Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, April 20, 2015

VÀI SUY NGHĨ VỀ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC NHÂN ĐỌC CUỐN TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM - Phần 3


 
VÀI SUY NGHĨ VỀ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC NHÂN ĐỌC CUỐN TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM - Phần 3
Phạm Hoài Nam

V. Tự hào theo kiểu Việt Nam
Cách tự hào của người Việt không chỉ viễn vong, mơ hồ mà còn chứa đầy mâu thuẫn, phi lý trong cách lý luận. Những dân tộc duy lý như Tây Phương khó có thể hiểu được tâm lý của người Việt, điển hình như những trường hợp dưới đây:
1/ Làm sao có thể hiểu một dân tộc tự cho thông minh chỉ chỉ kém hơn “người Do Thái, người Bắc Âu và người Đức”, thế nhưng cũng chính trong cuốn sách này cho biết “bình quân thu nhập quốc dân trên đầu người trên 600 USD đặt Việt Nam vào danh sách các nước nghèo nhất thế giới” (tr.59). 

2/ Một dân tộc thực tế như người Đức sẽ không thể nào hiểu được cách tự hào đầy mâu thuẫn dưới đây: 
“Nước Việt Nam ta được thiên nhiên ưu đãi với những cánh rừng nguyên sinh chạy dọc đất nước, với đất đai phí nhiêu màu mỡ, với thảm mộc thực vật phong phú và quý” (tr 43). “Chúng ta chắc chắn là tinh hoa của nhân loại” (tr 390). 
“Chúng ta đang sống và luôn sống với sự bố thí, ban ơn, xin xỏ, theo sau thế giới để là một công trường, bếp ăn, là một công xưởng của nhân loại. Chúng ta chỉ làm được thế sao? Thật nực cười và nhục nhã, chúng ta sống trong sự ăn may [mày] của quá khứ, sự lợi dụng danh tiếng mà cha ông, tổ tiên chúng ta để lại…”. (tr.390).
Tại sao lạ vậy: một đất nước vừa được thiên nhiên ưu đãi, vừa là “tinh hoa của nhân loại”, sao phải sống nhờ vào sự bố thí của thế giới! Nếu vậy thì từ “tinh hoa của nhân loại” đến kẻ ăn mày chỉ cách nhau có đường tơ kẽ tóc!!!

3/ “Người Việt Nam rất thông minh và có những lợi thế riêng mà không có nước nào có thể sánh bằng” (tr 155), “được sở hữu những đức tính tốt đẹp mà cả thế giới phải công nhận” (tr 380), người Việt Nam “Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” (tr.374), “Mỗi người Việt là một bông hoa quý hiếm. Hoa người Việt hiếm nên rất quý” (tr.349), người Việt Nam “giàu lòng nhân ái” (tr 283), cộng thêm “đất đai màu mỡ, với thảm động thực vật phong phú và quý” (tr 43).

Một đất nước quá tốt không đâu bằng nhưng sao lại có cảnh như dưới đây (từ chính cuốn sách này cho biết):
“Hiện nay, có lẽ đâu chỉ có tôi mà nhiều người lên mạng hàng ngày đều không khỏi mệt mỏi, ngán ngẩm khi tin cướp, giết, hiếp tràn lan – không chỉ trên báo của ngành công an, pháp luận. Có những chuyện án tận lương tâm, không còn luân thường đạo lý, mà thời gian trước không xảy ra, hiếm xảy ra, hoặc sẽ là chuyện động trời thì nay cảm giác đã trở nên bình thường, như: có những người trẻ giết hại cha mẹ, ông bà mình hoặc người khác chỉ vì mấy chục nghìn để chơi game, chỉ vì nhìn… đểu, chỉ vì thấy mặt nó khó ưa… Có quá nhiều bất an, “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” trong cuộc sống, xã hội mà phần đông ai cũng kêu, ai cũng than và hy vọng “chắc nó chừa mình ra”…” (Cứ đi sẽ gặp, tr.196)
Tại sao là “một bông hoa quý hiếm” “được sở hữu những đức tính tốt đẹp mà cả thế giới phải công nhận” mà con người lại đối xử với nhau dã man đến như thế!!!.

4/ Tác giả Trần Đăng Tuấn của bài “Người Việt Nam” (tr.164-177), đã viết: “…gặp lúc rét gần 0 độ C, mà trẻ con có nhiều đứa không có cái áo nào khả dĩ che ấm người, chẳng ai cầm nổi nước mắt” (tr.167). Chính vì thế mà Bác Hợi (Nguyễn Văn Mốt) đã mở ra chương trình từ thiện có tên là “Cơm có thịt” nhằm mục đích “huy động đóng góp của mọi người, nhằm giúp bữa cơm của các em học sinh vùng núi cao có thêm chút dinh dưỡng” (tr.166).
Để nguyên góp thêm tài chánh, chương trình “Cơm có thịt” nay đã mở rộng ra toàn thế giới: ““Cơm có thịt Australia”, và rồi nối nhau “Cơm có thịt United States”, “Cơm có thịt Liên Bang Nga”, “Cơm có thịt Đức… ra đời. Rồi “Cơm có thịt” có ở Ý, Pháp, Anh, Nhật, Hungary, Phần Lan, Đài Loan, Trung Quốc… trên 20 quốc gia”. (tr 175)
Tự hào là một dân tộc “rất thông minh”, được “thiên nhiêu ưu đãi”… sao lại không thể cung cấp cho những trẻ em miền núi những bữa ăn đủ dinh dưỡng mà phải nhờ đến lòng hảo tâm của thế giới!!!. 
Bài viết “Người Việt Nam” của tác giả Trần Đăng Tuấn kêu gọi người Việt nên tự hào vì có những tấm lòng nhân ái như “bác Hợi” như lời mở đầu bài viết: “Người Việt Nam như thế nào? Tự hào là người Việt Nam, nhưng tự hào sao cho đúng? Đó là những điều rất lớn”, cho thấy những nghịch lý trong cách tự hào của tác giả - tự hào về một người nhưng có đáng xấu hổ về hàng chục ngàn cảnh đời bất hạnh của các em nhỏ bị chính quyền bỏ rơi, không có thịt để ăn, không có áo ấm để mặc!!!

5/ Một dân tộc coi trọng danh dự và thể diện quốc gia như người Nhật sẽ không thể nào hiểu được kiểu tự hào của người Việt, như trong trường hợp dưới đây:
Trong bài “Bạn có tự hào là người Việt Nam không?” (tr. 247-257) của tác giả Đinh Tiến Dũng, cử nhân Nông Nghiệp, đại diện cho giới văn nghệ sĩ, ghi lại cảnh cá nhân ông và một nhóm đồng hương (đa số sang Nga để buôn bán, lao động) bị khinh khi công khai tại phi trường Moscow bởi các nhân viên nhập cảnh:
“Đoàn chúng tôi mất hơn bốn tiếng đồng hồ để nhập cảnh vì sân bay Nga chỉ dành hai cửa làm nhập cảng cho riêng người Việt, hai cửa xa nhất, heo hút nhất khu nhập cảnh ở sân bay… Những cửa làm thủ tục còn lại dành cho hành khác nước khác được hỗ trợ làm thủ tục nhanh chóng, nên chỉ cần vài phút là họ đi qua”…“Chúng tôi về xếp hàng trước lối vào cùng khoảng hơn một trăm đồng hương đang đứng lố nhố không hàng lối. Những người nước khác đi qua đưa mắt nhìn về chúng tôi, tôi có cảm giác như những lần hồi bé phải đứng lên góc lớp vì không thuộc bài cho cả lớp nhìn vậy”. 
Sau đó ông kể cảnh sống của Việt ở Nga, khổ sở đủ điều, bị trộm, bị cướp, bị cảnh sát hiếp đáp tống tiền và rất bị người bản xứ kỳ thị: “Tôi hỏi anh tôi rằng người Nga có quý người Việt không, anh bảo giờ thì không, họ ghét lắm, bọn anh thi thoảng đi vặt táo, thấy mấy bà già người Nga đứng bên cửa sổ trên tầng léo nhéo chửi, ý bảo bọn mày về nước mày đi…” (tr.253).
“Tinh hoa của nhân loại” mà sao phải chịu những cảnh nhục nhã đến thế sao!!!
Rồi ông kể tiếp chuyến đi Nhật: “Đợt vừa rồi rộ lên vụ truyền hình Nhật Bản đưa tin người Việt ăn cắp và bị bắt. Khắp nơi trên các diễn đàn trên các diễn đàn và mạng cộng đồng, những cụm từ như “chục mặt chưa”, đẹp mặt chưa”, xấu hổ quá…” được nhiều người dùng với cường độ cao để bình luận cho sự kiện này bởi có vẻ như lòng tự hào Việt Nam của họ đang bị tổn thương sâu sắc”.
“Riêng cá nhân tôi thì luôn tin rằng, cách đấu tranh với cái xấu hiệu quả nhất, là chỉ quan tâm đến những cái tốt, những cái tích cực, đồng thời tìm cách lan truyền và nhân rộng nó ra để con sói tốt ngày càng mạnh mẽ, không cho con sói xấu trong mình có cơ hội bùng lên….”. (tr.255)
****
Khi tiếp xúc với người Việt ở Nhật, có người hỏi: “Anh có tự hào là người Việt Nam không?”. Ông trả lời: “Có chứ!”
Cuối cùng ông nói với họ: “Nên sống thế nào để có thể tự hào về bản thân mình thì cũng chính là lúc chúng ta đã tự hào là người Việt Nam chú ạ.”
Câu nói của ông (con sói tốt và con sói xấu) được nhiều tờ báo trong nước trích dẫn và coi đó như một “triết lý cao siêu”. Dĩ nhiên là nó rất hợp với quan điểm của chính quyền “Chỉ nên nói đến những cái tốt của xã hội và của Đảng”. Ngay cả bà Tôn Nữ Thị Ninh, trong lời giới thiệu cuốn sách cũng “hoàn toàn tâm đắc” với câu nói trên.
Ông Đinh Tiến Dũng nói những câu trên mà quên rằng, trong câu nói “Tôi tự hào là người Việt Nam” không mang ý nghĩa một cá nhân mà mang ý nghĩa một tập thể, một hành vi xấu hay tốt của một người Việt đều có trách nhiệm liên đới với những người Việt khác.
Trong hoàn cảnh xảy ra ở Nhật, ăn cắp, vẫn cảm thấy xấu hổ, vậy thì trong trường hợp nào mới cảm thấy xấu hổ?. 
Nếu nói như thế thì những phần tử Hồi Giáo cực đoan IS hiện nay cũng có thể tự hào về những hành động giết người dã man của họ.
Phải biết xấu hổ trước những hành vi trái đạo đức của người Việt bất kể là do mình hay do một đồng hương khác gây ra. Chúng ta lên án cái xấu không phải là lên án những người đang sống ở Nga, ở Nhật… mà lên án những người đã đưa đẩy họ vào những hoàn cảnh như thế.
Nghĩ cho cùng thì những người đã gây ra những hình ảnh không đẹp của người Việt Nam tại Nga, tại Nhật, ngay cả cái phi công, tiếp viên hàng không Vietnam Airline cũng chỉ nạn nhân của một đất nước nghèo khổ, một chế độ đầy bất công và thối nát. Thử hỏi nếu như những người đó có một đời sống vật chất tương đối khá giả, được hấp thụ một nền giáo dục đàng hoàng tử tế, đất nước được lãnh đạo bởi những người xứng đáng, không phải đút lót tiền để có việc làm… thì tình trạnh xấu xa như thế có xảy ra không? 

Ông Đinh Tiến Dũng đề cao cái tốt không phải sai, nhưng những cái tốt không thể tồn tại nếu như cái xấu, cái ác không bị lên án, trừng phạt. Chúng ta cám ơn những người đề cao cái đẹp, góp phần làm thăng hoa con người, nhưng chúng ta càng phải cám ơn nhiều hơn đối với những người dám lên án cái xấu cái ác. Không có một chính quyền độc tài phi nhân nào bỏ tù những người đề cao cái đẹp nhưng sẽ tìm cách triệt tiêu những tiếng nói chống lại cái ác, cái xấu của chế độ.
Cái thế giới này sẽ trở thành địa ngục nếu như nhân loại chỉ có những người đề cao cái đẹp mà không có những người lên án cái ác.

