua.
Và điều gì đang chờ đợi họ trong ngày mai? Những người nông dân khốn khổ ấy sẽ
đối diện với án tù, sẽ bị khởi tố vì tội chống người thi hành công vụ. Họ sẽ
lâm vòng lao lý mà chưa biết có ai lên tiếng bênh vực bảo vệ họ hay không? Thấp
thoáng trước mắt tôi bóng dáng của những anh Pha (Nhân vật chính trong tác phẩm
Bước đường cùng của nhà văn Nguyễn Công Hoan) thời hiện đại. Sự phản kháng
tuyệt vọng ấy không thể nào cứu được họ, không thể nào cứu được ruộng đồng của
họ.
Nhưng chắc chắn nó là tiếng chuông báo động cho chính quyền, cho những cán bộ
đảng viên của Đảng. Nếu không kịp thời sửa đổi thái độ làm việc, nếu vẫn luôn
coi thường nhân dân thì những sự phản kháng ấy sẽ không còn chỉ ở một làng, một
thôn, một xã mà nó sẽ lan tỏa rộng khắp. Xin nhắc lại lời của cụ Nguyễn Trãi :
Lớp lớp rào lim ngăn sóng dữ.
Khóa sông xích sắt cũng vầy thôi.
Lật thuyền mới hiểu Dân như nước !
Chỉ có yên lòng dân mới giữ vững được chế độ chứ không phải lực lượng hùng hậu
của những Cảnh sát cơ động súng đạn đầy mình !
Hàng nghìn công nhân
đã tập trung Đình công ở công ty Dụ Đức, Long An hồi đầu tháng 4 vừa qua
RFA
Trong vòng chưa đầy nửa tháng, có nhiều cuộc đình công, biểu tình
của hàng chục ngàn người tham gia của công nhân trong các khu công nghiệp Sài
Gòn và Tây Nam Bộ nhằm phản đối luật bảo hiểm có những điều khoản bất công, gây
bất lợi cho người lao động. Với người Sài Gòn, đặc biệt là các bạn trẻ, việc
biểu tình, đình công hay tổ chức một cuộc hội thảo, một cuộc dã ngoại nhỏ nhằm
thể hiện ý chí chống đối sự bất công, chống ngoại bang xâm lược biển Đông vốn dĩ
là chuyện bình thường. Nhưng với qui mô rất lớn từ những cuộc đình công, biểu
tình của giới lao động, các bạn trẻ Sài Gòn nhìn và đánh giá vấn đề này như thế
nào?
Người lao động trở nên thông minh hơn
Một bạn trẻ Sài Gòn, từng tham gia nhiều cuộc biểu tình phản đối những
hành vi hành hạ ngư dân Việt Nam và xâm lấn lãnh hải Việt Nam từ phía Trung
Quốc, không muốn nêu tên, chia sẻ: “Đời sống công nhân Việt Nam thì hiện giờ mức
thu khoản 150USD đến 170USD mỗi tháng thì còn quá thấp. Nói chung là điều kiện
sống còn quá thấp, công nhân bị chèn ép đủ thứ. Công đoàn nhà nước thì chỉ làm
được những việc như ma chay, đám cưới, thăm hỏi bệnh tật… Nói chung là họ chỉ
làm việc râu ria chứ không chạm đến việc chính yếu là bảo vệ quyền lợi người
lao động. Bởi lãnh đạo công đoàn giữ một chức vụ nào đó trong công ty nên phải
sợ chủ thôi!”.
Theo bạn trẻ này, vấn đề người lao động đứng lên thể hiện ý chí và
sự bất mãn trước giới chủ cũng như trước những qui định gây hại cho người lao
động là chuyện không sớm thì muộn cũng sẽ diễn ra. Bởi lẽ, không riêng gì lúc
bộ luật bảo hiểm xã hội 2014 ra đời và có hiệu lực vào đầu tháng Giêng năm 2016
thì giới lao động mới bất mãn mà sự bất mãn này đã có từ lâu bởi điều kiện làm
việc quá tồi tệ, bữa ăn mất vệ sinh, đồng lương eo hẹp, trả không xứng đáng với
sức lao động họ bỏ ra.
Hơn nữa, vấn đề nhân phẩm của người lao động đã bị xúc phạm trầm trọng,
giới chủ không ngần
ngại tìm cách lạm dụng tình dục những nữ công nhân trẻ, có nhan sắc, họ đã
nhiều lần công khai sờ mó vùng nhạy cảm của các nữ công nhân với lý do kiểm tra
thử các nữ công nhân này có ăn cắp sản phẩm của công ty giấu trong người hay
không.
Công đoàn nhà nước thì chỉ làm được những việc như ma chay, đám
cưới, thăm hỏi bệnh tật… Nói chung là họ chỉ làm việc râu ria chứ không chạm đến
việc chính yếu là bảo vệ quyền lợi người lao động. Bởi lãnh đạo công đoàn giữ
một chức vụ nào đó trong công ty nên phải sợ chủ thôi
Một bạn trẻ Sài Gòn
Đứng trên góc độ nhân quyền mà nói, hành vi lợi dụng này xúc phạm
cả hai mặt thể xác và tinh thần. Nếu như mặt thể xác, họ bị xúc phạm tính dục,
thì về mặt tinh thần, sâu xa hơn, họ bị xúc phạm phẩm hạnh và xâm hại nhân
quyền trầm trọng, cái lý do mà các ông chủ đưa ra để sờ mó là “xem thử các nữ
công nhân có giấu đồ trong người hay không” là một sự xúc phạm tinh thần, sự vu
khống trắng trợn mà giới chủ đã tự cho họ cái quyền đó.
Và chuyện này xãy ra không phải đơn lẻ một vài lần, hầu hết nữ công nhân ở các khu công nghiệp
đều có thể bị xâm phạm, các nam công nhân thì có thể bị các bảo vệ tìm cách gây
sự để đánh một khi họ có những phản ứng chính đáng về phía giới chủ. Câu hỏi mà bạn trẻ này đặt ra là nhà nước đã
quản lý sản xuất, quản lý kinh doanh như thế nào và bảo vệ người lao động như
thế nào mà người lao động bị xúc phạm trầm trọng như vậy.
Những người lao động đang hưởng thụ một buổi sáng cuối tuần
Tự hỏi và tự đưa ra hướng trả lời, bạn trẻ này đặt nghi vấn về những cổ phần ma của các quan chức cao cấp ở
các công ty. Mặc dù không góp vốn nhưng
họ vẫn hằng năm thu nhận lợi tức theo cổ phần. Và để nhận nhừng phần lợi tức
đó, họ chỉ làm mỗi một việc là bảo
kê cho các công ty. Chính vì được bảo kê,
đã có ăn chia nên các công ty tha hồ chèn ép công nhân để tạo khoản dư mà nộp
cho các quan chức hằng quí, hằng năm.
Hơn nữa, Công đoàn của các công ty không những không bảo vệ người
lao động mà còn đứng về phía giới chủ để o ép người lao động. Sự bất mãn của
người lao động đến từ nhiều hướng, nung náu theo thời gian để rồi đến một lúc
nào đó sẽ tức nước vỡ bờ. Theo
bạn trẻ này, những cuộc đình công, biểu tình của người lao động miền Nam chỉ
đóng vai trò khúc dạo đầu, sẽ còn nhiều diễn biến theo những cung bậc mới trong
thời gian tới, rất khó mà đoán trước được việc gì sẽ xãy ra.
Bởi hiện tại, người lao động Việt Nam đã trở nên thông minh hơn,
mức độ tương tác qua các trang mạng xã hội ngày càng cao, giới công nhân có thể
trao truyền thông tin thông qua các mạng xã hội và tìm hiểu quyền lợi chính
đáng của họ thông qua các trang này. Chính vì thế, khi họ hành động, họ sẽ khôn
khéo hơn và tạo thế mạnh lẽ phải cho bản thân tốt hơn.
Ngân
sách nhà nước trống rỗng là mấu chốt vấn đề
Một bạn trẻ khác sống tại quận 1 Sài Gòn, không muốn nêu tên, cũng
là người từng tham gia nhiều cuộc xuống đường kêu gọi bảo vệ Trường Sa, Hoàng
Sa và ngư dân Việt Nam chia sẻ thêm: “Tụi
đó thì nó chỉ biết lợi dụng thôi, nó trả lương càng ít càng tốt, nó bóc lột
càng nhiều giờ càng tốt. Có lúc đi tiểu tiện mà nó còn trừ giờ nữa mà! Tiền bảo hiểm lao động không chỉ là tiền công
nhân không thôi, là của toàn xã hội. Giờ nó đem nó kinh doanh địa ốc, cho vay
mà lại không thu hồi lại được, nó phải nghĩ cách trì hoãn, tìm cách trả chậm để
từ từ thu hồi vốn nhưng khó lắm…!”.
Theo bạn trẻ này phân tích, vấn đề người lao động phản ứng mạnh
trong thời gian qua lại có nguyên nhân tưởng chừng như không liên quan gì đến người
lao động, đó là ngân sách nhà nước đang trống rỗng. Nạn tham nhũng, rút ruột
của giới quan tham đã làm cho ngân sách nhà nước trở nên khô rỗng và nạn tham
nhũng trong các cơ quan liên quan đến bảo hiểm xã hội cũng không thấp chút nào.
Đã có nhiều quan chức cấp cao trong ngành bảo hiểm Việt Nam bị đưa ra ánh sáng
về tội tham nhũng, thụt két nhà nước.
Tụi đó thì nó chỉ biết lợi dụng thôi, nó trả lương càng ít càng
tốt, nó bóc lột càng nhiều giờ càng tốt. Có lúc đi tiểu tiện mà nó còn trừ giờ
nữa mà! Tiền bảo hiểm lao động không chỉ là tiền công nhân không thôi, là của
toàn xã hội. Giờ nó đem nó kinh doanh địa ốc, cho vay mà lại không thu hồi lại
được
Một bạn trẻ
Mà một khi ngân sách bị trống rỗng, mọi khoản chi tiêu phía trước
sẽ rất khó khăn, đặc biệt là khoản chi giải quyết bảo hiểm xã hội của người lao
động luôn là bài toán đau đầu của nhà nước. Trong khi đó, đời sống nhà trọ đầy
tạm bợ và khó khăn cùng với đồng lương èo ọp mà đồng tiền liên tục bị trượt
giá. Điều này khiến cho nhiều công nhân có đủ thâm niên lao động đóng bảo hiểm
xã hội nghĩ đến phương án chuyển loại hình lao động và xem khoản tiền bảo hiểm
xã hội là đồng vốn cho tương lai.
Mà một khi công nhân thi nhau nghỉ việc, rút bảo hiểm xã hội để
tìm cơ hội khác thuận lợi hơn thì với ngân sách trống rỗng, bảo hiểm nhà nước
khó bề mà thanh toán sòng phẵng, lúc đó mọi căng thẳng từ phía người lao động
sẽ khó mà lường được. Bộ luật bảo hiểm xã hội mới như là một giải pháp thông
minh của nhà nước nhằm vớt vác cho ngân sách đang cạn kiệt, trống rỗng.
Nhưng rất tiếc, nếu như bộ luật này ban hành sớm hơn chừng 10 năm
thì mọi chuyện sẽ êm xuôi hơn. Còn hiện tại, người lao động đã thông minh hơn
nhiều, khả năng tiếp cận các trang mạng xã hội, chia sẻ và lĩnh hội thông tin
của họ cũng phát triển vượt bậc. Chính vì vậy, mọi chính sách hay qui định có
tính bất lợi cho người lao động đều bị phản ứng gay gắt.
Bạn này nói vui rằng nếu muốn người lao động thấy yêu công
xưởng, tin vào công việc, không phải chỉ cho họ ăn, mặc, ở đầy đủ là xong mà
phải cho họ thấy rằng họ đang sống trong một đất nước tốt đẹp, ngân sách nhà nước
luôn là một cái hủ gạo đầy không có sâu mọt chứ đừng bao giờ dùng chiến thuật
cắn xé của bầy chuột bên cạnh hủ gạo trống rỗng để nói chuyện với họ. Vì làm như vậy, chỉ chọc giận người lao động,
chọc giận những người đã bỏ mồ hôi và tuổi trẻ để xây dựng đất nước. Mọi chuyện
vẫn còn đang ở phía trước!