Tự hào là cần thiết, nhưng biết xấu hổ đôi lúc lại cần thiết hơn. 
Xã hội Tây Phương đạt tới trình độ văn minh như ngày hôm nay vì họ dám lên án cái xấu và biết xấu hổ trước những hành vi thiếu nhân bản, do dù chuyện đó đã xảy ra từ lâu trong quá khứ.
Vì biết xấu hổ cho nên chính quyền Úc, Mỹ và Canada đã xin lỗi các thổ dân. Chính phủ Anh đã xin lỗi “những đứa trẻ bị cưỡng bách di dân” (child migrants) xảy ra từ hơn một thế kỷ trước. Chính phủ Đức đã xin lỗi vai trò của mình trong cuộc diệt chủng người Do Thái. Chính phủ Anh đã xin lỗi những hành động sai trái của họ đối với các thuộc địa trong thời gian đô hộ... 
Chính những hành động này đã làm cho dân tộc của họ văn minh hơn, nhân bản hơn, người dân cảm thấy tự hào hơn về đất nước của họ.
Trái lại một dân tộc không biết xấu hổ sẽ mãi mãi là một dân tộc lạc hậu và đất nước đó sẽ mãi mãi bị thế giới bỏ lùi phía sau. 

Trở lại câu nói của ông Đinh Tiến Dũng: “Nên sống thế nào để có thể tự hào về bản thân mình thì cũng chính là lúc chúng ta đã tự hào là người Việt Nam” cũng chứa đầy tính chất mỉa mai khi ngay cả cá nhân cũng không làm được điều đó.

Ông kể lại một kinh nghiệm trong chuyến đi Nhật: “Có một lần đi công tác, tôi có dịp ngồi với một cậu em bên Nhật Bản, rượu vào lời ra, trên tầu điện ngầm, hai anh em cứ ồn ào trò chuyện. Những ánh mắt khó chịu đổ dồn về phía chúng tôi khiến hai anh em giật mình và giữ im lặng.” (tr.256) 

Tư cách của ông so ra không bằng một người Nhật bình thường, vậy mà vẫn hãnh diện “Tôi tự hào là người Việt Nam.” Sao lại hạ niềm tự hào dân tộc xuống thấp đến thế. 

VI. Đừng nên đề cao Hồ Chí Minh một cách quá lố bịch

Người viết muốn nói đến bài bài “Doanh nhân – người lính thời bình” (tr.94-99) của tác giả là tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, đại diện cho khối doanh nghiệp.
Trong phần tiểu sử tác giả cho biết, ông Vũ Tiến Lộc là tiến sĩ kinh tế, giảng dạy tại các trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Đại Học Quốc Gia Hà Nội và một số trường đại học khác trong và ngoài nước. Không cho biết đại học ngoài nước là đại học nào. Bên cạnh đó còn là Đại Biểu Quốc Hội VN khóa XI, XII, XIII, Chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, Chủ Tịch Ủy Ban Hợp Tác Kinh Tế Thái Bình Dương, Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương các Hiệp Hội Doanh Nghiệp Việt Nam, Chủ Tịch Liên Minh Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam. 

Tác giả không những là một quan chức cao cấp mà còn là một nhà khoa bảng.  
Với thành tích đó, đúng ra ông Lộc phải hiểu nguyên tắc căn bản - ông đang viết về đề tài “Doanh nhân – người lính thời bình” trong cuốn sách “Tôi tự hào là người Việt Nam”, có nghĩa là những thành tích của doanh nhân Việt Nam xứng đáng để người Việt tự hào.
Thế nhưng suốt bài viết của ông, không thấy một tấm gương doanh nhân nào cả, mà chỉ thấy ông ca ngợi Hồ Chí Minh từ đầu đến cuối bài như một thiên tài về lãnh vực kinh tế.
Mở đầu, ông Lộc viết: “Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới giới doanh nhân. Từ chiến khu Việt Bắc ở về Thủ đô chuẩn bị cho ngày độc lập, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà của một trong những gia đình giàu có nhất ở Hà Nội và cũng tại đây, Bác viết Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chỉ hai tuần sau ngày độc lập, trong “tuần lễ vàng”, ngày 18/9/1945 Bác đã gặp mặt các nhà công thương Hà Nội và theo lời Bác họ đã tích cực ủng hộ về tài chánh cho Chính quyền cách mạnh còn non trẻ và giới doanh nhân là giới chức xã hội đầu tiên được Bác tiếp tại Phủ Chủ Tịch. Sau đó ngày 13/10/1945 Bác viết thơ kêu gọi giới doanh nhân tham gia công thương cứu quốc đoàn. Trong thư Bác viết: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chánh vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ và nhân dân sẽ tận tâm giúp giới Công Thương trong cuộc kiến thiết này”. 
Hơn nửa thế kỷ qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Bác về vai trò của giới doanh nhân về sự song hành lợi ích của doanh nhân với lợi ích của đất nước và dân tộc, về quan hệ giữa chính phủ với doanh nhân vẫn còn nguyên giá trị. Đường lối đổi mới của Đảng đã đưa chúng ta trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh và ngày 13/10, ngày Bác gửi thư cho giới công thương đã trở thành ngày Doanh Nhân Việt Nam…”

Lúc từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, ông Hồ Chí Minh ở nhà của thương gia Trịnh Văn Bô, chủ hiệu buôn “Phúc Lợi”, bán tơ lựa và có hãng chế tạo tơ lụa. Theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, ông Trịnh Văn Bô đã đóng góp cho Việt Minh 5,147 lượng vàng, tương đương số tiền gần gấp đôi ngân khố chính phủ bấy giờ (21).
Ngoài số vàng đó ra gia đình của ông Trịnh Văn Bô còn giúp Việt Minh rất nhiều thứ khác, ngay cả cá nhân ông cũng đi theo kháng chiến. 

Thế nhưng sau khi đảng CS lên nắm quyền ở miền Bắc (1954) thì gia đình ông Bô đã bị đối xử ra sao? Xin đọc một đoạn dưới đây trong quyển “Bên thắng cuộc” (22) của Huy Đức: 
“Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó...
Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được…” 

Nhà văn Huy Đức còn kể thêm nhiều cay đắng khác mà gia đình ông Bô phải chịu đựng từ khi ông Hồ Chí Minh lên nắm quyền.

Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc viết tiếp: “Đối với người dân Việt khi gặp khó khăn thách thức thì chúng ta lại nhớ Bác Hồ, tìm lại trong di sản của người, và thật kỳ lạ, bao giờ chúng ta cũng tìm ra được những chỉ dẫn giải quyết cho những vấn đề hiện tại…
“Bác dặn: “Phải nâng cao năng xuất, thực hành tiết kiệm, phải cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, phải chăm lo đời sống người lao động...””
“Bác nói: “Những người sản xuất phải tập hợp lại thì mới có thể sản xuất được nhiều, tốt không là phí tài năng và thời gian…”

Cuối cùng tác giả viết: “Những chỉ dẫn về tái cấu trúc như vậy không phải là những điều cao xa trong giáo trình kinh tế học hiện đại của phương Tây mà còn là những điều căn dặn giản dị, ngắn gọn trong tư tưởng của Bác Hồ 40, 50 năm về trước. Đổi mới, tái cấu trúc ở Việt Nam là trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh và vươn tới chuẩn mực toàn cầu.”

Nếu kiến thức về kinh tế của “Bác” uyên bác đến như thế, tại sao đất nước VN từ khi có “Bác” thì từ nghèo tới nghèo hơn. Thời chiến tranh thì quá nghèo. Và hòa bình nay đã 40 năm, Việt Nam vẫn không vươn lên để trở thành rồng mà còn lẹt đẹt đứng gần cuối bảng của thế giới về sự nghèo khổ (133/183) (23) và đang có nguy cơ bị Lào và Campuchia qua mặt.

Những lời trên của Hồ Chí Minh (cho dù có thật) về lãnh vực kinh tế - chỉ là những lời nói chung chung ai cũng biết, một tiến sĩ kinh tế như ông Vũ Tiến Lộc mà đi tâng bốc một cách lố bịch như thế thì tội nghiệp cho bằng tiến sĩ của ông quá!

Nhưng một ngàn lời nói không có giá trị bằng một hành động. Ông Hồ Chí Minh nói như thế, nhưng ông có làm đúng như vậy không? Nếu không thì những lời đó chỉ là sự lường gạt nhằm để đạt mục tiêu chính trị. Và hành động tâng bốc của tiến sĩ Vũ Tiến Lộc ngày nay là tiếp tay cho sự lường gạt đó.

Có 2 điểm dưới đây cần phải nêu ra về những nói của ông Hồ:

- Ông Hồ Chí Minh đề cao “doanh nhân” trong giai đoạn nào?
Sau khi cướp chính quyền ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh mở “Tuần Lễ Vàng” để kêu gọi mọi người đóng góp tiền của cho chính quyền Việt Minh. Từ lúc đó cho đến khi chưa lên nắm quyền (7/1954), dĩ nhiên Hồ Chí Minh lúc nào cũng vuốt ve giới thương gia để họ đóng góp cho Việt Minh càng nhiều càng tốt. 

- Số phận của doanh nhân miền Bắc ra sao sau khi Hồ Chí Minh lên nắm quyền?
Sau khi lên nắm quyền ở miền Bắc, chính phủ của Hồ Chí Minh thực hiện ngay Cải Cách Ruộng Đất, không chỉ tiêu diệt thành phần “địa chủ” mà còn tiêu diệt luôn tầng lớp tiểu tư sản, thương gia như trường hợp bà Nguyễn Thị Năm. Tất cả các thương gia nếu không bị xử bắn thì cũng bị đi cải tạo, tài sản bị tịch thu, trở thành quốc doanh. 
Sau Cải Cách Ruộng Đất là nhiều đợt “Cải tạo công thương nghiệp” và cho đến khi Hồ Chí Minh qua đời (9/1969) thì kinh tế tư nhân ở Miền Bắc hoàn toàn biến mất như một tài liệu chính thức dưới đây của đảng CSVN: “Sau 3 năm cải tạo kinh tế (1958-1960), ở thành thị, 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao động. Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp.”(24) 

Tác giả Vũ Tiến Lộc quá coi thường người đọc khi ngày nay vẫn còn hàng triệu nhân chứng sống, đã từng sống qua thời đại của Hồ Chí Minh. 


VII. “Tư duy chiến lược” hay bệnh hoang tưởng
Bệnh “nổ” của người Việt được phát huy tối đa dưới thời đại CS, từ Đảng cho đến nhân dân đều thi đua nhau “nổ”. 
Người có học thường “nổ” có bài bản hơn dân thường, riêng ông “đại trí thức” này “nổ” chẳng bài bản gì cả.
Theo phần tiểu sử cho biết, ông Nguyễn Hữu Thái Hòa, tốt nghiệp ngành kiến trúc ở Canada, sau đó lấy bằng Thạc sĩ ở Thượng Hải, Trung Quốc. Hiện đang là Phó Viện Trưởng, Viện Khoa Học Cộng Nghệ, cũng là Giám Đốc Chiến Lược của Tập đoàn FPT và còn nhiều chức vụ khác. Đồng thời ông được đánh giá “là một vị lãnh đạo tài năng luôn truyền lửa “giấc mơ Việt Nam” cho thế hệ trẻ. 
Sau chủ biên Nguyễn Mạnh Hùng, ông Thái Hòa là một trong những tác giả chánh trong cuốn sách, đại diện cho tư duy chiến lược đương nhiên là rất quan trọng.
Bài viết của ông “Việt Nam tự định vị mình và vươn ra thế giới” (tr.67-93) là bài dài nhất trong cuốn sách, 26 trang, chỉ một bài nhưng bao gồm nhiều đề tài: chính trị, xã hội, văn hóa, đặc biệt là về quản lý chất lượng (quality control).