Vài ngày nữa là đúng kỷ niệm 40 năm ngày 30/04/1975, mà đối với
chính quyền Hà Nội vẫn là ngày "chiến thắng đế quốc Mỹ",
"giải phóng miền Nam", nhưng đối với cộng đồng người Việt
di tản và một bộ phận người dân ở miền Nam, đó là ngày "quốc hận",
hay ngày "mất nước".
Riêng đối với thế hệ sinh sau năm 1975 ở trong nước, tức là thế hệ
hoàn toàn không biết mùi chiến tranh, tất cả, từ Nam đến Bắc, đều học dưới mái trường
" xã hội chủ
nghĩa", nên đều được dạy về cái gọi gọi là " đại thắng mùa xuân".
Trên báo chí, trên hệ thống phát thanh truyền hình, những ngày kỷ niệm 30/04,
họ chỉ được đọc, nghe và xem về những chiến công lẫy lừng của "đỉnh cao trí tuệ loài
ngườỉ".
Hoặc là họ được nghe kể lại từ những người thân trong gia đình. Ở
miền Bắc, thì được nghe kể những ngày tháng Hà Nội sống dưới những trận mưa bom
của Mỹ, hoặc những ngày chạy sơ tán về các vùng quê, về những người đã vùi thây
trên dãy Trường Sơn.... Ở miền Nam, thì được nghe kể về những trận chiến ác
liệt để giành lại thành phố Huế từ tay quân Cộng sản, hay cuộc tấn công bất ngờ
của Việt Cộng vào dịp Tết Mậu Thân... Chắc là không ít gia đình của họ đã từng
có người trở về trong chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.
Đối với những không quan tâm gì đến chiến tranh Việt Nam, ngày
30/04 và tiếp ngay sau đó là ngày Quốc tế lao động 01/05 đơn giản là những ngày
nghỉ lễ, ngày của những hoạt động vui chơi giải trí. Chắc là chẳng còn mấy ai
để ý đến những tuyên truyền rầm rộ trong những ngày này.
Nhưng thật sự thì cảm nhận của cá nhân họ về cuộc chiến này là như
thế nào ? Có lẽ không có gì là đáng ngạc nhiên là ở hai miền Bắc và miền Nam,
tức là bên "thắng
cuộc" và bên "thua
cuộc", cái nhìn về chiến tranh Việt Nam khác nhau. Hôm nay
chúng tôi xin mời quý vị nghe ý kiến của ba người sinh sau năm 1975.
Anh Nguyễn Thiện Nhân, sinh năm 1977, hiện sống ở Sài Gòn, thuộc
gia đình quân nhân Việt Nam Cộng Hòa thì đưa ra một quan điểm rất rõ ràng là
cuộc chiến này, đó là cuộc chiến của hai phe Cộng sản và phe Cộng hòa:
«
Qua tìm hiểu từ những người lớn tuổi trong gia đình thì tôi thấy rằng cuộc
chiến tranh 1954-1975 là cuộc chiến giữa hai phe, một phe là chính quyền Cộng
sản miền Bắc và phe Việt Nam Cộng Hòa miền Nam. Phe CS miền Bắc thì được Cộng
sản Liên Xô và Cộng sản Trung Hoa hỗ trợ và tài trợ. Phe VNCH thì được Mỹ viện
trợ và sau đó thì đổ quân tham chiến cùng với lực lượng VNCH.
Những
người CS miền Bắc thì cho rằng Mỹ tham chiến là nhằm mục đích xâm lược và họ
chọn con đường Cộng sản để chống Mỹ. Còn những người theo Việt Nam Cộng hòa
trong đó có gia đình tôi, thì tin rằng Mỹ không xâm lược Việt Nam, chỉ tham
chiến để ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản từ Trung Quốc tràn sang. Họ tin rằng chủ
nghĩa Cộng sản là viển vông và sẽ không bao giờ thực hiện được, theo Cộng sản thì
là nghèo đói và lạc hậu.
Bản
thân tôi thấy rằng trước khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam, Mỹ đã công nhận chính thể
Việt Nam Cộng hòa của chính quyền Ngô Đình Diệm và về mặt địa lý, Mỹ cách xa
Việt Nam nửa vòng Trái Đất, thì không thể nói là Mỹ xâm lược Việt Nam. Lịch sử
đã chứng minh là rất nhiều nước nhỏ là đồng minh của Mỹ đều phát triển thịnh
vượng và đều giữ được chủ quyền, cũng như văn hóa của họ. Cái mất khi là đồng
minh của Mỹ thì rất nhỏ so với cái được.
Việt
Nam lại giáp ranh với nước Trung Quốc khổng lồ, cho nên khi đi theo và lệ thuộc
vào Trung Quốc thì sẽ rất là nguy hiểm. Trung Quốc rất dễ xâm lược Việt Nam.
Lịch sử đã cho chúng ta thấy điều đó quá Tân Cương và Tây Tạng.
Một
số người cho rằng 30/04 là ngày quốc hận. Tôi không đồng ý với quan điểm này.
Tôi cũng bác bỏ quan điểm cho rằng đây là ngày giải phóng miền Nam. Tôi nghĩ
nên xem đó là ngày kết thúc chiến tranh và thống nhất đất nước. Cuộc nội chiến
này chỉ là hệ quả của hai luồng tư tưởng Cộng sản và chống Cộng sản.
Tôi
nghĩ rằng khi mà nhận thức của người dân được nâng cao lên, thì người dân sẽ
nhận thức đúng đắn hơn về nguyên nhân của cuộc chiến cũng như những sự thực trong
cuộc chiến đó. »
Anh Khúc Thừa Sơn ở Đà Nẵng thì nêu câu hỏi là có nên gọi ngày
30/04 là ngày « giải phóng
» miền Nam, khi mà thực chất quân đội Cộng sản miền Bắc đã xé bỏ
hiệp định Paris 1973, xua quân đánh bại miền Nam ? Anh cũng lập lại câu nói của
cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, đó là vào dịp kỷ niệm 30/04, có hàng triệu người vui,
thì cũng có hàng triệu người buồn :
«
Cuộc chiến này không phải như báo đài của Nhà nước nói là giải phóng miền Nam
và thống nhất đất nước, mà thực tế là ngày chế độ này đánh thắng chế độ kia.
Chế độ thắng thì vui mừng, còn chế độ thất bại thì buồn bã. Mà chế độ dù thắng
hay bại thì đều có kẻ chết, người bị thương, mà tất cả đều là thân nhân người
dân Việt Nam cả.
Theo
dòng lịch sử mà em biết, tháng 01/1973, sau hiệp định Paris thì miền Nam lúc đó
không còn bóng quân đội Mỹ nữa, mà giao lại cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản
lý. Nhân dân Việt Nam lúc đó phải quyết định vận mệnh của mình. Nếu chỉ căn cứ
vào đây thôi, sau năm 73 cho đến tháng 04/75, thì quân đội chế độ miền Bắc Xã
hội chủ nghĩa tiến quân vào miền Nam để đánh bại chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đó
là hành động giải phóng hay xâm lược ? Chỉ vấn đề này thôi đủ làm tính chất
cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc khác rõ, chứ không giống như những gì chúng ta
nghe, đọc trên báo đài chính thức. Nếu chỉ căn cứ vào đó, thì đủ hiểu là có
triệu người vui, nhưng cũng có triệu người buồn. »
Trong khi đó, ở miền Bắc, đa số những người sinh sau năm 1975 vẫn
tin theo những gì được dạy trong trường và những lời tuyên truyền của báo đài,
rằng ngày 30/04 là ngày «
giải phóng » miền Nam. Nhưng cũng có không ít người, qua tìm hiểu,
qua tiếp xúc, đã hiểu ra được thực chất của cuộc chiến này, như cô Nguyệt Hà,
một luật sư trẻ ở Hà Nội, sinh năm 1990 :
«
Trước kia, học lịch sử ở trường, em chỉ có một cái nhìn một chiều rằng đây là
một cuộc chiến chống Mỹ cứu nước và dân tộc ta đã chiến thắng Mỹ ngụy. Lúc ấy
chúng em cũng không có điều kiện để tiếp cận những thông tin khác.
Sau
này khi học đại học và sử dụng các phương tiện như Internet, Facebook, em có
được những thông tin trái chiều để mình có thể tìm hiểu kỷ hơn. Em cũng được
những người bạn ở miền Nam kể rằng cuộc chiến ấy thực ra là cuộc chiến giữa
miền Nam với miền Bắc, cuộc chiến ý thức hệ giữa hai miền. Lúc đó, em cũng khá
bất ngờ, nên cố gằng tìm hiểu xem là niềm tin và những gì mình đọc trước đó có
đúng hay không. Qua lời kể của các bạn có gia đình « ngụy quyền», em biết được
thêm sự thật và biết được thêm những gì mà người dân miền Nam đã trải qua khi
miền Bắc chiến thắng.
Em
nghĩ cuộc chiến trước đây là cuộc chiến nội bộ giữa hai miền Nam Bắc, và được
sự hậu thuẫn, ở miền Bắc là của Trung Quốc và ở miền Nam là của Mỹ, vì những
lợi ích của các cường quốc đó, nhưng về cơ bản thì đúng là một cuộc nội chiến.
Nhiều
năm trước kia, khi mà truyền hình là phương tiện giải trí chủ yếu, thì thường
vào những ngày 30/04 và 01/05, chúng em được xem rất nhiều chương trình kỷ niệm
hai ngày đó, với rất nhiều bộ phim ca ngợi chiến tranh, chiến thắng. Trước đây
em xem những chương trình đó thì rất háo hức, rất tự hào là mình đã chiến thắng
cả đế quốc Mỹ.
Nhưng
bây giờ em không xem những chương trình ấy nữa và vào những dịp này thì có cảm
giác không được tốt lắm, do đã biết được rằng có rất nhiều người coi thời điểm
này là thời điểm đau buồn của họ, mất nước của họ. Em không còn coi đó là chiến
thắng nữa, mà có cảm giác đây là nổi đau của rất nhiều người. Cái dịp kỷ niệm
đó và những bộ phim đó có thể làm đau lòng nhiều người bên phía còn lại.
Ở miền Bắc, hầu hết những người thân chung quanh em đều không có
những thông tin. Những người lớn tuổi, ông bà, bố mẹ, chú bác đều nghĩ đó là
chiến thắng và họ không có ý định tìm hiểu thêm. Còn những người bạn cùng trang
lứa với em, thì hầu hết đều không tiếp cận các thông tin và vẫn coi đó là ngày
kỷ niệm chiến thắng bình thường. Họ cũng không quan tâm nhiều lắm đến các vấn
đề lịch sử."
Nếu để qua một bên tranh cãi về chuyện "giải phóng" hay "xâm lăng", thì
có thể nói rằng, với ngày 30/04/1975, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, đất
nước được thống nhất và sống trong hòa bình ( ngoại trừ cuộc chiến tranh ngắn
với Trung Quốc ở biên giới phía Bắc và cuộc can thiệp quân sự vào Cam Bốt để
lật đổ chế độ Khơme Đỏ ). Đây là cơ hội hiếm có để xây dựng Việt Nam thành một
nước hùng cường.
Sau năm 1975, cố tổng bí thư Lê Duẩn đã từng tuyên bố :" Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15,
20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng”. Nhưng 40 năm sau, vì
sao Việt Nam vẫn còn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới ? Chúng
tôi đã đặt câu hỏi này với ba bạn nói trên. Đối với Nguyễn Thiện Nhân, nền kinh
tế Việt Nam vẫn mang tính lai tạp và phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc :
«
Bốn mươi năm qua là giai đoạn tồi tệ của đất nước Việt Nam. 15 năm đầu, từ 75
đến 90, Cộng sản Việt Nam đã chủ trương xây dựng nền kinh tế bao cấp, làm cho
đất nước đói ăn và tụt hậu. 25 năm sau lại là một nền kinh tế lai tạp, thiếu
tiêu chuẩn, không bền vững và phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.
Đảng
Cộng sản vẫn ôm mộng chủ nghĩa Cộng sản, nên luôn đề cao thành phần kinh tế Nhà
nước, xem kinh tế NN là chủ đạo, trong khi đây là thành phần làm trì trệ phát
triển và nảy sinh tham nhũng. Mặc khác, do không cho đa đảng nên không có đảng
đối lập để cạnh tranh, giám sát đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế quan chức bao
cho cho nhau và quanh co chối tội khi xảy ra tiêu cực. Hậu quả là Việt Nam kém
phát triển về khoa học kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm thì thấp, kém chất lượng,
thực phẩm thì độc hại, còn môi trường sống thì bị phá hoại, bị Trung Quốc lũng
đoạn kinh tế, phá rối, chảy máu chất xám và nhân tài bị thui chột, xã hội bây
giờ thì đạo đức bị băng hoại.