Về thành tích của mình, ông cho biết như sau: “Tác giả bài viết thuộc thế hệ trí thức, Việt kiều trẻ có hơn 15 năm làm việc quản trị ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á cho các tập đoàn đa quốc gia trước khi quay về đảm trách công tác định hướng chiến lược cho một tập đoàn công nghệ thông tin hàng đầu Việt Nam. Qua những câu chuyện, minh chứng có thật từ thực tế kinh nghiệm từ Đông sang Tây đã được tích lũy nhiều năm được sắp xếp lại nhằm góp phần giải mã các ẩn số này của đất nước. 
“Kinh nghiệm bản thân tác giả suốt chặng đường 14 năm làm việc như một công dân toàn cầu tại ba châu lục cho Tập Đoàn Schneider Electric (Pháp), từ một kiến trúc sư đến địa vị lãnh đạo cao nhất của hệ thống chất lượng châu Á-Thái Bình Dương.
“Suốt thời gian ở Pháp, với vị trí Trưởng Bộ phận Quốc tế vụ (Pilotage International), để quản lý được các chuyên gia công nghệ hàng đầu của Schneider Electric, tôi thường đem trong ví một viên ốc Nhật của xe Toyota làm niềm tin chất lượng của người Á Châu.
“Năm 2001, tôi đến Pháp làm việc theo lời mời của Tập đoàn Schmeiner Electric và trở thành người Á Châu đầu tiên đảm nhận chức vụ Giám đốc Văn phòng Quốc tế Vụ tại Tập đoàn”.

Cuối cùng quá chán tính lường biếng và thiếu sáng tạo của người Pháp, ông Thái Hòa quyết định bỏ Pháp về Á Châu làm việc.
“Đầu năm 2003, tôi quyết định quay về châu Á trong cương vị Giáo đốc Chất lượng Hệ thống Tiêu chuẩn Kỹ thuật Á-Thái Bình Dương…”

Người viết cố tìm trên Google (tiếng Anh) để xem thế giới có biết “nhân tài” nước Việt này không, nhưng tìm mãi không ra. 

Nếu như tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng mô tả đất nước Việt Nam như một thiên đàng trên trái đất này thì ông Nguyễn Hữu Thái Hòa vẽ ra những tham vọng vĩ đại cho Việt Nam trong tương lai, tiêu biểu như:
1. Giấc mơ khám phá và chinh phục toàn cầu – The Global DREAM
2. Thương hiệu chất lượng “Made in Vietnam, Made in world” 
3. Giấc mơ chất lượng Việt Nam
4. Dự án “Best in Class, Vươn tới đỉnh cao”…
5. Chiến lược định vị Việt Nam thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới.

Thật ra phải gọi đây là ảo tưởng hơn tham vọng. Tham vọng thì còn có thể làm được, nhưng ảo tưởng thì không. Một đất nước chưa chế tạo được đinh ốc chất lượng mà đòi chinh phục toàn cầu, trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới… thì phải gọi tên gì cho đúng?

Thông thường, khi muốn thực một tham vọng (hay sáng kiến mới) đòi hỏi phải hội đủ ít nhất là 3 yếu tố dưới đây:
1- Tham vọng đó nằm trong khả năng tài chánh, nhân lực… đang có? (feasible)
2- Có đủ bằng chứng cho thấy tham vọng đó có thể làm được? 
3- Có phương cách để thực hiện?

Đó chỉ là những tham vọng bình thường, huống hồ chi những dự án mang tính chất “tư duy chiến lược” cho một quốc gia. 
Riêng ông Thái Hòa thì không cần biết VN đang ở vị trí nào trên thế giới và có khả năng để thực hiện những tham vọng quá lớn đó hay không!
Bài viết của ông không theo một nguyên tắc nào, hết sức ẩu tả, lý luận theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng”, những lý lẽ đưa ra hoàn toàn không thuyết phục, đôi khi hết sức lạc đề, bằng chứng thì mơ hồ, “chiến lược” để thực hiện càng “lãng mạn” hơn. 

Chỉ cần đọc một đoạn dưới đây trong phần “Định vị Việt Nam thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới” (tr.90) người đọc sẽ thấy sự “uyên bác” của tác giả:
“Chúng ta cần nhận diện thật rõ ràng đâu là điểm mạnh của bản sắc dân tộc, lịch sử và truyền thống của con người Việt Nam để từ đó đưa ra một định hướng chiến lược phù hợp. Trong hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã là trái tim của nhân loại. Sau cuộc chiến gần 40 năm, chúng ta đã đánh mất quá nhanh tình cảm đó vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan và cũng chính chúng ta đã không ý thức được tầm quan trọng và giá trị vô biên của việc trở thành một trung tâm thế giới.
Phải nhìn nhận rằng qua bao cuộc bể dâu, dù trong thế yếu chống mạnh, người Việt luôn cao truyền thống của tinh thần Nhân nghĩa làm nền tảng:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo (Cáo bình Ngô, Nguyễn Trải, 1428).

Vị trí địa lý, lịch sử đã trao vào tay Việt Nam một cơ hội đứng lên lãnh đạo khối ASEAN…
 “Khi tất cả các vec-tơ tương tác trong các mối quan hệ toàn cầu từ các dòng tiền của giới đầu tư vào những vấn đề kinh doanh trong nhiều lãnh vực khoa học công nghệ, công nghệ, nông nghiệp, giao thông, chuỗi phân phối, du lịch, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, sáng tạo…. cho đến các mối quan hệ trong những vấn đề toàn cầu như khủng hoảng năng lượng, lương thực, chiến tranh, hòa bình, y tế, biến đổi khí hậu, môi trường đều hướng đến Việt Nam, khi đó Việt Nam sẽ hùng mạnh và an toàn hơn bao giờ hết. Chỉ khi nào chúng ta ý thức được điều đó và dám đề ra một chiến lược cụ thể để định vị Việt Nam trở thành một trung tâm quan trọng của thế giới, khi đó đất nước mới có thể ngẩng đầu cao và thật sự thoát ra khoải kiếp nô lệ từ trong tư duy, tiềm thức của dân tộc.
Định vị Việt Nam trước tiên có thể làm ngay là định vị lại thương hiệu Việt. Hai chữ “Việt Nam” hiện nay trên Google Search đang có giá trị thương hiệu lớn gấp nhiều lần những nước khác trong khu vực hoặc có diện tích, dân số tương đương. Điều đó phần nhờ ánh hào quang của Việt Nam trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua. Chúng ta phải biết nhanh tay tận dụng thương hiệu Việt trước khi thế giới lãng quên chúng ta, bằng những giá trị chất lượng và sự khác biệt trong từng sản phẩm, dịch vụ.”

Đưa ra cả một chiến lược “Định vị Việt Nam thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới” mà chỉ có 770 từ, trong đó phần lớn là những lời chung chung, đầy mâu thuẫn và không đưa ra được một phương cách làm thế nào để thực hiện.
“Chỉ khi nào chúng ta ý thức được điều đó và dám đề ra một chiến lược cụ thể để định vị Việt Nam trở thành một trung tâm quan trọng của thế giới, khi đó đất nước mới có thể ngẩng đầu cao và thật sự thoát ra khoải kiếp nô lệ từ trong tư duy, tiềm thức của dân tộc”, có nghĩa là tác giả chưa có một chiến lược để thực hiện. Nếu vậy thì mệnh đề khẳng định (affirmative) “Định vị Việt Nam thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới” hoàn toàn trở nên vô nghĩa. 

Tác giả lý luận: Khi tất cả các lãnh vực của thế giới hướng tới VN, thì VN sẽ trở thành trung tâm của thế giới. 
Nói như thế ai chẳng nói đươc. Vấn đề là làm sao để thực hiện?
Lý luận như ông thạc sĩ này chẳng khác nào một ông chủ tiệm buôn nói rằng: nếu có nhiều khách đến tiệm tôi mua hàng thì tôi sẽ giàu.

Tác giả lý luận tiếp: “Chỉ khi đó đất nước ta mới thoát ra được tư duy nô lệ”.
Đã mang tư duy nô lệ, làm sao có thể làm được chuyện “đội đá vá trời”: mang tất cả các lãnh vực của thế giới đến Việt Nam.
Đã mang tư duy nô lệ làm sao có khả năng để biến VN trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của thế giới.
Và không lẽ khối ASEAN ngu đến độ để cho một dân tộc mang tư duy nô lệ lãnh đạo họ.

Thời đại này mà tác giả nhắc “ánh hào quang của 2 cuộc chiến vừa qua” thì hết sức lỗi thời. Trong thời buổi khủng bố ngày nay, những gì dính dáng đến bạo lực, người ta đều ghê tởm, chỉ có tác giả mới coi đó là lợi điểm.

Tác giả tự giới thiệu là một kiều Việt trẻ, một công dân toàn cầu, đúng ra phải mang tinh thần nhân bản, bác ái, yêu chuộng hòa bình, sao lại thích nhắc lại chuyện chém giết, và khơi dậy nỗi đau của hàng triệu người khác. Nhắc lại lời của “Bình Ngô đại cáo”, nhưng một trí thức như tác giả sinh trưởng ở Saigon (sinh năm 1969) (25), không lẽ không biết hàng trăm ngàn quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và người dân Miền Nam đã bị bên thắng cuộc đối xử ra sao sau tháng 4/1975!!!

Không biết tác giả rời VN trong tư cách gì, tị nạn hay di dân! nhưng dù với bất cứ lý do gì, nếu là một người có suy nghĩ, tác giả phải tỏ chút lòng mang ơn những người lính VNCH, trong đó có cả triệu người đã hy sinh để những người như tác giả có một tuổi thơ đẹp, không phải ăn bo bo, bị nhồi sọ bởi chính quyền và gia đình tác giả cũng đã hưởng được những quyền sống căn bản trong 20 năm mặc dầu miền Nam đang trong hoàn cảnh chiến tranh.

Người viết không hiểu tại sao ông thạc sĩ Việt kiều này cần phải lấy điểm với chính quyền CSVN đến độ đánh mất sự lương thiện của một người trí thức khi ông bóp méo một sự kiện mà ai cũng biết. Mục sư Luther King quá nổi tiếng và mọi người biết ông bị ám sát trước khi chuẩn bị lãnh đạo một cuộc đình công của công nhân làm vật dụng vệ sinh. Thế nhưng ông thạc sĩ này bóp méo như sau: “Ngày 4/4/1968, mục sư King đã bị bắn chết trong khi diễn thuyết kêu gọi hòa bình và chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa ở Việt Nam” (tr.70).

Đối với người viết, một người dù có phô trương bằng cấp hay khoe khoang thành tích của mình đến đâu mà không có “common sense” (lý lẽ hiển nhiên) thì không phải là một người giỏi. 
Đọc qua phần của tác giả viết về “Thương hiệu chất lượng “Made in Vietnam, Made in world””, (VN có đủ khả năng để chế tạo những sản phẩm có chất lượng thế giới) người đọc sẽ thấy cách suy nghĩ hơi lạ của ông thạc sĩ này. 
“Năm 2001, khi sang Pháp sống và làm việc, hội nhập với cuộc sống ở Pháp và tôi có tham gia vào một đội bóng địa phương. Một lần tôi vào một siêu thị ở Lyon để kiếm đôi giày đá bóng. Tôi vẫn còn nhớ mình sửng sốt như thế nào trong cái siêu thị đó. Đôi giày thứ nhất ‘made in China’ bán với giá 30 Eu, đôi giày thứ hai do châu Âu sản xuất với giá 60-80 Eu, đôi giày thứ ba rất đẹp giá 190 Eu, làm cho tôi rất thèm muốn có được vì nó đẹp và đường may rất tỉ mỉ, tôi mở ra và tôi sửng sốt ‘made in Vietnam’. Một đôi giày đến từ Việt Nam lại được bày bán ở vị trí sang trọng nhất và có chất lượng cao nhất! Giấc mơ chất lượng Việt Nam bắt đầu từ đó: ‘Chúng ta hoàn toàn có thể làm được những sản phẩm tốt, chất lượng phù hợp với tố chất của người Việt Nam nhưng vấn đề là chúng ta có tin là chúng ta là được. Sự ngạc nhiên của tôi chính là vấn đề của tất cả chúng ta, chúng ta chưa tin vào khả năng của chính mình. Nhưng sự thật để chứng minh, đôi giày đó là một minh chứng là chúng ta có thể làm được.”