Đó
chính là những lý do vì sao Việt Nam không thể cất cánh được thành một quốc gia
giàu mạnh sau 40 năm. Việt Nam đã bỏ lở cơ hội xây dựng thành một nền kinh tế
thị trường hoàn chỉnh và để lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Lẻ ra Việt Nam phải
theo mô hình của phương Tây để xây dựng một nền kinh giàu mạnh từ năm 1990.
Nhưng Việt Nam lại không làm như thế, mà lại chọn con đường đi theo chủ nghĩa Cộng
sản mang màu sắc Trung Quốc."
Còn qua cái nhìn Khúc Thừa Sơn, Việt Nam vẫn còn nghèo vì thiếu
dân chủ, vì người dân không có quyền tự do chọn lựa lãnh đạo :
«
Hiện tại Việt Nam có một hệ thống quan liêu khá cồng kềnh, tuy có cải cách
nhưng cũng còn quá nặng nề. Việt Nam cũng có những chính sách hạn chế những
quyền cơ bản của con người. Dân Việt Nam cũng không thể chọn người lãnh đạo
theo ý của mình được.
Quốc
hội Việt Nam là cơ quan quyền lực của nhân dân Việt Nam, nhưng đa số lại là
những người trong đảng Cộng sản, những người lãnh đạo Nhà nước. Đảng chỉ định ai
thì bầu cử người đó, dẫn đến hệ lụy là con ông cháu cha, dù giỏi, dù dốt nều
được xếp vào hàng ngũ lãnh đạo đất nước.
Lãnh
đạo Việt Nam cũng không chịu nhìn nhận những sai lầm và khắc phục những sai
lầm. Khi mà khắc phục những sai lầm, họ chỉ nói lời xin lỗi chứ không nghiêm
khắc đưa ra những hình phạt thích đáng dành cho mình. Trong khi đó, người dân
phải chịu những hậu quả mà họ không lường trước được.
Người
lãnh đạo ở Việt Nam xem nặng quyền lợi của bản thân, mà xem nhẹ quyền lợi của
người dân, của đất nước. Hơn nữa, người lãnh đạo Việt Nam không có tầm trí
thức, dẫn đến việc lãng phí về chất xám, lãng phí về tài nguyên, cũng như lãng
phí về thời gian và thời cơ.
Thời
gian gần đây, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hay
hội nhập với các nền kinh tế thế giới khác, Việt Nam đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội
thoát khỏi chính sách cỗ hữu từ xưa đến giờ là phụ thuộc vào kinh tế Trung
Quốc.
Một
yếu tố nữa đó là những người lãnh đạo hiện nay là những nhà tư bản đỏ, chứ
không phải là những người Cộng sản như ngày xưa. Họ lãnh đạo là để bảo vệ các
ngai vàng, bảo vệ quyền lực, chứ không phải là vì có tài năng xứng đáng.
Có
thể nói là họ đã biết tận dụng xương máu chiến tranh để nắm quyền, và từ đó
sinh ra lộng quyền, lạm quyền, dẫn đến biến chứng là giàu có trên sự bóc lột
người dân. Chính sách họ đưa ra là phải có thêm con số cộng bỏ vào túi tham của
họ. Chuyện này là bình thường và người dân ai cũng biết.
Nói
tóm lại là đất nước Việt Nam có giàu mạnh hay không là phụ thuộc vào thành phần
lãnh đạo của Việt Nam. Họ chỉ có hai con đường : một là kiên quyết giữ quyền
lãnh đạo của cá nhân họ, phó mặc những hạn chế mà họ đã thấy được mà không khắc
phục, hay là khắc phục những hạn chế đó, hy sinh quyền lợi cá nhân họ, đưa
quyền lợi dân tộc lên trên hết. Còn người dân Việt Nam, sống trong chế độ này,
sướng hay khổ, họ không thể định đoạt được. »
Về phần Nguyệt Hà thì phân tích thất bại kinh tế của Việt Nam duới
cái nhìn của một luật sư :
«
Ngoài những nguyên nhân về chính sách vĩ mô, về giáo dục, không có thị trường
tự do, em còn thấy vấn đề nền pháp luật yếu kém và tinh thần tôn trọng pháp
luật của Nhà nước lẫn người dân. Vì thế không tạo được sự tin tưởng trong quá
trình làm kinh tế, hoặc trong các mối giao dịch dân sự hay kinh tế. Em thấy
điều đó làm tốn kém thời gian và tiền bạc, làm cho các quan hệ kinh tế không
phát triển được.
Mặc
dù đã có những cải cách, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
vì vẫn ưu tiên phát triển kinh tế Nhà nước. Nếu mất cái đuôi « định hướng xã
hội chủ nghĩa » đi, thì họ không còn tính chính danh cho việc duy trì vẫn còn
nhiều tập đoàn Nhà nước, hay tập trung cho tiền bạc và các chính sách cho những
tập đoàn kinh tế này. Quá trình cổ phần hóa mặc dù đang diễn ra nhưng diễn ra
khá là chậm, thậm chí có khá nhiều hình thức tham ô trong đấy, bởi vì có quá
nhiều lợi ích trong đó của một tập đoàn giới lãnh đạo.
Chính
vì vậy họ không làm một cuộc cải cách triệt để được và cái đuôi Xã hội chủ
nghĩa cùng với các thành phần kinh tế Nhà nước vẫn đang góp phần gây ra tham
nhũng và kềm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam.
Một
phần đó là do cơ chế, và một phần cũng là do giáo dục lạc hậu đã tạo ra một tập
quán văn hóa, làm cho mọi thứ trì trệ. Cái làm cho Việt Nam không thua Hàn Quốc
rất nhiều lần, chính là do thể chế và cái lãnh đạo tập trung của Nhà nước. Ở
Hàn Quốc người ta tạo điều kiện hơn cho kinh tế tư nhân. Giữa các nước có thể
chế một đảng và những nước có thể chế đa đảng, thì các thể chế dân chủ có vẻ
tạo điều kiện hơn cho cá nhân, cũng như cho các tổ chức kinh tế phát triển. »
Nhà văn Đặng Thơ Thơ
trả lời phỏng vấn Kính Hòa tại RFA tháng 4/2015
RFA photo
Nhà văn Đặng Thơ Thơ sinh ra và lớn lên tại Sài gòn. Sang Mỹ Đặng
Thơ Thơ là một trong những người sáng lập trang văn học Da Màu, và Đặng Thơ Thơ
cũng được biết đến như một trong những cây bút người Việt viết về giới tính.
Trong tác phẩm mới xuất bản Khả Thể, nhà văn có đề cập đến những
ký ức về ngày 30 tháng Tư năm 1975. Trong một dịp sang vùng Washington DC, nhà
văn dành cho Kính Hòa một buổi phỏng vấn về những ký ức này, và những nhận xét
liên quan đến văn học của người Việt hiện nay. Trước hết nàh văn cho biết:
Trong cuốn Khả Thể, Thơ có hai truyện nói những ký ức về 30/4.
Truyện đầu tiên là Mở Tương Lai, là kinh nghiệm của riêng gia đình Thơ,
vào lúc miền Nam bị sụp đổ, mình tìm cách thoát khỏi nhưng bị kẹt lại. Trong đó
có một đoạn bà ngoại của Thơ Thơ, lúc đó gần chết, phát ho mỗi người một ve
thuốc độc. Cái cảm giác của mọi người trước và sau khi nhận ve thuốc độc. Khi
mình nhận ve thuốc độc thì mình bình tĩnh lại trước tất cả mọi biến cố, vì mình
biết là từ đây mình làm chủ đời sống của mình, mình không sợ bất cứ một áp chế
nào của quyền lực đè nặng lên đời sống của mình hay phẩm giá của mình nữa.
Truyện thứ hai là Lịch sử nhìn từ âm bản, trong đó Thơ viết
về những người lính, những vị tướng đã tuẫn tiết trong thời điểm 30/4. Thơ rất
kính phục họ và đây cũng như là một sự vinh danh giành cho họ. Khi viết truyện
này thì Thơ tìm hiểu rất nhiều, và khi viết cũng có rất nhiều nước mắt. Mình
cảm thấy mình nợ rất nhiều những cái chết đó, và khi Thơ viết là Thơ muốn những
cái chết đó không trở thành uổng phí. Đối với Thơ thì cái hành động tự tử đó
rất là đẹp, vì mình làm chủ cái đời sống của mình, chống lại cái áp chế của
những chế độ toàn trị.
Kính Hòa: Trong Khả Thể có
một truyện đầu tiên là Con yêu tinh thứ 108, thì dường như nó mang những suy
nghiệm hiện đại, không có âm hưởng của quá khứ, gần với những suy nghĩ của thế
hệ trẻ hiện nay trong và ngoài nước, có phải như vậy không?
Đặng Thơ Thơ:
Đó là một cuộc đối thoại nhiều chiều, những thế hệ khác nhau. Nhân vật chính
trong này là con hoang của Hồ Chí Minh. Và cũng có đối thoại với những thế lực
ở trong nước họ đòi hỏi dân chủ cho Việt nam. Còn một nhân vật khác nữa là
Thích Hiển Đạo thì Thơ lấy cảm hứng từ việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh về nước
lập đàn tràng giải oan. Cái hành động đó làm cho Thơ đặt câu hỏi là tại sao
phải giải oan, trong khi họ cần một lời xin lỗi chính thức thì đúng hơn.
Kính Hòa: Trong lĩnh vực văn
chương giới tính thì nhà văn Đặng Thơ Thơ được xem là người đi tiên phong trong
lĩnh vực này. Khi bắt đầu có những ý tưởng dấn thân vào con đường này thì nhà
văn có cảm thấy khó khăn, trở ngại gì không trong một văn hóa khá khắt khe của
Việt Nam?
Đặng Thơ Thơ:
Thơ không cảm thấy khó khăn, mà thật ra nó còn là thuận lợi vì mình viết về
những cái người ta ít viết thì mình còn đất để mà khai phá. Nhưng cũng có những
thử thách là mình viết thế nào để tiếp cận độc giả.
Trong giới tính lại có cả khá cạnh chính trị lồng vào đấy, rồi tôn
giáo và những cái khác nữa. Nhiều khi Thơ viết xong thì đưa cho bạn bè chứ
không đưa cho người trong gia đình như bố hay mẹ đọc. Có những chuyện trong này
thì khi xuất bản rồi bố mẹ mới được đọc.
Nói về giới tính thì không cùng, trong này chỉ là một phần thôi.
Câu chuyện rõ nhất là Ký ức của người loạn tính. Thơ muốn cho thấy rằng giữa
họ và mình, cái sự chúng ta tưởng là khác biệt thực sự không khác biệt.
Những thứ mà chúng ta cảm thấy khác biệt là bởi tại vì chúng ta chưa có từ ngữ
để dành cho nó thôi. Chúng ta không biết rất nhiều điều, và chúng tưởng những
điều chúng ta biết là một chân lý duy nhất. Có những điều chúng ta chưa đặt tên
cho nó cho nên tưởng rằng nó không tồn tại, thực sự thì nó có tồn tại hết.
Giữa trắng và đen, giữa nam và nữ là một khoảng rất là dài những
màu xám khác nhau.
Kính Hòa: Liên quan đến cộng đồng người Việt ở hải
ngoại thì dường như có một dòng văn học đã nảy sinh và trưởng thành, Thơ Thơ đánh
giá thế nào về sức sống của nền văn học đó? Tại vì cũng có những ý kiến cho
rằng đối với một đồng hải ngoại, bị đứt khỏi mảnh đất quê hương của họ thì khó
có thể duy trì nền văn học bằng tiếng bản ngữ của họ?
Đặng Thơ Thơ:
Thơ cho rằng thời điểm 75-85 là thời điểm rộ nhất của văn học hải ngoại với
những cây bút của miền Nam định cư bên này. Họ có điều kiện mới để viết, họ
viết về kinh nghiệm của họ, cũng như là dòng văn chương hoài hương, và dòng văn
học chống cộng rất là mạnh.