Trước hết có nhiều vô lý trong trường hợp này. Ông không cho biết đôi giày 190 Eu, ‘Made in Vietnam’, hiệu gì? Thương hiệu của Việt Nam hay của ngoại quốc như Adidas, Nike, Puma, Dunlop… gia công ở Việt Nam?
Nếu là một thương hiệu của Việt Nam, không ai bỏ ra 190 Eu để mua một đôi giày “no name”.
Nếu là một thương hiệu ngoại quốc như Adidas, Nike, Puma, Dunlop… cũng khó tin. Những hãng này mang sang những nước như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Nam Dương chế tạo vì giá thành rẻ. Trong trường hợp này không một khách hàng Âu Châu nào dại đến độ bỏ ra số tiền mắc hơn gấp 3 lần để mua một đôi giày làm ở Việt Nam thay vì một đôi giày làm ở Âu Châu. 
Giả sử lời ông Thái Hà đúng, thì đây chỉ là một trường hợp hết sức đặc biệt, không thể lấy một trường hợp ngoại lệ để cho rằng Việt Nam có khả năng chế tạo hàng chất lượng cao như Tây phương. Và cho dù làm được phẩm chất tốt, nhưng giá thành cao như vậy, ai sẽ mua!!!

Báo chí trong nước gần đây đã nói quá nhiều về chuyện Việt Nam không thể chế tạo được vít, ốc đúng chất lượng, khiến cho những hãng xưỡng của Nhật, Hàn Quốc ở VN gặp rất nhiều khó khăn. Ông Alan Phan là người hiểu rất rõ chất lượng sản phẩm của Việt Nam vì ông sống lâu năm ở đó: “Do đó, khi các doanh nghiệp Việt lobby chánh phủ bỏ tiền hỗ trợ quảng bá một “thương hiệu Việt”, tôi luôn nhăn mặt. Đây là một lối “gánh vàng đi đổ sông Ngô”, chỉ lợi cho các công ty quảng cáo và các quan chức điều hành chương trình”.(26) 

Thật sự là sau đọc qua bài viết của ông Thái Hòa, người viết không ngạc nhiên chút nào - tại sao cho đến giờ này VN vẫn chưa sản xuất được vít ốc có chất lượng.

Nói tóm lại, nội dung bài viết của ông thạc sĩ Việt kiều này, ngoài những lời phô trương về thành tích của mình và chuyện đôi giày 190 euro, còn lại là những dự kiến, tham vọng, ước mơ, các “tư duy chiến lược”… tức là những dự định sẽ làm cho tương lai. Từ lời nói đến hành động là một khoảng rất xa, nhất là dưới chế độ Cộng Sản. Gần 40 năm trước, ông Lê Duẫn đã từng nói: “Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15, 20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng” (27), còn thời nay thì ông Hùng Cửu Long đã nói hộ ngay trong cuốn sách này: “Tôi tin 30 năm? 60 năm? 120 năm sau Việt Nam sẽ là vàng, sẽ là báu vật, sẽ là tinh hoa của nhân loại.” (tr.391)



__._,_.___

"Con Lợn Hạch"


From: "truc nguyen
To: DienDan
Sent: Wednesday, April 15, 2015 4:32 PM
Subject: [DDCL] Fw: Fwd: Truyện ngắn "Con Lợn Hạch"..

"Con Lợn Hạch"

Tác Giả: Nguyễn Hoài Nam


Trong số năm cô bộ đội phục viên đã lỡ xuân thì, được điều về Hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định, Côi là người kém nhan sắc nhất. Nói kém nhan sắc là nói cho lịch sự, đúng ra phải nói là Cô xấu, rất xấu, xấu ma chê quỷ hờn, xấu chưa từng thấy. Côi xuất thân là con nhà bần cố nông, đen như cột nhà cháy, tay chân cục mịch, vai to mông lớn ngực đầy nhưng lại thiếu chiều cao, trông giống như cái cối xay biết đi. Đã thế lại răng hô mũi tẹt. Khi đối diện với Côi, người ta chỉ có thể nhìn vào một con mắt của nàng. Giải thích theo hình học không gian thì vì hai con ngươi của Côi không đồng trục – cả trục ‘tung’ lẫn trục ‘hoành’ - cho nên khi mắt phải nhìn lên phương Bắc thì mắt trái hướng về phương Nam, khi mắt trái quay ra biển Đông thì mắt phải lại hướng sang non Đoài. Người miền Bắc gọi là ‘mắt lác’. Có thể vì vậy mà nay đã 30 ngoài, Côi vẫn đơn côi. Chồng con chưa có chẳng nói làm gì mà cả đến cái lạc thú của ‘hủ hóa’, từ ngày dậy thì cho tới nay, Côi cũng chưa được nếm mùi. Tức là nàng vẫn còn là trinh nữ. Nhưng ưu điểm ‘chưa vương mùi bùn’ đó chẳng ăn nhằm gì tới việc phân công của đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng.

Vào thời nhà nước hô hào đổi mới và mở cửa, khi mà đồng chí chủ nhiệm đồng thời cũng là bí thư chi bộ Đảng đã quên hết ‘đạo đức cách mạng’, đã quên mất ‘cần kiệm liêm chính, chí công vô tư’, đã biết treo lịch cởi truồng bên trong cánh tủ, đã biết thưởng thức video ‘tươi mát’, thì chẳng cần nói ra, ai cũng biết một người con gái xấu xí như Côi sẽ bị đẩy đi chỗ nào cho khuất mắt. 

Liễu, cô bộ đội xinh đẹp nhất trong nhóm năm người, hồi ‘kháng chiến chống Mỹ’ từng làm hộ lý cho mấy đời thủ trưởng, giờ đây được phân công làm thư ký riêng cho đồng chí chủ nhiệm. 

Đào, cô thứ hai, tuy không xinh đẹp bằng Liễu nhưng ngực nở, eo thon, mông tròn, lại có đôi mắt ướt đa tình thì được phân công làm thủ kho, nơi đồng chí chủ nhiệm có kê cái giường để ngủ trưa cạnh bồ lúa. 

Sen, cô thứ ba, nhan sắc trung bình nhưng người ngợm trông cũng khá sạch nước cản, được phân công làm chị nuôi. 

Mai, cô thứ tư, khá xấu nhưng nhờ học hết cấp 1, được phân công phụ giúp bên nhà trẻ. Phân công xong cho bốn cô, đồng chí chủ nhiệm nhìn vào một mắt của Côi, ngần ngừ một chút rồi nói: 

- Ở đây còn toàn là công việc đồng áng nặng nhọc, tôi không nỡ để một người từng tham gia chiến đấu như đồng chí phải chân lấm tay bùn. Thôi, bên tổ chăn nuôi đang cần một người để trông coi con lợn hạch, đồng chí sang đó vậy, nhàn hạ chán! (1) 

Côi dãy nảy: - Khiếp, đàn bà con gái ai lại đi coi lợn hạch. Em không chịu đâu! - Coi lợn hạch thì có sao! - Sao đồng chí chủ nhiệm không giao cho anh nào đó? 

- Không được, cấp trên đã quy định chỉ có phụ nữ mới được phục vụ trong tổ chăn nuôi. Thôi, nếu đồng chí không chịu thì để tôi điều về... tổ gánh phân vậy! 

Phân mà đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng nói tới ở đây phải hiểu là ‘phân bắc’, tức phân người. Dĩ nhiên, đồng chí chủ nhiệm đã nói thế thì Côi không còn con đường nào khác hơn là chấp nhận về tổ chăn nuôi để trông coi con lợn hạch. 

Côi tuy xấu xí nhưng tính tình hiền lành chất phác, chịu thương chịu khó. Những người như Côi, sống dưới thời nào, chế độ nào cũng dễ trở thành nạn nhân. Lên 7 tuổi, Côi đã đoạt danh hiệu ‘cháu ngoan Bác Hồ’ nhờ vượt chỉ tiêu nộp phân trâu, phân bò. Mỗi khi xúc từng bãi phân còn nóng hổi, cẩn thận gói trong tàu lá chuối đem về nhà phơi khô, Côi không bao giờ nghĩ tới việc đoạt danh hiệu mà chỉ biết mình đang góp phần xây dựng đất nước. Năm 12 tuổi, Côi được làm đội trưởng Thiếu niên Tiền phong, đặc trách công việc chăn trâu trong xã. Năm 16 tuổi, Côi tình nguyện gia nhập đoàn bộ đội Trường Sơn. Được phân công gánh lương tải đạn, sửa đường, lấp hố bom, Côi đã đem hết sức mình phục vụ đoàn quân ‘sinh Bắc tử Nam’. Công tác nào Côi cũng vượt chỉ tiêu. Tất cả vì mục đích cao cả ‘giải phóng đồng bào miền Nam ruột thịt khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ’. 

Giờ đây, đứng trước con lợn hạch nồng nặc mùi hôi, Côi chỉ cảm thấy khó chịu trong một vài phút đồng hồ. Bởi vì sau khi nghe chị tổ trưởng trình bày khó khăn của hợp tác xã trong việc gây giống lợn, Côi đã nhớ ngay tới lời bác Hồ dạy và nhủ thầm: ‘Giờ đây chính là lúc mình thực hiện lời Bác: 'đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng đất nước to đẹp gấp mười ngày xưa’. Rồi Côi nhìn vào con lợn hạch của hợp tác xã Sao Vàng mà trong lòng ái ngại, xót xa: tuy cũng thuộc giống tốt nhập từ Liên Xô, nhưng thân hình thì gầy gò, bụng lép kẹp, bốn chân khẳng khiu, hai hòn dái thì chỉ vừa bằng hai quả cà pháo thì nhảy cái nỗi gì! Chả trách hợp tác xã cứ phải nộp cám cho xã bên cạnh để mượn con lợn hạch bên đó về cho đám lợn nái khát tình chịu đực. 

Với tinh thần trách nhiệm của một người nắm trong tay tương lai của đàn lợn hợp tác xã, Côi tự hạ quyết tâm làm sao trong vòng một tháng trời, phải biến con Hạch vô tích sự này thành một vũ khí vô địch, góp phần vào việc đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội như lời đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn kính mến đã dạy. 

Việc đầu tiên là phải tìm cách bồi dưỡng thể chất cho con Hạch. Côi đề nghị chị Mến, tổ trưởng chăn nuôi, trong buổi họp báo cáo công tác kỳ tới của hợp tác xã phải xin gia tăng tiêu chuẩn bồi dưỡng cho con Hạch, ít nhất cũng mỗi ngày hai quả trứng gà và mỗi tuần một ký đỗ chè (đậu xanh). Thoạt nghe chị Mến đề nghị, lão chủ nhiệm hợp tác xã trợn mắt: 

- Này, đừng có tập tành cho lợn cái thói tiểu tư sản ấy nhé...! Trứng gà với lại đỗ chè! Hừ... Đồng chí phi hành gia Phạm Tuân lúc chuẩn bị sang Liên Xô để bay lên vũ trụ còn chưa được hưởng tiêu chuẩn cao như thế nữa là... là lợn! 

Chị Mến vốn là người ăn ngay nói thẳng, cãi lại: - Nhưng thưa đồng chí chủ nhiệm, nhiệm vụ của đồng chí Phạm Tuân là mang bèo hoa dâu lên không gian thí nghiệm chứ đâu có phải là... là... nhảy cho lợn nái có chửa...! Còn con Hạch, đồng chí Côi nói nếu không bồi dưỡng thì dứt khoát nó không thể thi hành chức năng một cách có hiệu quả được. Đồng chí ấy đã hạch toán kinh tế như sau: mỗi ngày bốn quả trứng gà, mỗi tuần hai ký đỗ chè, vị chi mỗi năm mất một nghìn bốn trăm sáu chục quả trứng và một trăm linh tư ký đỗ. Nhưng nếu con Hạch ‘nhảy’ có hiệu quả thì lợi nhuận của một lần cũng đủ cho nó bồi dưỡng suốt năm. 