Sau chiến tranh lạnh, lúc Việt nam và Hoa kỳ đã có giao thương với
nhau, điều đó ảnh hưởng tới văn học, nó bắt đầu đi theo một hướng khác, nhất là
khi những nhà văn trong nước được cởi trói. Có một sự giao lưu không chính thức
giữa những nhà văn phản kháng trong nước và những nhà văn ngoài này. Và với sự
bùng nổ của Internet thì có vẻ ranh giới bị xóa mờ đi. Thành thử chúng ta rất
là khó định nghĩa thế nào là văn chương hải ngoại. Vì có thể là một người ở
trong nước nhưng tác phẩm của họ không thể công bố trong nước mà là ở hai ngoại
thì mình đặt tên họ là nhà văn nào? Hay trường hợp chị Dương Thu Hương bên Pháp
chẳng hạn, mà sách của chị ấy xuất bản ở Bolsa. Mình gọi chị Dương Thu Hương
như thế nào, chị ấy lại không phải là một nhà văn miền Nam, như mình hay nghĩ văn
học hải ngoại là sự kéo dài của văn học miền Nam, mà chị Dương Thu Hương là một
nhà văn miền Bắc. Thành ra tất cả mọi sự đánh giá hay dán nhãn hiệu rất là khó.
Kính Hòa: Có những nhà văn
người Việt nhưng viết bằng tiếng Anh, trong giòng chính của nước Mỹ, thì Thơ
Thơ có nhận định gì về họ không?
Đặng
Thơ Thơ: Thơ đã đọc những
truyện của chị Lan Cao, nhất là cuốn mới nhất Hoa Sen Trong Bão Tố, rồi Thơ
cũng thích đọc Đinh Linh. Rồi Monique Trương, Lê Thị Diễm Thúy, rồi nhất là gần
đây là Lại Thanh Hà đoạt giải thưởng về tiểu thuyết viết cho tuổi thanh thiếu
niên. Thơ rất tin tưởng là họ sẽ có tiến nói trong văn chương giòng chính. Và
khi người ta nhìn những gì họ viết thì người ta nhìn họ là những nhà văn thôi,
xin đừng đặt tên cho họ là nhà văn Mỹ gốc Việt (cười.)
Kính Hòa: Xin hỏi câu cuối là có lúc nào Thơ Thơ
nghĩ là tác phẩm của mình sẽ được đọc ở Việt Nam một cách chính thức không?
Đặng
Thơ Thơ: Tất nhiên đó là điều
mình ao ước. Sau khi ra mắt sách xong Thơ sẽ post cuốn Khả Thể lên mục Trên kệ
sách của trang Da Màu thì bạn đọc trong nước có thể đọc dduwwojc, nhưng đầu
tiên phải tìm cách vượt tường lửa trước (cười.)
Kính
Hòa: Xin cám ơn nhà văn Đặng Thơ Thơ đã dành
thời gian cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn trong chuyên mục Ký ức 40 năm.
Đặng Thơ Thơ:
Xin cám ơn tất cả các thính giả của Đài Á Châu Tự Do.
Nếu như nông dân miền Trung phải khốn đốn vì ngập lụt, nông sản
mất khả năng tiêu thụ thì nông dân Tây Nguyên cũng khó khăn chẳng kém, nắng hạn
từ ngay trong thời điểm cây cà phê đơm bông kết trái, mãi cho đến khi cây cà
phê cho hạt vẫn phải tưới tiêu bằng nguồn nước bơm máy đã khiến chất lượng cà
phê giảm đi rất nhiều. Trong khi đó, giá thành cà phê liên tục rớt, thị trường
cà phê Việt Nam tiêu thụ không được mạnh, điều này làm bà con nông dân lo lắng
và mệt mỏi.
Nhà nông bị thiệt hại nhiều thứ
Một người trồng cà phê tên Thương, ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai,
chia sẻ:“Mùa này đang
nắng hạn nên tưới nhiều, bắt điện, dùng điện ba pha để tưới, chỗ nào gần thì ba
cuộn dây, còn chỗ xa phải kéo tới chín cuộn dây.”
Mùa này đang nắng hạn nên tưới nhiều, bắt điện, dùng điện ba pha
để tưới, chỗ nào gần thì ba cuộn dây, còn chỗ xa phải kéo tới chín cuộn dây.
-Bà Thương
Theo bà Thương, vấn đề nông dân gặp khó khăn không phải mới diễn
ra lần đầu ở Tây Nguyên. Nhưng những lần trước, dù sao người nông dân cũng có
thể bù lỗ bằng nhiều cách, trong đó đợi mùa sau thu hồi vốn và lãi là chuyện
quen thuộc. Nhưng ba năm trở lại đây, nguy cơ nếu thua lỗ sẽ dẫn đến mất trắng
của người nông dân rất cao.
Bà Thương giải thích nguyên nhân dẫn đến mất trắng của người nông
dân Tây Nguyên trong ba năm trở lại đây là do chiến lược lớn từ phía nhà nước.
Ví dụ như chiến lược trồng cao su ở các tỉnh Tây Nguyên, cây cao su không những
không mang lại lợi nhuận mà suốt nhiều năm liền người nông dân phải bỏ vốn, bỏ
công chăm sóc, bỏ chi phí cơ hội trong quĩ đất để chờ đợi mủ cao su. Nhưng đến
vụ thu hoạch, cây cao su cho lượng mủ rất hạn chế bởi điều kiện thổ nhưỡng Tây
Nguyên không hợp với loại cây này.
Với cây cao su, người nông dân Tây Nguyên mất đi một số vốn khá
lớn, người đầu tư ít cũng vài ba trăm triệu đồng, nhà nào đầu tư nhiều lên đến
hàng tỉ đồng. Sau vài ba vụ thu hoạch mủ cao su, thấy không thể nào thu hồi
được vốn, người nông dân lại phải bỏ ra một lượng tiền lớn để chặt bỏ cây cao
su lấy đất trồng loại cây khác. Chỉ riêng cây cao su đã lấy đi hàng núi tiền
của bà con nông dân Tây Nguyên.
Bơm nước chống hạn ở Tây Nguyên. RFA PHOTO.