Lão chủ nhiệm hợp tác xã gãi cằm một lúc rồi ngập ngừng: - Để tôi tính xem nào... Thôi được, cứ thử cho nó một nửa tiêu chuẩn mà đồng chí Côi đề nghị, xem hình hình có tiến triển theo xu hướng đi lên hay không đã... Mà này, phải nhớ bám sát theo dõi đồng chí Côi, đừng để tiêu chuẩn của lợn lại lọt vào miệng người nhé! 

Dĩ nhiên, Côi còn ‘cần kiệm liêm chính’ gấp ngàn lần đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã. Chẳng những nàng không ăn bớt ăn xén tiêu chuẩn bồi dưỡng của con Hạch mà còn lén lấy tiêu chuẩn cá khô của mấy con lợn đang được vỗ béo để cho nó ăn thêm. Côi lập luận: Mấy con lợn bột càng mau béo thì càng bị giết thịt sớm, mình bớt tiêu chuẩn cũng là làm phước cho chúng nó đấy thôi! (2) Bên cạnh đó, mỗi khi cho ăn hay tắm cho con Hạch, nàng thường vỗ về nó, nào là ‘Hạch ngoan nhé, ăn nhiều nhảy giỏi rồi chị xin cấp trên tăng tiêu chuẩn cho...’ nào là ‘phấn đấu vượt chỉ tiêu, thể nào Hạch cũng được huy chương Bác Hồ...’ Không hiểu vì con Hạch hiểu được tiếng người, vì Côi mát tay, hay vì hiệu quả của trứng gà và đỗ chè mà chỉ hơn một tháng sau khi nàng nhận nhiệm vụ, con Hạch đã nổi tiếng là tốt giống nhất trong đám lợn hạch của cả xã. Hai hòn dái của nó lúc này đã to bằng hai quả cà bát, đỏ ửng. Cả đến những chị lợn nái khó tính nhất cũng đều được thỏa mãn. Chưa bao giờ Hạch phải nhảy tới lần thứ hai. Và thường thì mấy tháng sau đó, chị nái nào cũng đẻ mỗi lứa cả chục con trở lên, con nào cũng khỏe mạnh, ăn nhiều, mau lớn. 

Côi không chỉ đem lại hạnh phúc cho đám lợn nái khát tình mà còn đem niềm vui tới cho cả xã. Lợn đẻ nhiều, hiệu xuất gia tăng, lợi tức bình quân đầu người trong hợp tác xã dĩ nhiên cũng tăng theo. Tiếng lành đồn xa, độ nửa năm sau thì con Hạch không còn chỉ ‘nhảy’ đám lợn nái trong xã nhà mà còn được rước sang giúp các xã bên cạnh, có nơi còn đem cả ô-tô tới đón Hạch và Côi. 

Nửa năm nữa trôi qua, khi số lần Liễu, thư ký riêng của đồng chí chủ nhiệm, bị bà vợ cho người đón đường hăm dọa tạt át-xít, và số lần Đào, cô thủ kho, lên bệnh viện Huyện để phá thai cũng nhiều bằng số lần Côi được Ủy ban Nhân dân Tỉnh biểu dương, thì một sự kiện vô cùng vĩ đại đã xảy ra cho hợp tác xã Sao Vàng. Đó là nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ, con Hạch được Bộ Nông Nghiệp và Chăn Nuôi bình chọn là ‘con lợn hạch xuất sắc nhất trong năm’, còn Côi thì được tặng danh hiệu ‘chiến sĩ nuôi lợn hạch tiên tiến’, nhận cờ luân lưu của Quốc Hội, kèm theo huân chương Lao Động hạng nhất. Hình của con Hạch và Côi được xuất hiện trên báo Đảng, và Bộ Nông Nghiệp và Chăn Nuôi đã nhân dịp này chỉ thị các địa phương cử người về hợp tác xã Sao Vàng để học tập kinh nghiệm của Côi. Tin vui vừa về tới nhà, Ủy ban Nhân dân Xã đã ra lệnh tổ chức một cuộc mít-tinh trọng thể để đón nhận cờ và huân chương, cũng như để biểu dương công trạng của Côi và con Hạch. 

Đêm hôm ấy, Côi mơ gặp Bác Hồ... Sau khi con Hạch đoạt danh hiệu vô địch lần thứ hai thì một biến cố đã xảy ra trong lòng các cô bộ đội phục viên lỡ thời của hợp tác xã Sao Vàng. Đó là việc Bộ Xã Hội và Thương Binh phân công cho hợp tác xã việc bao bọc và dạy nghề cho một số thương binh không nơi nương tựa. Kinh nghiệm đã cho các cô thấy song song với việc bao bọc và dạy nghề, Bộ còn chỉ thị cho địa phương tổ chức những buổi ‘tìm hiểu’ với mục đích kiếm vợ cho những anh chàng ế vợ, hoặc bị vợ bỏ nói trên. Thời gian những năm sau 1975 là khoảng thời gian xảy ra nhiều rối loạn nhất trong cuộc sống gia đình ở ngoài miền Bắc. 

Một số bộ đội trở về sau hơn 10 năm chiến đấu thì thấy vợ mình đã có 3, 4 mặt con với một ông chủ tịch, một ông bí thư hay anh công an khu vực. Lại có những chàng trở về thì vợ vẫn còn đó, nhưng ngày chàng ra đi nàng mới sanh một, nay về lại thấy tới hai, hỏi đứa con lớn: ‘Mẹ mày bế con ai vậy?’ Thì nghe nó đáp: ‘Con ông, em bố đấy'. Thì ra lúc chàng bộ đội xông pha nơi tuyến đầu, ở nhà bố chồng thấy con dâu cô đơn, phòng không chiếc bóng, bèn thay mặt con trai yên ủi vỗ về, chẳng biết làm thế nào mà cô con dâu có bầu, đẻ ra đứa bé ‘con ông em bố’. Cảnh trớ trêu ấy không phải là hiếm, và thường thì chẳng có chàng bộ đội nào nỡ xách dao đâm bố, đành bỏ xứ ra đi không hẹn ngày về! 

Về phần nữ giới, một số nhận được hung tin chàng đã ‘tử Nam’, một số bị chồng bỏ để lấy một cô gái miền Nam văn minh dễ dãi nào đó và ở luôn không về, một số khác thì vì tình trạng trai thiếu gái thừa, cho tới nay đã băm lăm băm sáu mà vẫn chưa hề biết tới hơi hám đàn ông. 

Sau cùng là những cô gái vượt Trường Sơn sống sót trở về, như năm cô bộ đội phục viên của hợp tác xã Sao Vàng. Vì vậy, trung ương đã ra chỉ thị điều động các đơn vị bộ đội về đóng ở những nơi có nhiều con gái chưa chồng, hoặc phụ nữ bị chồng bỏ, thường là các nông trường, công trường... và tổ chức những buổi gặp gỡ tập thể để đôi bên quan hệ tìm hiểu nhau. Sau đó, thành vợ thành chồng thì càng tốt, không thì ít nhất đôi bên cũng giải quyết được những đòi hỏi xác thịt. 

Hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng không phải là một đơn vị sản xuất lớn, tập trung nhiều đàn bà con gái cho nên cấp trên chỉ điều về hơn một chục chàng bộ đội thuộc thành phần sứt tai gẫy gọng, bị đám con gái trong Nam liệt vào hàng phế thải! Thế rồi cũng giống như việc phân công trước đây khi năm cô bộ đội phục viên về hợp tác xã Sao Vàng, ai đẹp thì ưu tiên, nay Liễu, thư ký riêng của đồng chí chủ tịch hợp tác xã, lấy được một tay thượng úy bị vợ bỏ, tuy đã khá lớn tuổi nhưng so với đồng chí chủ nhiệm vẫn còn trẻ chán, chỉ phải tội ông ta đi khập khiễng vì bị thương ở gót chân. 

Đào, cô thủ kho, lấy được một viên trung úy độc thân, mặt mày sáng sủa nhưng ốm o gầy còm, lại còn bị méo mồm vì miểng đạn xuyên qua xương hàm. Sen, cô chị nuôi, lấy một tay thiếu úy chột mắt, và Cúc, cô phụ giúp trông coi nhà trẻ, lấy một tay thượng sĩ cụt tay... 

Côi không để ý tới đám đàn ông con trai mới đến. Nguyên nhân: nàng không hề mảy may hy vọng sẽ có người thèm quan hệ với một cô gái xấu xí, đen đủi, tròn trùng trục như mình. Đã vậy, người ngợm lúc nào cũng nồng nặc mùi hôi từ con Hạch ám sang. Chả là ngoài việc gần gũi trong lúc tắm rửa, bồi dưỡng con Hạch, Côi còn đích thân đưa nó đi ‘công tác’ và phụ giúp mỗi khi nó phải ‘nhảy’ những con lợn nái cao lớn gấp rưỡi, gấp đôi. Những lúc ấy, mặc cho ai cười thì cười, Côi nhảy phắt vào chuồng, đỡ hai chân trước của con Hạch gác lên lưng con lợn nái, rồi khi hai chân sau của nó đã kiễng lên hết cỡ mà vẫn trật duột, nàng còn phải dùng tay để phụ giúp nó tiến công chính xác vào mục tiêu...! Chính vì mặc cảm ấy, mỗi lần đi sinh hoạt tìm hiểu, Côi thường ngồi thu mình trong một góc phòng họp của hợp tác xã, hồn để tận đâu đâu. 

Nhưng hình như có bàn tay ông tơ bà Nguyệt xen vào: Trong đám thương phế binh ấy, lại có một chàng trung sĩ pháo binh mù cả hai mắt. Khoan, tên chàng trung sĩ, không mù từ lúc lọt lòng mẹ, cũng chẳng mù do chất độc hóa học của đế quốc Mỹ rải xuống đường mòn Hồ Chí Minh, mà mù vì hậu quả của chiến thắng, mù khi đã hòa bình. Khoan vốn là người bị hen suyễn từ nhỏ nên cũng không lấy gì làm khỏe mạnh. Sau khi thoát chết vì kiết lỵ ngay những ngày đầu vượt Trường Sơn, Khoan bị mắc chứng sốt rét kinh niên. Da lúc nào cũng vàng như nghệ, người ngợm gầy yếu mong manh như trong năm đói (Ất Dậu, 1945). 

Sau khi chiếm được miền Nam, cấp trên nhận thấy để một người teo tóp như Khoan trong đơn vị đại pháo 130 ly thì quả là móp mặt binh chủng, bèn cho về phục vụ tại kho đạn Gò Vấp. Trước năm 1975, việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa xây kho đạn tại Gò Vấp, nơi có nhiều người Bắc di cư 54 chuyên nghề làm pháo, có thể chỉ là một sự tình cờ, hoặc do bàn giao lại từ tay người Pháp. Nhưng sau 1975, khi mà các cấp chỉ huy và bộ đội Bắc Việt đã biết mánh mung, thì ai cũng thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa kho đạn và dân Gò Vấp: bộ đội bán thuốc súng cho dân để lấy tiền, dân mua thuốc súng để làm pháo! Thành thử kể cả vào thời gian cao điểm của cuộc xâm lược Căm-bốt, cứ 10 trái đạn đại bác được vận chuyển sang chiến trường xứ Chùa Tháp thì lại có ít nhất 10 trái khác được cưa ra để lấy thuốc nổ bán cho dân làm pháo. Tuy nhiên, cũng có một số nhỏ bộ đội không tham gia công việc ‘ăn cắp của công’ này, trong số đó có Khoan. Nhờ vậy mà chàng thoát chết... 

Buổi chiều hôm ấy, mấy tay bộ đội láu cá trong tổ trực của Khoan lén đem một trái đạn đại bác 155 ly ra gần hàng rào cưa để lấy thuốc nổ. Khoan không tham dự mà chỉ đứng gần đó quan sát. Chẳng hiểu vội vã hấp tấp, cưa mạnh tay thế nào mà trái đạn phát nổ. Ba tên chết tan xác, ruột gan bay lên máng lủng lẳng trên dây điện; hai tên bị thương nặng. Khoan chỉ bị bay mất một trái thận và thêm mấy miểng đạn vào trán, nhưng vì chạm phải thần kinh thị giác nên mù cả hai mắt! Cũng giống như Côi, Khoan xuất thân giai cấp bần cố nông ở miền Bắc, sinh ra đã được dạy phải kính yêu Bác Hồ, mới biết đi đã bị nhồi nhét tư tưởng xã hội chủ nghĩa, vừa thuộc 24 chữ cái đã được học căm thù đế quốc Mỹ, vừa tròn 17 tuổi đã được lệnh lên đường giải phóng miền Nam... Khoan tin theo như bổn đạo tin Chúa. Nay bị tàn tật cũng không một chút oán hận đời. Trái lại, chàng còn cảm thấy tội nghiệp cho những đồng đội đã chết tan xác. Khoan suy nghĩ một cách đơn giản: họ có thiếu thốn mới phải cưa đạn để bán lấy tiền! Cũng với một tâm trạng bi quan như Côi, mỗi lần được lệnh đi sinh hoạt tìm hiểu, Khoan thường mò mẫm tìm một góc nhà mà ngồi. 