Hơn nữa, giá điện tăng dần và giá tiền nộp phạt sử dụng điện cũng tăng
tỉ lệ. Điện tưới tiêu trong các vườn cà phê, hồ tiêu số đông gia đình sử dụng
là nguồn điện hai pha, còn gọi là điện dân dụng. Mà nguồn điện này bị công ty
điện lực qui định mức giới hạn sử dụng mỗi gia đình một con số kilowatt giới
hạn, nếu vượt con số này, giá tiền sẽ bị phạt lũy tiến dương. Giả sử như mức
qui định là 100kw nhưng quá trình sử dụng của gia đình vượt mức qui định, lên
đến 200kw thì giá tiền phải trả sẽ tương đương với 300kw.
Mà nhu cầu tưới tiêu rất cao nên bất kỳ gia đình nào trồng cà phê
đều bị đóng phạt mỗi tháng lên đến vài triệu đồng, có gia đình lên đến vài chục
triệu đồng tiền điện là chuyện rất bình thường. Mà một khi giá điện tăng, đồng
loạt các loại khác đều tăng giá tỉ lệ, từ phân bón đến tiền công lao động, tiền
máy cày, máy sấy cà phê… Tất tần tật đều tăng giá. Trong khi đó, giá cà phê rớt
xuống còn 4 ngàn đồng mỗi kí cà phê tươi và 38 ngàn đồng mỗi kí cà phê nhân.
Điều này nếu tính một bài toán tổng thể sẽ tương đương với giá cà phê nhân rớt
mất 10000 đồng trong những năm 2010 đến 2012. Bởi so với năm 2012, giá cà phê
hiện tại cho mức lãi ròng rất thấp. Bà con nông dân chỉ biết chờ đợi.
Nhà nước chưa có biện pháp giúp người nông dân
Một nông dân tên Thắng ở huyện Krong Puk, tỉnh Đắc Lắc, chủ nhân
của vườn cà phê hai chục hecta, chia sẻ: “Thì nói chung giờ người
trồng cà phê đang khốn khổ bởi nước xuống, nơi nào gần hồ có hồ nước thì kéo
ống tưới, nơi nào tưới giếng thì phải đào giếng sâu lên, nơi nào không có thì
khoan, nói chung là rút nước dưới lòng đất ra nhưng nước ngầm cũng cạn rồi.
Nhưng mà không thuận lợi đâu, dân thì bao giờ cũng vậy thôi. Trước đây cũng có
một thời gian ngắn thì người làm cà phê có thôi, chứ giờ thì cũng có người chặt
cây cà phê nhiều lắm rồi.”
Theo ông Thắng, cho đến thời điểm hiện tại, nhà nước vẫn chưa có
chế độ bảo hộ hợp lý cho người nông dân về vấn đề thị trường, nơi tiêu thụ nông
sản, đặc biệt là hạt cà phê. Người nông dân hoàn toàn thụ động trên thị trường
bởi thiếu thông tin và thiếu những chính sách điều tiết từ phía nhà nước. Chính
vì sự thiếu hụt này mà người nông dân phải phụ thuộc vào nhà buôn mọi mặt.
Giờ người trồng cà phê đang khốn khổ bởi nước xuống, nơi nào gần
hồ có hồ nước thì kéo ống tưới, nơi nào tưới giếng thì phải đào giếng sâu lên,
nơi nào không có thì khoan, nói chung là rút nước dưới lòng đất ra nhưng nước
ngầm cũng cạn rồi.
-Ông Thắng
Đơn cử việc chăm sóc mùa vụ, người nông dân phải tìm đến nhà
buôn để vay tiền và chấp nhận mức lãi suất cao gấp đôi, gấp ba lần so với lãi suất
ngân hàng để mua phân bón và sau khi thu hoạch phải bán cà phê cho nhà buôn
theo giá thị trường hiện hành. Vấn
đề vay tiền nhà buôn có phần thiệt thòi cho người nông dân bởi mức lãi suất của
nó quá cao nhưng bù vào đó, nó rất linh động, nhà buôn chỉ cần xác minh chủ
vườn cà phê đã nói đúng số diện tích cà phê mình đang có thì có thể vay tiền,
không cần thế chấp bất cứ thứ gì và cũng không qua thủ tục ngoằng ngoèo, rắc
rối giống như ngân hàng.
Trong khi đó, nếu vào ngân hàng, để mức lãi suất thấp hơn một
chút, người nông dân phải thông qua nhiều thủ tục, giấy tờ vòng vèo, sau đó phải
thế chấp sổ đỏ hoặc giấy chứng nhận tài sản mới có thể vay được tiền. Trừ
trường hợp có thế lực hoặc quen biết với giám đốc ngân hàng. Những nông dân
chân lấm tay bùn gặp rất nhiều trở ngại khi đến ngân hàng vay vốn.
Ông Thắng nói đùa với chúng tôi là các ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn sắm ra để các đại
gia vay và quĩ xóa đói giảm nghèo mở ra để các nhà buôn tập trung vốn chứ chẳng
có lợi gì cho dân. Đó là một sự thật phũ
phàng trong vấn đề vay tiền từ quĩ nhà nước. Và một khi nhà buôn thao túng thị
trường thì lúc đó mọi vấn đề về sản phẩm, người nông dân hoàn toàn phụ thuộc
vào nhà buôn.
Ví dụ như vụ cà phê năm nay, nếu ông Thắng không vay tiền của nhà buôn,
ông sẽ giữ cà phê lại đợi đến khi lên giá mới bán. Nhưng vì ông đã vay tiền của
nhà buôn lúc đầu vụ để chăm hoa và dưỡng trái, đương nhiên là khi thu hoạch
xong, rẻ mắc gì ông cũng phải bán cho nhà buôn ít nhất là đủ số tiền ông đã vay
của họ. Nhưng ông phải bán nhiều hơn số tiền đã vay bởi nếu chỉ bán đủ số tiền
vay, vụ sau sẽ rất khó vay, đó là luật chơi ở đây.
Ông Thắng chua chát cho biết thêm là vụ cà phê này, gia đình ông
thua lỗ ít nhất cũng trên hai trăm triệu đồng. Trong khi đó, giá như ông vay được
tiền của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thì sẽ không bị mất số
tiền trên. Nhưng tiền của ngân
hàng lại chạy vào túi nhà buôn, tiền của quĩ xóa đói giảm nghèo lại chạy vào
túi nhà cán bộ. Ở hai nơi này, tiền
được linh động cho vay nặng lãi. Và người nông dân cắn răng chịu đựng luật chơi
mờ ám này. Đó là sự thật!