Hôm đó anh chàng vô tình tiến tới chỗ Côi, đụng phải người nàng. Dù chỉ va chạm nhẹ, Khoan cũng biết ngay đó là đàn bà, liền vội vàng xin lỗi. Rồi Khoan ngồi xuống. Một cái mùi là lạ bay vào mũi chàng: mùi lợn hạch từ người Côi. Nhưng với Khoan, cái mùi lại hay hay, nếu không muốn nói là có sức thu hút kỳ lạ. Có thể so sánh với việc một cô gái thích mùi mồ hôi nách của đàn ông. Trong trường hợp đó, cái mùi đã trở thành một thứ duyên thầm! Khoan lên tiếng hỏi chuyện, Côi chỉ đáp nhát gừng. Cho rằng mình chưa đủ vồn vã, Khoan càng ra sức thân thiện. Cuối cùng, Côi đã chịu nói chuyện. Tuy nhiên cũng chỉ là cái tình đồng chí trong sạch, không dính dáng gì tới ái tình cả. Cho nên sau phần trà bánh, khi các cặp khác đã đưa nhau đi kiếm một lùm cây hay ra bờ ruộng để ‘hủ hóa’ hoặc ‘tìm hiểu’ thêm các ngõ ngách trên thân thể của nhau, Khoan và Côi vẫn ngồi lại. 

Buổi sinh hoạt kế tiếp, vừa tới nơi, Khoan đã quơ quơ cái gậy tìm tới góc nhà. Côi thấy tội nghiệp, khẽ lên tiếng gọi. Câu chuyện giữa hai người vẫn giới hạn trong tình đồng chí nhưng đối đáp của Côi đã có phần bớt khô khan, gượng ép. Buổi thứ ba, nói chuyện được một lúc, Khoan đánh bạo ngỏ ý muốn tiến xa hơn: - Này Côi, mình bỏ quách hai tiếng 'đồng chí' có đi được không? Côi bỡ ngỡ. Từ ngày lớn lên rồi vào bộ đội tới nay, trừ mấy con bạn thân ra và nay là chị Mến, tổ trưởng tổ chăn nuôi, tất cả mọi người đều gọi nàng là ‘đồng chí’. Côi là người thất học, không hiểu ý nghĩa chữ đồng chí là gì mà chỉ biết rằng một khi đã gọi nhau là đồng chí thì không còn phân biệt nam nữ, không được nói chuyện tình cảm riêng tư, không được biểu lộ sự thân thiết, không được cười đùa... Nhưng không gọi bằng đồng chí thì gọi bằng cái gì bây giờ, Côi chưa thể tìm ra câu trả lời. Nàng đáp: - Vâng, tùy đồng chí! Khoan bật cười. Côi xao xuyến. Nàng chưa bao giờ được nghe giọng cười trong sáng mà ấm áp, hiền lành mà ngay thẳng đến như thế. Hình như sống trong tập thể này, người ta hạn chế cười với nhau. Hoặc có cười chăng cũng chỉ là cười xã giao, cười châm biếm, cười gằn, cười gượng chứ chẳng mấy ai cười thoải mái như tiếng cười của Khoan... 

Buổi thứ tư, Khoan vừa ngồi xuống đã vội hỏi ngay: - Côi bôi nước hoa gì mà thơm thế? - Em làm gì có tiền mua nước hoa! Đây là dầu thơm hiệu Con Sóc em mua hồi còn ở trong Nam ấy mà. (3) Thấy Côi bỗng nhiên xưng em với mình, Khoan vô cùng sung sướng, vừa hít hà, vừa lấy điểm: - Thơm thật, thơm thật...! 

Hai tháng sau, Côi là người cuối cùng trong 5 cô bộ đội phục viên trong hợp tác xã Sao Vàng lên xe hoa về nhà chồng. Nói là lên xe hoa cho nó văn vẻ, thực ra Côi cùng chị Mến cuốc bộ ra trụ sở Ủy ban Nhân dân Xã, nơi đó Khoan và một người trong đơn vị đã chờ sẵn. Côi mặc một cái áo sơ-mi trắng mua hồi còn ở trong Nam, quần lãnh đen, chân đi dép nhựa. Khoan cũng có được một cái sơ-mi ngắn tay, phía dưới là cái quần bộ đội và đôi dép râu. 

Sau khi Côi ký tên và Khoan lăn tay vào tờ đăng ký hôn thú, mọi người trở về phòng họp của hợp tác xã để dự tiệc trà, gồm có bánh bích-quy, kẹo và nước trà. Tiệc trà xong, Côi trở lại tổ chăn nuôi. Hôm nay con Hạch phải sang xã bên để nhảy. Ban sáng, chị Mến có lòng tốt đề nghị Côi để chị đề cử người khác đi thay, chẳng gì thì hôm nay cũng là ngày cưới, đời người có một lần, ai lại dắt lợn hạch đi rông như như vậy. Tuy nhiên, Côi đã từ chối. Bởi vì hôm nay là lần đầu tiên xã bên nhờ con Hạch tới nhảy một chị lợn nái giống doóc-sia (yorkshire), để thí nghiệm xem giống lợn nái Mỹ này có thể thụ tinh của lợn hạch Liên Xô hay không. Là người mang danh hiệu ‘chiến sĩ thi đua’, Côi muốn đích thân mình phải đưa con Hạch đi công tác cho yên trí. 

Về tới nơi, Côi mệt đừ người, mồ hôi nhễ nhại, vừa vì đường xa, vừa vì phải giúp con Hạch hoàn thành nhiệm vụ, Nhìn con Hạch nằm thở, đôi mắt lờ đờ, Côi thấy tội nghiệp nó quá. Con lợn nái doóc-sia to lớn kềng càng, cao đến ngang bụng người, con Hạch chỉ đứng tới ngang mông mà phải nhảy. Mỗi lần con Hạch nhảy lên rồi bị tuột xuống, con lợn nái đang động tình lại lồng lộn, giận dữ quay lại húc cho một cái làm con Hạch văng sang một bên. Dễ mất đến cả tiếng đồng hồ, người và vật mới xong công tác! 

Trước khi về nhà, Côi tắm rửa thật kỹ. Tổ chăn nuôi có giếng nước riêng, hoang phí một chút cũng chẳng sao, còn nước ở nhà có bằng đó, dội quá tay một cái là chẳng còn nước mà vo gạo. Về tới nhà, thấy Khoan ngồi trên ghế, đôi mắt mù ngóng ra cửa, Côi thấy dạt dào yêu thương, lòng bỗng xôn xao, rộn rã như một cô gái mới lớn biết yêu lần đầu. Cơm nước xong, hai người ngồi uống trà. Cũng là trà Tuyên Quang hạng bét mà sao hôm nay thơm ngon thế nhỉ...! 

Một lúc sau, Khoan ngập ngừng hỏi: - Tối... tối mịt chưa Côi? Côi hiểu ý, e thẹn đáp: - Mới xâm xẩm thôi... Anh cứ đi nghỉ trước đi, em đóng cửa rồi rửa mặt tí... Sau khi đóng cửa, cài then cẩn thận, Côi mở cái rương bằng sắt tây lấy ra một bộ quần áo in hoa, loại mà trong Nam người ta gọi là ‘đồ bộ’. Từ ngày mua ở chợ Bà Chiểu cách đây hơn bốn năm, Côi chưa bao giờ dám mặc. Một phần vì tiếc, sợ mặc thì nó cũ đi, một phần vì xấu hổ, xấu hổ với chính mình. Nhưng đêm nay nàng có lý do chính đáng để mặc nó, có điều là Khoan chỉ có thể sờ được mặt vải mịn láng chứ không thể thấy được những bông hoa muôn màu rực rỡ. Côi áp bộ quần áo vào mũi, hít hà mùi băng phiến một lúc rồi mới cầm cái đèn đầu đi xuống bếp, đồng thời cũng là nơi tắm rửa. Nàng cởi bộ quần áo đang mặc và nhìn xuống thân thể của mình, lòng bâng khuâng. Đã từ lâu lắm rồi, Côi quên mất mình là đàn bà. Quên mất công dụng và chức năng của những bộ phận mà trời phú cho. Nay thì hoa sắp có chủ. Lần đầu tiên trong đời, Côi run run đưa tay lên vuốt ve bộ ngực căng đầy với hai cái núm vú xinh xinh của mình, rồi xuống đôi mông tròn trịa như hai trái dưa hấu Tết ở miền Nam, và cuối cùng là vùng bụng dưới rậm rì... Giã từ đời con gái nhé! 

Côi mặc xong bộ quần áo mới, sực nhớ ra điều gì liền lấy chai dầu Con Sóc sức lên cùng khắp thân thể rồi mới cầm đèn đi lên nhà. Sau khi tắt đèn, Côi khe khẽ vén mùng chui vào giường. Mùi cói thơm của chiếc chiếu hoa mới mua càng làm Côi thêm háo hức......Nhưng Côi đã phải thất vọng. Thất vọng não nề. Khoan chỉ vừa đủ sức mở cửa động đào xong là ngã vật sang một bên, thở dồn dập, mồm há hốc... Côi chán chường nằm im nghe Khoan thở. Mấy phút sau, Khoan mới đủ sức quay sang phía vợ, thì thào: - Anh... tệ quá! Để mai anh... bồi dưỡng rồi... trả nợ em! Nghe Khoan nói thế, hậm hực trong lòng Côi bỗng dưng tan biến mất. Thay vào đó là sự thương tội. Khoan có muốn làm mình thất vọng đâu. Bao nhiêu sức lực của tuổi thanh xuân đã hy sinh cho cách mạng hết cả rồi. Lại còn mất một quả thận thì làm sao còn đủ sức... Bồi dưỡng ư? Ngoài mỗi ngày hai bữa cơm gạo hẩm với rau luộc, tép khô, muối hạt thì còn gì nữa đâu mà bảo bồi dưỡng! Côi quay sang ôm lấy bộ ngực lép kẹp của chồng, vỗ về: - Thôi, ngủ đi anh, bao giờ... trả nợ em cũng được! 

Đêm thứ hai, đêm thứ ba, rồi đêm thứ tư, Côi đều bị thất vọng. Chẳng những Khoan đã không tiến bộ thêm chút nào mà còn có phần thụt lùi. Hay là anh ấy đã yếu mà mình lại bắt phục vụ liên tục? Côi bỗng nhớ tới con Hạch, mỗi lần nó tỏ ra uể oải, thiếu tích cực trong công tác là nàng biết trong người nó không được khỏe và phải đình chỉ công tác trong vài ngày. Thế là Côi bắt Khoan phải nghỉ ngơi một tuần. Nhưng rồi đâu cũng hoàn đó, chưa kể lần này, sau khi xuống ngựa Khoan còn nằm bất động như cái xác chết đến cả mười lăm phút đồng hồ...! Tuy ít học nhưng do kinh nghiệm ông bà để lại, Côi đoán nguyên nhân chính là do việc Khoan bị mất một quả thận. Nàng bỗng nhớ tới ông lang Học ở xã trên, dòng họ ông nổi tiếng ba đời về chữa trị các chứng đau lưng yếu thận cho đàn ông, hiếm muộn cho đàn bà. Có điều thuốc của ông rất đắt. Dù không biết mình có khả năng theo đuổi tới nơi tới chốn hay không, ngày hôm sau Côi cũng xin chị Mến miễn công tác để đưa Khoan tới nhà ông lang Học. 

Sau khi nghe Khoan kể về quá trình bệnh hoạn, thương tật và diễn tiến mỗi lần gần vợ, ông lang vừa bấm mạch vừa quan sát sắc diện của anh, rồi lắc đầu nhè nhẹ. Khoan đi ra, ông ra hiệu cho Côi theo mình vào phòng trong. Côi lo lắng hỏi: - Thưa ông, tình hình của anh ấy ra sao ạ? Ông lang chậm rãi trả lời: - Nguy kịch thì cũng chẳng có gì đáng gọi là nguy kịch, tuy nhiên với thể lực như vậy mà lại thiếu mất một quả thận thì nói về cái việc vợ chồng ấy, mỗi tháng anh ấy chỉ nên gần chị một lần thôi. Côi thất vọng: - Chỉ một lần thôi sao? - Một lần cũng kể là vượt chỉ tiêu rồi đấy... Chị phải biết rằng ba bát cơm mới được một giọt máu, ba giọt máu mới được một giọt tinh. Hiếm hoi như thế đấy chứ nào có phải nước máy, cứ mở vòi là chảy...! Đấy là tôi nói về lượng, còn về phẩm thì... thì được đến đâu hay đến đó, đừng bắt anh ấy cố gắng quá, có ngày thành đại họa! 

Côi nhìn ông lang khẩn khoản: - Thế ông có cách nào giúp anh ấy cải tiến tình hình sức khỏe không ạ? - Tôi không phải lang băm nên không thể nói bừa, phải thử một thời gian đã. - Thử cách nào ạ? - Vừa uống thuốc bắc vừa bồi dưỡng. Thuốc thì tôi cắt theo toa ‘Phục Dương’ gia truyền, là kết hợp tinh hoa của toa ‘Ngũ Dạ Lục Giao’ của vua minh Mạng và toa ‘Trường Xuân Bát Bửu’ của Mao chủ tịch. Mỗi tuần uống một thang, mỗi thang năm chục nghìn... Côi tái mặt. Lương xã viên của nàng mỗi tháng chỉ có hơn sáu chục nghìn, vừa đủ nuôi hai miệng ăn. Còn Khoan làm ngoài biên chế trong tổ đan lát, mỗi tháng được ba chục nghìn là quý lắm rồi. Tiền đâu mà mỗi tuần cắt một thang thuốc năm chục nghìn! 

Như không để ý tới sắc mặt của Côi, ông lang tiếp: - Về bồi dưỡng thì cũng chẳng cần phải cao lương mỹ vị gì, chỉ cần mỗi ngày một lạng thịt với lại mấy quả trứng gà... Côi như muốn ngất xỉu... Cả tiêu chuẩn xã viên bậc ba của nàng cộng với tiêu chuẩn thương binh bậc bốn của Khoan mỗi tháng mới mua được một ký thịt lợn và một lạng mỡ. Thịt ngoài chợ thì đắt gấp ba bốn lần, đào đâu ra tiền mà mua mỗi ngày một lạng...! Cuối cùng, Côi quyết định được tới đâu hay tới đó. Nàng gom góp tất cả vốn liếng dành dụm được đúng năm chục nghìn, cắt một thang Phục Dương... 

Thuốc của ông lang Học công hiệu như thần. Chỉ cần một thang, đêm hôm ấy chàng Khoan ốm yếu ho hen kia đã đủ sức đưa Côi, một cô gái khỏe như trâu lên tận đỉnh vu sơn. Lần đầu tiên trong đời, Côi thấy toàn thân mình như tê dại đi trong cơn khoái lạc tột cùng... Tay chân rã rời, Côi nằm im, khoan khoái nghiền ngẫm những rung động lần đầu được hưởng, như con bò nằm nhai lại mớ cỏ non thơm phức vừa gặm vội vã... Giời ơi, có ngờ đâu cái thú ái ân nó lại sướng khoái lạ lùng, tuyệt vời đến thế ! Nhưng đúng như lời ông lang Học đã cảnh cáo, uống thuốc Phục Dương mà không bồi dưỡng thì còn nguy hại gấp chục lần không uống. 

Đêm thứ hai, Khoan cũng còn đủ sức đưa Côi lên đỉnh khoái lạc, nhưng chỉ vừa đủ sức mà thôi. Bởi vì đúng lúc đó, chàng bỗng rùng mình một cái rồi toàn thân lạnh ngắt, cứng đơ, mồ hôi ướt đẫm lưng. Dù đang đê mê, Côi cũng còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng việc gì sẽ xảy ra với chồng nếu nàng không phản ứng kịp thời. Côi nhanh nhẹn dùng hai chân quặp lấy người Khoan cho nằm yên tại vị trí rồi với tay lên đầu giường lấy cái kim băng và lọ dầu gió... 

Sau cái đêm Khoan suýt bị thượng mã phong ấy, Côi không còn dám tơ tưởng tới chuyện chăn gối nữa mà chỉ lo bồi dưỡng cho chồng. Sau khi đã nghĩ nát óc mà không tìm ra lối thoát, Côi đang tuyệt vọng thì bỗng nhớ tới mấy quả trứng gà trong tiêu chuẩn của con Hạch. Phải rồi, chỉ còn cách ăn bớt tiêu chuẩn của con Hạch mà thôi. Côi là một đảng viên cộng sản cuồng tín và trung kiên bậc nhất, cho nên lúc đầu nàng kiên quyết chống trả tư tưởng mờ ám nói trên. Không thể được, mình mà lấy mấy trái trứng gà trong tiêu chuẩn của con Hạch đem về bồi dưỡng cho chồng thì sau khi chết làm sao dám nhìn mặt Bác Hồ dưới suối vàng? Bác đã dạy ‘cần kiệm liêm chính’ cơ mà! Nhưng ngay sau đó, Côi lại rạo rực nhớ tới những khoái lạc đêm nào. Nàng thầm thưa với Bác Hồ: cháu đã nửa đời hy sinh cho cách mạng mà chưa hưởng được tí gì, nay vì hạnh phúc cá nhân mà đành phải trái lời Bác dạy, xin Bác tha tội cho; hơn nữa, trong hai năm qua, con Hạch góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng ấy cũng đã đủ rồi...! 

Vậy là Côi quyết định ăn bớt tiêu chuẩn của con Hạch. Hai quả trứng gà, từ nay nó sẽ chỉ được hưởng một, một dành cho Khoan. Việc thi hành âm mưu cũng chẳng khó khăn gì: Thừa lúc không ai để ý, Côi chỉ việc nhét quả trứng vào kẽ hõm giữa hai cái vú nung núc những thịt của nàng, cài khuy áo lại thì có trời biết. Buồi chiều về vừa tới nhà, Côi vội vã đóng cửa lại, cẩn thận lấy cái tăm tre chọc thủng hai đầu quả trứng, đưa cho Khoan mút cái rột là xong. 

Sáng hôm sau, Côi nhét cái vỏ trứng vào ngực, đem tới bỏ lại trong rổ như cũ. Múc cám ra máng xong, con Hạch vừa nhào tới thì Côi lấy hai quả trứng, một còn nguyên một đã rỗng ruột, bỏ vào máng và lớn tiếng vỗ về như mọi khi: - Chị cho Hạch xơi trứng này... Nhớ hoàn thành chỉ tiêu nhé! Con Hạch táp một cái. Phi tang! Tuy nhiên, không có ‘Phục Dương’ thì việc mỗi ngày mút một quả trứng gà tươi cũng chẳng đủ để biến một người bệnh tật, ốm yếu như Khoan thành một đực rựa khỏe mạnh. Khoan tuy có hồng hào thêm được một tí nhưng đêm đêm vẫn tiếp tục bỏ cuộc sớm để Côi phải chịu cảnh bẽ bang: Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng Cầm bằng làm mướn, mướn không công! (Hồ Xuân Hương) 

Sau đó, Côi nhận thấy chỉ còn cách mỗi ngày lấy luôn quả trứng còn lại của con Hạch về cho Khoan bồi dưỡng, và mỗi tuần, cuỗm luôn ký đỗ chè trong tiêu chuẩn của nó về bán lấy tiền cắt thuốc bổ thận cho Khoan. Cái kẽ hõm giữa hai vú Côi nhét thêm một quả trứng nữa vẫn còn thừa chỗ. Riêng về việc tẩu tán ký đỗ thì kinh nghiệm Côi có thừa: Ngày vượt Trường Sơn vào tới Tây Nguyên, nàng thường giả dạng thường dân mỗi lần tải cả chục ký gạo từ Kontum vào rừng, bằng cách bó quanh bụng, quanh đùi, quanh ống chân, qua mặt quân địch dễ như chơi, nay chỉ có một ký đỗ thì nhằm nhò gì! Thế là từ đó mỗi ngày Khoan được bồi dưỡng hai quả trứng gà. Còn đỗ thì Côi lén đem sang xã bên cạnh bán cho bà hàng xôi, mỗi ký 15 nghìn, nhờ vậy cứ hơn ba tuần thì lại đủ tiền cắt một thang Phục Dương cho Khoan. Kết quả thật khả quan. Trong khi con Hạch càng ngày càng lười công tác thì Khoan lại đủ sức để ‘nhảy’ mỗi tuần một lần. Dĩ nhiên, nhảy có chất lượng! 

Say sưa với hạnh phúc riêng, Côi không còn để ý tới con Hạch nữa. Nhưng có một người khác đang âm thầm theo dõi tình hình công tác của nó. Đó là mụ Hến, tân tổ trưởng tổ chăn nuôi. Mụ Hến không phải ai xa lạ mà chính là bà vợ của đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng kiêm bí thư chi bộ Đảng. Trước kia, nhờ thế lực của chồng, mụ được làm tổ trưởng tổ phơi và cân đong. Lý do để mụ vận động nắm tổ này cho bằng được cũng đơn giản: khi phơi thóc, mụ có thể bảo lũ con dẫn bầy gà con của nhà mình ra ăn thóc hợp tác xã, ai thấy thì lại giả vờ đuổi; còn khi cân đong thu mua gạo thóc, nông phẩm của xã viên, nhờ lanh tay 10 mụ ém còn 9, tới khi giao bán cho huyện, 9 mụ lại đẩy thành 10. Nhờ tẩu tán sản phẩm thặng dư, cộng với tiền ăn bẩn của chồng, mụ Hến có tiền xây nhà gạch hai tầng, và mới đây đã sắm cho đứa con gái lớn một chiếc xe Honda Dream. 

Thế nhưng mụ Hến không chỉ tham tiền mà còn hám danh. Sau khi thấy chị Mến, tổ trưởng chăn nuôi, nhờ thành tích của Côi và con Hạch mà được bình bầu làm ‘tổ trưởng xuất sắc’, được về Hà Nội thăm lăng Bác, được thiếu nhi thủ đô quàng vòng hoa, được báo Đảng đăng hình... mụ Hến đã bắt chồng điều chị Mến đi nơi khác để đưa mình về coi tổ chăn nuôi. Thời gian chị Mến bàn giao công việc cho mụ Hến cũng là lúc Côi bắt đầu lấy hết tiêu chuẩn của con Hạch về cho Khoan bồi dưỡng và cắt thuốc cho chồng. Thấy từ ngày mình về nhận chức tổ trưởng, con Hạch càng ngày càng lười nhảy, mà có nhảy cũng không đạt chỉ tiêu, cũng hết chất lượng, mụ Hến đâm nghi Côi là tay chân của chị Mến, nay thấy chị bị thuyên chuyển nên cố tình phá thối để trả thù. Từ đó, mụ ngấm ngầm theo dõi hành tung của Côi. 

Mụ Hến xuất thân là một liên lạc viên của Việt Minh thời kháng Pháp. Năm lên 7 tuổi, Hến đã được biểu dương nhờ những thành tích như báo cáo bố đêm nằm ngủ thở dài vì sắp tới lượt đi ‘dân công’, báo cáo mẹ còn dấu cái nhẫn cưới bằng bạc không chịu nộp ủng hộ kháng chiến, tố cáo hàng xóm giết gà ăn rồi đổ tội cho chồn cáo, tố cáo cô giáo ‘hủ hóa’ với người yêu. v.v... Với những kinh nghiệm rình mò như thế, việc theo dõi hành tung của Côi đối với mụ Hến chẳng mấy khó khăn. 

Hôm ấy là Thứ Hai đầu tuần, ngày mà khi ra về ngoài hai quả trứng nhét trong ngực, Côi còn quấn quanh đùi ký đỗ. Kẻng tan việc vừa đánh ba tiếng, mụ Hến đã ra lệnh: - Mọi người ở nại (lại) cho tôi nên nớp (lên lớp)! Sau khi mọi người trong tổ đã tụ tập trước sân, mụ dõng dạc: - Đồng chí Côi bước ra khỏi hàng! Côi rụt rè tiến lên. - Đồng chí dấu những gì trong người, tự giác lấy ra cho mọi người xem! Côi xanh mặt, trong khi mọi cắp mắt đổ dồn về phía nàng, ai nấy đều thắc mắc ‘chẳng lẽ cả đến Côi cũng ăn cắp?’ 

Thấy Côi im lặng cúi đầu, mụ Hến lên giọng: - Đồng chí không dám thú nhận hử? Vậy thì để tôi nói cho mọi người nghe nhé: các đồng chí có biết tại sao từ ngày tôi về đây nàm tổ trưởng chăn nuôi, con Hạch nại không còn sức đi nhảy đực nữa hay không...? Thật dễ hiểu: đồng chí Côi đã nấy hết tiêu chuẩn trứng và đỗ chè của nó đem về bồi dưỡng cho chồng... Mọi người cùng ‘ồ’ lên kinh ngạc. Riêng mụ Hến, tới đây mụ đã để lộ toàn bộ cái bản chất tàn độc, dã man và cung cách thấp hèn của một kẻ vô học, theo Đảng từ khi mới nứt mắt: - ...Bồi dưỡng để công tác thì chẳng nói nàm gì, đây bồi dưỡng chỉ để cùng nhau... hủ hóa. Tôi quên, xin nỗi đồng chí Côi nhé, đã đăng ký nấy nhau thì tôi không được phép gọi nà hủ hóa nữa, mà phải gọi là đ...(ịt). 

Từ lâu, bản thân mụ Hến đã không còn được hưởng một lần ân ái cho ra hồn. Mỗi khi bị mụ đòi hỏi mà không có cớ gì để thoái thác, chồng mụ - lão chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng – đành phải thi hành bổn phận làm chồng một cách gượng ép, miễn cưỡng, qua quýt cho xong nợ chứ chẳng hứng thú gì. Điều đó mụ Hến thấy rõ: hai bàn tay lão không thèm đụng tới người mụ, mặt quay đi chỗ khác, đầu óc có lẽ đang nghĩ tới cái con đĩ bộ đội lẳng lơ ở văn phòng hợp tác xã... Thành thử mụ ghen cả với lạc thú của Côi, một cô gái xấu xí, bẩn thỉu mà theo mụ không có quyền hưởng một thứ gì trên cõi đời này cả... 

Mụ Hến như nổi cơn điên dại, mụ không còn nhớ mình đang đứng trước mặt đám đàn bà con gái nữa. Mụ buột miệng phun ra những lời cực kỳ thô bỉ, trong lòng vô cùng hả hê vì được dịp nói bẩn: - Đồng chí có biết mỗi nần vợ chồng đồng chí đ... nhau thì hợp tác xã bị thiệt hại mấy nứa nợn không...? Tại sao đồng nại câm như hến thế? Những núc đ... nhau, đồng chí tru tréo ghê nắm kia mà... (mụ nhái giọng Côi) ... Giờ... ời ơi, bu... u ơi, sướng quá!... Ối giờ... ời ơi, Khoa... oan ơi, sướng quá...! Mọi người há hốc mồm, trợn tròn mắt, còn Côi thì tái mặt: vậy là mụ Hến đã rình rập cả những lúc nàng và Khoan làm chuyện vợ chồng. Côi muốn độn thổ! 

Rồi như thể đang đứng trước một kẻ thù truyền kiếp, mụ Hến xông tới trước mặt Côi, nắm cổ áo nàng giật mạnh: hai quả trứng gà văng khỏi ngực, rơi xuống nền đất vỡ nát. Mọi người còn đang sững sờ thì mụ đã cúi xuống nắm quần Côi kéo tụt xuống tận bắp chân: - Đấy, cả tổ nàm chứng nhé, trứng dấu trong vú, đỗ dấu quanh bẹn nhé, không khéo còn nhét cả cá khô trong háng nữa đấy. Kinh tởm! Vậy mà cũng huân chương nao động mí nại chiến sĩ thi đua... Thi đua đ... thì có! 

Buổi họp toàn thể xã viên của hợp tác xã Sao Vàng để kiểm thảo Côi và Khoan được tổ chức vào 9 giờ đêm hôm đó. Khi mọi người đã hiện diện đông đủ, vẫn không thấy đôi vợ chồng khốn khổ xuất hiện. Lão chủ nhiệm sai người đi tìm. Một lát sau, Khoan được đưa tới. 

- Vợ đồng chí đâu? Lão chủ nhiệm hỏi. 

- Tôi cũng chẳng biết nữa. Từ lúc về nhà, cô ấy chỉ có khóc, sau đó âm thầm bỏ đi. Tôi đợi mãi cũng chẳng thấy về. 

Lão chủ nhiệm vội vàng ra lệnh đình hoãn buổi họp kiểm thảo. Chả là hồi chiều, lão đã dặn Đào, cô thủ kho, tới kho để tranh thủ làm đêm. Tuy nhiên, trước khi giải tán, mụ Hến cũng còn cố bắt toàn thể xã viên hiện diện nhất trí thông qua biện pháp xử lý kỷ luật do mụ đề nghị: cảnh cáo Khoan, loại Côi ra khỏi biên chế và chuyển sang tổ gánh phân. 

Ra khỏi phòng họp, lão chủ nhiệm nói với vợ: - Mẹ nó về trước nhé, tôi phải đi kiểm soát kho mới được. Thời buổi này, chẳng còn biết tin ai nữa! Mụ Hến đi rồi, lão quay sang tìm Đào: 

- Này đồng chí Đào, ta về kho làm việc. Vừa vào trong kho, lão chủ nhiệm đã vội vã cài then cửa lại, rồi một tay ôm eo, một tay bóp loạn xạ lên cặp vú căng tròn của Đào. Vừa bốc hốt, lão vừa lôi Đào về phía cái giường kê cạnh bồ lúa. Từ ngày được trao chức vụ thủ kho tới nay, Đào đã phải phục vụ con lợn lòng của lão chủ nhiệm không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ Đào thấy lão hùng hổ, ngấu nghiến như hôm nay. Cô nàng chống chế lấy lệ: 

- Nhè nhẹ thôi đồng chí, em đang có mang!" 

Nghe Đào nói, lão chủ nhiệm mới sực nhớ tới việc Đào đã về làm vợ tay trung úy méo mồm từ mấy tháng nay. Cái tư tưởng được đè vợ người khác ra càng khiến thú tính trong người lão chủ nhiệm trở nên hung bạo. Lão đẩy mạnh Đào xuống giường rồi chồm lên như một con hổ đói. Chưa bao giờ cái giường tre lại phải chịu đựng những cơn bão táp dồn dập, kinh hồn đến như vậy! 

Sáng hôm sau, vừa chặt chân tới văn phòng, lão chủ nhiệm đã đi vội vào buồng trong, mở tủ lạnh lấy trứng gà tươi mút một hơi mấy quả. Trở ra, lão ra lệnh cho Liễu, cô thư ký riêng, làm cho mình một ly cam vắt. Lão ưỡn người trên ghế, hai chân gác lên bàn, đưa cặp mắt dâm đãng quan sát cô gái xinh đẹp nhất trong đám nữ bộ đội phục viên. Hình như từ ngày con bé lấy chồng, người nó trông mẩy hẳn ra...! Lão chủ nhiệm nghĩ thầm rồi bất giác nuốt nước bọt. Bỗng một tia sáng lóe ra trong đầu, lão gọi: 

- Này đồng chí Liễu! 

- Gì cơ ạ? 

- Đồng chí Đào có chửa rồi. Đã không biết thì thôi chứ biết ai lại nỡ để đồng chí ấy ở dưới cái kho bụi bặm ấy...! Hay là ta để đồng chí ấy lên đây lo giấy tờ còn đồng chí xuống coi kho nhé? 

Xưa nay, Liễu thừa biết Đào có tiền mua quần áo đẹp, sắm đồng hồ đeo tay... là nhờ được giữ chìa khóa kho. Nàng cũng thừa biết để đổi lại, Đào đã phải tỏ ra dễ dãi mỗi khi đồng chí chủ nhiệm đòi ủng hộ sinh lý. Sau hai năm ở trên văn phòng, Liễu đã hơi tởm đồng chí chủ nhiệm nồng nặc mùi hôi nách này. Tuy nhiên so với các thủ trưởng mà nàng được phân công làm hộ lý thời còn trong chiến khu, Liễu thấy đồng chí chủ nhiệm vẫn còn sạch sẽ, phong lưu chán. Hơn nữa, ở trên văn phòng đã chẳng sơ múi gì mà còn có nguy cơ có ngày bị mụ Hến nổi cơn ghen cho người tạt át-xít. Thôi thì mình cũng chẳng lành lặn gì, nhất là cũng đã lấy được chồng rồi, xuống làm thủ kho quách cho xong, vừa yên thân vừa có tiền! Lòng đã quyết, Liễu cười lẳng lơ, ỏn ẻn đáp: 

- Đồng chí chủ nhiệm bảo sao, em làm vậy ạ. 

Đúng lúc đó, bưu tín viên tới, đem vào một tờ báo Đảng. Lão chủ nhiệm vừa mới mở tờ báo ra, chưa kịp đọc đã thấy một xã viên hấp tấp chạy vào, hổn hển báo cáo: 

- Thưa đồng chí chủ nhiệm, đồng chí Côi tự tử... chết rồi! 

- Cứ từ từ xem nào, việc gì mà phải quýnh quáng lên thế...! Tự tử ở dâu? 

- Thưa, đồng chí ấy nhảy xuống giếng của tổ chăn nuôi ạ! 

Lão chủ nhiệm cau mày, chửi thề: - Mẹ kiếp, sao không đi chỗ khác mà chết cho khuất mắt! Nhảy xuống giếng chăn nuôi thì rồi đây còn ma nào dám mua lợn của mình nữa... Thôi, lo mà kéo xác nó lên rồi trình công an. 

Rồi như không còn quan tâm tới cái chết của cô xã viên từng đem lại vinh dự cho cả hợp tác xã Sao Vàng, lão chủ nhiệm bình thản ngồi xuống bàn đọc báo Đảng. Lướt qua trang nhất, lão bỗng buột miệng: 

- Mẹ, tay này can đảm thật, ăn thế mới gọi là ăn chứ! 

Liễu hỏi: - Tin gì thế đồng chí? 

- Tin thứ trưởng Bộ năng lượng bị cách chức vì tội ăn cắp hàng nghìn tấn thép, trị giá có đến vài chục nghìn cây vàng. Báo nói thể nào cũng bị khai trừ khỏi Đảng. Hàng chục nghìn cây vàng! Lão chủ nhiệm thẫn thờ, rồi bất giác nhắc lại câu nói của mình ban nãy: - Mẹ, ăn như thế mới gọi là ăn, có bị khai trừ ông cũng đếch cần. Chặc! Làm lớn sướng thật, chứ ai như đám tép riu chúng mình, ăn cả đời chắc gì đã mua được cái ô-tô vài trăm lượng! 

Đúng một tuần sau khi Côi nhảy xuống giếng tự tử chết, vào khoảng nửa đêm, dãy nhà dùng làm tổ chăn nuôi của hợp tác xã Sao Vàng bỗng dưng bốc cháy. Sáng ra kiểm điểm thiệt hại, mụ Hến thấy trong số lợn bị chết cháy, có cả con Hạch. Gần đó là cái xác cong queo, cháy đen của Khoan. Không ai biết đích xác vì anh chạy không kịp, hay anh đã tự kết liễu đời mình?! 

Nguyễn Hoài Nam



__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lORw

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link